CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (III) Jàtaka
Chương
IV (tiếp theo)
318.
Chuyện Vòng Hoa Kanavera (Tiền thân Kanavera)
Giữa
ngày vui đẹp của xuân thời...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo cứ
mơ tưởng đến người vợ mà ông đã rời bỏ.
Các
tình tiết đưa đến câu chuyện sẽ được kể trong số 423.
Tiền thân Indriya. Bậc Ðạo Sư nói với Tỷ-kheo ấy:
- Trước
kia, đã một lần vì kẻ ấy mà ông bị chém đầu!
Rồi
Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Bala-nại, Bồ-tát sinh ra
tại một làng Kàsi, trong nhà một gia trưởng nọ. Ngài ra
đời dưới ngôi sao chiếu mạng của một kẻ cướp. Khi trưởng
thành, ngài sống bằng nghề cướp bóc. Tiếng tăm ngài vang
động khắp nơi rằng ngài là một kẻ táo bạo và mạnh như
voi. Không ai có thể bắt được.
Một
hôm, tên cướp ấy bẻ khóa vào nhà một phú thương nọ và
mang đi bao nhiêu của cải. Dân chúng trong thành đến kêu với
vua:
- Tâu
Ðại vương, có một tên cướp táo tợn đang vơ vét cả thành
phố, xin ngài hãy sai bắt nó.
Vua
ra lệnh cho quan tổng trấn bắt tên cướp. Trong đêm tối,
quan tổng trấn bố trí người ở các nơi và bắt được
tên cướp đang mang tiền bạc trong mình rồi mang y đến trước
vua. Vua ra lệnh chém đầu. Quan tổng trấn trói quặt hai cánh
tay tên cướp ra đằng sau, cột vào cổ y một vòng hoa kanavera
đỏ, rắc bụi gạch đá trên đầu y, lấy roi da quất vào
y và đưa đi khắp công viên rồi dẫn y tới nơi hành quyết
giữa những hồi trống vang động. Mọi người bảo:
- Tên
cướp ngang tàng đã cướp khắp cả thành phố này bị bắt
rồi.
Cả
thành phố đều nô nức xôn xao.
Bấy
giờ, tại Ba-la-nại có một kỳ nữ tên Sàmà, giá mỗi ngày
phải trả cho nàng là một ngàn đồng. Nàng rất được vua
sủng ái và có cả một đoàn người hầu gồm năm trăm nữ
tỳ. Nàng đang đứng bên cửa sổ ở từng trên của lâu đài,
trông thấy tên cướp đang bị dẫn đi. Bấy giờ, y có vẻ
đứng đắn dễ thương, sừng sững giữa đám người, thật
oai vang, và sáng chói như một Thiên thần. Thấy y bị dẫn
đi qua như thế, nàng bỗng đâm ra yêu y và trong thâm tâm,
nàng tự nghĩ: "Ta phải làm sao để chiếm được chàng làm
chồng ta nhỉ?" Nàng lại bảo: "Có cách này đây".
Rồi
nàng sai các cô hầu gái đem một ngàn đồng đến cho quan
tổng trấn và bảo:
- Hãy
nói với ông ta rằng tên cướp ấy là anh của Sàmà, anh ta
chỉ có thể trú ẩn tại nhà Sàmà mà thôi chứ không thể
ở đâu khác được. Hãy xin ông ta nhận tiền này và để
cho người tù ấy trốn thoát.
Cô
hầu gái làm theo lời nàng. Nhưng quan tổng trấn bảo:
- Ðây
là một tên cướp khét tiếng, y đã bị bắt như thế rồi,
ta không để cho y tự do ra đi như vậy. Nhưng nếu ta tìm thấy
được một người nào thay thế y, ta sẽ để y vào một chiếc
xe phủ kín và gửi đến cho nàng.
Người
nô tỳ về thuật lại cho chủ nghe như vậy.
Lúc
bấy giờ có một phú thương trẻ tuổi nọ rất say mê Sàmà,
mỗi ngày đều đến trao nàng một ngàn đồng. Vào lúc hoàng
hôn của chính ngày hôm ấy, tình nhân của nàng lại đến
nhà nàng như thường lệ cùng với số tiền kia. Sàmà nhận
lấy tiền, đặt trên đùi và ngồi khóc. Khi được hỏi vì
cớ sao nàng sầu bi như thế, nàng đáp:
- Chàng
ơi, tên cướp ấy là anh của em, anh ấy không bao giờ đến
thăm em vì người ta bảo em làm một nghề xấu xa. Khi em liên
lạc với quan tổng trấn thì ông ta nhắn lại rằng nếu trao
cho ông một ngàn đồng thì ông sẽ để cho tù nhân tự do
ra đi. Bây giờ em chẳng kiếm đâu được người mang tiền
đến cho quan tổng trấn?
Chàng
tuổi trẻ vì quá yêu nàng, liền bảo:
- Tôi
sẽ đi.
- Thế
thì đi - nàng nói - và hãy cầm theo số tiền mà chàng đã
mang đến cho em.
Thế
là anh ta cầm lấy tiền và đến nhà quan tổng trấn. Quan
tổng trấn giấu anh chàng phú thương vào một chỗ kín đáo
rồi sai chở tên cướp trong một chiếc xe đóng kín đến
nhà Sàmà. Rồi ông tự nghĩ: "Khắp xứ, ai cũng đều biết
tên cướp này. Trước tiên phải chờ thật tối, khi mọi
người đều lui về nghỉ, ta sẽ hành quyết người này".
Ông
ta kiếm cớ để hoãn lại cuộc hành quyết một lúc, rồi
chờ cho ai nấy lui về nghỉ, ông mới cho một đại đội
hộ tống chàng thương gia đến pháp trường. Ông sai lấy
gươm chém đầu anh ta, xiên vào thân anh ta rồi quay về thành
phố.
Từ
đó, Sàmà không chịu tiếp một người đàn ông nào nữa
cả. Nàng dành hết thời để vui thú với riêng tên cướp
này mà thôi. Thế rồi tên cướp chợt nghĩ: "Nếu người
đàn bà này đâm ra yêu một người nào khác nữa, nàng sẽ
đưa ta đến chỗ chết để nàng vui thú với người ấy.
Ta không nên ở đây lâu hơn nữa mà phải gấp gấp thoát
đi mới được".
Khi
sắp ra đi, y lại nghĩ: "Ta không nên tay trắng mà ra đi, hãy
lấy của nàng một số nữ trang". Thế là một hôm y bảo
nàng:
- Này
em yêu, chúng ta cứ sống mãi trong nhà như những con vẹt được
nuôi trong lồng. Hôm nào đó chúng ta nên đến giải trí trong
vườn cây nhỉ?
Nàng
thuận ý và chuẩn bị các thức ăn loại cứng và loại mềm,
và đeo hết đồ trang sức cùng với y ngồi trên một chiếc
xe đóng kín đi đến vườn cây. Trong lúc cả hai đang tiêu
khiển, y tự nghĩ: "Bấy giờ là lúc ta nên trốn thoát". Rồi
tỏ ra say mê nàng mãnh liệt, y đưa nàng vào trong những bụi
cây kanavera rậm rồi ôm chầm lấy nàng, siết chặt nàng cho
đến khi nàng bất tỉnh. Thả nàng xuống, ỵ lột hết nữ
trang, gói vào trong chiếc áo ngoài của nàng và đặt gói lên
vai rồi nhảy qua tường của vườn cây mà đi.
Khi
hồi tỉnh, nàng đứng dậy và đến hỏi các người hầu
gái xem phu quân trẻ tuổi của nàng ra sao rồi thì họ nói:
- Thưa
phu nhân, chúng tôi không biết.
Nàng
tự bảo: "Chàng nghĩ rằng ta đã chết nên sợ mà chạy trốn
rồi".
Sầu
muộn vì nghĩ như thế, nàng quay về nhà và tự bảo:
- Chừng
nào ta chưa gặp lại được trượng phu yêu dấu của ta thì
ta quyết không nằm trên một giường nào sang trọng.
Thế
là nàng vẫn nằm trên đất mà thôi.
Kể
từ hôm ấy, nàng không mặc quần áo đẹp, không đeo hoa,
không xức dầu thơm, và mỗi ngày nàng chỉ ăn một bữa cơm.
Ðể quyết tìm lại người yêu bằng mọi cách, nàng gọi
vài người diễn viên và cho họ một ngàn đồng. Họ hỏi:
- Thưa
phu nhân, lấy tiền này chúng tôi phải làm gì?
Nàng
trả lời:
- Hãy
viếng khắp mọi nơi. Hãy đến từng làng, từng thành phố,
từng kinh đô, tụ tập đám đông lại quanh các anh và cần
nhất là phải hát bài hát này giữa mọi người.
Nàng
dạy cho họ bài kệ đầu rồi dặn tiếp:
- Khi
các anh hát bài hát ấy nếu chồng ta là một người trong
đám đông thì chàng sẽ đến nói chuyện với các anh ngay.
Bấy giờ, các anh hãy nói với chàng rằng ta hoàn toàn khỏe
mạnh, rồi mang chàng về đây cho ta, còn nếu chàng từ chối
hãy gởi tin cho ta hay.
Nàng
cho họ tiền phí tổn trong cuộc hành trình rồi bảo họ ra
đi.
Họ
bắt đầu đi từ Ba-la-nại, cứ đến nơi này chỗ nọ kêu
gọi dân chúng, cuối cùng họ đến một ngôi làng ở biên
địa. Tên cướp từ khi tẩu thoát, đang sống ở nơi ấy.
Các diễn viên tụ tập đám đông quanh họ và hát lên bài
kệ đầu:
Giữa
ngày vui đẹp của xuân thời,
Cây
cối mang hoa rực ánh tươi,
Tỉnh
dậy sau cơn mê ngất ấy,
Sà-mà
đang sống, sống vì người.
Tên
cướp nghe thế liền đến gần người diễn viên và nói:
- Bạn
bảo Sàmà đang còn sống nhưng ta không tin đâu.
Rồi
y đọc bài kệ thứ hai:
Gió
dữ lung lay được núi đâu?
Gió
làm đất vững chãi rung sao?
Thấy
người đã chết đang còn sống,
Chuyện
ấy hóa ra quá nhiệm mầu!
Người
diễn viên nghe các lời trên liền đọc bài kệ thứ ba:
Sà-mà
quả thực sống đời này,
Nàng
chẳng kết duyên với một ai,
Nhịn
hết, mỗi ngày ăn một bữa,
Riêng
người, nàng giữ mối mê say.
Nghe
xong, tên cướp liền bảo:
- Dù
nàng còn sống hay đã chết, ta cũng không thích nàng.
Rồi
y đọc bài kệ thứ tư:
Sà-mà
thay đổi mãi tình thôi,
Tha
thiết yêu đương, lại hợt hời.
Cũng
vậy, với ta nàng sẽ phản,
Nếu
ta chẳng quyết phải xa rời.
Các
diễn viên trở về kể lại cho Sàmà mọi điều y đã nói
với họ. Và nàng tràn đầy tiếc nuối, một lần nữa, nàng
lại theo cuộc sống cũ của nàng.
*
Khi
bậc Ðạo Sư thuyết giảng xong, Ngài tuyên thuyết Tứ Ðế,
và ở phần kết thúc Tứ Ðế, Tỷ-kheo có tâm thế tục kia
đắc quả Dự Lưu. Sau đó, Ngài nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ Tỷ-kheo này là con trai của phú thương, người vợ mà
ông ta đã rời bỏ là Sàmà, còn chính Ta là tên cướp.
-ooOoo-
319.
Chuyện Chim Đa Đa (Tiền thân Tittira)
Ðời
hạnh phúc suốt ngày tôi sống...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Tinh Xá Badarka gần
Kosambĩ về Trưởng lão Ràhula (La-hầu-la).
Câu
chuyện mở đầu đã được kể đầy đủ trong Chương Một
số 16. Tiền thân Tipallattha. Bấy giờ ở trong Pháp đường,
các Tỷ-kheo đang ca ngợi Tôn giả La-hầu-la, bảo rằng Tôn
giả rất tinh cần, cẩn trọng, nhẫn nhục. Bậc Ðạo Sư
bước vào và khi nghe kể lại đề mục luận bàn của các
Tỷ-kheo, Ngài dạy:
- Không
phải chỉ nay mà xưa cũng thế, La-hầu-la đã có các đức
tính này.
Rồi
Ngài kể cho họ nghe một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra
trong một gia đình Bà-la-môn. Khi lớn lên, ngài theo đuổi
các học nghệ tại Takkasilà rồi ngài từ bỏ cuộc đời,
sống đời khổ hạnh trong vùng Tuyết Sơn và tu tập các Thắng
trí và các Thiền chứng. Ngài thọ hưởng hạnh phúc của
Thiền định, sống trong một khu rừng tịnh lạc. Sau đó,
ngài đến một làng ở biên địa để kiếm muối và giấm.
Nhiều người khi trông thấy ngài đã trở thành các tín đồ,
họ dựng cho ngài một túp lều lá ở trong rừng và cung cấp
cho ngài đủ mọi vật dụng cần thiết của một người tu
hành rồi làm cho ngài một ngôi nhà ở nơi ấy.
Bấy
giờ, một người bẫy chim trong làng ấy bắt được một
con chim Ða đa mồi, bỏ nó vào trong một cái lồng và luyện
tập, săn sóc nó cẩn thận. Ông ta mang nó vào rừng để cho
nó kêu lên nhử các con đa đa khác đến gần. Con Ða đa tự
nghĩ: "Do ta mà đồng loại phải lâm vào cái chết. Về phần
ta đây là một hành vi ác độc". Vì thế nó cứ lặng thinh
không kêu nữa. Khi chủ nó thấy nó cứ lặng thinh liền lấy
một miếng tre đập vào đầu nó. Con Ða đa bị đau quá phải
kêu lên. Thế là người bẫy chim cứ sinh sống bằng cách
dùng nó để nhử các con Ða đa khác.
Rồi
con Ða đa lại nghĩ: "Ừ, dẫu chúng nó có chết đi, về phần
ta, ta không hề có ý định xấu. Nhưng những hậu quả xấu
do hành động của ta có tác dụng đến ta không? Khi ta lặng
thinh thì chúng không đến, khi ta kêu lên thì chúng đến. Và
hễ con nào đến đều bị người kia bắt và giết chết.
Về phần ta, hành động như thế là có tội hay không có tội?"
Từ
đó ý nghĩ độc nhất của con Ða đa là: "Ai chính là kẻ
có thể giải quyết mối nghi của ta?" Thế là nó cứ tìm
kiếm khắp nơi một bậc trí giả để giải quyết mối nghi
ấy.
Một
hôm người bẫy chim bẫy được một số đa đa bỏ đầy
giỏ rồi đến căn lều của Bồ-tát xin một ngụm nước.
Ông ta đặt lồng chim xuống bên cạnh Bồ-tát uống nước
rồi nằm dưới đất và lăn ra ngủ. Thấy người ấy ngủ,
con Ða đa tự nghĩ: "Ta sẽ hỏi vị ẩn giả này về mối
nghi của ta, nếu ngài biết, ngài sẽ giải quyết nỗi khó
khăn của ta". Thế là nằm trong lồng, bằng hình thức một
câu hỏi, nó đọc lên bài kệ đầu:
Ðời
hạnh phúc suốt ngày tôi sống
Ðến
cùng tôi đầy những thức ăn.
Nhưng
tôi gặp cảnh khó khăn,
Tương
lai tôi ấy, số phần ra sao?
Bồ-tát
đọc bài kệ thứ hai để giải quyết câu hỏi:
Nếu
lòng chẳng tơ hào xấu ác
Khiến
bạn gây nên việc nhục hèn.
Do
phần thụ động mà nên,
Bạn
nào bị tội trói lên số phần!
Ða
đa nghe thế liền đọc bài kệ thứ ba:
Chúng
bảo rằng: "Họ hàng ta đấy!"
Cả
đám đông đổ lại trông coi,
Phải
chăng là tội của tôi
Khiến
cho chúng chết? Xin ngài giải nghi.
Nghe
Bồ-tát đọc bài kệ thứ tư:
Nếu
tội không ẩn trì lòng bạn
Thì
hành vi sẽ chẳng tội tình.
Kẻ
nào thụ động phần mình,
Thoát
bao tội lỗi trở thành thong dong.
Bậc
Ðại sĩ an ủi con chim Ða đa như vậy. Và nhờ ngài con chim
ấy không còn bị ray rứt ân hận nữa. Thế rồi, người
bẫy chim thức dậy, chào Bồ-tát và xách lồng ra đi.
*
Khi
bậc Ðạo Sư thuyết giảng xong, Ngài nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ, La-hầu-la là con Ða đa, còn Ta là vị ẩn giả kia.
-ooOoo-
320.
Chuyện Dễ Cho (Tiền thân Succaja)
Ngài
có thể ban phần nhỏ nhặt ...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một
người chủ đất nọ.
Một
hôm ông ta cùng với vợ đến làng kia để đòi một món nợ.
Ông lấy một chiếc xe xứng với ông và đem gửi xe cho một
gia đình kia định rằng sau này sẽ đến lấy. Trên đường
về Xá-vệ, hai vợ chồng thấy một trái núi. Người vợ
hỏi ông ta:
- Giả
như trái núi này biến thành toàn vàng, chàng có cho em một
ít không nào?
Ông
ta trả lời:
- Cô
là cái thứ gì? Tôi chẳng cho cô mảy may nào đâu!
Nàng
kêu lên:
- Ôi
chàng thật là một kẻ có lòng sắt đá. Dù trái núi trở
thành vàng ròng, chàng cũng chẳng cho ta một tí ti nào.
Thế
là nàng rất buồn nản.
Khi
đến gần Kỳ Viên, họ cảm thấy khát nước nên vào Tinh
xá xin một ít nước để uống. Vào chiều hôm ấy, bậc Ðạo
Sư thấy rằng họ có khả năng được giải thoát. Ngài ngồi
trong Hương phòng chờ họ đến và phóng hào quang sáu sắc
của đức Phật. Sau khi đã thỏa cơn khát, hai vợ chồng đến
hầu bậc Ðạo Sư, kính cẩn đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống.
Sau những lời ân cần thăm hỏi thường lệ, bậc Ðạo Sư
hỏi họ từ đâu lại.
- Bạch
Thế tôn, chúng con đi đòi nợ về đây.
Ngài
dạy:
- Này
nữ cư sĩ, Ta mong rằng chồng bà muốn bà được lợi ích
và sẵn sàng tỏ lòng tốt đối với bà.
Nàng
thưa:
- Bạch
Thế Tôn, con rất yêu chàng nhưng chàng chẳng có chút tình
nào với con cả. Hôm nay khi trông thấy một trái núi, con hỏi
chàng: Giả như trái núi kia toàn bằng vàng ròng, chàng có
cho em một ít không? Chàng đáp: Cô là cái thứ gì? Tôi chẳng
cho cô mảy may nào đâu! Chàng quả là có tấm lòng sắt đá!
Bậc
Ðạo Sư dạy:
- Này
nữ cư sĩ, ông ấy bảo như thế, nhưng nếu ông nhớ lại
đức hạnh của bà thì ông sẵn sàng trao cho bà quyền thế
cao nhất.
- Bạch
Thế Tôn, xin Ngài giảng điều ấy cho chúng con.
Họ
kêu lên và do yêu cầu của họ, Ngài kể một chuyện quá
khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là đại
thần của vua, phục vụ vua mọi việc đắc lực.
Một
hôm vua thấy thái tử bấy giờ đang là phó vương đến tỏ
lòng cung tôn đối với mình thì tự nghĩ: "Anh chàng này có
thể hại ta nếu nó gặp cơ hội thuận tiện". Vì thế vua
gọi thái tử lại và bảo:
- Chừng
nào ta còn sống, con không được ở lại kinh đô này. Hãy
đi sống ở một nơi nào đó rồi đến khi ta chết thì hãy
về trị vì vương quốc.
Thái
tử thuận theo điều kiện ấy. Chàng từ biệt vua cha rồi
cùng với người vợ chánh rời khỏi Ba-la-nại. Khi đến một
làng ở biên thùy, chàng tự dựng một túp lều lá trong một
khu rừng rồi ở đó, sinh sống bằng rễ và trái cây rừng.
Chẳng bao lâu nhà vua chết đi. Vị phó vương trẻ tuổi kia,
quan sát tinh tú biết rằng vua cha đã chết. Và trên đường
về Ba-la-nại, hai vợ chồng trông thấy một trái núi. Người
vợ nói với chàng:
- Thưa
trượng phu, giả sử trái núi kia biến thành vàng ròng, chàng
có cho em một ít không?
- Cô
là cái thứ gì chứ? chàng la lớn - Ta chẳng cho cô một tí
ti nào đâu!
Nàng
tự nghĩ: "Ta đã yêu thương chàng như thế, đã vào sống
trong khu rừng kia và không hề có tâm từ bỏ chàng, thế mà
nay chàng nói với ta như thế. Chàng thực là một kẻ lòng
dạ sắt đá. Nếu chàng làm vua, chàng sẽ làm gì tốt cho
ta chứ?" Rồi nàng sầu muộn cả lòng.
Khi
đến Ba-la-nại, người chồng được tôn lên làm vua, chàng
phong cho vợ lên làm chánh hoàng hậu. Vua chỉ cho nàng chức
vụ trên danh nghĩa mà thôi chứ chẳng tỏ ra kính trọng hay
trao vinh dự cho nàng, cũng chẳng đoái hoài đến sự có mặt
của nàng nữa.
Bấy
giờ Bồ-tát tự nghĩ: "Hoàng hậu vốn là người vợ tận
tụy của vua, chẳng kể khổ cực, sống cùng ngài ở nơi
hoang vu vắng vẻ. Thế mà vua không nghĩ đến điều đó, cứ
vui thú với những phụ nữ khác . Nhưng ta sẽ mang lại chức
quyền cao nhất cho hoàng hậu".
Nghĩ
như vậy, một hôm ngài đến chào hoàng hậu và nói:
- Tâu
hoàng hậu, chúng thần chẳng hề được lệnh bà cho một
miếng cơm nào cả. Tại sao lệnh bà lại có lòng dạ cứng
cỏi, quá hững hờ với chúng thần như vậy?
Hoàng
hậu đáp:
- Này
bạn ơi, nếu ta có nhận thứ gì thì ta mới cho bạn được,
nhưng ta không được gì cả thì lấy chi mà cho bạn chứ?
Ðức vua ban cho ta thứ gì nào? Trên đường về đây, ta đã
hỏi ngài: Nếu trái núi kia toàn bằng vàng ròng thì chàng
sẽ cho em gì nào? Thì ngài trả lời: Cô là cái thứ gì, ta
sẽ chẳng cho cô gì đâu!
Bồ-tát
nói:
- Ðược
rồi, lệnh bà có thể lặp lại chuyện này trước mặt đức
vua không?
- Bạn
ơi, sao lại không chứ? Hoàng hậu đáp.
Bồ-tát
nói:
- Thế
thì khi đứng chầu đức vua, thần sẽ hỏi, lệnh bà sẽ
trả lời như thế nhé.
- Ðồng
ý. Hoàng hậu trả lời.
Thế
là khi Bồ-tát đến chầu vua, và tỏ lòng kính cẩn đối
với vua, ngài hỏi hoàng hậu:
- Tâu
lệnh bà, sao chúng thần chẳng được tự tay lệnh bà cho
thứ gì cả?
Hoàng
hậu đáp:
- Này
khanh, ta đây có nhận được gì thì ta mới cho khanh chứ.
Nhưng xem kìa, đức vua có thể cho ta gì nào? Khi ngài và ta
ở trong rừng ra và trông thấy một trái núi, ta hỏi ngài:
Nếu trái núi kia toàn bằng vàng ròng, thì chàng có cho em một
ít không? Ngài đáp: Cô là cái thứ gì? Ta chẳng cho cô một
chút gì cả! Khi nói như thế, ngài từ chối cả những thứ
dễ cho.
Ðể
nêu rõ điều ấy, hoàng hậu đọc bài kệ đầu:
Ngài
có thể ban phần nhỏ nhặt,
Ðối
với ngài có mất mát gì đâu!
Núi
vàng, tôi cũng tặng trao,
Tôi
xin mọi thứ, ngài đều bảo không!
Nghe
thế vua đọc bài kệ thứ hai:
Khi
có thể, bảo "vâng" sẽ tặng
Chớ
hứa suông khi chẳng thể kham,
Lời
ngoa khi hứa không làm,
Hiền
nhân khinh ghét kẻ xàm dối thôi.
Hoàng
hậu nghe thế, chấp hai tay đưa lên tỏ lòng kính cẩn và
đọc bài kệ thứ ba:
Tâu
quân vương, chúng tôi cầu chúc
Ngài
ngôi cao chính trực vững vàng.
Sang
giàu có thể tiêu tan,
Chỉ
riêng Chân lý ngài hằng hưởng vui.
Sau
khi nghe hoàng hậu chúc tụng vua, Bồ-tát liền nêu lên các
đức hạnh của bà và đọc bài kệ thứ tư:
Danh
vợ hiền lệnh bà đã tỏ,
Chia
xẻ bao vui khổ cuộc đời,
Phận
bà xứng đáng lắm rồi.
Cùng
hàng vương giả kết đôi bạn lòng.
Bồ-tát
ca ngợi hoàng hậu như thế và bảo:
- Tâu
Ðại vương, lệnh bà này lúc ngài đang gặp nghịch cảnh,
đã sống cùng ngài, chia xẻ cùng ngài bao sầu khổ trong rừng.
Ngài nên làm vinh dự cho lệnh bà.
Khi
nghe Bồ-tát nói, vua liền nhớ đến những đức hạnh của
hoàng hậu và bảo:
- Này
hiền khanh, nhờ hiền khanh mà ta nhớ lại các đức hạnh
của hoàng hậu.
Vua
nói thế rồi trao mọi quyền lực vào tay hoàng hậu. Ngoài
ra, vua còn ban quyền hạn lớn lao cho Bồ-tát. Vua bảo:
Chính
nhờ khanh mà ta nhớ lại các đức hạnh của hoàng hậu vậy.
*
Khi
bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại này, Ngài tuyên thuyết Tứ
Ðế. Ở phần cuối bài giảng Tứ Ðế, người chồng cùng
người vợ đắc quả Dự Lưu.
Rồi
bậc Ðạo Sư nhận diện tiền thân:
- Bấy
giờ người chủ đất này là vua xứ Ba-la-nại, nữ cư sĩ
này là hoàng hậu, còn Ta là vị quan hiền trí nọ.
-ooOoo-
321.
Chuyện Kẻ Đốt Lều ( Tiền thân Kutidùsaka)
Khỉ
ạ, chân tay mặt mũi ngươi ...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên, về một
chú tiểu đốt túp lều lá của trưởng lão Mahàkassapa (Ðại
Ca-diếp).
Nhân
duyên đưa đến câu chuyện vốn từ Vương Xá. Bấy giờ,
Trưởng lão ấy sống trong một túp lều ở gần Vương Xá.
Có hai chú tiểu lo giúp việc cho Tôn giả, một chú rất được
việc, còn chú tiểu kia có tánh hạnh xấu. Bất cứ việc
gì chú kia làm, chú này làm như thể do chính chú làm vậy.
Chẳng hạn như khi chú kia lấy nước cho Trưởng lão súc miệng,
thì chú này lại đến gặp trưởng lão và thưa:
- Bạch
thầy nước đã sẵn, xin thầy súc miệng.
Và
khi bạn chú lo thức dậy sớm để lo quét dọn lều của Trưởng
lão, thì ngay khi Trưởng lão xuất hiện, chú cứ đụng tay
vào thứ này vật nọ, làm như là toàn túp lều được chính
chú dọn dẹp vậy.
Chú
tiểu lo tròn nhiện vụ kia tự nghĩ: "Anh bạn xấu tính này,
hễ ta làm cái gì thì anh ta cứ nói như thể chính anh ta làm.
Ta sẽ phơi bày tính xấu của anh ấy mới được".
Vì
thế khi anh chàng dối trá kia từ làng trở về, ăn xong liền
đi ngủ, chú tiểu này nấu nước nóng rồi đem dấu trong
phòng và chỉ để lại ít nước trong nồi đun. Chú tiểu
kia thức dậy, đi đến và thấy hơi bốc lên liền tự nghĩ:
"Chắc chắn anh bạn ta đã đun nước và để trong buồng tắm:"
Thế là chú đến gặp Trưởng lão và thưa:
- Thưa
thầy, nước đã sẵn trong buồng tắm, xin thầy vào tắm.
Trưởng
lão theo chú đi tắm, nhưng chẳng thấy có nước trong buồng
tắm, liền hỏi chú nước đâu, chú vội trở vào bếp, bỏ
gáo vào nồi trống và múc nước, chiếc gáo chạm vào đáy
nồi kêu lạch cạch (từ đó về sau chú bị người ta gọi
là Gáo-lạch-cạch)
Vào
lúc ấy chú tiểu kia vào lấy nước trong phòng sau rồi bảo:
- Thưa
thầy, xin thầy vào tắm.
Trưởng
lão tắm xong và bây giờ Tôn giả đã biết tánh hạnh xấu
của Gáo-lạch-cạch. Chiều hôm ấy khi chú ta đến dọn cơm,
Tôn giả khiển trách chú:
- Khi
kẻ nào đã phát nguyện tu hành, tự mình đã làm điều gì
thì kẻ ấy mới có quyền báo: "Tôi đã làm điều ấy". Nếu
không, thì đó chỉ là một lời nói dối có toan tính. Từ
nay trở đi chớ có phạm ác hạnh như thế nữa.
Chú
tiểu giận Trưởng lão và hôm sau chú không chịu theo Tôn
giả về thành phố khất thực. Nhưng chú tiểu kia đi theo
Tôn giả.
Còn
Gáo-lạch-cạch đến viếng một gia đình thủ hộ của Trưởng
lão. Người nhà hỏi Trưởng lão đâu, thì chú bảo ngài bị
bệnh, phải ở nhà. Họ hỏi chú cần gì, chú bảo:
- Hãy
cho tôi các thứ như thế... như thế...
Rồi
chú mang các thứ ấy đến một nơi chú thích và ăn xong trở
về lều.
Hôm
sau, Trưởng lão đến thăm gia đình ấy và ngồi xuống với
họ. Họ nói:
- Phải
chăng ngài không được khỏe? Nghe nói hôm qua ngài phải ở
trong phòng. Chúng tôi có gởi ít thức ăn nhờ chú tiểu kia
mang về, ngài có dùng các thứ ấy không?
Trưởng
lão giữ vẽ bình thản không nói gì và sau khi dùng xong bữa.
Tôn giả trở về Tinh xá.
Vào
buổi chiều, khi chú ấy đến hầu thầy, vị Trưởng lão
bảo chú:
- Này
chú, chú đến xin gia đình kia, trong làng kia, chú bảo: "Trưởng
lão cần phải ăn các thứ như thế... như thế..." rồi họ
nói chính chú ăn các thứ ấy. Khất thực như thế là hết
sức bất chánh. Hãy giữ gìn, chớ phạm ác hạnh như vậy
nữa.
Thế
là chú ấy cứ mãi nuôi lòng thù hận Trưởng lão, chú nghĩ:
"Hôm qua chỉ do một chút nước, ông ấy mắng xối vào mình,
còn bây giờ tức giận vì ta đã ăn một nắm cơm ở nhà
thủ hộ của ông, ông ta gây sự với ta nữa, ta sẽ tìm cách
cư xử xứng hợp với ông ấy".
Ngày
hôm sau, khi Trưởng lão vào thành phố khất thực, chú ta lấy
búa đập vỡ hết các bình bát để đựng thức ăn và châm
lửa đốt túp lều lá rồi phóng chạy đi. Lúc còn sống,
chú trở thành kẻ cùng khổ đói khát giữa đời này và tàn
tạ dần cho đến khi chết chú bị sinh vào Ðại địa ngục
A-tỳ (Avici). Mọi người đều biết đến hành vi xấu xa của
chú.
Một
hôm vài Tỷ-kheo từ Vương Xá đến Xá Vệ. Sau khi cất bình
bát và áo ngoài vào trong phòng chung, họ đến đảnh lễ bậc
Ðạo Sư và ngồi xuống.
Bậc
Ðạo Sư vui vẻ trò chuyện với họ và hỏi họ từ đâu
đến.
- Bạch
Thế Tôn, từ Vương Xá.
- Thế
ai là Pháp sư ở đó? - Ngài hỏi.
- Bạch
Thế Tôn , Tôn giả Mahàkassapa (Ðại Ca-diếp).
- Này
các Tỷ-kheo, Kassapa có được an lành không? Ngài hỏi.
- Bạch
Thế Tôn, Trưởng lão vẫn khỏe mạnh. Nhưng một chú tiểu
giận dữ vì bị Trưởng lão quở trách đã nổi lửa đốt
túp lều của vị ấy rồi bỏ đi.
Bậc
Ðạo Sư nghe thế liền bảo:
- Này
các Tỷ-kheo, Kassapa độc cư còn tốt hơn là sống chung với
một kẻ ngu dại như thế.
Nói
xong Ngài đọc một bài kệ, được ghi lại trong Kinh Pháp
cú:
Ðừng
đi cùng với bọn tầm thường,
Nên
tránh giao du với lũ dại cuồng,
Chọn
bạn bằng ta hay vượt trội,
Hoặc
là đơn độc tiến trên đường.
Sau
đó Ngài lại bảo các Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo không phải bây giờ chú ấy mới phá hoại túp
lều và cảm thấy căm giận người đã quở trách mình. Ngày
xưa chú ấy cũng đã căm giận như thế.
Rồi
Ngài kể cho họ nghe một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra là
một con chim Singila (loài chim có sừng). Khi trở thành một
con chim lớn, ngài đến trú tại vùng Tuyết Sơn và xây một
cái tổ đúng ý thích, có thể chống chọi với mưa gió.
Bấy
giờ vào mùa mưa, mưa hoài không dứt, một con Khỉ kia ngồi
gần bên Bồ-tát, răng đánh lập cập vì trời lạnh quá.
Trông thấy Khỉ khổ sở như vậy, Bồ-tát nói chuyện với
nó và đọc bài kệ đầu:
Khỉ
ạ, tay chân mặt mũi ngươi,
Xem
ra thật giống với người thôi.
Sao
không xây lấy nơi cư trú
Ðể
núp khi giông bảo đến nơi?
Khỉ
nghe thế liền đọc bài kệ thứ hai:
Chim
hỡi, tay chân mặt mũi ta
So
cùng người thật giống, không xa
Trí
khôn, lợi nhất người thừa hưởng
Phần
ấy ta đây bị loại ra.
Bồ-tát
nghe xong liền đọc bài kệ nữa:
Kẻ
nào vẫn trơ tráo hoài,
Tâm
hồn hời hợt đổi thay không ngừng.
Tỏ
ra cung cách thất thường,
Thì
niềm hạnh phúc chẳng đường tìm ra.
Khỉ
ơi, hạnh muốn tiến xa,
Ngươi
cần gắng sức thật là tinh chuyên
Ði
đi, lều lá dựng lên
Ðể
mà trú ẩn tránh phiền gió đông.
Khỉ
tự nghĩ: "Con vật này nhờ trú ẩn một nơi tránh được
mưa tỏ ra khinh dễ ta". Thế rồi quyết bắt cho được Bồ-tát,
nó phóng tới vồ lấy ngài. Nhưng Bồ-tát đã bay lên không,
tung cánh đi nơi khác. Còn con khỉ, sau khi đập phá tổ chim,
liền bỏ đi.
*
Sau
khi chấm dứt bài thuyết giảng, bậc Ðạo Sư nhận diện,
Tiền thân:
- Lúc
bấy giờ, chú tiểu nổi lửa đốt túp lều là con Khỉ, còn
Ta là con chim Singila.
-ooOoo-
322.
Chuyện Tiếng Động Mạnh (Tiền thân Daddabha)
Từ
nơi trú ẩn của tôi đây ...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một
số tà sư ngoại đạo.
Các
tà sư ngoại đạo này, tại nhiều nơi khác nhau gần Kỳ Viên,
nằm trên gai, chịu năm cách lửa đốt (bốn ngọn kửa chung
quanh và mặt trời ở trên) và thực hành tà khổ hạnh về
nhiều loại khác nhau. Bấy giờ có một số Tỷ-kheo trên đường
khất thực từ xa về, trông thấy các tà sư ngoại đạo ấy
đang thể hiện những khổ hạnh giả hiệu kia, liền đến
hỏi bậc Ðạo Sư:
- Bạch
Thế Tôn các tà sư ngoại đạo ấy thực hành khổ hạnh như
vậy có công đức gì không?
Bậc
Ðạo Sư dạy:
- Này
các Tỷ-kheo, chẳng có công đức gì, cũng chẳng có giá trị
đặc biệt nào trong việc ấy cả. Khi được quán xét và
thử nghiệm, nó cũng giống như một đường mòn ở trên đống
phân hay giống như tiếng động mà con thỏ rừng đã nghe thôi.
Rồi
do yêu cầu của các Tỷ-kheo, Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra
là một con Sư tử. Khi đã trưởng thành ngài sống trong một
khu rừng. Bấy giờ ở gần biển Tây có một khu rừng cây
kè (thốt nốt) lẫn với cây vilva. Một con Thỏ rừng sống
ở đây, dưới một cây kè nhỏ, bên một gốc cây vilva.
Một
hôm sau khi ăn xong, Thỏ đến nằm bên dưới cây kè nhỏ ấy,
thế rồi nó chợt nghĩ: "Nếu đất này bị hủy hoại, ta
sẽ ra làm sao nhỉ?" Ngay lúc ấy một trái vilva chín rơi xuống
trên ngọn lá kè. Nghe tiếng động ấy Thỏ liền nghĩ: "Ðất
vững chắc này đang sụp xuống". Thế là nó vụt chạy, chẳng
ngoái cổ nhìn lui. Một con thỏ rừng khác nhìn thấy nó phóng
đi và có vẻ hãi hùng sắp chết như vậy, liền hỏi nó vì
sao mà nó phải kinh hoàng vụt chạy. Thỏ đáp:
- Xin
đừng hỏi tôi.
Con
Thỏ kia la lên:
- Này
cái gì vậy chớ?
Rồi
cứ chạy theo nó. Nó dừng lại một chốc, chẳng quay nhìn
lui mà nói:
- Ðất
ở đây đang vỡ ra đấy.
Nghe
thế con thỏ thứ hai chạy theo nó. Rồi cứ thế con thỏ này
chạy theo con thỏ khác nối nhau thành một trăm ngàn con phóng
chạy. Rồi một con nai, một con heo rừng, một con hoẵng, một
con trâu, một con bò rừng, một con tê giác, một con cọp,
một con sư tử và một con voi trông thấy chúng chạy qua. Khi
chúng hỏi làm sao mà chạy như thế vì đều trả lời rằng
đất sắp vỡ ra, chúng cũng phóng chạy với nhau luôn. Thế
là cả đám loài vật ấy kéo ra dài cả một dặm.
Khi
Bồ-tát trông thấy đám loài vật cứ cắm đầu phóng chạy
và nghe duyên cớ là đất sắp đến lúc diệt tận, ngài liền
nghĩ. Chẳng có đâu đất đến lúc diệt tận cả. Chắc chắn
phải có một tiếng động nào đó mà chúng đã hiểu lầm
và nếu chính ta không nỗ lực thật nhiều thì chúng sẽ chết
hết. Ta phải cứu mạng chúng mới được."
Với
tốc độ của một con sư tử. Bồ-tát phóng đến chân núi
trước chúng và ba lần rống lên tiếng rống của Sư tử.
Chúng quá kinh hãi trước sư tử bèn dừng lại đứng đùn
nhau thành một đám hỗn loạn. Sư tử bước vào trong bọn
chúng và hỏi tại sao chúng phóng chạy như vậy.
- Ðất
đang sụp. Chúng trả lời.
- Ai
thấy đất sụp? Sư tử hỏi.
- Bọn
voi biết rõ hết. Chúng đáp.
Sư
tử liền hỏi bọn voi, chúng đáp:
- Chúng
tôi không biết, bọn sư tử biết.
Nhưng
bọn sư tử lại nói:
- Chúng
tôi không biết, bọn cọp biết.
Bọn
cọp nói:
- Bọn
tê giác biết.
Bọn
tê giác nói:
- Bọn
bò rừng biết.
Bọn
bò rừng nói:
- Bọn
trâu.
Bọn
trâu nói:
- Bọn
hoẵng.
Bọn
hoẵng nói:
- Bọn
heo rừng.
Bọn
heo rừng nói:
- Bọn
nai.
Bọn
nai nói:
- Chúng
tôi không biết, bọn thỏ rừng biết.
Khi
bọn thỏ rừng được hỏi, chúng chỉ vào một con thỏ và
nói:
- Tên
này đã bảo chúng tôi như thế.
Bồ-tát
hỏi:
- Này
ông bạn có phải đất đang vỡ ra chăng?
Thỏ
đáp:
- Vâng,
thưa ngài, tôi đã thấy như thế.
- Khi
bạn thấy thế bạn đang ở đâu? Bồ-tát hỏi.
Thỏ
nói:
- Thưa
ngài ở gần biển trong một khu rừng kè xen lẫn với cây
vilva tôi chợt nghĩ, "Nếu đất này vỡ ra, ta sẽ đi đâu?"
Ngay lúc ấy tôi nghe tiếng đất vỡ rồi phóng chạy.
Sư
tử nghĩ: "Rõ ràng là một trái vilva chín đã rơi trên một
ngọn lá kè gây nên một tiếng "thụp" và chú Thỏ này vội
kết luận rằng đất đang đến lúc diệt tận, rồi chú liền
chạy đi. Ta muốn tìm cho ra sự thật chính xác như thế nào?"
Sư
tử an ủi bầy thú kia và bảo:
- Ta
sẽ mang chú Thỏ này đi khám phá thật chính xác ngay tại
chỗ mà chú ta đã chỉ để xem đất ở đó có sắp diệt
tận hay không. Các bạn hãy ở đây cho đến khi ta quay trở
lại.
Thế
rồi đặt Thỏ lên lưng mình, với tốc độ của Sư tử ngài
phóng tới, để con Thỏ xuống khi tới khu rừng kè và nói:
- Hãy
đi chỉ chỗ mà bạn đã muốn nói.
- Thưa
ngài, tôi không dám đâu. Thỏ nói.
- Ði
đi, đừng sợ. Sư tử đáp.
Con
thỏ không dám đến gần cây vilva, cứ đứng xa mà kêu lên:
- Thưa
ngài, đằng kia kìa, đó là nơi tiếng động khủng khiếp
ấy.
Rồi
nó đọc bài kệ đầu:
Từ
nơi trú ẩn của tôi đây,
Tiếng
thụp bỗng nghe kinh hãi thay.
Tiếng
ấy là gì không thể nói,
Cũng
không hiểu được bởi gì gây.
Sau
khi nghe Thỏ nói, Sư tử liền đến gốc cây vilva, trông thấy
chỗ Thỏ đã nằm dưới bóng cây kè và thấy trái vilva chín
đã rơi trên ngọn lá kè kia. Sau khi đã cẩn thận xác nhận
rằng đất không bị vỡ, Bồ-tát liền đặt Thỏ lên lưng
và với tốc độ của Sư tử, phóng về chỗ bọn thú đang
đứng.
Thế
rồi ngài kể cho chúng nghe toàn bộ sự việc và nói:
- Ðừng
sợ hãi nữa.
Sau
khi an ủi bọn thú, ngài để cho chúng ra đi. Quả thật nếu
lúc ấy không nhờ Bồ-tát thì tất cả các con thú kia đều
đổ xô vào biển mà chết. Chính tất cả đều nhờ Bồ-tát
mà thoát chết.
Hãi
hùng vì tiếng trái rơi ra,
Thỏ
nọ, một lần đã chạy xa.
Tất
cả thú kia đều nối gót,
Rúng
lòng vì thỏ hoảng kinh mà
Chúng
không xem rõ việc là gì,
Chuyện
nhảm, không đâu, lắng tai nghe,
Cả
đám, đều vô cùng rối loạn
Với
niềm kinh hoảng rất ngu si.
Những
ai đạt được hạnh thông cao,
Trí
tuệ lạc an nhập được vào,
Việc
xấu dù cho còn xúi gọi.
Kinh
hoàng, như thế xá chi nào!
Ba
bài kệ được sáng tác ra từ Trí Tuệ Toàn hảo của đức
Phật.
*
Sau
khi chấm dứt bài thuyết giảng, bậc Ðạo Sư nhận diện
Tiền thân:
- Bấy
giờ, chính Ta là con Sư tử.
-ooOoo-
323.
Chuyện Vua Brahmadatta (Tiền thân Brahmadatta)
Như
thế này là đúng tính chất...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại đền thờ Aggàlava,
gần Àlavi, về các điều lệ phải giữ trong việc xây tinh
xá.
Câu
chuyện khởi đầu đã được kể trước đây, trong số 253.
Tiền thân Manikantha. Nhưng ở bậc Ðạo Sư dạy:
- Này
các Tỷ-kheo, có phải các ông sống ở đây bằng cách gây
phiền hà khi xin đồ vật và khất thực chăng?
Khi
họ đạp "vâng", Ngài quở trách họ và bảo:
- Các
bậc hiền trí ngày xưa, khi được vua ban cho họ thứ mà họ
thích, dù họ muốn xin đôi giày đế đơn, và vì sợ vi phạm
bản tính tinh tế cẩn trọng của họ, nên trước mọi người,
họ không dám nói một lời, mà chỉ nói riêng thôi.
Rồi
Ngài kể cho họ một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, trong vương quốc Kampillaka, khi một vị vua xứ Pãncàla
trị vì trong kinh thành ở phía bắc Pãncàla, Bồ-tát sinh ra
trong một gia đình Bà-la-môn, tại một thị trấn nọ. Khi
lớn lên, ngài tiếp thu kiến thức về các học nghệ tại
Takkasilã. Sau đó ngài thọ giới luật của một ẩn sĩ và
trú trong vùng Tuyết Sơn. Ngài sống ở đó một thời gian
lâu và sống bằng cách lượm nhặt trái, củ rừng.
Rồi
khi lai vãng các nơi có người ở để kiếm muối và giấm,
ngài đến phía bắc Pãncàla và trú trong vườn cây của nhà
vua. Ngày hôm sau, ngài vào thành khất thực và đến cổng
nhà vua. Vua rất hài lòng về cử chỉ thái độ của ngài
nên mời ngài ngồi trên bệ và dâng ngài các thức ăn xứng
với vị vua. Vua long trọng hứa kết thân với ngài và giao
cho ngài một chỗ ở trong khu rừng vườn ấy.
Ngài
ở mãi trong ngôi nhà vua và khi mùa mưa chấm dứt, muốn trở
lại vùng Tuyết Sơn, ngài tự nghĩ: "Nếu ta lên đường, ta
cần có một đôi giầy đế đơn và một cái dù lá. Ta hỏi
xin đức vua các thứ ấy".
Một
hôm, ngài đến vườn cây và thấy vua đang ngồi đó, ngài
chào vua và định hỏi xin vua giày và dù. Nhưng ngài lại nghĩ:
"Khi một người xin người khác và nói: Hãy cho tôi thứ ấy,
thứ ấy...., thì người ấy muốn khóc lên được và khi người
kia từ chối và nói: Tôi không có thứ ấy ..., thì phần mình
cũng muốn khóc lên được". Và để cho mọi người khỏi
phải thấy ngài hoặc vua khóc, ngài nghĩ: "Cả hai chúng ta
sẽ yên ổn khóc ở một nơi kín đáo". Vì thế ngài nói:
- Tâu
Ðại vương, tôi muốn nói chuyện riêng với ngài.
Các
cận thần của vua nghe thế liền bỏ đi. Nhưng Bồ-tát lại
nghĩ: "Nếu vua từ chối lời thỉnh cầu của ta thì tình bạn
giữa vua và ta sẽ chấm dứt. Vậy ta không nên hỏi xin vua
thứ gì cả".
Hôm
ấy, vì không dám nêu vấn đề, ngài bảo:
- Tâu
Ðại vương, xin ngài hãy đi, để tôi xem lại chuyện này
đã.
Hôm
khác, khi vua vào vườn cây, cũng như trước, Bồ-tát nói thế
này rồi thế kia và không thể bày tỏ lời thỉnh cầu của
mình được. Và cứ thế, mười hai năm trôi qua.
Bấy
giờ, vua tự nghĩ: "Vị giáo sĩ này bảo: Tôi muốn nói riêng,
và khi các quan bỏ đi, ngài lại không có can đảm nói. Ngài
mong muốn như thế đã mười hai năm qua. Ta nghĩ rằng sau mười
hai năm sống đời tu hành lâu như thế, ngài đang tiếc nhớ
cuộc đời này. Ngài muốn hưởng lạc thú và khao khát quyền
cao. Nhưng vì không thể bày tỏ ra được tiếng "vương quốc"
nên người đành giữ im lặng. Hôm nay, từ vương quốc của
ta trở xuống, hễ ngài muốn gì, ta đều trao cho cả.
Thế
là vua vào vườn cây, chào Bồ-tát và ngồi xuống, Bồ-tát
xin được nói riêng với vua và khi các cận thần ra đi, ngài
lại không thể nói ra lời nào. Vua bảo:
- Ðã
mười hai năm nay, ngài cứ xin nói chuyện riêng với ta, thế
mà khi có cơ hội thuận tiện, ngài lại không thể thốt lên
được một lời, ta thuận cho ngài mọi thứ, từ vương quốc
của ta trở xuống. Ngài chớ có e ngại, cứ hỏi xin thứ
gì mà ngài thích đi!
- Tâu
Ðại vương, - Bồ-tát nói - Ngài có vui lòng cho tôi cái mà
tôi thích chăng?
- Vâng
thưa Tôn giả, vui lòng.
- Tâu
Ðại vương, khi tôi lên đường ra đi, tôi cần có một đôi
giày đế đơn và một cái dù lá.
- Ngài
ơi, thế mà suốt mười hai năm qua, ngài đã không thể nào
hỏi xin một điều quá nhỏ nhặt như thế được ư?
- Tâu
Ðại vương, thế đấy ạ.
- Tại
sao ngài lại làm như thế chứ?
- Tâu
Ðại vương, khi một người bảo: "Hãy cho tôi thứ ấy ...,"
người ấy phải rơi nước mắt và kẻ từ chối: "Tôi khômg
có thứ ấy" thì về phần mình, kẻ ấy cũng phải khóc. Nếu
khi tôi xin mà ngài từ chối, tôi sợ rằng người ta có thể
thấy chúng ta hoà lẫn nước mắt. Ðó là lý do khiến tôi
xin được kín đáo hỏi.
Thế
rồi ngài mở đầu bằng cách đọc ba bài kệ:
Như
thế này đúng là tính chất,
Của
lời xin, kính bạch Ðại vương,
Nó
luôn luôn vẫn sẽ mang
Hoặc
lời từ chối, hoặc phần tặng trao.
Tâu
chúa công, kẻ nào thỉnh nguyện,
Nước
mắt kia đã muốn trào ra;
Còn
người từ chối lời kia
Cũng
là khó giữ đầm đìa lệ rơi.
Tôi
sợ rằng mọi người thấy được
Chúng
ta đây nhỏ nước mắt suông
Nêu
điều tôi hỏi xin mang
Bên
ngài thầm kín, tôi cần rỉ tai.
Vua
rất đẹp lòng vì sự biểu lộ lòng kính trọng kia ở phần
Bồ-tát. Ngài ban tặng ân huệ cho Bồ-tát và đọc bài kệ
thứ tư:
Ta
tặng ngài một bầy bò đỏ,
Gồm
ngàn con, thêm có người chăn
Lời
ngài cao quí muôn vàn,
Phần
ta xúc cảm rộng lòng phát ban.
Nhưng
Bồ-tát bảo:
- Tâu
Ðại vương, tôi không muốn những thú vui vật chất. Hãy
cho tôi thứ tôi xin mà thôi.
Rồi
ngài mang đôi giày đế đơn, cầm chiếc dù lá và khích lệ
vua nhiệt tâm trong đạo, giữ giới luật và tuân hành ngày
trai tịnh. Thế rồi dù vua nài nỉ ngài ở lại, ngài vẫn
ra đi vào dãy Tuyết Sơn, ở đây ngài phát huy các Thắng trí
và các Thiền chứng, sau đó tái sinh vào cõi Phạm thiên.
*
Bậc
Ðạo Sư chấm dứt bài thuyết giảng và nhận diện Tiền
thân:
- Bấy
giờ, Ànanda là vị vua ấy; còn ta là ẩn sĩ nọ.
-ooOoo-
324.
Chuyện Thầy Tu Mặc Áo Da (Tiền thân Cammasảtaka)
Con
vật hảo tâm tỏ ra vâng phục ...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo mặc áo bằng da.
Áo
ngoài áo trong của ông đều bằng da cả. Một hôm, khi ra khỏi
Tinh xá để đi khất thực ở Xá Vệ, ông đến đấu trường
của cừu đực. Một con cừu đực trông thấy ông, liền thối
lui định húc ông. Vị Tỷ-kheo tự nghĩ: "Nó làm như thế
là để tỏ kính phục ta đấy". Và ông không chịu lùi bước.
Con cừu phóng tới húc vào đùi ông, làm ông ngã xuống đất.
Trường hợp kính chào ảo tưởng kia được đồn đại trong
chúng Tỷ-kheo. Ðề mục được các Tỷ-kheo đem bàn tán trong
Pháp đường là vị khất sĩ mặc áo da kia tưởng được
kính chào như thế nào và gặp cái chết ra sao. Bậc Ðạo
Sư bước vào và hỏi họ đang bàn tán việc gì. Sau khi nghe
kể lại. Ngài dạy:
- Này
các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà từ xưa kia cũng
thế, tu sĩ ấy tưởng mình được kính chào và rồi phải
mang lấy cái chết.
Rồi
Ngài kể cho họ một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, Bồ-tát sinh ra trong một gia đình thương gia và hành nghề
buôn bán. Bấy giờ có một khất sĩ nọ, mặc quần áo bằng
da đang đi khất thực, đến đấu trường của cừu đực
và cừu đực thối lui khi đối diện với ông, ông tưởng
nó làm thế là tỏ dấu hiệu kính trọng nên ông không rút
lui. Ông nghĩ: "Trên toàn cõi đời này, chỉ riêng con cừu
này nhận biết các công hạnh của ta." Ông đứng đó, chấp
tay giơ lên kính chào và đọc bài kệ đầu:
Con
vật hảo tâm tỏ ra khâm phục
Trước
Bà-la-môn đạo thức, đẳng cao.
Thú
kia, ngươi thiện hảo biết là bao,
Mong
ngươi được vang danh khắp loài vật.
Bây
giờ một vị thương gia có trí tuệ đang ngồi trong cửa hàng
mình, muốn can ngăn vị khất sĩ, liền đọc bài kệ thứ
hai:
Bà-la-môn,
chớ kinh thường, tin nó,
Nó
sẽ húc, người ngã xuống đất ngay.
Cừu
đực kia đang lui lại như vầy,
Ðể
phóng mạnh tới tấn công người đó.
Trong
lúc vị thương gia có trí tuệ ấy còn đang nói, con cừu đực
phóng tới thật nhanh và húc vào đùi khất sĩ, làm ông ngã
xuống. Ông muốn cuồng lên vì đau đớn, và cứ nằm đó
kêu than. Sự việc ấy được bậc Ðạo Sư diễn tả bằng
bài kệ thứ ba:
Bình
bát lật úp và chân bị gãy,
Người
tiếc than thân phận ấy đau buồn.
Ðừng
dang tay khóc lóc thật hoài công,
Mau
cứu chữa trước khi người bị giết!
Và
vị khất sĩ đọc bài kệ thứ tư:
Kẻ
nào tỏ kính cung nơi chẳng xứng,
Ðều
xẻ chia số phận của tôi nay,
Bị
cừu kia húc ngã xuống đất đây.
Tôi
phải chết vì lòng tin vụng dại.
Ông
ta than vãn như thế rồi sau đó chết đi.
*
Sau
khi chấm dứt bài thuyết giảng, bậc Ðạo Sư nhận diện
Tiền thân:
- Người
mặc áo da hôm nay và thời xưa ấy cũng là một. Còn ta là
vị thương gia có trí tuệ kia.
-ooOoo-
325.
Chuyện Con Tắc Kè (Tiền thân Godha)
Kẻ
nào đóng vai tu ẩn dật ...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ-Viên về một
Tỷ-kheo xảo quyệt.
Câu
chuyện mở đầu đã được kể đầy đủ trước đây. Trong
dịp này các Tỷ-kheo đưa ông ra trước bậc Ðạo Sư và thưa:
- Bạch
Ngài, Tỷ-kheo này gian xảo.
Bậc
Ðạo Sư dạy:
- Không
phải chỉ bây giờ, xưa kia cũng thế, ông ta đã xảo quyệt.
Rồi
Ngài kể cho họ nghe một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra
là một con Tắc kè. Khi lớn lên và trở nên khỏe mạnh, lực
lưỡng, ngài trú trong một khu rừng.
Bấy
giờ một ẩn sĩ độc ác nọ dựng một túp lều lá trú gần
ngài. Bồ-tát trong khi đi đây đó kiếm ăn, trông thấy túp
lều lá và tự nghĩ: "Túp lều này hẳn phải là của một
nhà tu khổ hạnh".
Ngài
đến chào và hỏi nhà tu rồi quay về chỗ của mình.