CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (III) Jàtaka
Chương
V
Phẩm
Năm Bài Kệ
351.
Chuyện Vòng Tay Bằng Ngọc (Tiền thân Manikundala)
Bị
cướp hết niềm vui cuộc sống...,
Câu
chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi ngài trú tại Kỳ Viên
về một ông quan phạm tội thông gian trong hậu cung của vua
xứ Kosala.
Trường
hợp xảy ra câu chuyện đã được kể đầy đủ trước đây
ở số 282 và 303.
*
Ở
đây cũng thế, Bồ-tát là vua ở Ba-la-nại. Ông quan xấu xa
kia đến với vua Kasala và khuyên vua đánh chiếm vương quốc
Kàsi rồi bắt Bồ-tát bỏ vào ngục. Ðức vua Ba-la-nại phát
triển thiền định và ngồi bắt chéo chân ở trên không.
Ông vua cướp nước kia bị nóng sốt toàn thân, liền đến
gần vua Ba-la-nại và đọc bài kệ đầu:
Bị
cướp hết niềm vui cuộc sống,
Hết
hoa tai lộng ngọc, ngựa, xe,
Vợ
yêu, con dấu mất đi,
Xem
ra ngài chẳng tỏ chi phiền hà!
Nghe
thế Bồ-tát liền đọc các bài kệ sau:
Thú
vui sẽ vội rời ta,
Thú
vui rồi sẽ bay xa mấy hồi.
Vua
kia tự hóa buồn thôi,
Như
vần trăng hiện trên trời, trăng non,
Ðầy
dần cho đến lúc tròn,
Khuyết
đi rồi lại chẳng còn trăng đâu!
Sưởi
cho vạn vật tươi màu,
Mặt
trời vội lặn bên bầu trời xa,
Luật
đời là đổi thay mà,
Khổ
đau không thể làm ta bận lòng.
Thế
rồi bậc Ðại Sĩ giảng bài Chân lý cho ông vua cướp nước
kia nghe và đem đức hạnh của mình ra thử thách, ngài đọc
các kệ sau:
Ghét
thường nhân tham dục
Vẫn
theo thói biếng lười.
Kẻ
tu hành giả mặt:
Phường
xảo quyệt đấy thôi!
Hôn
quân thường xử án
Mà
chẳng chịu lắng nghe;
Không
thể nào biện bạch
Bậc
trí nổi sân si
Chiếu
vương phán một lời
Cân
nhắc thật hẳn hoi,
Chính
chuyên lời phán ấy
Vang
danh mãi trên đời.
Vua
xứ Kosala được Bồ-tát tha thứ, và sau khi trao trả lại
vương quốc cho Bồ-tát, ông quay về xứ của mình.
*
Sau
khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ Ànanda là vua xứ Kasala, còn Ta chính là vua Ba-la-nại.
-ooOoo-
352.
Chuyện Chàng Sujàta (Tiền thân Sujàta)
Sao
con lại vội mang...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một
người chủ đất có cha chết.
Khi
cha ông mất, ông buồn bã đi khắp nơi, chẳng thể nào vơi
được cơn sầu. Bậc Ðạo Sư nhận thấy người đàn ông
này có khả năng đạt quả giải thoát cho nên khi Ngài vào
thành Xá-vệ để khất thực, Ngài cùng với một thị giả
đến nhà ông ta. Ngồi vào chỗ đã soạn sẵn cho Ngài, Ngài
cúi xuống nói với gia chủ cũng đang ngồi đấy:
- Nay
cư sĩ, phải chăng ông đang sầu khổ?
Người
ấy đáp:
- Vâng,
bạch Thế Tôn, đúng như thế.
Ngài
dạy:
- Này
bằng hữu, các bậc hiền trí ngày xưa đã nghe lời trí tuệ
của người chính trực và khi họ mất cha, họ không sầu
khổ.
Rồi
do yêu cầu của gia chủ, Ngài kể một chuyện tiền kiếp.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sinh vào nhà
một gia chủ nọ. Ngài được gọi là Nam tử Sujàta. Khi ngài
lớn lên thì nội tổ của ngài mất. Từ ngày lão gia mất,
thân phụ ngài rất sầu khổ. Ông lấy hài cốt của cha từ
nơi hỏa táng rồi xây một nấm mồ trong vườn thưởng ngoạn
của ông và đặt di cốt vào đấy. Mỗi khi đến thăm chỗ
ấy, ông trang hoàng hoa lên mồ rồi mải miết than khóc. Ông
chẳng tắm rửa chẳng xức dầu thơm, cũng chẳng để ý đến
việc kinh tài. Quan sát việc này, Bồ-tát tự nghĩ: "Từ khi
ông nội ta mất, cha ta đi đâu cũng cứ đắm chìm trong sầu
muộn. Ta chắc rằng chẳng ai ngoài ta ra có khả năng khuyên
nhủ được người. Ta sẽ tìm cách giải thoát cho người
khỏi cơn sầu khổ".
Thế
rồi khi trông thấy con bò đực nằm chết ở bên ngoài thành
phố, ngài mang cỏ và nước tới đặt trước con bò ấy và
nói:
- Ăn
đi, uống đi! Ăn đi, uống đi.
Mọi
người đi qua thấy thế đều bảo:
- Này
Sujàta, bạn điên đấy ư? Bạn đưa cỏ và nước cho một
con bò chết ư?
Nhưng
ngài không đáp một tiếng nào.
Vì
thế, họ đến bảo với thân phụ ngài:
- Con
trai của ông bị điên rồi, anh ta lấy cỏ và nước đem cho
một con bò chết đấy.
Nghe
thế, người chủ đất ngưng sầu than cha mình mà lại bắt
đầu sầu than đứa con trai. Ông vội chạy đến và kêu lên:
- Này
Sujàta, con không được bình thường đấy ư? Sao con lại đưa
cỏ cho cái xác bò chết?
Rồi
ông đọc hai bài kệ sau:
Sao
con lại vội mang
Cỏ
mới cắt ngọt ngon
Cho
con vật đã chết,
Lại
kêu "Dậy mà ăn"?
Không
có thức ăn gì
Hồi
sinh một bò chết,
Lời
con vớ vẩn thật,
Và
do bởi mê si.
Bấy
giờ Bồ-tát đọc hai bài kệ:
Con
vật này hẳn rồi
Vẫn
còn đường sống lại,
Vì
đủ cả đầu đuôi
Và
bốn chân còn đấy.
Còn
ông nội, rõ ràng
Ðầu,
tay, chân đã mất,
Kẻ
khùng nào khóc than?
Chỉ
có cha độc nhất!
Nghe
thế, thân phụ của Bồ-tát tự nghĩ: "Con ta thật thông tuệ.
Nó biết điều gì đúng cần làm cho đời này và cho cả đời
sau. Nó đã làm thế để khuyên nhủ ta". Rồi ông bảo:
- Này
Sujàta, con trai yêu dấu và khôn ngoan của ta, ta đã hiểu được
rằng mọi sự vật đang hiện hữu đều là vô thường. Từ
nay ta sẽ không sầu khổ. Một đứa con như thế này hẳn
là kẻ làm cho cha mình hết sầu khổ.
Ðể
ca ngợi con trai, ông nói:
Như
lửa dầu đang trong cơn cháy mạnh,
Nước
đổ vào liền bị tắt ngay đi,
Cõi
lòng ta đang nhức nhối sầu bi,
Con
ta đã chữa lành đời ta sáng
Gai
đã nhổ, tươi vui và tĩnh lặng,
Ta
hết sầu, nghe lời của con ta.
Bậc
thiện hiền khiến đời dứt phiền hà
Cứu
thân phụ như Su-jà thông tuệ.
*
Sau
khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế.
Ở phần kết thúc Tứ Đế, người chủ đất đắc quả Dự
Lưu.
Và
bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ ta là Sujàta.
-ooOoo-
353.
Chuyện Cành Cây Thanh Tịnh (Tiền thân Dhonasàkha)
Nay
dù bạn bình an hạnh phúc...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi ngài trú tại rừng Bhesakalà, gần
Sumsumàragiri (Núi Cá sấu) trong xứ của bộ tộc Bhaggas. Chuyện
kể về vương tử Bodhi (Bồ-đề).
Vương
tử này là con vua Udena, bấy giờ đang sống tại Sumsumàragiri.
Ông cho mời một người thợ thật giỏi, bảo xây cho mình
một cung điện gọi là Kokànada và làm cho nó khác cung điện
của bất cứ ông vua nào. Về sau, ông tự nghĩ: "Tên thợ
này có thể xây một cung điện như thế cho một ông vua khác".
Và do lòng đố kỵ, ông móc đôi mắt của người thợ ấy
đi.
Các
Tỷ-kheo biết được chuyện ấy. Họ bàn thảo trong Pháp đường:
- Này
các hiền giả, vương tử Bodhi đã móc mắt của người thợ
như thế, như thế. Chắc chắn ông ta là một người tàn nhẫn,
dữ dằn, hung bạo.
Bậc
Ðạo Sư đến và hỏi các Tỷ-kheo đang bàn chuyện gì. Khi
nghe thuật lại, Ngài dạy:
Không
chỉ bây giờ mà xưa kia tánh ông ta cũng như vậy. Ngày xưa
cũng bằng cách như thế, ông ta đã móc mắt của một ngàn
chiến sĩ và sau khi giết chết họ, ông đã đem thịt của
họ ra tế lễ.
Rồi
Ngài kể cho các Tỷ-kheo một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là
một giáo sư lừng danh tại Takkasilà, các thanh thiếu niên
thuộc giai cấp quý tộc, võ tướng và Bà-la-môn từ khắp
nước Ấn Ðộ đến với ngài để được ngài dạy các học
nghệ. Con vua Ba-la-nại là hoàng tử Brahmadatta cũng thế, được
ngài dạy ba tập Vệ-dà. Ông ta là một kẻ tàn nhẫn, dữ
dằn, hung bạo. Do tài tiên đoán, Bồ-tát biết được tính
ấy của hoàng tử nên bảo:
- Này
bạn, bạn tàn nhẫn, dữ dằn, hung bạo và thực ra, quyền
lực mà kẻ hung bạo đạt được không lâu dài. Khi quyền
lực mất đi, người ấy giống như một chiếc tàu gặp nạn
ngoài khơi, ông ta sẽ không đến bến bờ nào an ổn cả.
Do đó, bạn chớ giữ tính tình như vậy.
Rồi
ngài đọc hai bài kệ sau đây để khuyến dụ:
Nay
dù bạn bình an hạnh phúc,
Hạnh
phúc kia mấy chốc chẳng còn.
Của
mất đi chớ khổ buồn,
Như
người đi biển bão dồn ném xa.
Theo
hành vi, chúng ta xuôi hướng
Mùa
gặt theo như hạt giống gieo,
Hai
đằng ta phải nhận vào:
Cỏ
hoang độc hại, cây cao tốt lành.
Thế
rồi hoàng tử từ biệt thầy và trở về Ba-la-nại. Sau khi
trổ tài nghệ cho vua xem, ông được giao chức phó vương và
khi vua cha chết, ông nối ngôi trị vì vương quốc. Vị giáo
sĩ của nhà vua là một người tàn nhẫn, dữ dằn. Vì tham
danh vọng, ông tự nghĩ: "Nếu ta gây sự cho tất cả các nhà
lãnh đạo của toàn Ấn Ðộ bị ông vua này bắt hết và
nếu bấy giờ ông ta là hoàng đế độc nhất thì ta sẽ là
giáo sĩ độc nhất".
Thế
là ông làm cho vua nghe theo lời ông.
Vua
đem đại quân tiến ra, bao vây kinh đô của một vua kia rồi
bắt giữ vua ấy. Bằng những cách thức tương tự, ông chiếm
hết toàn lãnh thổ Ấn Ðộ và cùng với một ngàn ông vua
trong đoàn của ông, ông tiến đánh vương quốc Takkasilà.
Bồ-tát sửa sang các thành lũy để ngăn quân thù xâm nhập.
Vua Ba-la-nại đặt bộ tham mưu của ông ở dưới gốc cây
đa to lớn. Ông truyền dựng mái đình che phía trên, chung quanh
có vây màn và có chỗ nằm trải sẵn cho ông. Khi chiến đấu
trên các đồng bằng Ấn Ðộ, ông đã bắt được một ngàn
vua, nhưng ông lại không thể tấn công vào Takkasilà được.
Ông bèn hỏi giáo sĩ:
- Chúng
ta đã đến đây cùng với đạo quân gồm các vua bị bắt
và chúng ta vẫn không thể chiếm được Takkasilà. Bây giờ
phải làm sao?
- Tâu
Ðại vương - Giáo sĩ trả lời- Hãy móc mắt một ngàn vua
kia, mổ bụng họ ra và lấy thịt họ cùng với năm món thơm
ngon làm lễ cúng dâng vị thần cây đa này. Hãy đào một
cái rãnh quanh cây và đổ máu cho ngập tới khoảng một tấc.
Và như thế chẳng bao lâu chiến thắng sẽ về ta.
Vua
sẵn sàng chấp thuận. Vua giấu kín các võ sĩ khỏe mạnh
đằng sau bức màn rồi cho họ gọi riêng từng ông vua kia.
Các võ sĩ dùng hai cánh tay siết từng người cho đến khi
họ ngất đi rồi vua sai móc mắt họ. Sau khi họ chết, vua
cho mang xác ra ném ngoài sông Hằng. Thế rồi vua tổ chức
tế lễ như đã nói trên, sau đó, sai đánh trống và mang quân
ra trận.
Bỗng
một tên quỷ Dạ-xoa từ tháp canh xông tới móc con mắt phải
của vua ra. Vua quá đau đớn đến điên cuồng liền đi nằm
sóng sượt trên giường dành riêng cho ông dưới gốc cây
đa.
Lúc
bấy giờ một con kên kên cắp một cái xương nhọn rồi đậu
trên đọt cây ấy. Khi đang ăn thịt nó để rớt cái xương
và đầu nhọn rơi xuống như dùi sắt trúng con mắt trái của
vua, hủy luôn con mắt ấy. Lúc bấy giờ, vua nhớ lại lời
dạy của Bồ-tát, ông tự nhủ: "Thầy ta đã từng nói: Người
đời phải thọ kết quả tùy theo các việc làm của mình,
cũng như trái cây hình thành tùy theo hạt giống vậy", hẳn
là người đã thấy tất cả sự việc này bằng con mắt trí
tuệ nên nói như thế".
Trong
khi đang sầu đau, ông nói với giáo sĩ Pingiya qua hai bài kệ
sau:
Nay
mới hiểu lẽ chân thầy dạy
Từ
lúc ta trẻ tuổi dại ngây:
Chớ
gây tội ác, có ngày
Ngươi
làm việc xấu bị đày đọa thôi.
Nằm
ở dưới tàn cây bóng mát,
Tẩm
dầu thơm ngào ngạt chiên-đàn,
Ðịch
vương, ta giết cả ngàn,
Nỗi
đau họ chịu, ta đang chịu cùng.
Khi
khóc than như thế, vua nhớ đến hoàng hậu của ông và đọc
bài kệ này:
Ub-ba-rì
mặn mà,
Ôi
hoàng hậu của ta,
Dáng
người trông yểu điệu,
Như
cành Mo-rin-ga.
Tay
chân nàng thơm ngát,
Ướp
dầu hương chiên-đàn,
Làm
sao ta sống nổi,
Khi
chẳng thấy được nàng?
Ôi
chết không tàn khốc
Bằng
nỗi này đau thương!
Trong
khi còn đang lầm thầm các lời trên, vua chết đi và tái sanh
vào địa ngục. Vị giáo sĩ tham quyền ấy không thể cứu
được ông, ngay cả ông, với quyền lực của mình, vẫn không
tự cứu được. Và ngay khi ông chết đi, quân đội của ông
tan vỡ và tháo chạy.
*
Bậc
Ðạo Sư chấm dứt bài giảng và nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ vương tử Bồ-dề là ông vua cướp nước ấy, Ðề-bà-đạt-đa
là Pingiya, còn Ta chính là vị thầy lừng danh nọ.
-ooOoo-
354.
Chuyện Con Rắn (Tiền thân Uraga)
Người
đời bỏ xác ra...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một
chủ đất có con trai chết.
Câu
chuyện dẫn đầu cũng giống như chuyện của người đàn
ông mất cả vợ và cha. Ở đây cũng vậy, bằng cách ấy,
bậc Ðạo Sư đến nhà ông và sau khi chào ông, Ngài ngồi
xuống và bảo:
- Này,
thí chủ, ông đang sầu khổ đấy ư?
Và
ông đáp:
- Bạch
Ngài, vâng, từ khi con trai của con chết, con rất đau khổ.
Ngài
dạy:
- Này
thí chủ, quả thật, cái gì phải tan rã thì tan rã, và cái
gì bị hủy diệt thì hủy diệt; điều ấy không chỉ xảy
ra cho một người, không chỉ xảy ra ở trong một làng mà
ở trong vô số cảnh vật, và trong ba cách hữu sinh tam giới,
không có sinh vật nào không chết, không có sự vật hiện
hữu nào có thể ở mãi trong cùng một hoàn cảnh được.
Mọi chúng sinh đều phải chết, mọi kết hợp đều phải
tan rã. Khi bị mất một đứa con, các bậc hiền trí ngày
xưa bảo. Cái gì phải hủy diệt thì bị hủy diệt, và họ
không sầu khổ.
Rồi
do lời yêu cầu của người ấy. Ngài kể một chuyện quá
khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh
ra trong một gia đình Bà-la-môn ở một ngôi làng phía ngoài
cổng thành Ba-la-nại và ngài nuôi sống gia đình bằng nghề
cày ruộng. Ngài có hai con: một trai và một gái. Khi con trai
lớn lên, ngài cưới vợ cho anh ta từ một gia đình cùng đẳng
cấp với ngài. Như thế cùng với một nữ tỳ, họ hợp thành
một gia đình sáu người: Bồ-tát và vợ ngài, con trai và
con gái, con dâu và nữ tỳ. Họ sống với nhau đầy tình thương
và hạnh phúc. Bồ-tát khuyên dạy năm người kia:
- Tùy
theo những thứ mà các người nhận vào, phải bố thí, hành
trì các ngày trai giới, giữ gìn đức hạnh, sống với ý
nghĩ về cái chết, chú ý đến tình trạng phải chết của
con người. Trong hoàn cảnh của chúng sinh như chúng ta đây,
cái chết là chắc chắn, cuộc sống không chắc chắn, tất
cả sự vật hiện hữu đều là tạm bợ và phải chịu suy
tàn. Do đó ngày đêm phải chú ý đến lối sống của các
người.
Mọi
người đều nhận lãnh lời dạy của Bồ-tát và nghiêm túc
sống với ý nghĩ về cái chết.
Một
hôm, Bồ-tát cùng con trai đi cày ruộng. Người con nhặt cỏ
rác rồi đốt. Cách đó không xa, có một con rắn sống trong
một cái đụn kiến. Bị khói làm xốn mắt, con rắn giận
dữ bò ra khỏi hang và nghĩ: "Tất cả chuyện này là do tên
ấy" và nó phóng tới cắn vào anh ta bằng bốn cái răng cửa
của nó. Người thanh niên ngã xuống chết.
Khi
thấy anh ngã xuống, Bồ-tát rời mấy con bò chạy tới, và
thấy rằng anh ta đã chết, ngài ẵm lên và đặt anh nằm
dưới gốc cây nọ. Ngài lấy áo choàng phủ lên anh, không
hề khóc lóc sầu đau. Ngài bảo:
- Cái
gì phải tan rã thì tan rã, cái gì phải chết thì chết. Tất
cả những hiện hữu kết hợp đều tạm bợ và phải chết.
Biết
được tính chất tạm bợ của sự vật, ngài tiếp tục việc
cày bừa. Trông thấy một người hàng xóm đi qua gần đám
ruộng, ngài hỏi:
- Này
bạn, có phải bạn đang về nhà đấy không?
Người
ấy trả lời:
- Vâng.
Ngài
bảo:
- Nhờ
bạn đến nhà chúng tôi và nói với bà chủ, hôm nay không
phải đem đồ ăn cho hai người như trước, mà chỉ đem cho
một người thôi. Và mọi khi chỉ một mình nữ tỳ mang thức
ăn đến, thì hôm nay cả bốn người trong nhà phải mặc quần
áo sạch sẽ và mang hương hoa đến đây.
- Ðược
rồi.
Người
ấy đáp và đi nói đúng các lời trên với vợ của vị Bà-la-môn
ấy.
Bà
hỏi:
- Này
bác, ai nhắn tin này thế?
Người
ấy đáp:
- Thưa
bà, ông Bà-la-môn đấy.
Thế
là bà hiểu rằng con trai bà đã chết. Nhưng bà không run sợ,
bà sai soạn thức ăn rồi cùng với những người khác trong
gia đình ra đồng. Nhưng không ai, kể cả bà, nhỏ một giọt
nước mắt hay than van. Khi Bồ-tát dùng bữa xong, mọi người
chất củi và nâng xác để lên giàn hỏa táng, họ dâng hương,
hoa rồi châm lửa thiêu. Chẳng ai nhỏ một giọt nước mắt.
Tất cả đều an trú vào ý nghĩ về cái chết.
Hiệu
lực đức hạnh của họ làm cho ngai của Thiên chủ Ðế Thích
nóng lên. Ðế Thích tự bảo:
- Ủa,
kẻ nào muốn hạ ta xuống khỏi ngai thế này?
Thiên
chủ suy tưởng và phát hiện rằng hơi nóng này là do mãnh
lực đức hạnh hiện hữu trong những người ấy. Rất sung
sướng, Thiên chủ nói:
- Ta
phải đến nơi họ và vui mừng la lớn như tiếng rống của
sư tử rồi ngay sau đó sẽ lấy thất bảo đổ đầy chỗ
của họ.
Thiên
chủ vội vàng đến đó và đứng bên giàn hỏa táng nói:
- Các
ngươi đang làm gì thế?
- Thưa
ngài, chúng tôi đang thiêu xác của một người.
Thiên
chủ nói:
- Không
phải các ngươi đang thiêu một người, có lẽ các người
đang quay thịt một con vật nào đó mà các người đã giết.
Họ
đáp:
- Không
phải thế đâu, thưa ngài, đúng là chúng tôi đang thiêu xác
của một người.
Thế
rồi Thiên chủ nói:
- Vậy
chắc hẳn là một kẻ thù nào đấy.
Bồ-tát
đáp:
- Ðấy
chính là con trai ruột của chúng tôi, chứ không phải kẻ
thù nào cả.
- Thế
thì hẳn anh ta không được ông yêu mến.
- Tôi
rất yêu mến nó, thưa ngài.
- Thế
tại sao ông không khóc?
Rồi
để giải thích lý do tại sao ngài không khóc, Bồ-tát đọc
bài kệ đầu:
Ðời
người bỏ xác ra,
Khi
niềm vui sống qua,
Như
rắn kia vẫn thế,
Thường
lột vỏ thay da.
Không
lời nào thương tiếc
Chạm
đến tro người chết.
Sao
tôi phải buồn thương?
Kẻ
ấy đi tiếp đường.
Nghe
xong những lời của Bồ-tát, Ðế Thích hỏi bà vợ của ngài:
- Thưa
bà, người chết liên hệ thế nào với bà?
- Tôi
mang nó mười tháng trong bào thai, cho nó bú sữa của tôi,
dạy cho nó cử động tay chân, đi đứng và thưa ngài nó là
đứa con trưởng thành của tôi đấy.
- Thưa
bà, do bản tính đàn ông, một người cha không khóc là phải,
nhưng trái tim một người mẹ chắc chắn là mềm yếu. Thế
sao bà lại không khóc?
Bà
đọc hai bài kệ để giải thích vì sau bà không khóc:
Không
gọi nó đến đây,
Chẳng
sai nó đi ngay,
Nó
đi như nó đến,
Sao
lại phải sầu cay?
Không
lời nào thương tiếc,
Chạm
đến tro người chết,
Sao
tôi phải buồn thương?
Kẻ
ấy đi tiếp đường.
Nghe
xong những lời của vợ Bồ-tát, Ðế Thích hỏi cô em gái:
- Thưa
cô, người chết là gì của cô?
- Thưa
ngài, anh ấy là anh tôi.
- Thưa
cô, chị em gái chắc chắn thương yêu anh em trai. Tại sao cô
lại không khóc?
Ðể
giải thích lý do tại sao mình không khóc, cô ta đọc hai bài
kệ:
Dù
nhịn đói, khóc than,
Ích
gì được cho con,
Ôi,
bà con thân thuộc,
Sẽ
nhiều đau khổ hơn.
Không
lời nào thương tiếc,
Chạm
đến tro người chết.
Sao
còn phải buồn thương?
Kẻ
ấy đi tiếp đường.
Nghe
xong những lời của cô em gái, Ðế Thích hỏi cô vợ:
- Thưa
cô, anh ta là gì của cô?
- Thưa
ngài, anh ấy là chồng của tôi.
- Khi
chồng chết, các bà là những góa phụ bơ vơ. Tại sao cô
không khóc?
Ðể
giải thích lý do tại sao mình không khóc, cô ta đọc hai bài
kệ:
Như
con trẻ kêu gào,
Ðòi
vô vọng trăng cao,
Khóc
than người yêu mất,
Người
đời ngớ ngẩn sao!
Không
lời nào thương tiếc,
Chạm
đến tro người chết.
Sao
tôi lại buồn thương?
Kẻ
ấy đi tiếp đường.
Nghe
xong những lời của cô vợ, Thần Ðế Thích hỏi người nữ
tỳ:
- Này
bà, anh ấy là gì của bà?
- Thưa
ngài, ông ấy là chủ của tôi.
- Chắc
chắn rằng bà phải bị anh ta la mắng, đánh đập, áp bức,
do đó bà nghĩ rằng may quá anh ta đã chết nên bà không khóc.
- Thưa
ngài, chớ nói như thế. Cậu ấy không phải thế đâu. Cậu
chủ tôi rất chịu đựng, yêu mến và thương xót tôi, cậu
ấy cũng như con nuôi của tôi vậy.
- Thế
thì tại sao bà không khóc?
Và
để giải thích tại sao mình không khóc, người nữ tỳ đọc
hai bài kệ:
Một
bình đất đã vỡ,
Ai
ráp lại được vào,
Khóc
than cho người chết,
Chỉ
chuốc thất bại vào.
Không
lời nào thương tiếc,
Chạm
đến tro người chết,
Sao
tôi phải buồn thương?
Kẻ
ấy đi tiếp đường.
Sau
khi nghe tất cả mọi người nói, Ðế Thích rất thích thú
liền nói:
- Các
ngươi đã thận trọng sống với ý nghĩ cái chết. Từ nay
các ngươi khỏi phải tự tay cày bừa nữa. Ta là Ðế Thích,
vua cõi trời. Ta sẽ tạo ra vô số thất bảo trong nhà các
ngươi. Hãy bố thí, giữ đạo đức, hành trì ngày trai giới,
quan tâm đến cách sống.
Sau
khi khuyến dụ họ, Thiên chủ tạo ra vô số của cải trong
nhà họ rồi ra đi.
*
Sau
khi thuyết pháp, bậc Ðạo Sư tuyên dạy Tứ Ðế. Ở phần
kết thúc Tứ Ðế, người chủ đất đắc quả Dự Lưu.
Và
bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ Khujjutarà là người nô tỳ, Uppalavannà là người con
gái, Ràhula còn con trai, Khemà là người mẹ, còn Ta là người
Bà-la-môn ấy.
-ooOoo-
355.
Chuyện Vương Tử Ghata (Tiền thân Ghata)
Khi
kẻ khác khóc than sầu khổ...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ viên về một
ông quan của vua Kosalà.
Câu
chuyện khởi đầu giống chuyện đã kể. Nhưng ở đây, sau
khi ban vinh dự lớn lao cho một ông quan, vua lại nghe lời sàm
tấu và truyền bắt ông ta bỏ vào ngục. Khi nằm trong ngục,
ông quan ấy nhập Dự Lưu. Sau đó vua biết được công đức
của ông và thả ra. Ông mang một tràng hoa thơm và đến tham
bái bậc Ðạo Sư, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống. Bậc Ðạo
Sư hỏi xem có việc xấu nào đã xảy đến với ông không.
Ông đáp:
- Bạch
Thế Tôn có. Nhưng qua việc xấu ấy, việc tốt lại đến
với con. Con đã nhập Dự Lưu.
Bậc
Ðạo Sư dạy:
- Ðúng
thế, không phải chỉ bấy giờ, các bậc hiền trí ngày xưa
cũng được điều tốt từ điều xấu.
Rồi
do yêu cầu của ông quan, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa vua Brahmadatta đang trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra
là con của chánh hoàng hậu. Người ta gọi ngài là thái tử
Ghata. Sau đó ngài đạt kiến thức về các học nghệ ở Takkasilà
và trị vì vương quốc của ngài rất công chính.
Bấy
giờ một ông quan nọ tỏ ra phẩm hạnh xấu trong nội cung.
Sau khi tận mắt chứng kiến việc phạm gian, vua liền đuổi
ông ra khỏi vương quốc. Lúc ấy, một vị vua tên là Vanka
trị vì ở Xá-vệ. Ông quan đến phục vụ cho vua ấy đúng
như câu chuyện trước đây số 303, được vua nghe lời và
xúi vua chiếm vương quốc Ba-la-nại.
Sau
khi chiếm đoạt vương quốc này, vua ấy bắt trói Bồ-tát
bằng dây xích và bỏ ngài vào ngục. Bồ-tát nhập định
và ngồi tréo chân trên không. Vanka bị nóng hừng hực trong
thân thể, liền chạy đến Bồ-tát, trông thấy dung mạo của
ngài sáng ngời, đẹp như một hoa sen nở, giống như một
tấm kính bằng vàng. Qua hình thức một lời hỏi, ông đọc
bài kệ đầu:
Khi
kẻ khác khóc than sầu khổ,
Má
người kia lệ nhỏ đầm đìa,
Mặt
ngài vẫn nụ cười kia,
Ga-ta
há chẳng bao giờ kêu than?
Ðể
giải thích tại sao ngài không sầu khổ, Bồ-tát đọc các
bài kệ sau đây:
Chuyện
đã qua, buồn nào thay đổi được,
Buồn
nào gây hạnh phúc ở tương lai?
Cớ
sao ta than vãn khổ đau này?
Sầu
muộn chẳng đáng cho ta làm bạn.
Kẻ
mang bệnh khổ sầu thì suy tận,
Các
thức ăn thành vô vị nhạt màu,
Như
trúng tên mồi thịt của sầu đau
Làm
trò tếu cho kẻ thù tiêu khiển.
Nhà
ta ở, dù trên đất, ngoài biển.
Dù
trong làng hay heo hút rừng già,
Không
bao giờ sầu não đền gần ta,
Hồn
đã thiện, chẳng có gì để sợ.
Còn
kẻ nào chưa kiện toàn đến độ,
Bị
nấu nung vì tham dục lắm đàng,
Cả
cõi đời cùng của cải tệ tàn
Cũng
không hề đủ thỏa lòng tham muốn.
Sau
khi nghe xong bốn bài kệ ấy, Vanka xin Bồ-tát tha thứ và giao
trả lại vương quốc cho ngài rồi đi theo đường mình. Nhưng
Bồ-tát trao vương quốc cho các đại thần, ngài lui vào dãy
Tuyết Sơn và trở thành một nhà tu khổ hạnh. Không hề ngưng
thiền định, ngài được sinh vào cõi Phạm thiên.
*
Sau
khi chấm dứt bài thuyết giảng, bậc Ðạo Sư nhận diện
Tiền thân:
- Lúc
bấy giờ Ànanda là vua Vanka, còn Ta là Ghata.
-ooOoo-
356.
Chuyện Nam Tử Kàrandiya (Tiền thân Kàrandiya)
Sao
một mình trong rừng...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi ngài trú tại Kỳ Viên về Tướng
quân Chánh pháp Sàriputta.
Trong
truyền khi có bọn người ác như thợ săn, chài lưới v.v...
đến với ngài, Trưởng lão đều giảng đạo đức cho họ,
và ngài cũng giảng cho bất cứ ai mà ngài có dịp gặp. Ngài
bảo:
- Hãy
nhận Giáo Pháp.
Do
lòng tôn kính Trưởng Lão, họ không thể cưỡng lời ngài.
Và khi nhận Giáo pháp xong, họ không thể hành trì mà ai nấy
cứ tiếp tục theo lối làm ăn riêng của mình. Trưởng lão
đến thổ lộ với chúng Tỷ-Kheo để hỏi ý kiến:
- Này
các Hiền giả, những người ấy được tôi truyền Pháp,
nhưng không giữ đạo.
Các
Tỷ-Kheo trả lời:
- Thưa
Tôn giả, ngài giảng Pháp cho họ trái với mong ước của
họ và vì họ không dám cưỡng lại lời ngài nên họ chấp
nhận đấy thôi. Từ nay ngài chớ giảng Pháp cho những người
như thế.
Trưởng
lão không thuận ý.
Nghe
được chuyện ấy, các Tỷ-Kheo bắt đầu bàn tán trong Pháp
đường cách Trưởng lão Sàriputta đã thuyết Pháp cho bất
cứ ai mà ngài gặp. Bậc Ðạo Sư đến hỏi các Tỷ-Kheo đang
họp bàn chuyện gì. Khi nghe kể lại, Ngài dạy:
- Này
các Tỷ-Kheo, không phải chỉ bây giờ mà xưa kia cũng thế,
ông ấy giảng pháp cho bất cứ ai mà ông gặp dù họ chẳng
yêu cầu.
Rồi
Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa khi vua Brahmadatta trì vị ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra và
lớn lên trong gia đình rồi trở thành đệ tử trưởng của
một giáo sư lừng danh tại Takkasilà. Bấy giờ vị giáo sư
giảng đạo pháp cho bất cứ người nào mà ông có thể gặp
như những người đánh cá v.v... Dù họ không muốn, ông luôn
bảo họ nhận pháp. Nhưng dù họ đã nhận pháp, họ cũng
không giữ đạo. Giáo sư nói điều ấy cho các môn đệ nghe.
Các môn đệ thưa:
- Thưa
thầy, thầy thuyết giảng cho họ ngược lại với những mong
cầu của họ và do đó, họ phá bỏ pháp. Từ nay, thầy hãy
thuyết giảng cho những kẻ nào muốn nghe thầy thôi chứ đừng
thuyết giảng cho những ai không muốn.
Vị
giáo sư rất ân hận nhưng ông cứ giảng pháp cho bất cứ
ai mà ông được gặp.
Một
hôm, một số người từ một ngôi làng kia đến mời giáo
sư tham dự cuộc dâng bánh cho các Bà-la-môn. Ông cho gọi vị
môn đệ tên là Kàrandiya và bảo:
- Này
con, ta không đi, con hãy đến đó với năm trăm môn đệ này
rồi nhận bánh và mang về phần bánh chia cho ta.
Ông
sai vị môn đệ ấy như thế. Vị môn đệ ấy ra đi. Trên
đường về, chàng trông thấy một cái hang và chợt có ý
nghĩ: "Thầy ta giảng pháp cho bất cứ ai ngài gặp mà không
cần họ yêu cầu. Từ nay ta chỉ khiến ngài giảng cho những
ai muốn nghe ngài thôi".
Thế
rồi trong khi các môn đệ khác đang ngồi nghỉ thoải mái,
chàng đứng lên đi khuân những tảng đá lớn ném vào trong
hang, chàng cứ khuân đá ném mãi. Những người kia đứng dậy
và nói:
- Này
đại huynh, anh đang làm gì thế?
Kàrandiya
không nói một lời nào. Họ vội trở về kể chuyện cho thầy
họ nghe. Vị thầy đến nói chuyện với Kàrandiya bằng bài
kệ đầu:
Sao
một mình trong rừng
Từng
tảng đá con khuân,
Ném
đá như có ý
Lấp
bằng hang núi chăng?
Nghe
thế Kàrandiya muốn thức tỉnh thầy mình liền đọc bài kệ:
Con
muốn làm đảo này
Phẳng
như lòng bàn tay,
San
bằng gò đồi nọ,
Chỗ
trũng, đá lấp đầy.
Thầy
Bà-la-môn nghe thế liền đọc bài kệ thứ ba:
Ðời
nào một phàm nhân
Có
sức lấp đất bằng?
Kà-ran
khó hy vọng
Ðọ
sức với hang cùng.
Người
môn đệ nghe xong liền đọc bài kệ thứ tư:
Nếu
một kẻ phàm nhân,
Không
thể san đất bằng,
Ngoại
nhân há chịu nhận
Quan
điểm thầy hay chăng?
Nghe
thế, vị giáo sư trả lời thích đáng, bấy giờ ông hiểu
rằng những người khác có thể không giống như ông. Ông
tự nhủ: "Ta sẽ không làm như thế nữa", và đọc bài kệ
thứ năm:
Này
Kà-ran-di-ya,
Bạn
khuyên tốt cho ta,
Ðất
không san phẳng được,
Ý
người chẳng đồng hòa.
Giáo
sư ca ngợi môn đệ của mình. Và vị môn đệ sau khi khuyến
dụ thầy mình như vậy liền dẫn thầy về nhà.
*
Bậc
Ðạo Sư chấm dứt bài giảng và nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ Xá-lợi-phất là người Bà-la-môn, còn Ta chính là môn
sinh Kàrandiya.
-ooOoo-
357.
Chuyện Chim Cút (Tiền thân Latukikà)
Hỡi
voi tuổi sáu mươi....,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Trúc Lâm về Ðề-bà-đạt-đa.
Một
hôm các Tỷ-Kheo bàn thảo trong Pháp đường:
- Này
các Hiền giả, Ðề-bà-đạt-đa thật hung ác, dữ dằn và
tàn bạo. Ông ta chẳng chút lòng thương xót nào đối với
chúng sinh.
Khi
bậc Ðạo Sư đến, Ngài hỏi các Tỷ-Kheo đang họp bàn chuyện
gì và sau khi nghe kể lại, Ngài dạy:
- Này
các Tỷ-Kheo, không phải chỉ bây giờ, mà ngày xưa cũng thế,
ông ấy cũng chẳng có chút thương xót nào.
Rồi
Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa khi vua Brahmadatta đang trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh
làm một con Voi. Khi lớn lên ngài là một con vật chững chạc
đàng hoàng. Ngài trở thành chúa của một đàn mười tám
ngàn con và sống trong dãy Tuyết Sơn.
Bấy
giờ có một con chim Cút đẻ trứng trong vùng đất sinh sống
của đàn voi. Khi trứng nở, bầy chim con phá vỏ trứng ra
ngoài. Trước khi bầy chim mạnh cánh và đang lúc chưa thể
bay được, bậc Ðại Sĩ cùng với đàn tám chục ngàn con
voi đi đây đó kiếm ăn, đã đến chỗ ấy. Khi trông thấy
đàn voi, chim Cút tự nghĩ: "Vị vương tượng này sẽ dẫm
chết các con thơ của ta. Ờ! ta sẽ cầu xin ông ta che chở
và bảo vệ cho tổ của ta". Thế rồi nó nhấc đôi cánh lên,
đứng trước ngài và đọc bài kệ đầu:
Hỡi
Voi tuổi sáu mươi,
Chúa
rừng của đồng loài,
Ta
chỉ là chim nhỏ,
Còn
ngài lãnh đạo bầy,
Cánh
nâng, tôi kính cẩn
Xin
tha lũ con này.
Bậc
Ðại Sĩ bảo:
- Này
Cút, chớ lo sợ. Ta sẽ che chở cho các con thơ của ngươi.
Ngài
đứng che lên trên bọn chim nhỏ trong khi tám mươi ngàn voi
kia đi qua, rồi ngài dặn Cút:
- Ðằng
sau bọn ta có một con voi lẻ bầy rất gian ác. Nó không chịu
làm theo lời bọn ta. Khi nó đến, ngươi cũng phải van xin
nó để bảo đảm an toàn cho lũ con ngươi.
Nói
xong ngài bỏ đi, con Cút đi đến gặp con voi kia và nâng cánh
lên kính cẩn chào rồi đọc bài kệ thứ hai:
Khắp
thung lũng, núi đồi
Ngài
riêng một đường thôi,
Vua
rừng, tôi năn nỉ
Nâng
cánh cúi can ngài,
Tôi
chỉ là Cút mọn
Xin
tha lũ con tôi.
Nghe
Cút nói xong, Voi đọc bài kệ thứ ba:
Cút
ơi, ta sẽ giết con mi
Hèn
mọn như mi giúp được chi?
Chân
trái ta đây đè bẹp hết
Mấy
ngàn chim nhỏ vẫn thường khi.
Nói
thế xong nó giơ chân dẫm nát bọn chim nhỏ, rồi tiểu tiện
lên chúng làm cho chúng trôi theo dòng nước, sau đó rống lên
và bỏ đi. Con cút đậu trên một cành cây nói:
- Mi
hãy cút đi và rống lên đi. Rồi đây mi sẽ thấy ta làm gì.
Mi chẳng biết sức mạnh của thân thể và sức mạnh của
trí óc khác nhau như thế nào. Ðược rồi! Ta sẽ dạy cho
mi một bài học.
Hăm
dọa Voi như thế, Cút đọc bài kệ thứ tư:
Bạo
lực không là được lợi luôn,
Mạnh
thường là họa của si cuồng,
Thú
kia đã giết con ta chết,
Ác
ấy ta đây sẽ tính đường.
Nói
xong, ít lâu sau Cút đến thăm một con Quạ, bấy giờ Quạ
đang cao hứng hỏi Cút:
- Ta
giúp gì được cho bạn đây?
Cút
bảo:
- Chẳng
có gì đâu bác ạ, tôi chỉ mong bác lấy mỏ móc hai con mắt
con Voi gian ác kia.
Quạ
sẵn sàng nhận lời. Cút đến giúp việc một con Ruồi xanh.
Khi Ruồi xanh hỏi:
- Ta
làm gì được cho bạn đây?
Cút
đáp:
- Khi
con Voi gian ác kia bị Quạ móc mắt xong, tôi muốn bạn đẻ
trứng vào mắt nó.
Ruồi
xanh nhận lời xong Cút đến giúp một con Ếch và khi Ếch
bảo cần gì thì Cút bảo:
- Khi
con Voi gian ác kia bị mù, nó sẽ tìm nước để uống, bấy
giờ bạn hãy đứng trên đỉnh núi và kêu lên. Khi Voi trèo
lên đỉnh núi thì bạn hãy xuống đáy dốc mà kêu lên. Ðấy
là điều tôi rất mong bạn giúp.
Sau
khi nghe Cút nói, Ếch sẵn sàng nhận lời. Thế rồi một hôm,
Quạ dùng mỏ móc cả hai mắt con voi ấy, Ruồi đẻ trứng
vào mắt nó. Bị bọn dòi rút rỉa, voi cuồng lên vì đau đớn.
Rồi bị cơn khát chế ngự, Voi đi khắp nơi để tìm nước
uống. Lúc ấy, Ếch đứng trên đỉnh núi kêu lên. Voi tự
nghĩ: "Nơi ấy hẳn phải có nước". Rồi nó trèo lên núi.
Ếch liền xuống dưới chân núi mà kêu lên nữa. Voi tự nghĩ:
"Sẽ có nước nơi ấy", rồi lần mò tiến tới dốc núi và
bị lăn cù, rơi xuống đáy núi mà chết. Khi biết rằng Voi
đã chết, Cút nói:
- Ta
đã toàn thắng kẻ thù.
Và
khi toàn thân ngập trong hạnh phúc cao độ, Cút chết và đi
theo nghiệp của mình.
*
Bậc
Ðạo Sư dạy:
- Này
các Tỷ-Kheo, Ta không nên chuốc lấy thù hận với bất cứ
ai. Bốn con vật ấy hợp lại với nhau đã diệt được con
Voi mạnh mẽ như thế kia.
Cút
cùng Quạ, Ruồi xanh, Ếch hợp lại,
Từng
chứng minh kết quả của thù hằn,
Vương
tượng kia vì chúng chết oan thân,
Vậy
hãy tránh hết mọi điều tranh cãi.
Sau
khi đọc bài kệ phát xuất từ Trí Tuệ toàn hảo, bậc Ðạo
Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ Ðề-bà-đạt-đa là con Voi gian ác kia, còn Ta là con Voi
đầu đàn.
-ooOoo-
358.
Chuyện Tiểu Vương Hộ Pháp (Tiền thân Culladhammapàla)
Hoàng
hậu hèn của Ðại Pa-tà-pa...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Trúc lâm về cách
Ðề-bà-đạt-đa mưu toan giết Bồ-tát.
Trong
tất cả các Tiền thân khác, Ðề-bà-đạt-đa không làm sao
gây cho Bồ-tát một tý nào kinh hãi. Nhưng trong Tiền thân
Culladhammapàla, khi Bồ-tát mới lên bảy tháng, ngài bị Ðề-bà-đạt-đa
chặt tay chân, chặt đầu và khắp thân thể ngài bị gươm
đâm như có đeo vào một tràng hoa vậy. Trong Tiền thân Daddara,
Ðề-bà-đạt-đa giết Bồ-tát bằng cách vặn cổ ngài, quay
thịt ngài trong lò rồi ăn thịt ấy. Trong Tiền thân Khantivàda
(số 313), Ðề-bà-đạt-đa đánh Bồ-tát hai ngàn roi và ra
lệnh chặt tay, chân, tai, mũi ngài, nắm tóc ngài kéo đi và
khi ngài nằm ngã sóng soài ra thì ông ta đánh vào bụng ngài
rồi bỏ đi; Bồ-tát chết ngay ngày hôm đó. Nhưng trong cả
hai Tiền thân Cullanandaka và Vevatiyakapi (chưa được xác định),
ông ta chỉ ra lệnh giết ngài mà thôi. Trong một thời gian
dài, Ðề-bà-đạt-đa cứ lo toan tìm cách giết Bồ-tát và
vẫn còn tiếp tục làm như thế ngay cả khi Ngài đã trở
thành một đức Phật.
Một
hôm, các Tỷ-Kheo bàn tán trong Pháp đường:
- Này
các Hiền giả, Ðề-bà-đạt-đa vẫn tiếp tục lập âm mưu
giết hại đức Phật. Cố ý giết đức Thế Tôn, ông ta sai
bọn cung thủ bắn Ngài, ông ta lăn đá vào Ngài và thả con
voi Nàlàgiri đến hại Ngài.
Khi
bậc Ðạo Sư đến, Ngài hỏi các Tỷ-Kheo đang họp bàn vấn
đề gì, khi nghe thuật lại, Ngài dạy:
- Này
các Tỷ-Kheo, không phải chỉ bây giờ mà xưa kia cũng thế,
ông ta cứ tìm cách giết Ta, nhưng giờ đây ông ta không thể
làm Ta mảy may sợ hãi, dù xưa kia Ta là hoàng tử Dhammapàla,
dù Ta là con ruột của ông, ông cũng gây ra cái chết cho Ta
bằng cách chặt, đâm gươm vào khắp cả thân Ta như thể
nó mang một tràng hoa vậy.
Nói
xong, Ngài kể chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Mahàpatàpa đang trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sinh
ra là con trai của chánh hoàng hậu Candà và người ta đặt
tên ngài là Dhammapàla (Hộ Pháp).
Khi
ngài lên bảy tháng, mẹ ngài tắm ngài trong nước thơm, mặc
quần áo sang trọng cho ngài và ngồi chơi với ngài. Vua đến
cung thất của hoàng hậu. Vì bà đang chơi với con trai, ngập
tràn tình mẹ đối với con nên đã quên đứng dậy chào đón
vua. Vua tự nghĩ: "Giờ đây người đàn bà này đầy tự hào
về đứa con trai, coi ta không bằng một cọng rơm; đến khi
đứa bé lớn lên, bà ta sẽ nghĩ: Ta chỉ có một người là
con trai ta, và chẳng để ý gì đến ta. Ta sẽ bảo giết nó
ngay".
Vì
thế, ông quay trở về, ngồi trên ngai và gọi viên quan hành
hình đến trình diện cùng với mọi dụng cụ hành sự. Người
ấy mặc áo vàng mang tràng hoa đỏ sẫm, vai vác rìu, tay cầm
một cái thớt và một cái chậu đến đứng trước vua, chào
vua và nói:
- Tâu
Ðại vương, ngài cần gì ạ?
Vua
phán:
- Ðến
vương phòng của hoàng hậu và mang Dhammapàla lại đây.
Hoàng
hậu biết rằng vua đã giận dữ bỏ đi nên bà đã đặt
Bồ-tát vào lòng và ngồi khóc. Viên quan hành hình đến và
tống một đấm vào lưng bà, giật Bồ-tát ra khỏi tay bà
rồi mang đến cho vua và thưa:
- Tâu
Ðại vương, ngài cần gì nữa?
Vua
sai mang một tấm ván đến đặt trước mặt ông và nói:
- Ðặt
nó vào đó.
Người
ấy làm theo lời vua. Nhưng hoàng hậu đã đến đứng ngay
sau con mình và khóc. Viên quan hành hình lại nói:
- Tâu
Ðại vương, ngài cần gì nữa ạ?
Vua
bảo:
- Hãy
chặt hai bàn tay của Dhammapàla.
Hoàng
hậu thưa:
- Ðại
vương, con trai tôi chỉ là một đứa bé lên bảy tháng. Nó
có biết gì đâu! Lỗi không phải là của nó. Nếu có lỗi
nào thì đấy là lỗi của tôi. Do đó ngài hãy sai chặt tay
tôi đi!
Rồi
để cho rõ nghĩa, bà đọc bài kệ đầu:
Hoàng
hậu hèn của Ðại Pa-tà-pa
Chính
là tôi, tội này riêng phải gánh.
Ðại
vương, hãy thả Dham-ma-pà-la,
Và
hãy chặt tay tôi, người bất hạnh.
Vua
nhìn viên quan hành hình, y hỏi:
- Tâu
đại vương, ngài cần gì?
Vua
phán:
- Chớ
chần chờ, chặt tay đứa bé đi!
Lúc
ấy viên quan hành hình lấy cái rìu sắt chặt đứt hai bàn
tay như những búp măng của Bồ-tát. Khi đôi tay bị chặt
đứt, hài nhi vẫn không khóc, không than mà chỉ chịu đựng
với lòng kham nhẫn, nhân từ. Nhưng hoàng hậu Candà lượm
các đầu ngón tay của con đặt vào lòng, máu vấy khắp, bà
than khóc thảm thiết. Viên quan hành hình lại hỏi:
- Tâu
Ðại vương, ngài cần gì?
Vua
đáp:
- Chặt
hai bàn chân nó.
Nghe
thế, Candà đọc đoạn thơ thứ hai:
Hoàng
hậu hèn của Ðại Pa-tà-pa
Chính
là tôi, tội này riêng phải gánh.
Ðại
vương, hãy thả Dham-ma-pa-la,
Và
hãy chặt chân tôi, người bất hạnh.
Nhưng
vua ra hiệu cho viên quan hành hình và ông chặt cả hai chân
Bồ-tát. Hoàng hậu Candà lượm hai bàn chân con đặt vào lòng
máu me vấy khắp, bà than khóc và nói:
- Tâu
Ðại vương Mahàpatàpa, mẹ phải chăm nuôi con. Tôi sẽ làm
việc để kiếm tiền chăm nuôi nó. Xin ngài giao nó cho tôi.
Viên
quan hành hình nói:
- Tâu
Ðại vương, ngài đã thỏa ý chưa? Công việc của tôi thế
là xong chưa?
Vua
bảo:
- Chưa
đâu!
- Tâu
Ðại vương, thế ngài cần gì nữa?
- Chặt
đầu nó đi. Vua bảo.
Candà
lại đọc bài kệ thứ ba:
Hoàng
hậu hèn của Ðại Pa-tà-pa,
Chính
là tôi, tội này riêng phải gánh.
Ðại
vương, hãy thả Dham-ma-pà-la,
Và
hãy chặt đầu tôi, người bất hạnh.
Nói
xong, hoàng hậu đưa đầu mình ra. Viên quan hành hình lại
bảo:
- Tâu
Ðại vương, ngài cần gì?
- Chặt
đầu đứa bé đi! Vua phán.
Thế
rồi người ấy chặt đầu Bồ-tát và hỏi:
- Tâu
Ðại vương, ngài đã thỏa ý chưa?
- Chưa.
Vua bảo.
- Thưa
Ðại vương, còn phải làm gì nữa?
Vua
nói:
- Hãy
lấy gươm đâm nó, lấy gươm mà cắt quanh thân nó, làm như
nó có đeo tràng hoa vậy.
Người
ấy tung thân Bồ-tát lên không lấy mũi gươm đâm vào, rồi
cắt quanh thân ngài làm như thân có đeo một tràng hoa và rải
các miếng thịt trên bệ. Candà đặt thịt của Bồ-tát vào
lòng, ngồi xuống than khóc và đọc các bài kệ sau đây: