CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (III) Jàtaka
Chương
V (tiếp theo)
359.
Chuyện Con Nai Vàng (Tiền thân Suvannamiga)
Hỡi
chân vàng hãy dồn hết sức...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một
thiếu nữ thuộc gia đình quí phái ở Xá-vệ.
Cô
ta là con gái của một người hầu cận hai vị Trưởng Tỷ-Kheo
ở Xá-vệ và là một tín đồ thuần thành, liên hệ thân
thiết với Phật, Pháp, Tăng, thường xuyên làm việc thiện,
thông tuệ đối với đạo giải thoát, chuyên tâm bố thí
và những hành vi đạo đức như thế.
Một
gia đình khác ở Xá-vệ, cùng một đẳng cấp nhưng theo ngoại
đạo hỏi cưới cô ta. Cha mẹ cô bảo:
- Con
gái của chúng tôi là một tín đồ thuần thành, qui y Tam bảo,
bố thí và làm các việc thiện, nhưng ông bà lại có quan
điểm ngoại đạo. Và vì ông bà sẽ không cho phép nó bố
thí, hoặc nghe Pháp, hoặc đến thăm tinh xá, giữ giới luật
đạo đức, tuân hành các ngày trai giới như nó vẫn muốn
nên chúng tôi sẽ không gả nó về nhà quí vị được. Hãy
chọn một thiếu nữ thuộc một gia đình ngoại đạo giống
như quí vị vậy.
Khi
lời cầu hôn của gia đình kia bị từ chối, họ bảo:
- Xin
cứ cho con gái của quí vị đến nhà chúng tôi và làm mọi
việc như thế đúng theo ý muốn của cô. Chúng tôi sẽ không
ngăn cản cô ta đâu. Xin hãy chấp thuận yêu cầu ấy.
Gia
đình cô gái bảo:
- Thế
thì quí vị hãy đem nó về đi.
Lễ
cưới được cử hành vào một ngày tốt lành và cô gái được
đưa về nhà chồng. Cô tỏ ra rất chuyên chính trong việc
hoàn tất các bổn phận, là một người vợ tận tụy, một
nàng dâu đảm đang đối với cha mẹ chồng.
Một
hôm cô nói với chồng:
- Chàng
ơi, em muốn cúng dường các Tỷ-Kheo của gia đình ta.
- Ðược
lắm, em ạ. Em cứ cúng dường đúng như em thích.
Thế
là một hôm cô mời các Tỷ-Kheo ấy và tổ chức một cuộc
khoản đãi lớn. Cô cúng dường các thức ăn hảo hạng và
cung kính ngồi cách xa các vị ấy và bảo:
- Bạch
chư Tôn giả, gia đình này ngoại đạo và không có lòng tin.
Họ không biết giá trị của Tam bảo. Dù thế, xin chư vị
cứ tiếp tục nhận thực phẩm nơi đây cho đến khi họ hiểu
được giá trị của Tam Bảo.
Các
Tỷ-Kheo nhận lời và tiếp tục thọ thực tại đó. Cô lại
bảo với chồng:
- Chàng
ơi, quí Tỷ-Kheo vẫn thường xuyên đến đây luôn, sao chàng
không ra gặp các ngài?
Nghe
thế, chàng đáp:
- Tốt
lắm, ta sẽ ra gặp các ngài.
Ngày
hôm sau, khi các Tỷ-Kheo thọ thực xong, cô ta lại nhắc chồng.
Chàng đến ngồi xuống một bên và từ tốn thưa chuyện cùng
các vị ấy. Thế rồi Tướng quân Chánh Pháp Sàriputta thuyết
Pháp cho chàng. Chàng rất thích thú nghe giảng và nhìn thấy
thái độ nhu hòa ân cần của các Tỷ-Kheo, nên từ hôm đó
trở đi chàng luôn luôn soạn sẵn thảm cho các Trưởng Lão
ngồi và lọc nước cho các vị ấy dùng và trong khi các vị
ấy thọ thực, chàng chăm chú nghe giảng Pháp. Chẳng bao lâu,
chàng không còn theo các quan điểm ngoại đạo nữa.
Thề
rồi một hôm, Trưởng Lão giảng Pháp, tuyên thuyết Tứ Ðế
cho hai vợ chồng ấy và khi bài thuyết giảng chấm dứt, cả
hai vợ chồng đều đắc quả Dự Lưu. Từ đó, tất cả mọi
người trong gia đình ấy, từ các bậc cha mẹ cho đến người
giúp việc đều bỏ hết các tà kiến ngoại đạo và hết
lòng vì Phật, Pháp, Tăng.
Một
hôm, cô gái bảo với chồng:
- Chàng
ơi, em có gì liên quan với đời sống gia đình nữa đâu?
Em mong được sống đời tu hành.
Chàng
đáp:
- Tốt
lắm em ạ, ta cũng muốn trở thành một nhà tu khổ hạnh.
Thế
là chàng vui vẻ dẫn cô đến một Ni chúng và cô được nhận
làm một Sa-di-ni, còn chàng cũng đến với bậc Ðạo Sư để
xin vào Tăng Ðoàn. Lúc đầu bậc Ðạo Sư nhận chàng làm
Sa-di, sau đó cho chàng thọ giới Tỷ-Kheo. Cả hai đều đạt
tuệ nhãn và chẳng bao lâu đắc Thánh quả.
Một
hôm, các Tỷ-Kheo bàn tán trong pháp đường:
- Này
các Hiền giả, người phụ nữ nọ nhờ lòng tin của chính
mình và của chồng mà trở thành một Sa-di-ni. Rồi cả hai
người sống cuộc đời Phạm hạnh, đạt tuệ nhãn và đắc
Thánh quả.
Bậc
Ðạo Sư đến hỏi các Tỷ-Kheo đang ngồi bàn chuyện gì và
sau khi nghe thuật lại, Ngài dạy:
- Này
các Tỷ-Kheo, không phải chỉ bây giờ cô ấy mới giải thoát
cho chồng khỏi những ràng buộc của khổ đau. Xưa kia cũng
thế, cô cũng đã giải thoát các bậc hiền trí khỏi những
ràng buộc của cái chết.
Ngài
dạy đến đó rồi im lặng, nhưng vì các Tỷ-Kheo thúc nài,
Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh
ra là một con Nai vàng và lớn thành một con vật đẹp đẽ
duyên dáng với màu sắc vàng ròng. Ðôi chân trước và sau
của ngài như được phủ bằng một thứ sơn bóng. Sừng như
bằng bạc, mắt như những viên ngọc, miệng như một cuộn
len đỏ. Con Nai cái, vợ Ngài, cũng là một con vật rất xinh
đẹp. Cả hai sống hòa hợp, hạnh phúc với nhau. Tám vạn
nai đốm đi theo hầu Bồ-tát.
Trong
khi bầy nai sống nơi ấy, một người thợ săn đặt bẫy
vào chỗ nai lui tới. Một hôm, đang dẫn dắt bầy nai, Bồ-tát
bị mắc chân vào bẫy. Ðể làm đứt dây thòng lọng, ngài
giựt mạnh đến đứt cả da chân. Ngài lại giựt nữa và
bị đứt tới thịt. Lần thứ ba, ngài lại giựt và bị phạm
tới gân. Rồi cái dây thắt vào tận xương. Không thể phá
bẫy được, Nai rúng động vì sợ chết đến độ kêu la
từng hồi. Nghe thế bầy nai kinh hoàng chạy trốn. Nhưng con
Nai cái, trong lúc chạy trốn, không thấy Bồ-tát trong bầy
liền nghĩ: "Hẳn là nỗi kinh hoàng có liên hệ đến chồng
ta rồi". Rồi Nai cái vội phóng đến bên chồng tuôn trào
nước mắt và than:
- Chàng
ơi, chàng mạnh mẽ đến thế, sao lại không thắng được
cái bẫy chứ? Hãy cố sức mà tàn phá bẫy đi!
Ðể
khích lệ Bồ-tát, vợ ngài đọc bài kệ đầu:
Hỡi
chân vàng, hãy dồn hết sức,
Ðể
thoát ra cho dứt bẫy này,
Mất
chàng, há thiếp vui say
Thảnh
thơi dong ruổi đó đây trong rừng?
Nghe
thế, Bồ-tát đọc bài kệ thứ hai:
Ta
đây đã quá chừng cố gắng,
Tự
do nào đạt đặng đâu mà!
Càng
vùng để thoát thân ra,
Mối
dây càng thắt thịt da thế này.
Thế
rồi Nai cái bảo:
- Chàng
ơi, đừng sợ. Em sẽ hết sức van xin người thợ săn và
sẽ hy sinh mạng sống của em và để xin đổi mạng cho chàng.
Vừa
an ủi bậc Ðại sĩ, vợ ngài vẫn tiếp tục ôm lấy Bồ-tát
mình đang rớm máu. Nhưng người thợ săn tay cầm gươm và
lao đã đến gần, giống như một ngọn lửa hủy diệt vào
lúc mở đầu một chu kỳ. Khi thấy người ấy, Nai cái bảo:
- Chàng
ơi, người thợ săn đã đến. Em sẽ đem hết khả năng để
cứu chàng. Chàng chớ sợ.
An
ủi chồng xong, nai cái đến gặp người thợ săn, đứng cách
một khoảng để tỏ vẻ kính trọng, nai chào người ấy và
nói:
- Thưa
ngài, chồng tôi là một con Nai có màu vàng ròng, đầy đủ
mọi đức hạnh và là vua của tám vạn con nai.
Ca
ngợi Bồ-tát xong, Nai xin hy sinh mạng sống của mình để
vua bầy nai khỏi bị hại. Rồi Nai đọc bài kệ thứ ba:
Nơi
đây, hãy trải lá dày
Chúng
tôi sẽ ngã xuống ngay đây mà,
Thợ
săn, hãy rút gươm ra
Giết
tôi, rồi giết tiếp là chồng tôi!
Nghe
thế, người thợ săn rất kinh ngạc, liền nghĩ: "Ngay cả
người ta cũng không hy sinh đời mình cho vua nữa huống chi
là loài vật. Thế này nghĩa là gì chớ? Con vật nói với
một giọng êm dịu như tiếng người. Hôm nay, ta sẽ tha mạng
cho nó và cho chồng nó". Rất thích thú nai cái, người thợ
săn đọc bài kệ thứ tư:
Con
vật nói tiếng người
Ta
chưa thấy trên đời
Nai
hiền, an tâm nhé!
Chân
vàng, dứt sợ thôi!
Thấy
Bồ-tát được tha ra, Nai cái vô cùng sung sướng liền quay
lại cám ơn người thợ săn và đọc bài kệ thứ năm:
Hôm
nay tôi thích thú đầy tràn,
Nai
vĩ đại này được thoát thân,
Vậy
thợ săn, người vừa gỡ bẫy,
Hãy
vui vầy với mọi thân nhân.
Bấy
giờ Bồ-tát tự nghĩ: "Người thợ săn này đã tha mạng ta
và vợ ta và cả tám vạn nai kia. Ông đã là nơi nương nhờ
của ta, vậy ta cũng phải là nơi nương nhờ của ông ta".
Và với tính chất của một bậc đức hạnh tối cao, ngài
nghĩ: "Ta phải đền cho ân nhân của ta". Rồi ngài trao cho
người thợ săn một viên ngọc kỳ diệu mà ngài đã tìm
được ở nơi ngài thường đi kiếm ăn và nói:
- Này
bằng hữu, từ nay, chớ giết hại sinh vật nào nữa, với
viên ngọc này, hãy xây dựng gia đình, vợ con, hãy bố thí
và làm các việc thiện khác.
Khuyến
dụ xong Nai biến vào trong rừng.
*
Bậc
Ðạo Sư chấm dứt bài dạy ở đây và nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ Channa (Xa-mặc) là người thợ săn, Sa-di-ni ấy là con
Nai cái, còn ta là Nai chúa kia.
-ooOoo-
360.
Chuyện Hoàng Hậu Sussondi (Tiền thân Sussondi)
Tôi
ngửi thấy mùi hương rừng rậm...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-Kheo thối thất.
Bậc
Ðạo Sư hỏi có thật ông ta thèm muốn đời thế tục và
ông ta thấy điều gì khiến ông ta ân hận đã thọ giới.
Vị Tỷ-Kheo trả lời:
- Tất
cả là do nét yêu kiều của một phụ nữ.
Bậc
Ðạo Sư dạy:
- Thật
thế, này Tỷ-Kheo, không thể nào canh phòng được phụ nữ.
Các bậc hiền trí ngày xưa, dù họ thận trọng ở tại trú
xứ của loài Garudas (Kim sí điểu: chim thần cánh vàng), họ
cũng không thể canh giữ phụ nữ.
Rồi
do Tỷ-Kheo ấy thỉnh cầu, Ngài kể một chuyện thời xưa.
*
Ngày
xưa, vua Tamba trị vì Ba-la-nại, chánh hoàng hậu tên là Sussondi
là một phụ nữ đẹp tuyệt vời.
Bấy
giờ, Bồ-tát sinh ra là một Garuda (chim thần cánh vàng) trẻ.
Bấy giờ đảo Nàga (Long thần) được gọi là đảo Seruna.
Ngài đến Ba-la-nại giả nam trang và chơi súc sắc với vua
Tamba. Nhận thấy sắc đẹp của ngài, người ta bảo Sussondi:
- Một
trang thanh niên như thế... như thế... thường chơi súc sắc
với đức vua.
Nàng
ao ước được thấy ngài.
Rồi
một hôm, nàng trang điểm thật đẹp và đi đến phòng đánh
súc sắc. Ðứng nơi ấy, trong đám hầu cận, nàng nhìn đăm
đăm vào chàng thanh niên. Chàng cũng nhìn đăm đăm vào hoàng
hậu và cả hai đâm ra yêu nhau. Vua chim thần Garuda dùng thần
lực, khởi lên một cơn bão ập vào thành phố. Mọi người
vì sợ nhà sập, đã phóng chạy ra khỏi cung điện. Với quyền
năng, vua Garuda khiến cho cung điện tối đen rồi mang hoàng
hậu theo mình bay lên không, về chỗ trú ngụ của riêng mình
ở đảo Nàga. Nhưng chẳng ai biết việc đi hay đến của
Sussondi.
Vua
Garuda vui thú với nàng và vẫn đến chơi súc sắc với vua
Tamba. Bấy giờ vua Tamba có một nhạc công tên là Sagga. Không
biết hoàng hậu đã đi đâu, vua gọi nhạc công ấy lại và
nói:
- Bây
giờ ngươi hãy khám phá xem điều gì đã xảy ra cho hoàng
hậu.
Nói
thế xong vua truyền lệnh cho Sagga ra đi.
Sagga
mang theo các thứ cần thiết cho cuộc hành trình và khởi sự
tìm kiếm từ cổng thành, cuối cùng chàng đến Bhàrukaccha.
Lúc ấy các thương gia ở Bhàrukaccha đang giương buồm đi
đến vùng Kim Ðịa. Chàng đến gần họ và nói:
- Tôi
là một nhạc công. Nếu các ông miễn tiền tàu cho tôi thì
tôi sẽ làm như một nhạc công của các ông. Hãy mang tôi
theo với!
Họ
chấp thuận như thế, cho chàng lên tàu và nhổ neo. Khi thuyền
đi được khá xa, họ gọi chàng và bảo chàng trổi nhạc
cho họ nghe. Chàng nói:
- Tôi
muốn trổi nhạc, nhưng nếu làm thế, cá sẽ bị kích động
quá đến nỗi thuyền của các ông sẽ chìm đấy.
Các
thương gia nói:
- Nếu
chỉ là một con người tầm thường trổi âm nhạc thì chẳng
có gì kích động đến phía cá. Cứ chơi nhạc đi cho chúng
tôi nghe.
- Thế
thì đừng tức giận tôi nhé.
Nói
xong, chàng lên dây đàn giữ cho lời ca hài hòa toàn hảo với
tiếng dây đàn đệm theo rồi trổi nhạc cho họ nghe. Bọn
cá điên cuồng khi nghe âm thanh ấy và quẫy tung cả lên. Một
con hải quái nhảy vọt lên, rơi vào thuyền và làm thuyền
vỡ đôi.
Sagga
nằm trên một tấm ván được gió đẩy đi cho đến khi chàng
giạt vào một cây đa ở đảo Nàga, nơi vua chim Garuda ở.
Bấy giờ hoàng hậu Sussondi, như mỗi lần vua chim thần Garuda
đi chơi súc sắc, vẫn từ nhà đi xuống và đi lang thang dọc
bãi biển, nàng trông thấy và nhận ra nhạc công Sagga, nàng
bèn hỏi chàng đến đây bằng cách nào. Chàng kể lại toàn
bộ câu chuyện cho nàng nghe. Nàng an ủi chàng và nói:
- Ðừng
sợ.
Rồi
ôm chàng trong đôi cánh tay, nàng đem chàng về chỗ nàng ở,
và đặt chàng nằm trên một chiếc trường kỷ. Khi chàng
phục hồi đầy đủ sức lực, nàng cho chàng ăn những thức
ăn của thần tiên, tắm chàng trong nước hoa thần tiên, mặc
cho chàng những y phục thần tiên và trang sức cho chàng bằng
những bông hoa có mùi thơm thần tiên và để chàng nằm trên
một sàng tọa thần tiên. Nàng săn sóc chàng như thế, và
mỗi khi vua chim thần Garuda trở về, nàng đem giấu người
yêu, và ngay khi vua ra đi do ảnh hưởng của đam mê, nàng hưởng
lạc thú với chàng.
Một
tháng rưởi sau, một số thương gia cư ngụ ở Ba-la-nại ghé
lên dưới góc cây đa trong đảo này để lấy củi và nước.
Chàng nhạc công lên thuyền với họ và về tới Ba-la-nại
đúng vào lúc chàng thấy vua đang chơi súc sắc, chàng liền
cầm đàn, tấu nhạc và đọc bài kệ đầu:
Tôi
ngửi thấy mùi hương rừng rậm,
Tôi
nghe ra biển thẳm rền la,
Vì
tình tôi khổ, Tam-ba,
Sus-son-di
đẹp cách xa tôi rồi!
Nghe
thế, vua Garuda đọc bài kệ thứ hai:
Biển
bão tố, sao người qua được
Se-ru-ma
mà vẫn an hòa?
Cách
nào, hãy nói, Sag-ga,
Sus-son-di
đẹp, người đà đến ngay?
Bấy
giờ Sagga đọc ba bài kệ tiếp theo:
Từ
Bhà-ru-kac-cha,
Cùng
với đoàn thương gia,
Thuyền
tôi đi bị đắm
Vì
hải quái gây ra,
Tôi
nhờ vào tấm ván
Mà
ghé được vào bờ.
Một
hoàng hậu thơm tho
Với
bàn tay dịu hiền
Nhẹ
nhàng nâng tôi lên
Ðặt
tôi vào đầu gối.
Hẳn
như tôi lúc ấy
Là
con thực của nàng.
Nàng
cho mặc, cho ăn,
Và
khi tôi nằm đấy,
Nàng
nhìn chỗ tôi nằm,
Bằng
đôi mắt đắm đuối,
Suốt
cả ngày như vậy,
Chúa
Tam-ba, nên biết,
Ðây
lời thực tôi trình.
Khi
chàng nhạc công nói như thế, vua chim thần Garuda vô cùng ân
hận và nói:
- Dù
ta ở tại trú xứ của chim thần Garuda, ta cũng không thể
giữ nàng an toàn được. Người đàn bà xấu xa này đối
với ta còn ra gì nữa?
Do
đó vua Garuda mang nàng về trả lại cho vua Tam-ba rồi bỏ đi
và từ đó không quay lại nữa.
*
Sau
khi chấm dứt bài giảng, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế.
Khi Ngài kết thúc Tứ Ðế, vị Tỷ-Kheo có tâm trần tục
kia đắc quả Dự Lưu. Sau đó Ngài nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ Ànanda là vua ở Ba-la-nại, còn Ta là vua chim thần Garuda.
-ooOoo-
361.
Chuyện Sắc Đẹp (Tiền thân Vannàroha)
Có
phải chăng Su-dà-tha nói...,
Câu
chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên
về hai vị Ðại đệ tử.
Một
lần nọ, hai vị Chánh Trưởng lão quyết định suốt trong
mùa mưa sẽ chuyên tâm độc cư. Vì vậy họ từ biệt bậc
Ðạo Sư rời Tăng chúng, đi khỏi Kỳ Viên, tự tay mang theo
y, bát và đến sống trong một khu rừng gần một làng ở
biên địa.
Một
người đàn ông nọ phục vụ hai vị Trưởng lão và sống
bằng các thức ăn thừa của họ, cũng ở riêng một nơi trong
khu ấy. Khi thấy hai vị Trưởng lão sống với nhau một cách
hạnh phúc như thế, anh ta nghĩ:
- Chẳng
biết ta có làm cho họ bất hòa không nhỉ!
Thế
là anh ta đến gần Trưởng lão Sàriputta (Xá-lợi-phất) và
bảo:
- Thưa
Tôn giả, có thể có sự cãi cọ nào giữa ngài và Ðại Trưởng
lão Moggallàna (Mục-kiền-liên) không?
- Vì
sao ông bảo thế? Trưởng lão hỏi.
- Thưa
Thánh giả, vị ấy chê bai ngài và bảo: "Khi ta vắng, Xá-lợi-phất
có gì xứng đáng để so sánh với ta về đẳng cấp, dòng
dõi, gia đình và xứ sở hoặc về năng lực chứng đạt các
Thánh điển!
Vị
Trưởng lão mỉm cười và đáp:
- Ði
đi, ông bạn.
Một
hôm khác người ấy lại đến gần Ðại Trưởng lão Mục-kiền-liên
và cũng bảo như thế. Vị này cũng mỉm cười và nói:
- Ði
đi, ông bạn!
Mục-kiền-liên
đến gặp Xá-lợi-phất và hỏi:
- Ông
bạn sống bằng các thứ dư thừa của chúng ta ấy có nói
gì với Hiền giả không?
- Vâng,
có đấy, Hiền giả ạ.
- Và
ông ta cũng nói đúng như thế với tôi. Chúng ta phải đuổi
ông ta đi.
- Tốt
lắm Hiền giả, hãy đuổi ông ta đi.
Trưởng
lão bảo:
- Ông
không được đến đây.
Và
búng tay tỏ ra khinh miệt anh ta, ngài đuổi anh ta đi. Hai vị
Trưởng lão sống hạnh phúc với nhau, và khi quay về với
bậc Ðạo Sư, họ đảnh lễ Ngài và ngồi xuống. Bậc Ðạo
Sư ân cần nói chuyện với họ và hỏi họ có sống thời
biệt cư của họ một cách hỷ lạc không. Họ bạch:
- Có
một anh hành khất kia muốn làm cho chúng con bất hòa nhưng
mưu toan thất bại, anh ta đã chạy xa rồi.
Bậc
Ðạo Sư dạy:
- Thực
thế, này Xá-lợi-phất, không phải chỉ bây giờ, mà xưa
kia cũng thế, anh ta đã nghĩ cách làm cho các ông bất hòa
nhưng mưu toan thất bại, anh ta đã chạy xa.
Rồi
do yêu cầu các Trưởng lão, Ngài kể một chuyện thời xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là
một vị Thần cây trong một khu rừng. Bấy giờ có một con
Sư tử và một con Hổ sống trong một cái động núi ở khu
rừng ấy. Một con Chó rừng hầu hạ chúng và nhờ sống bằng
thịt ăn thừa của chúng, nó bắt đầu mập ra.
Thế
rồi một hôm, nó chợt nghĩ: "Ta chưa bao giờ ăn thịt một
con sư tử hay một con hổ. Ta phải làm cho hai con này bất
hòa với nhau, và kết quả của việc tranh cãi nhau là chúng
phải chết, bấy giờ ta sẽ ăn thịt chúng".
Thế
là nó đến gần Sư tử và nói:
- Thưa
ngài, có sự tranh cãi nào giữa ngài và Hổ không?
- Sao
anh bảo thế?
- Thưa
Tôn giả, Chó rừng hỏi - Hổ chê bai ngài và bảo: Khi ta đi
vắng, tên Sư tử này sẽ chẳng bao giờ được bằng một
phần mười sáu sắc đẹp của ta, vóc dáng và vòng ngực
ta, sức mạnh và quyền năng tự nhiên của ta.
Bấy
giờ Sư tử nói với nó:
- Xéo
đi, Hổ sẽ chẳng bao giờ nói ta như thế.
Thế
rồi Chó rừng cũng đến gần Hổ và nói theo cách ấy. Khi
nghe nó nói, Hổ chạy đến Sư tử và hỏi:
- Này
bạn, có thật rằng bạn đã nói về tôi như thế, như thế?
Rồi
Hổ đọc bài kệ đầu:
Có
phải chăng Su-dà-tha nói:
Ðẹp
sang về dòng dõi, hình dung.
Oai
hùng, quyền lực trong vùng
Su-bà-hu
cũng phải nhường thua tôi!
Nghe
thế, Su-dà-tha (Răng mạnh, tức Sư tử) đọc bốn bài kệ
còn lại:
Có
phải chăng Su-bà-hu nói:
Ðẹp
sang về dòng dõi, hình dung
Oai
hùng, quyền lực trong vùng
Su-dà-ha
cũng phải nhường thua tôi!
Nếu
lời bạn chê bai như vậy,
Thì
bạn đâu còn phải bạn tôi!
Chuyện
tầm phào, lắng nghe rồi
Sẽ
gây tranh cãi với người bạn ta,
Và
trong thù hận cay chua
Mối
tình thân hữu sẽ là đứt ngang.
Ðã
là bè bạn thương thân,
Ai
đâu nghi ngại chẳng nhân cớ nào!
Ai
đâu tìm vạch gắt gao
Những
điều lầm lỗi của nhau làm gì!
Niềm
tin bạn, ta thì vẫn giữ
Như
trẻ thơ tin vú mẹ thân.
Chẳng
gì kẻ lạ nói năng
Mà
đành có lúc tách phân bạn lòng.
Khi
bốn bài kệ ấy đã nêu lên phẩm cách của một bạn thân,
Hổ nói:
- Tôi
có lỗi.
Và
nó xin lỗi Sư tử. Sau đó chúng cùng nhau sống hạnh phúc
tại nơi ấy. Còn Chó rừng ra đi và tìm đến nơi khác.
*
Sau
khi chấm dứt bài dạy, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ, con Chó rừng kia là người hành khất sống bằng thức
ăn thừa, con Sư tử là Xá-lợi-phất, con Hổ là Mục-kiền-liên,
còn vị Thần sống trong rừng ấy và chứng kiến tận mắt
toàn thể chuyện này là Ta.
-ooOoo-
362.
Chuyện Thử Nghiệm Đức Hạnh (Tiền thân Sìlavimamsa)
Ðức
hạnh và kiến thức...,
Câu
chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên
về một Bà-la-môn muốn thử thách năng lực của đức hạnh.
Người
ta kể rằng, do ông nổi danh về đức hạnh, vua đã đặc
biệt tôn trọng ông hơn hẳn các Bà-la-môn khác. "Ðức vua
đặc biệt tôn trọng ta, có phải vì ta có đức hạnh hay
vì ta đạt kiến thức cao? Ta sẽ thử nghiệm xem đức hạnh
và kiến thức bên nào quan trọng hơn".
Thế
là một hôm, ông rút lấy một đồng trong kho tiền của vua.
Người thủ kho vì kính ông đã không nói một lời nào. Việc
ấy lại xảy ra lần thứ hai, người thủ kho cũng chẳng nói
gì. Nhưng đến lần thứ ba, người thủ kho bắt ông ta như
bắt một kẻ sinh sống bằng nghề trộm cắp và mang ông ta
đến trước nhà vua. Vua hỏi người thủ kho ông ta bị tội
gì, người ấy buộc tội ông đã ăn trộm tài sản của vua.
- Này
Bà-la-môn có thật thế không? Vua hỏi.
- Tâu
Ðại vương, tôi không có thói ăn trộm của ngài - Ông ta
bảo,- Nhưng tôi nghi ngờ không biết đức hạnh và kiến thức
bên nào quan trọng hơn, và khi thử nghiệm xem trong hai thứ
đó, thứ nào là quan trọng hơn, tôi đã ba lần rút lấy một
đồng tiền và thế rồi tôi bị bắt và mang đến trước
ngài. Giờ đây tôi biết được rằng đức hạnh có hiệu
năng lớn hơn là kiến thức. Tôi không còn muốn sống đời
cư sĩ nữa, tôi sẽ trở thành một ẩn sĩ.
Khi
được vua cho phép, chẳng cần phải nhìn tới cả nhà cửa,
ông đi thẳng đến Kỳ Viên và xin quy y bậc Ðạo Sư. Bậc
Ðạo Sư truyền cho ông giới Sa-di và cả giới Tỷ-kheo. Ðược
vào Giáo đoàn không bao lâu, ông đạt tuệ giác và đắc quả
vị cao nhất. Sự việc này được bàn luận trong Pháp đường
rằng Bà-la-môn nọ sau khi chứng nghiệm được năng lực của
đức hạnh, đã thọ giới xuất gia và đạt tuệ giác đắc
Thánh quả như thế nào.
Bậc
Ðạo Sư đến và hỏi các Tỷ-Kheo đang ngồi bàn luận vấn
đề. Khi nghe kể lại, Ngài dạy:
- Không
phải chỉ bây giờ người này làm thế, các bậc hiền trí
ngày xưa cũng đã đem đức hạnh ra thử nghiệm và trở thành
các ẩn sĩ đem lại sự giải thoát cho mình.
Rồi
Ngài kể một câu chuyện ngày xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh
ra trong một gia đình Bà-la-môn. Khi lớn lên, ngài học được
mọi ngành văn học nghệ thuật ở Takkasilà và khi trở về
Ba-la-nại, ngài đến yết kiến vua. Vua giao cho ngài chức giáo
sĩ hoàng gia, và vì ngài giữ năm giới, vua đối đãi kính
trọng, xem ngài là người một đức hạnh. Ngài nghĩ: "Phải
chăng vua kính trọng đối xử với ta như một người đức
hạnh hay như một người chuyên tâm đạt kiến thức?" Và
toàn bộ câu chuyện cũng đúng như sự việc ngày nay, nhưng
ở đây, vị Bà-la-môn bảo:
- Bây
giờ tôi đã biết đức hạnh là quan trọng hơn kiến thức.
Rồi
ngài đọc năm bài kệ sau đây:
Ðức
hạnh và kiến thức
Tôi
đã thể nghiệm rồi.
Nay
không còn ngờ vực,
Ðức
hạnh tốt nhất đời.
Ðức
hạnh vượt thiên phú
Ðẹp,
sang suông đâu bí.
Khi
ở xa đức hạnh
Kiến
thức chẳng đáng chi!
Nông
dân hay hoàng tử
Hễ
đã vướng tội vào,
Ở
cõi nào đâu chứ,
Thoát
khỏi niềm khổ đau?
Dù
thuộc hàng thấp kém
Hay
ở lớp quý cao,
Nếu
đời này đức hạnh,
Ở
Thiên giới ngang nhau.
Dòng
dõi và trí thức,
Thân
tình, chẳng đáng đâu!
Chỉ
riêng thuần đức hạnh
Ðem
phước lạc mai sau.
Bậc
Ðại Sĩ ca ngợi đức hạnh như thế, và sau khi được vua
ưng thuận, ngay ngày hôm ấy, ngài đi vào vùng Tuyết-Sơn và
sống đời Phạm hạnh của một nhà ẩn tu. Ngài phát triển
các Thắng trí và các Thiền chứng rồi được sinh vào cõi
Phạm Thiên.
*
Bậc
Ðạo Sư chấm dứt bài dạy và nhận diện tiền thân:
- Bấy
giờ chính Ta đã đem đức hạnh ra thử nghiệm và nhận lấy
cuộc đời Phạm hạnh của một nhà ẩn tu.
-ooOoo-
363.
Chuyện Hổ Thẹn (Tiền thân Hiri)
Kẻ
nào dù được kính vì...,
Câu
chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi ngài trú tại Kỳ Viên
về một vị phú thương bạn của ông Cấp Cô Ðộc, sống
tại một tỉnh ở biên địa.
Cả
câu chuyện khởi đầu và câu chuyện ngày xưa đều được
kể đầy đủ trong số 90. Tiền thân cuối Phẩm thứ chín,
Chương Một, nhưng ở đây khi vị thương gia ở Ba-la-nại
nghe rằng những người hầu của vị thương gia xa lạ bị
đoạt hết tất cả tài sản, và sau khi mất hết mọi thứ
đã có, họ phải bỏ trốn, ông nói:
- Vì
họ không làm điều mà họ phải làm cho những người xa lạ
đã đến với họ, nên họ chẳng tìm thấy ai sẵn sàng đền
đáp cho họ.
Nói
thế xong, ông đọc các bài kệ sau:
Kẻ
nào dù được kính vì,
Khi
làm phận tớ, lòng thì ghét ta.
Chẳng
làm việc tốt đâu mà,
Còn
riêng lời nói rườm rà nhiêu khê,
Ta
nên phải quyết một bề:
Người
nào như thế, chớ hề kết giao.
Một
khi đã trót hứa vào
Thực
hành lời hứa làm sao cho tròn.
Việc
nào chẳng thể làm xong,
Thì
ta từ chối, quyết không hứa gì.
Người
khôn quay mặt ngoảnh đi
Những
khoa trương rỗng đáng chi để lòng.
Một
khi bạn đã nhau cùng,
Thì
không tranh chấp khi không cớ nào.
Chẳng
hề tìm vạch gắt gao
Những
điều lầm lỗi của nhau bao giờ.
Vững
tin bạn, tựa trẻ thơ
Tin
vào vú mẹ chẳng ngờ chút chi.
Dù
người lạ nói, làm gì,
Cũng
không hề muốn chia ly bạn lòng.
Tình
bằng ai khéo chịu tròn
Hẳn
đời tăng ích, cao khôn phước phần.
Nhưng
người hưởng thú tịnh an,
Uống
vào những ngụm lẽ Chân ngọt ngào.
Riêng
người ấy biết làm sao
Thoát
dây buộc tội, thoát bao khổ phiền.
Như
vậy bậc Ðại Sĩ chán ngán tiếp giao với bạn bè xấu, do
sức mạnh của độc cư, ngài đã đưa giáo lý của Ngài lên
đến tột đỉnh và dẫn con người đến Niết - bàn vĩnh
cửu.
*
Khi
giảng xong Pháp thoại, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ Ta là vị thương gia ở Ba-la-nại.
-ooOoo-
364.
Chuyện Con Đom Đóm (Tiền thân Khajjopanaka)
Chuyện
con Ðom Ðóm sẽ được kể đầy đủ trong số 546, Tiền thân
Mahà-Ummagga.
-ooOoo-
365.
Chuyện Người Luyện Rắn (Tiền thân Ahigundika)
Này
ta nằm đây, Khỉ xinh đẹp hỡi....,
Câu
chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi ngài trú tại Kỳ Viên
về một Trưởng lão.
Chuyện
này đã được kể đầy đủ trong số 249. Tiền thân Sàlaka.
Ở
đây cũng thế, vị Trưởng lão sau khi truyền giới cho một
chàng trai trong làng lại la mắng, đánh đập anh ta. Chành trai
ấy chạy trốn và hoàn tục. Trưởng lão một lần nữa truyền
giới cho anh và lại la mắng, đánh đập như trước. Chàng
trai trẻ sau khi hoàn tục ba lần, lại được khuyến dụ quay
trở lại, đã chẳng còn muốn nhìn mặt Trưởng lão ấy nữa.
Chuyện
ấy được bàn tán trong Pháp đường về một Trưởng lão
đã không thể sống với chú tiểu của ông mà cũng không
thể sống thiếu chú ấy, trong khi chàng trai trẻ đã thấy
lỗi lầm của Trưởng lão vì thiếu điềm tĩnh, anh ta lại
là một chàng trẻ nhạy cảm nên đã không muốn nhìn ông
nữa.
Bậc
Ðạo Sư đến và hỏi các Tỷ-kheo đang bàn đề mục gì.
Khi nghe trình việc ấy, Ngài dạy:
- Này
các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ, mà xưa kia cũng thế,
chính chàng trẻ này đã làm một chú tiểu nhạy cảm sau khi
quan sát thấy lỗi lầm của Trưởng lão ấy, đã chẳng muốn
nhìn ông ta nữa!
Dạy
thế xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, vào triều đại Brahmadatta, vua ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh
ra trong một gia đình làm lúa mì và khi lớn lên, ngài sinh
sống bằng nghề bán lúa mì.
Bấy
giờ, một người dụ rắn nọ bắt được một con Khỉ rồi
huấn luyện nó đóng trò với một con rắn. Thế rồi khi một
cuộc hội hè được mở ở Ba-la-nại, ông ta gởi con Khỉ
cho người bán lúa mì và đi rong khắp trong bảy ngày làm trò
với con Rắn. Trong thời gian ấy, vị thương gia nuôi con Khỉ
bằng thức ăn loại cứng, loại mềm.
Vào
ngày thứ bảy khi đã say sưa ở chỗ vui chơi hội hè ấy,
người dụ rắn trở về và ba lần đánh đập con Khỉ bằng
một thanh tre rồi đem nó theo vào trong một khu vườn, cột
nó lại và nằm ngủ. Con Khỉ tháo được dây ra rồi trèo
lên cây xoài, ngồi đó ăn trái. Khi thức dậy người dụ
rắn thấy con Khỉ ngồi trên cây, liền nghĩ: "Ta phải bắt
nó bằng cách tán tỉnh nó". Rồi khi nói chuyện với nó, ông
đọc bài kệ đầu:
Này
ta nằm đây, Khỉ xinh đẹp hỡi,
Như
người chơi bị súc sắc phá tàn,
Hãy
ném xoài đây; Ta biết rõ ràng
Ta
sống được nhờ bạn nhiều mưu kế.
Khi
nghe thế, con Khỉ đọc các bài kệ còn lại:
Lời
bạn khen, âm thanh vô nghĩa thế,
Khỉ
đẹp xinh: Bao giờ kiếm cho ra!
Xin
hỏi ai trong hàng quán say sưa,
Nay
bỏ đói và đánh ta đau vậy?
Anh
dụ rắn hỡi, ta đây nhớ lại
Giường
khổ đau nơi ta phải nằm vào.
Nếu
có ngày ta lên nắm ngôi cao,
Chớ
xin ta rỉ chút nào ân huệ.
Vì
ta nhớ bạn từng hung ác thế,
Nhưng
nếu ai vui vẻ sống trong nhà
Hạng
thanh cao, chịu đem của trao ra,
Thì
sẽ được người khôn giao kết chặt.
Nói
những lời này xong, con Khỉ biến mất trong bầy khỉ bạn.
*
Bậc
Ðạo Sư chấm dứt bài dạy ở đây và nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ Trưởng lão này là người dụ rắn nọ, chú tiểu là
con Khỉ, còn Ta là người bán lúa mì.
-ooOoo-
366.
Chuyện Con Quỷ Gumbiya (Tiền thân Gumbiya)
Thuốc
độc giống như mật ngọt ngào....,
Cây
chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên
về một Tỷ-kheo hối tiếc vì đã thọ giới.
Bậc
Ðạo Sư hỏi có thật ông đã hối tiếc như thế không.
- Bạch
ngài, đúng thế. Ông ta đáp.
Bậc
Ðạo Sư hỏi:
- Ông
đã thấy điều gì khiến ông cảm thấy như thế?
Khi
vị Tỷ-kheo đáp:
- Ðấy
là do những vẻ duyên dáng hấp dẫn của một phụ nữ.
Bậc
Ðạo Sư dạy:
- Năm
thứ ham muốn giống như mật có rảy thuốc độc giết người
do quỷ Gumbiya để giữa đường.
Rồi
do yêu cầu của Tỷ-kheo ấy, Ngài kể một câu chuyện quá
khứ.
*
Ngày
xưa, dưới triều Brahmadatta, vua xứ Ba-la-nại, Bồ-tát là
một thương gia mang theo năm trăm chiếc xe chở hàng hóa đi
bán. Ðến đường cái, trước khi vào một khu rừng, ngài
gọi các thành viên trong đoàn lại và nói:
- Này,
trên con đường này có lá, hoa, trái vân vân, tất cả đều
có thuốc độc đấy. Khi ăn, chớ ăn các thứ lạ mà không
hỏi ta: Vì bọn quỷ đã để trên đường những rổ cơm
mới và nhiều thứ quả hoang ngon ngọt và rưới thuốc độc
lên. Hãy dứt khoát đừng ăn thức ăn ấy nếu không được
ta chấp thuận.
Sau
khi dặn dò như thế, ngài tiếp tục cuộc hành trình.
Bấy
giờ một quỷ Yakkha nọ, tên Gumbiya, rải lá trên một khoảng
đất giữa rừng và thả vài miếng mật, trên đó có thuốc
độc giết người; còn nó đi đây đó trên đường, giả
vờ vỗ vào cây cối, làm như đang tìm mật. Những người
không biết gì cứ nghĩ: "Mật này được để đây, hẳn phải
là một nghĩa cử". Thế là họ phải chết vì ăn mật ấy.
Và bọn quỷ đến ăn thịt họ.
Trong
thương đoàn của Bồ-tát cũng có một số người vốn tham
ăn, khi thấy những thứ ngon này, không kìm lòng được liền
ăn vào. Nhưng những người khác khôn ngoan bảo:
- Ta
sẽ hỏi Bồ-tát trước khi ăn.
Và
họ cầm các thức ăn ấy và đứng đó. Khi Bồ-tát thấy
các thứ họ đang cầm trong tay, ngài bảo họ ném đi. Những
người đã ăn trọn phần đều chết. Nhưng đối với mỗi
người chỉ mới ăn phân nửa, ngài khiến họ nôn ra, và sau
khi họ đã nôn hết, ngài cho họ bốn thứ thơm ngọt và do
thần lực của ngài, họ được lành.
Bồ-tát
đến nơi mà ngài muốn đến một cách bình an, và sau khi giao
hàng, ngài trở về nhà.
Thuốc
độc giống như mật ngọt ngào
Khi
ta ngửi, nếm hoặc nhìn vào,
Gum-bi-ya
đã bày ra đó,
Mục
đích hại người thật hiểm sao!
Hễ
kẻ nào ham ăn hưởng mật,
Ăn
vào, phải chết giữa rừng sâu.
Những
ai khôn tránh xa mồi nhử,
Giữ
được an lành, khỏi khổ đau.
Tham
dục cũng như mồi dục vậy,
Ðược
bày ra để hại con người,
Tấm
lòng tham ái thường khi vẫn
Phản
bội, đưa người đến chết thôi.
Những
hễ kẻ nào dù yếu đuối,
Tránh
xa ác dục cuốn lôi người,
Chính
là kẻ thoát dây ràng buộc
Của
nỗi thương đau, thoát khổ rồi.
*
Sau
khi đọc các bài kệ trên được cảm tác do trí tuệ toàn
hảo, bậc Ðạo Sư khai thị Tứ Ðế. Ở phần kết thúc Tứ
Ðế, vị Tỷ-kheo thối thất ấy đắc quả Dự Lưu.
Bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc
bấy giờ, Ta là vị thương gia ấy.
-ooOoo-
367.
Chuyện Vị Y Sĩ Già (Tiền thân Saliya)
Kẻ
nào khiến bè bạn....,
Câu
chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Trúc Lâm,
về một lời nói rằng Ðề-bà-đạt-đa đến cả kêu cứu
cũng không thể được.
*
Khi
vua Brahmadatta đang trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra trong
một gia chủ ở làng. Khi còn trẻ ngài chơi đùa với các
cậu trai khác dưới một gốc cây ở cổng làng. Bấy giờ
có một y sĩ già nghèo khổ, không có việc làm, lang thang ra
khỏi làng, và đến nơi ấy, trông thấy một con rắn nằm
ngủ giữa nhánh chĩa của một cây nọ, đầu rúc vào trong.
Ông ta nghĩ: "Ta chẳng được gì ở trong làng cả. Ta sẽ tán
dụ tụi bé con này, khiến cho con rắn cắn chúng và thế là
ta sẽ được thứ gì đó vì đã chữa chúng". Vì thế, ông
ta bảo Bồ-tát:
- Nếu
cháu tình cờ trông thấy con nhím, cháu có bắt nó không?
- Vâng,
cháu bắt chứ. Bồ-tát đáp.
Lão
già bảo:
- Xem
kìa, một con nhím đang nằm giữa nhánh chĩa của cây này đấy.
Không
biết rằng đó là một con rắn, Bồ-tát trèo lên cây và chộp
lấy cổ nó, nhưng khi thấy rằng đấy là một con rắn thì
ngài không để cho nó quay lại phía ngài, mà kềm chế lấy
nó và ném vung nó ra. Con rắn rơi vào cổ của ông y sĩ già,
cuốn quanh ông, cắn ông thật nặng đến nỗi răng nó cắm
sâu vào thịt ông, lão già ngã xuống chết ngay tại chỗ,
còn con rắn thoát đi. Mọi người xúm quanh bậc Ðạo Sĩ và
khi giảng Pháp cho đám đông ấy, ngài đọc các bài kệ sau:
Kẻ
nào khiến bè bạn
Bắt
một con rắn độc tàn,
Bảo
là nhím, chẳng hạn,
Chính
kẻ ấy lãnh phần
Phải
chết vì rắn cắn,
Như
kẻ mong láng giềng
Gặp
phải điều bất hạnh.
Ai
muốn đánh một kẻ
Chẳng
bao giờ đánh trả,
Sẽ
bị đánh, ngã xoài
Như
cú đấm chết người
Khiến
kẻ ác thống khổ.
Như
cát tung ngược gió
Bị
thổi lại người tung.
Kẻ
nào trao tai họa
Cho
một bậc thiện nhân
Khổ
ải quay trở lại
Cho
chính kẻ điên khùng
Như
cát bay trở lại,
Khi
tung ngược cuồng phong.
*
Bậc
Ðạo Sư chấm dứt bài giảng ở đây và nhận diện Tiền
thân:
- Bấy
giờ, ông y sĩ già nghèo khổ là Ðề-bà-đạt-đa, và cậu
thiếu niên khôn ngoan là Ta.
-ooOoo-
368.
Chuyện Dây Trói Buộc (Tiền thân Tacasàra)
Bị
rơi vào giữa tay thù.....,
Câu
chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi ngài trú tại Kỳ Viên
về Trí tuệ Toàn hảo.
Bấy
giờ bậc Ðạo Sư dạy:
- Này
các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ, mà xưa kia cũng vậy,
Như Lai cũng đã chứng tỏ mình thông tuệ và nhiều phương
tiện thiện xảo.
- Rồi
Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, dưới triều Brahmadatta, vua xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh
ra trong một gia đình của một sở hữu chủ trong làng. Toàn
bộ câu chuyện diễn tiến đúng như Tiền thân trước đây.
Nhưng ở chuyện này, khi lão y sĩ chết, những người láng
giềng của ông ta ở trong làng nói:
- Những
thiếu niên này đã gây nên cái chết cho người ấy. Chúng
ta sẽ mang chúng đến trình vua.
Rồi
họ trói các chàng trẻ ấy lại và dẫn đến Ba-la-nại. Dọc
đường, Bồ-tát an ủi và bảo các chàng trẻ kia:
- Ðừng
sợ! Ngay cả khi các bạn bị đưa ra trước mặt vua, hãy tỏ
ra không sợ hãi và lòng đầy hoan hỷ. Trước hết vua sẽ
nói chuyện với chúng ta và sau đó, tôi sẽ liệu xem sẽ phải
làm gì.
Cả
bọn đều chấp nhận ngay lời khuyên bảo ấy và làm đúng
theo như vậy. Khi vua thấy họ đều bình tĩnh và hoan hỷ,
vua bảo:
- Những
kẻ khốn khổ này bị xích trói và mang đến đây như những
kẻ sát nhân, và dù phải khổ sở đến như vậy họ vẫn
không sợ hãi mà còn hoan hỷ nữa. Ta sẽ hỏi họ lý do tại
sao họ không buồn phiền.
Và
vua đọc bài kệ đầu:
Bị
rơi vào giữa tay thù
Bị
dây tre trói buộc như thế này,
Vẫn
trông tươi tỉnh mặt mày,
Làm
sao người dấu được ngay khổ sầu?
Nghe
thế, Bồ-tát đọc tiếp các bài kệ sau:
- Người
kia than trách buồn đau
Có
đâu thu được lợi nào mảy may!
Ðối
phương thích thú lắm thay
Khi
trông thấy nỗi khổ giày vò ta.
Thù
nhân sẽ lắm ưu tư
Khi
ta ngẩng mặt tiến ra số phần,
Chẳng
lùi như một trí nhân
Khéo
bề phán đoán tách phân mọi điều.
Dù
nhờ bùa chú cao siêu
Thì
thầm nho nhỏ, dù nhiều tài cao,
Người
thân quyền thế giúp vào,
Mà
ta thoát nạn cách nào cũng hay.
Ta
nên nỗ lực cho tày
Chiếm
phần ưu thắng về ngay phía mình.
Nhưng
khi kết quả không thành
Nhờ
người giúp hoặc riêng mình chẳng xong,
Thì
ta nên vẫn một lòng
Sẵn
sàng chấp nhận mà không đau buồn.
Số
phần dù quá gian truân,
Ta
đành nỗ lực gắng công tới cùng.
Nghe
Bồ-tát giảng Pháp, vua điều tra sự việc và thấy các thiếu
niên kia đều vô tội, liền sai cởi trói cho họ, ban thưởng
Bồ-tát nhiều vinh dự và phong ngài làm cố vấn về thế
sự và thánh sự kiêm chức đại thần cao quý. Vua cũng ban
vinh dự cho các thiếu niên kia và chỉ định họ vào nhiều
chức vụ khác nhau.
*
Khi
bậc Ðạo Sư chấm dứt bài giảng, Ngài nhận diện Tiền
thân:
- Bấy
giờ, Ànanda là vua xứ Ba-la-nại, hàng phó giáo sĩ là các
thiếu niên kia, còn Ta là chàng trai trẻ thông tuệ ấy.
-ooOoo-
369.
Chuyện Chàng Trai Mittavinda (Tiền thân Mittavinda)
Việc
xấu nào tôi đã trót gây....,
Câu
chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên
về một Tỷ-kheo phóng dật.
Sự
việc đưa đến câu chuyện sẽ giống như ở Tiền thân Mahàmittavinda
(các số 41, 82, 104 và 439).
*
Bấy
giờ, khi Mittavindaka bị thả xuống dưới biển, đã tỏ ra
tham ái vô độ và ngày càng thái quá như vậy nên anh ta đến
một nơi hành tội của các chúng sinh bị đọa vào địa ngục.
Anh ta đi vào địa ngục Ussada, nhầm tưởng đấy là một
đô thị và ở đó anh ta phải mang trên đầu một bánh xe
bén như lưỡi dao cạo. Lúc ấy Bồ-tát mang hình hài một
vị Thiên tử đi thi hành một sứ mạng đến ngục Ussada.
Khi trông thấy ngài, Mittavindaka đọc bài kệ đầu theo hình
thức một câu hỏi:
Việc
xấu nào tôi đã trót gây
Khiến
trời nguyền rủa phận tôi đây?
Ôi,
đầu tôi hẳn là nứt vỡ
Vì
bánh xe quay hành tội này.
Nghe
thế, Bồ-tát đọc bài kệ thứ hai:
Từ
bỏ cửa nhà đầy phước lạc,
Ðây
thì dát ngọc, đấy pha lê,
Các
phòng đều chói ngời vàng bạc,
Thảm
cảnh do đâu đấy bạn về?
Thế
rồi Mittavindaka đọc bài kệ thứ ba:
"Lạc
thú nơi kia sẽ ngập tràn,
Chốn
này kém cỏi chẳng so bằng".
Ðấy
là ý nghĩ gây tai ách
Và
đấy tôi vào cảnh thảm thương.
Bồ-tát
đọc những bài kệ sau cùng:
Từ
bốn lên thành tám,
Lên
mười sáu, băm hai,
Lòng
tham không biết thỏa
Cứ
tăng trưởng lên hoài.
Và
cứ thế đưa bạn
Sinh
linh tham dục đầy
Ðến
khi chịu đày đọa
Ðầu
mang bánh xe nầy.
Vậy
tất cả thế nhân
Cứ
đeo đòi tham ái,
Mãi
vẫn chưa thỏa lòng,
Vẫn
đòi thêm, thêm mãi.
Ðường
tham lam rộng lớn,
Họ
vẫn bước chân vào
Rồi
phải mang như bạn
Bánh
xe này trên đầu.
Nhưng
trong khi Mittavindaka đang còn nói thì bánh xe rơi xuống chà
nát anh ta, khiến anh ta không nói thêm được nữa. Còn vị
Thiên tử quay thẳng về trú xứ của mình ở trên trời.
*
Bậc
Ðạo Sư chấm dứt bài giảng và nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ Tỷ-kheo phóng dật là Mittavindaka, còn Ta là vị Thiên
tử.
-ooOoo-
370.
Chuyện Cây Hồng Phượng Vĩ (Tiền thân Palàsa)
Ngỗng
này nói với cội Ju-das...,
Câu
chuyện này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên
về sự khiển trách tội lỗi.
Sự
việc dẫn đến câu chuyện sẽ được kể trong Tiền thân
Pannà.
Nhưng
ở đây bậc đạo Sư bảo chúng Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, phải dè chừng tội lỗi. Dù tội lỗ nhỏ bằng
một chồi cây đa, nó cũng có thể tỏ ra rất tàn khốc. Các
hiền trí ngày xưa cũng dè chừng điều gì tỏ vẻ đáng nghi
ngại.