CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (III) Jàtaka
Chương
VI
Phẩm
Sáu Bài Kệ
372.
Chuyện Chú Nai Con (Tiền thân Migapotaka)
Sầu
thương vật đã chết rồi.....,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ Viên)
về một Trưởng lão nọ.
Chuyện
kể rằng ông nhận một cậu thanh niên xuất gia vào Hội chúng,
và Sa-di này sau một thời gian phục vụ thầy rất nhiệt tình,
dần dần lâm bệnh và từ trần. Vị Trưởng lão tràn ngập
ưu phiền vì cái chết của nam tử kia nên cứ đi quanh quẩn
than khóc kêu gào. Tăng chúng không thể nào an ủi ông cho khuây
khỏa được, liền đưa vấn đề ra thảo luận tại Chánh
pháp Ðường:
- Vị
Trưởng lão kia có một Sa-di từ trần, cứ quanh quẩn than
khóc mãi. Do triền miên suy tư mãi về cái chết, chắc chắn
vị ấy sẽ trở thành kẻ bơ vơ lạc lỏng.
Khi
bậc Ðạo Sư bước vào, Ngài hỏi Tăng chúng hội họp để
bàn luận đề tài gì, và khi biết được câu chuyện, Ngài
bảo:
- Không
phải chỉ bây giờ, mà cả ngày xưa, Trưởng lão ấy cũng
đi quanh quẩn than khóc khi thanh niên này từ trần.
Nói
xong Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta (Phạm Thọ) trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát
được sinh làm Sakka Thiên chủ (Ðế Thích). Thời ấy có một
người sống trong quốc độ Kàsi, đi đến miền Himàlaya (Tuyết
Sơn) và sống đời khổ hạnh với các loại quả rừng.
Một
hôm vị ấy thấy một chú nai con mất mẹ. Vị ấy đem nó
về thảo am, cho nó ăn và yêu quý nâng niu nó. Chú nai con lớn
dần thành một con vật xinh đẹp thanh tao, và ẩn sĩ chăm
sóc nó, đối đãi với nó như con đẻ mình vậy.
Một
ngày kia, con nai chết thình lình vi bội thực, không tiêu hóa
hết số cỏ quá nhiều. Vị khổ hạnh cứ lang thang gào khóc:
- Con
ta chết rồi!
Lúc
ấy Sakka Thiên chủ xem xét trần gian, nhìn thấy vị ấy, ngài
nghĩ cách khuyến giáo ông, liền hiện xuống đứng giữa không
trung và ngâm vần kệ đầu:
Sầu
thương vật đã chết rồi,
Hỡi
người khổ hạnh sống đời độc cư.
Thoát
dây tục lụy xuất gia,
Giờ
đây phát bệnh tâm tư buồn phiền!
Vị
khổ hạnh vừa nghe vậy liền ngâm vần kệ thứ hai:
Nếu
người bầu bạn thú hiền,
Tâu
ngài Ðế Thích ở trên cõi trời,
Buồn
phiền vì mất bạn chơi,
Tuôn
dòng nước mắt sẽ vơi nỗi sầu.
Thiên
chủ Sakka lại ngâm hai vần kệ nữa:
Người
đời lắm kẻ ước ao
Mỗi
khi vật mất, kêu gào tiếc thương.
Thôi
đừng khóc nữa, trí nhân,
Thánh
hiền vẫn bảo hoài công thôi mà.
Nếu
nhờ nước mắt tuôn ra
Chúng
ta có thể vượt qua tử thần,
Thì
ta quyết phải hợp quần
Ðể
mà cứu mọi vật thân nhất trần.
Trong
lúc Thiên chủ Sakka nói vậy, vị khổ hạnh nhận ra rằng
khóc than cũng chẳng ích gì, liền ca ngợi tán thán Thiên chủ
và ngâm ba vần kệ nữa:
Ví
như ngọn lửa nóng hừng
Ðổ
thêm bơ sữa cháy bừng thật cao,
Ðược
vòi nước lạnh tưới vào,
Ngài
vừa dập tắt nỗi sầu của ta.
Lòng
ta nhức nhối xót xa
Vì
tên sầu não xuyên qua kinh hoàng.
Ngài
đã chữa trị vết thương,
Và
ngài hồi phục đời thường cho ta.
Mũi
tên vừa được nhổ ra,
Lòng
ta tràn ngập an hòa vui tươi,
Lắng
nghe Ðế Thích nhủ lời,
Ta
không còn phải chơi vơi khổ sầu.
Sau
khi đã khuyến giáo vị khổ hạnh như thế, Sakka Thiên chủ
trở về cõi của ngài.
*
Ðến
đây bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại và nhận diện Tiền
thân:
- Vào
thời ấy, vị Trưởng lão là nhà khổ hạnh, Sa-di là con nai,
và Ta chính là Sakka Thiên chủ.
-ooOoo-
373.
Chuyện Con Chuột (Tiền thân Mùsika)
Bọn
chúng hỏi to: "Nó ở đâu?"....,
Câu
chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Trúc Lâm về
vua Ajàtasattu (A-xà-thế).
Sự
kiện đưa đến chuyện này đã được kể đầy đủ trong
Tiền thân Thusa, số 338.
Ở
đây bậc Ðạo Sư cũng quan sát nhà vua lúc ấy vừa chơi đùa
với vương tử, vừa nghe Pháp. Như Ngài đã biết hiểm họa
sẽ xảy đến cho vua vì vương tử này, Ngài nói:
- Thưa
Ðại vương, vua chúa thời xưa đã nghi ngờ những gì đáng
nghi ngờ, nên đã giam giữ các vương tử lại một nơi và
bảo: "Hãy để cho các hoàng nhi cai trị sau khi thân xác chúng
ta đã được hỏa táng".
Cùng
với lời trên, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vị ở Ba-la-nại, Bồ-tát được
sinh vào một gia đình Bà-la-môn và trở thành một giáo sư
danh tiếng thế giới. Con vua Ba-la-nại tên là vương tử Yava
(Lúa mạch). Sau khi đã chuyên tâm học tập đủ mọi ngành
học thuật với ngài, chàng liền nóng lòng ra đi, và đến
từ giã ngài. Vị giáo sư nhờ tài tiên tri biết trước rằng
hiểm họa sẽ xảy ra cho vương tử do chính con trai vị ấy
gây ra, liền suy xét cách thức làm thế nào diệt trừ mối
hiểm họa này cho vương tử, và bắt đầu nhìn quanh để
tìm một ví dụ chứng minh cho thích hợp.
Lúc
bấy giờ ngài có một con ngựa, trên chân ngựa xuất hiện
một vết thương đau nhức. Con ngựa được giữ trong chuồng
để ngài chăm sóc vết thương cẩn thận. Gần đó có một
cái giếng. Thời ấy, một con chuột vẫn thường bạo gan
bò ra khỏi lỗ để gặm chỗ vết thương ở chân ngựa. Con
ngựa không thể cản nó được và một hôm, không chịu nổi
đau đớn, khi con chuột đến cắn nó, nó liền lấy móng chân
đập chết con chuột và hất xác xuống giếng. Bọn chăn ngựa
không thấy con chuột liền nói:
- Mọi
ngày con chuột vẫn đến cắn vết thương, nhưng bây giờ
không còn thấy nó nữa. Nó có chuyện gì vậy?
Bồ-tát
đã chứng kiến mọi việc và tự nhủ: "Người khác không
biết nên hỏi: Con chuột đâu rồi? Nhưng chỉ riêng mình ta
biết con chuột đã bị ngựa giết và hất xuống giếng",
và lấy ngay sự việc này làm ví dụ chứng minh. Ngài sáng
tác vần kệ đầu rồi nói cho vương tử biết.
Trong
khi nhìn quanh để tìm một ví dụ chứng minh khác, ngài lại
thấy cũng con ngựa ấy, khi vết thương đã lành, liền chạy
ra thẳng đến đồng lúa mạch để ăn lúa, rồi thọc đầu
vào một lỗ trên hàng rào. Ngài lấy v dụ này làm vần kệ
thứ hai và đưa cho vương tử.
Sang
vần kệ thứ ba, ngài sáng tác theo trí thông minh của riêng
mình và cũng đưa cho vương tử. Rồi ngài bảo:
- Này
Hiền hữu, khi bạn đã an vị trong vương quốc rồi, buổi
tối bạn đi đến bồn tắm, vừa ra phía trước cầu thang
vừa ngâm vần kệ đầu. Rồi khi bạn bước vào cung thất
mình cư ngự, hãy đi đến chân cầu thang và ngâm vần kệ
thứ hai. Rồi sau đó, bạn đi lên đầu cầu thang và ngâm
vần kệ thứ ba.
Cùng
với các lời này, ngài bảo chàng ra đi.
Vương
tử trẻ tuổi ấy về kinh đô làm phó vương, và khi vua cha
băng hà, vị phó vương lên kế ngôi. Tân vương này chỉ có
một con trai hoàng nam duy nhất, đến năm mười sáu tuổi chàng
đã nôn nóng muốn lên làm vua. Khi đã có ý định giết cha,
vương tử báo với đám hầu cận:
- Phụ
vương ta vẫn còn trẻ. Ðến khi ta nhìn thấy giàn hỏa táng
của ngài thì ta đã là già cả kiệt lực rồi. Lúc ấy mới
lên ngôi thì có ích lợi gì cho ta nữa chứ.
Bọn
chúng thưa:
- Tâu
Ðiện hạ, ngài không thể nào tính chuyện ra biên địa làm
một loạn thần được. Vậy ngài phải tìm cách này hay cách
khác sát hại phụ vương và chiếm lấy quốc độ.
Vương
tử chấp thuận ngay, vào buổi tối cầm kiếm đứng trong
cung thất vua cha gần bồn tắm, sẵn sàng giết cha mình.
Tối
hôm ấy, vua sai một nữ tỳ tên là Mùsika (chuột) đến và
bảo:
- Ngươi
hãy đi chùi bồn tắm, trẫm sắp đến tắm đấy.
Nữ
tỳ đến đó và trong lúc chùi bồn tắm, nàng bắt gặp vương
tử. Sợ âm mưu có thể bại lộ, vương tử lấy kiếm chặt
nàng làm đôi và ném vào bồn tắm. Vua vừa đến nơi, mọi
người bảo nhau:
- Hôm
nay nữ tỳ Mùsika không trở về. Nó đã đi đâu rồi nhỉ?
Vua
bước đến cạnh bồn tắm và ngâm vần kệ đầu:
Bọn
chúng hỏi to: Nó ở đâu?
Chuột
ơi, mày đã trốn nơi nào?
Việc
này chỉ một mình ta biết
Nó
đã chết nằm trong giếng sâu.
Vương
tử nghĩ thầm: "Vua cha đã phát giác những việc ta làm", và
vì quá kinh hãi, chàng chạy trốn về kể mọi việc cho đám
hầu cận. Sau khoảng bảy tám ngày, bọn chúng lại thưa với
chàng:
- Tâu
Ðiện hạ, nếu Ðại vương biết thì ngài đã không giữ
yên lặng. Những điều ngài nói chỉ có thể là lời phỏng
đoán mà thôi. Xin cứ hành thích ngài đi.
Vì
thế một hôm vương tử lại đứng cầm kiếm trong tay ở
cầu thang. Khi vua đến, chàng cố tìm cơ hội đâm ngài. Ngài
vưa bước vừa ngâm vần kệ thứ hai:
Giống
như con vật đẩy xe đi,
Ngươi
cứ xoay qua lại trở về,
Ngươi
đã giết xong con Chuột ấy,
Nay
thèm ăn Lúa mạch, ta nghi.
Vương
tử nghĩ thầm: "Phụ vương đã thấy ta" và kinh hoảng chạy
trốn.
Nhưng
sau nửa tháng, chàng lại nghĩ: "Ta quyết giết phụ vương
bằng một nhát xẻng". Thế là chàng lấy một dụng cụ giống
như cái muỗng có cán dài và cầm nó sẵn sàng, đứng đợi.
Rồi vua lên đến đầu cầu thang và ngâm vần kệ thứ ba:
Ngươi
là thằng nhãi quá ngu ngơ
Như
món đồ chơi với trẻ thơ,
Cầm
vật cán dài hình chiếc muỗng,
Thằng
kia, ta quyết giết bây giờ.
Hôm
ấy, không thể nào trốn thoát được nữa, vương tử bò
lết đến dưới chân phụ vương và thưa:
- Xin
phụ vương tha mạng cho con.
Sau
khi xem xét vương tử, vua truyền trói chàng lại bằng dây
xích và thả vào ngục tối. Rồi trong lúc ngự trên vương
tòa nguy nga lộng lẫy có che lọng trắng, ngài phán:
- Bậc
thầy Bà-la-môn lừng danh của ta đã tiên đoán mối hiểm
họa này xảy ra cho ta nên đã ban tặng ta ba vần kệ này.
Lòng
tràn đầy hân hoan, trong lúc cảm hứng khởi lên cao độ,
ngài ngâm nga luôn các vần kệ còn lại:
Ta
chưa giải thoát tự do
Bằng
đường lạc thú an cư cõi trời.
Hoặc
nhờ hiếu hạnh sáng ngời;
Ðến
khi con trẻ toan đòi mạng ta,
Cứu
nguy nhờ mấy vần thơ,
Vậy
cần học hỏi suy tư mọi điều,
Xét
xem ý nghĩa cao siêu,
Dẫu
chưa dùng, cũng lợi nhiều ngày sau
Những
lời nghe được đã lâu.
Về
sau, khi vua băng hà, vương tử được đưa lên ngôi báu.
*
Ðến
đây, bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại và nhận diện Tiền
thân:
- Thời
bấy giờ, vị giáo sư lừng danh chính là Ta.
-ooOoo-
374.
Chuyện Chàng Tiểu Xạ Thủ (Tiền thân Culladhanuggaha)
Bờ
kia chàng đã bước lên....,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên, về sự
cám dỗ một vị Tỷ-kheo do người vợ cũ của thời chưa
xuất gia tu tập.
Khi
vị Tỷ-kheo thú nhận chính vì người vợ này mà vị ấy
đã từ bỏ Hội chúng và hối tiếc việc xuất gia, bậc Ðạo
Sư bảo:
- Này
Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ nữ nhân này mới làm hại
ông. Ngày xưa cũng vậy, chính vì người này mà ông đã bị
chặt đầu.
Rồi
theo lời thỉnh cầu của chư Tăng, Ngài kể chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahamadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát được
sinh làm Sakka Thiên chủ. Thuở ấy, một thanh niên Bà-la-môn
ở Ba-la-nại đã học xong mọi môn học thuật ở Ðại học
Takkasilà, và sau khi thiện xảo môn bắn cung, chàng nổi danh
là Tiểu xạ thủ thông minh. Lúc ấy vị giáo sư nghĩ thầm:
"Thanh niên này đã đạt kỹ năng bằng ta", rồi đem gả con
gái cho chàng. Chàng cưới vợ xong, lại muốn trở về Ba-la-nại,
liền khởi hành.
Nửa
đường có con voi tàn phá một vùng nọ, nên không ai dám đi
lên chỗ ấy. Chàng Tiểu xạ thủ thông minh kia cứ đem vợ
cùng trèo lên đường vào rừng, mặc dù mọi người cố cản
ngăn. Khi chàng đến giữa rừng, con voi xuất hiện tấn công
chàng. Xạ thủ bắn một mũi tên vào trán voi xuyên thủng
ra phía sau đầu nó, con voi ngã xuống chết ngay tại chỗ.
Sau
khi làm cho nơi ấy bình an, chàng lại lên đường qua cánh
rừng khác. Tại đó năm mươi tên cướp đang phá hoại xa
lộ. Cũng trên nơi này, mặc dù nhiều người cố ngăn cản,
chàng cứ trèo lên cho đến khi tìm thấy một nơi bằng phẳng,
bọn cướp đã giết nai đem nướng và ăn thịt sát bên xa
lộ. Bọn cướp thấy chàng đi đến với cô vợ phục sức
sang trọng rực rỡ, liền cố hết sức bắt lấy chàng.
Tên
tướng cướp có tài đoán được tính tình người khác, chỉ
vừa liếc nhìn chàng, đã nhận ra chàng là một anh hùng lỗi
lạc, nên không chịu để cho bọn chúng nổi dậy chống lại
chàng, dù chàng chỉ đơn thân độc kiếm. Còn chàng Xạ thủ
thông minh bảo vợ đi đến bọn cướp và dặn:
- Nàng
hãy đến bảo với bọn chúng cho ta một miếng thịt và đem
về cho ta.
Thế
là nàng đi đến và bảo:
- Cho
tôi một miếng thịt.
Tướng
cướp nói:
- Ông
ấy là người quý tộc đấy.
Và
y bảo bọn cướp cho nàng một miếng thịt. Bọn kia đáp:
- Sao?
Nó lại đòi ăn thịt nướng của ta ư?
Rồi
bọn chúng cho nàng một miếng thịt sống.
Chàng
Xạ thủ vốn tự cao về mình, liền nổi giận vì bọn cướp
cho chàng thịt sống. Bọn chúng bảo:
- Sao
nữa? Chỉ mình nó là nam nhi, còn chúng ta là nữ nhi ư?
Thế
là vừa hăm dọa chàng, chúng vừa vùng lên chống phá chàng.
Chàng Xạ thủ bắn trọng thương ngã xuống đất bốn mươi
chín tên cướp, trừ một tên, vì chàng không còn mũi tên
nào để bắn tướng cướp kia. Trước đó trong bao tên của
chàng chỉ có năm mươi mũi tên. Chàng đã dùng một mũi tên
bắn chết con voi, nay chỉ còn số tên đủ để bắn cả bọn
trừ một người.
Vì
thế chàng đá tướng cướp xuống đất ngồi trên ngực y
và bảo vợ mang kiếm đến để chặt đầu y. Ngay lúc ấy,
nàng bỗng đem lòng say mê tướng cướp, liền đặt chuôi
kiếm vào tay y và vỏ kiếm vào tay chồng nàng. Tướng cướp
chụp chuôi kiếm, đưa kiếm ra và chặt đầu chàng Xạ thủ.
Sau
khi giết chồng nàng xong, tướng cướp chiếm lấy người
vợ và trong khi cả hai cùng lên đường, tướng cướp hỏi
nguồn gốc, nàng bảo:
- Em
là con gái của một giáo sư danh tiếng lẫy lừng thế gian
ở Ðại học Takkasilà.
- Bằng
cách nào hắn lấy nàng làm vợ được? Y hỏi.
- Cha
em rất hài lòng vì hắn đã học được mọi nghệ thuật
như bậc thầy nên đem em gả cho hắn. Và vì em yêu chàng nên
em để chàng giết chồng hợp pháp của mình. Nàng đáp lại.
Tướng
cướp suy nghĩ: "Nữ nhân này giờ đây đã giết chồng hợp
pháp của nó. Vậy khi thấy một đàn ông khác, nó cũng sẽ
đối xử với ta như vậy. Ta phải từ bỏ nó mới được".
Khi
lên đường, tướng cướp thấy con đường bị chận ngang
bởi con suối nhỏ thường ngày, nay lại ngập nước, y bảo:
- Này
ái nương, có con cá sấu hung dữ trong suối này. Ta phải làm
sao bây giờ?
- Tướng
quân ôi - nàng đáp - xin lấy hết nữ trang em đang đeo buộc
thành một bó trong áo chàng, đem sang bên kia bờ suối rồi
trở lại đây đưa em qua.
- Tốt
lắm. Y đáp lại.
Rồi
cầm hết nữ trang của nàng, lội xuống dòng suối như thể
một kẻ hết sức vội vàng, y đã lên bờ bên kia, bỏ rơi
nàng và chạy trốn.
Thấy
vậy nàng kêu to:
- Lang
quân ơi, chàng đi như thể chàng sắp bỏ em vậy. Sao chàng
lại làm thế? Hãy trở lại đem em cùng đi.
Và
nàng ngâm vần kệ đầu bảo:
Bờ
kia chàng đã bước lên
Với
bao tài sản của em góp thành.
Mau
mau quay trở lại nhanh
Mang
em qua với bạn tình, chàng ơi!
Tướng
cướp nghe nàng nói trong lúc y đứng ở bờ bên kia, liền
ngâm vần kệ thứ hai:
Ý
nàng dời đổi nhất thời
Từ
lòng chung thủy luyện tôi bao lần
Ðến
màn tình ái lông bông,
Chóng
chầy nàng cũng thay lòng phản ta,
Nếu
ta không kịp chạy xa
Từ
đây nàng hỡi, đôi ta chia lìa.
Nhưng
khi tướng cướp bảo:
- Ta
quyết đi đây, nàng cứ ở lại nơi này.
Thì
nàng kêu gào than khóc, còn y chạy trốn với tài sản tư trang
của nàng. Ðó là số phận dành cho kẻ dại khờ tội nghiệp
vì quá si mê tình ái.
Bỗng
nhiên lâm cảnh bơ vơ khốn đốn như thế, nàng đành đến
gần một bụi cây quế và ngồi khóc. Lúc ấy, Sakka Thiên
chủ nhìn xuống trần gian, thấy nàng đắm say dục vọng giờ
đây than khóc vì mất cả phu quân lẫn tình lang. Nghĩ rằng
ngài sẽ đi khiển trách nàng và khiến cho nàng biết hổ thẹn,
ngài đem Màtali, thần lái thiên xa, và Pancasikha, một nhạc
thần, cùng đến bên bờ suối và bảo:
- Này,
Màtali, thần sẽ biến thành con cá, Pancasikha sẽ biến thành
con chim và ta sẽ biến thành chó rừng (Sigala). Rồi ngậm một
miếng thịt, ta sẽ đi đến trước nữ nhân kia và khi thần
Màtali thấy ta ở đó thì phải nhảy ra khỏi nước, rớt
ngay trước mặt ta, ta sẽ nhả miếng thịt đã ngậm trong
miệng và nhảy lên chụp con cá. Vừa lúc ấy, thần Pancasikha
phải nhào đến chụp miếng thịt và bay lên không, còn thần
Màtali lặn ngay xuống nước.
Thiên
chủ Sakka dạy bảo các vị thần như thế, vị đáp:
- Tốt
lành thay, tâu Thiên chủ.
Màtali
liền biến thành con cá, Pancasikha biến thành con chim và Sakka
biến thành chó rừng. Vừa ngậm miếng thịt trong mồm, ngài
đi đến ngay trước nữ nhân. Con cá nhảy lên khỏi nước
rơi mình xuống trước chó rừng. Chó thả miếng thịt đang
ngậm trong mồm, vùng lên bắt cá. Con cá nhảy nữa và rơi
xuống nước, còn con chim chụp lấy miếng thịt bay vụt lên
không. Như vậy, chó rừng mất cả thịt lẫn cá và ngồi
ủ rủ nhìn về phía bụi quế. Nữ nhân thấy thế liền bảo:
- Vì
quá tham lam nên chó mất cả thịt lẫn cá.
Và
như thể nàng đã thấy rõ ý nghĩa trò đời trớ trêu này,
nàng bật cười dòn dã.
Chó
rừng nghe thế, liền ngâm vần kệ thứ ba:
Ai
làm bụi quế ngân nga
Tiếng
cười, dù chẳng múa ca tiệc tùng,
Vỗ
tay thích thú? Hồng nhan,
Ðừng
cười, khi phải khóc than buồn phiền.
Nghe
vậy, nàng ngâm vần kệ thứ tư:
Chó
ngu, mày phải ước nguyền
Giá
đừng mất cá, thịt liền một khi.
Ðồ
ngu, phải biết sầu bi
Những
gì xảy đến, ngu si do mày!
Chó
rừng liền đáp vần kệ thứ năm:
Lỗi
người dễ thấy lắm thay,
Chắc
là khó thấy: "Lỗi này của tôi".
Nàng
nên tính giá thiệt thòi
Khi
nàng mất hết cả đôi bạn đời.
Nghe
thế, nàng lại đáp vần kệ này:
Cẩu
vương, quá đúng như lời,
Nên
ta quyết chí vội dời chân nhanh
Ðể
tìm thêm bạn chung tình,
Cố
làm người vợ trung thành khó chi!
Khi
ấy Sakka Thiên chủ nghe những lời nói của nữ nhân bạc
ác vô hạnh kia, liền ngâm vần kệ cuối cùng:
Kẻ
nào ăm trộm cái ghè
Sẽ
còn ăn trộm mai kia nồi đồng,
Người
gây tai họa cho chồng
Vẫn
tàn tệ vậy, hoặc còn tệ hơn!
Lời
Sakka Thiên chủ làm cho nàng phải hổ thẹn và hốn hận ăn
năn, rồi sau đó ngài trở về cõi của ngài.
*
Ðến
đây bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại, rồi tuyên thuyết
các Sự Thật. Vào lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo
thối thất đã đắc Sơ quá Dự Lưu.
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy, Tỷ-kheo thối thất này là chàng xạ thủ, người vợ
mà vị ấy đã rời bỏ là nữ nhân kia, và Ta chính là Sakka
Thiên chủ.
-ooOoo-
375.
Chuyện Chim Bồ Câu (Tiền thân Kapota)
Ta
đây mạnh khỏe, dạ an vui....,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo tham lam.
Chuyện
vị Tỷ-kheo tham lam này đã được kể đầy đủ theo nhiều
cách. Ở đây bậc Ðạo Sư hỏi có thật ông tham lam chăng,
và khi ông thú nhận quá đúng thế, Ngài bảo:
- Này
Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ mà ngày xưa nữa, ông cũng
tham lam và đã chết vì lòng tham ấy.
Nói
xong Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát được
sinh làm Bồ câu con và sống trong lồng kết bằng liễu gai
ở nhà bếp của một phú thương thành Ba-la-nại.
Bấy
giờ một con Quạ thèm ăn cá thịt lại làm bạn với Bồ
câu này, và sống cùng chỗ ấy. Một hôm nó chợt thấy nhiều
cá thịt liền nghĩ: "Ta sẽ ăn đám cá thịt này". Rồi nằm
xuống rên rỉ trong lồng. Khi Bồ cầu đến bảo:
- Này
bạn, ta cùng bay nhanh ra tìm mồi.
Quạ
từ chối đáp:
- Tôi
đang bị ốm liệt vì cơn đau bụng do bội thực, bạn đi
đi.
Khi
Bồ câu khuất dạng, Quạ tự nhủ: "Kẻ thù hay quấy phá
ta đã đi rồi. Bây giờ ta muốn ăn thịt cá tùy thích". Nghĩ
vậy, Quạ ngâm vần kệ đầu:
Ta
đây khỏe mạnh, dạ an vui,
Vì
chú Bồ câu đã biến rồi,
Ta
muốn làm cơn thèm dịu xuống
Rau
thơm cùng thịt khỏe thêm người!
Vì
thế khi người đầu bếp chiên cá thịt xong, vừa bước ra
khỏi bếp, vừa chùi mồ hồi chảy dòng dòng, con Quạ nhảy
ra khỏi tổ và dấu mình trong chậu gia vị. Chậu ấy phát
ra tiếng "cạch" khiến người đầu bếp vội quay lại, tóm
lấy con Quạ vặt hết lông. Rồi xay một ít gừng tươi và
hạt cải trắng, chú giả chung với chà là thối, bôi lên
khắp mình con Quạ, vừa xát mạnh thân nó với một mảnh
sành làm cho nó bị thương nặng. Sau đó chú lấy sợi dây
treo mảnh sành lên cổ nó rồi lại ném vào thúng và bỏ đi.
Khi
Bồ câu trở về thấy Quạ, liền bảo:
- Ông
Hạc nào đây lại nằm trong thúng của bạn thân ta đó kìa?
Bạn ta tính tình nóng nảy sẽ về giết chim lạ mặt này
ngay.
Nói
đùa thế xong, bồ câu ngâm vần kệ thứ hai:
Con
Mây này với chiếc mào cao,
Ngài
chiếm chỗ chim bạn tớ sao?
Ông
Hạc, đến đây, thân hữu Quạ
Tính
tình nóng nảy, biết không nào?
Quạ
nghe vậy liền ngâm vần kệ thứ ba:
Bạn
cứ cười to trước cảnh này,
Ta
lâm hoạn nạn đáng thương thay!
Hỏa
đầu quân vặt lông trần trụi,
Gia
vị, chà là thối tẩm đầy.
Bồ
câu vẫn còn muốn đùa, liền ngâm vần kệ thứ tư:
Tắm
sạch, dầu thơm xát ngạt ngào,
No
say ăn uống thỏa dường bao!
Cổ
ông sáng chói đồ trang sức,
Ông
đến Ba-la-nại đó sao?
Quạ
ngâm tiếp vần kệ thứ năm:
Bạn
thiết hay cừu địch của ta
Chớ
đi Ba-la-nại bây giờ!
Mình
trần chúng vặt, còn trêu ghẹo
Buộc
mảnh sành trên ngực ấy mà!
Bồ
câu nghe vậy, ngâm vần kệ cuối cùng:
Bỏ
các thói hư tật xấu kia
Tính
tình như Quạ khó làm ghê!
Chim
nên thận trọng bay xa lánh
Thực
phẩm loài người ăn thỏa thuê.
Sau
khi khiển trách Quạ xong, Bồ câu không ở lại đó nữa mà
giương đôi cánh bay đi nơi khác. Nhưng Quạ chết ngay tại
chỗ.
*
Ðến
đây bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại và tuyên thuyết các
Sự Thật. Vào lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo tham
lam đã đắc Nhị quả (Nhất Lai).
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thuở
ấy, con Quạ là Tỷ-kheo tham lam này và Bồ câu chính là Ta
vậy.
-ooOoo-
376.
Chuyện Người Lái Đò (Tiền thân Avàriya)
Ðừng
bao giờ giận, hỡi Minh quân....,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
người lái đò.
Người
ta bảo kẻ này là phàm phu vô trí: y không biết được các
đức tính của Tam Bảo và các bậc hiền nhân. Y nóng vội,
thô lỗ và hung bạo. Một Tỷ-kheo ở vùng quê nọ muốn đi
yết kiến đức Phật, vào buổi chiều đến bến đò trên
sông Aciravatì và bảo người lái đò:
- Này
chú, tôi muốn qua sông, chú cho tôi lên đò đi.
- Thưa
Tôn giả, trời tối rồi, hãy ở lại đây.
- Này
chú, ta không thể ở lại đây, cho ta qua sông.
Người
lái đò bực tức nói:
- Vậy
thì ngài Sa-môn hãy mau lên đi.
Rồi
đưa vị Tỷ-kheo lên đò, nhưng y lái đò thật vụng về khiến
nước văng vào mạn đò làm ướt y của vị Tỷ-kheo, và đến
khi trời tối mới đưa được ông qua bờ kia.
Khi
vị Tỷ-kheo đến tinh xá, ông không thể kịp yết kiến đức
Phật ngay hôm ấy.
Hôm
sau, ông đi đảnh lễ bậc Ðạo Sư và ngồi xuống một bên.
Bậc Ðạo Sư đáp lễ và hỏi ông đến khi nào:
- Thưa
hôm qua.
- Thế
sao mãi hôm nay ông mới đến thăm ta?
Khi
nghe rõ lý do, bậc Ðạo Sư bảo:
- Không
phải chỉ bây giờ, mà cả ngày xưa, kẻ ấy cũng thô lỗ,
y làm phiền các trí nhân ngày xưa giống như đã làm phiền
ông.
Rồi
theo lời thỉnh cầu, Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát được
sanh vào một gia đình Bà-la-môn. Khi lớn lên, ngài học tập
đủ mọi môn nghệ thuật tại Takkasilà, rồi trở thành một
vị khổ hạnh. Sau một thời gian dài sống toàn củ, quả
rừng ở vùng Tuyết Sơn, ngài đi đến Ba-la-nại để tìm
muối và dấm. Ngài ở trong vườn ngự uyển và hôm sau vào
kinh thành khất thực. Từ sân thượng hoàng cung, vua thấy
ngài và hài lòng trước tướng mạo oai nghi của ngài nên
cho người triệu ngài vào cung và cúng dường thực phẩm.
Vua hứa mời ngài an trú trong ngự uyển và hàng ngày vua đến
tham kiến ngài.
Bồ-tát
bảo:
- Thưa
Ðại vương, một vị vua phải trị nước công bình, tránh
xa Bốn ác đạo, đầy nhiệt tâm tinh cần, kham nhẫn, từ
ái, lân mẫn toàn dân.
Với
lời khuyến giáo thông thường như thế, ngài ngâm hai vần
kệ đầu:
Ðừng
bao giờ giận, hỡi Minh quân,
Chúa
tể trần gian, chớ hận sân,
Ðừng
lấy lòng sân bù mối hận
Quân
vương như vậy đáng suy tôn.
Dù
ở rừng xanh hoặc ở làng,
Ở
trên bờ biển, giữa trùng dương,
Chớ
bao giờ giận, ta khuyên nhủ
Mãi
mãi từ nay, hỡi Ðại vương.
Như
vậy, Bồ-tát ngâm đôi vần kệ ấy hàng ngày cho vua nghe.
Vua hoan hỷ ban tặng ngài một ngôi làng có số lợi tức là
một trăm ngàn đồng vàng, song ngài từ chối. Bồ-tát sống
theo cách này suốt mười hai năm liền. Sau đó ngài nghĩ: "Ta
đã ở đây quá lâu, nay ta muốn du hành qua quốc độ rồi
trở về".
Thế
là không báo với vua, ngài chỉ nói riêng với người giữ
vườn:
- Này
Hiền hữu, ta thấy chán, ta muốn du hành trong nước rồi trở
về, nhờ bạn trình với đức vua.
Ngài
đi ngay ra bến đò ở sông Hằng. Ở đó có gã chèo đò ngu
ngốc tên là Avàriyapità, y không hiểu đạo hạnh của bậc
hiền nhân, cũng chẳng biết luôn cả việc ích lợi hay thiệt
hại của riêng mình. Khi dân chúng muốn qua sông Hằng, trước
tiên y đưa họ qua rồi sau đó đòi tiền đò. Có khi họ không
trả tiền, y liền gây sự với họ, rồi chỉ nhận được
lời mạ lỵ và đấm đá chứ rất ít tiền bạc, y thật
ngu dại mù quáng đến thế.
Về
gã này, bậc Ðạo Sư ngâm vần kệ thứ ba phát xuất từ
Trí tuệ Tối thắng của Ngài:
Chú
A-và-ri-ya,
Thuyền
lướt sóng Hằng Hà,
Trước
tiên đưa du khách,
Rồi
mới hỏi tiền phà,
Do
vậy ăn đòn mãi,
Thật
xui xẻo, dại khờ!
Bồ-tát
đến gặp gã lái đò này và bảo:
- Hiền
hữu, hãy đưa ta qua bờ kia.
- Này
Sa-môn, ngài sẽ trả tiền cho tôi chứ? Y đáp.
- Này
Hiền hữu, ta sẽ chỉ cho chú biết cách làm tăng trưởng
tài lợi, an lạc và đức hạnh.
Gã
lái đò nghĩ thầm: "Chắc chắn vị này sẽ cho ta một cái
gì đó".
Rồi
y đưa ngài sang sông và nói:
- Xin
cho tôi tiền đò.
Bồ-tát
bảo:
- Ðược
rồi, này Hiền hữu.
Và
thế là muốn dạy cho y biết trước tiên phải làm cách nào
để tăng thêm của cải, ngài ngâm vần kệ này:
Hỏi
tiền trước lúc chở qua sông,
Chớ
đến bờ kia hỏi nhọc công,
Chú
chở bá nhơn nên bá tánh,
Tánh
tình thay đổi trước sau luôn.
Gã
lái đò nghĩ thầm: "Ðây chỉ là lời vị ấy khuyên ta, nay
phải cho ta thêm cái gì chứ". Song Bồ-tát bảo:
- Này
Hiền hữu, chú đã có cách làm ra tiền rồi đấy, nay hãy
nghe cách làm tăng an lạc cùng đức hạnh.
Rồi
ngài lại ngâm vần kệ khuyến giáo:
Dù
ở rừng xanh hoặc ở làng,
Ở
trên bờ biển, giữa trùng dương,
Chớ
bao giờ giận, ta khuyên chú
Mãi
mãi từ nay, hỡi thiện nhân.
Như
thế, sau khi đã dạy cách làm tăng trưởng an lạc và đức
hạnh, ngài bảo:
- Vậy
là chú có cách làm tăng an lạc và đức hạnh.
Nhưng
gã ngu si kia không xem lời khuyến giáo của ngài ra gì cả,
lại đáp:
- Này
Sa-môn, đây là các thứ ngài cho tôi thế tiền phà đấy à?
- Ðúng
vậy, Hiền hữu.
- Tôi
không cần thứ ấy, cho tôi thứ khác kia.
- Này
Hiền hữu, ngoài thứ ấy ta không có gì khác.
- Thế
tại sao ngài lại đi trên thuyền tôi?
Y đáp,
và ném vị khổ hạnh lên bờ, ngồi lên ngực ngài và đấm
vào mồm ngài.
Bậc
Ðạo Sư bảo:
- Các
vị thấy khi nhà khổ hạnh khuyến giáo vua, thì nhận được
ân tứ một ngôi làng, còn khi khuyến giáo như vậy với một
gã lái đò ngu ngốc thì được vài cái đấm vào mồm. Cho
nên khi khuyến giáo phải lựa người thích hợp, chớ nói
với người không thích hợp.
Rồi
Ngài ngâm vần kệ xuất phát từ Trí tuệ Tối thắng trí
của Ngài:
Vua
nghe lời khuyến thiện, đã ban
Lợi
tức phần ta cả một làng,
Chú
lái đò nghe lời khyyến thiện
Lại
đánh người cho ngã xuống đàng.
Trong
khi gã kia đánh vị Sa-môn, vợ y đem cơm lại cho y, thấy vậy
liền bảo:
- Này
chàng, đây là vị khổ hạnh trong triều vua, đừng đánh ngài.
Y nổi
giận đáp:
- Cô
lại cấm ta đánh kẻ tu hành giả mạo này ư?
Rồi
y nhảy lên đánh vợ ngã xuống đất. Ðĩa cơm đổ hết vỡ
tan, còn vợ y phải trụy thai.
Quần
chúng vây y lại và la lớn:
- Quân
khốn nạn giết người.
Họ
trói y lại đưa đến nhà vua. Ngài xử phạt y theo pháp luật.
Với
Trí tuệ Tối thắng, bậc Ðạo Sư giải thích vấn đề qua
vần kệ cuối cùng:
Cơm
đổ, vợ y đánh tả tơi,
Thai
nhi chết trước lúc ra đời,
Lời
khuyên cho kẻ này vô dụng
Như
vàng ròng tặng thú hoang thôi.
*
Khi
bậc Ðạo Sư chấm dứt Pháp thoại, Ngài tuyên thuyết các
Sự Thật. Khi kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo đã được
an trú vào Sơ quả (Dự Lưu):
- Vào
thời ấy, gã lái đò là chú lái ngày nay, vua là Ànanda và
vị khổ hạnh chính là Ta.
-ooOoo-
377.
Chuyện Bà La Môn Setakeku (Tiền thân Setaketu)
Hiền
hữu, hận sân chẳng lợi gì....,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo lừa dối.
Hoàn
cảnh câu chuyện sẽ xuất hiện trong Tiền thân Uddàla, số
487.
-ooOoo-
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là một
giáo sư danh tiếng lừng lẫy và dạy thánh kinh cho năm trăm
đồ đệ. Vị huynh trưởng trong bọn là Setakeku, xuất thân
từ một gia đình Bà-la-môn miền Bắc, vốn rất tự cao về
giai cấp mình.
Một
hôm chàng ra khỏi thành phố cùng bè bạn, lúc trở về, chàng
thấy một kẻ Chiên-đà-la (Candàla):
- Anh
là ai? Chàng hỏi.
- Tôi
là một Chiên-đà-la.
Vị
ấy sợ ngọn gió sau khi chạm vào người kẻ Chiên-đà-la
sẽ đụng vào thân mình, nên thốt lên:
- Ðồ
khốn kiếp, này tên Chiên-đà-la xui xẻo kia, hãy tránh gió
mau.
Rồi
chành chạy nhanh về phía gió. Song kẻ Chiên-đà-la cũng nhanh
chân bắt kịp chàng và đứng trước gió cản. Chàng lại
càng phỉ báng mạ lỵ kẻ kia nhiều hơn nữa. Kẻ Chiên-đà-la
hỏi:
- Ông
là ai?
- Ta
là một thư sinh Bà-la-môn.
- Tốt
lắm, nếu vậy thì ông có thể đáp câu hỏi của tôi.
- Ðúng
vậy.
- Còn
nếu ông không đáp được, tôi sẽ kẹp ông lại giữa hai
chân tôi đấy.
Vị
Bà-la-môn đầy tự tin, bảo:
- Cứ
làm ngay đi.
Kẻ
Chiên-đà-la muốn làm cả hội chúng hiểu chuyện này, liền
hỏi:
- Này
thanh niên Bà-la-môn, các phương hướng là gì?
- Ðó
là bốn phương: Ðông, Tây, Nam, Bắc.
Kẻ
Chiên-đà-la bảo:
- Tôi
không hỏi loại phương hướng đó, còn ông không biết ngay
đến chuyện này, mà lại ghê tởm luôn cả ngọn gió đụng
vào người tôi!
Thế
là kẻ ấy chụp lấy vai chàng đè xuống kẹp vào giữa hai
chân mình.
Các
học trò kia đem chuyện ấy kể với thầy. Vị thầy bảo:
- Này
cậu Setakeku, cậu đã bị kẹp giữa hai chân một kẻ Chiên-đà-la
ấy à?
- Thưa
thầy, vâng, thằng oắt con của một tên nô lệ đã kẹp đệ
tử giữa hai chân nó và bảo: "Ông này không biết ngay các
phương hướng". Nhưng nay đệ tử đã biết phải làm gì với
nó rồi.
Và
như vậy, chàng lại phỉ báng kẻ Chiên-đà-la một cách giận
dữ. Vị thầy khuyên nhủ:
- Này
cậu Setakeku, đừng giận nó, nó có trí tuệ cao đấy. Nó
đã hỏi cậu về một loại phương hướng khác, chứ không
phải loại này. Thứ mà cậu không thấy, không nghe, không
hiểu, còn cao xa hơn thứ mà cậu đã thấy và nghe nữa.
Rồi
ngài ngâm hai câu kệ để khuyến giáo:
Hiền
hữu, hận sân chẳng lợi gì,
Trí
cao vượt quá chuyện mình nghe:
"Một
phương" phải hiểu là cha mẹ,
"Thầy
giáo" được dùng chí hướng kia.
"Gia
chủ" cho y phục, uống ăn,
Cửa
thường rộng mở, chính là "phương",
Còn
"phương" trong nghĩa cao siêu nhất:
"Trạng
thái vô ưu, lạc Niết-bàn".
Như
vậy, Bồ-tát giảng giải bốn phương cho thanh niên Bà-la-môn
này, song chàng nghĩ: "Ta đã bị kẹp giữa hai chân một kẻ
Chiên-la-đà", liền rời nơi ấy và đến Takksilà học đủ
mọi môn nghệ thuật với một giáo sư danh tiếng lẫy lừng.
Sau đó, được thầy cho phép, chàng rời Takkasilà, vừa du
hành đây đó, vừa học tập mọi nghề thực tiễn.
Khi
đến một làng biên địa, chàng gặp năm trăm nhà khổ hạnh
sống gần đó và được thọ giới tu hành. Chàng học hỏi
được mọi nghệ thuật, Kinh điển và các phương pháp thực
hành, rồi tất cả cùng vị ấy đi đến Ba-la-nại
Hôm
sau chàng đi vào cung đình khất thực. Vua hoan hỷ trước phong
cách các vị khổ hạnh, liền cúng dường thực phẩm ngay
tại cung vua, và mời các vị ở lại ngự viên. Một hôm vua
bảo trong lúc cúng dường thực phẩm:
- Chiều
tối nay trẫm sẽ đến đảnh lễ các Tôn giả ngay tại ngự
viên.
Setakeku
liền đến ngự viên, triệu tập các vị khổ hạnh và bảo:
- Các
Tôn giả, hôm nay đức vua sẽ đến. Chỉ cần một lần hòa
hợp với vua chúa, người ta có thể sống sung sướng suốt
cả đời. Vậy bây giờ một số vị làm kiểu khổ hình bằng
cách lắc mạnh người, một số vị nằm trên giường gai,
một số vị chịu đựng năm ngọn lửa, một số thực hành
khổ hạnh bằng cách ngồi xổm, một số nhào lộn, một số
đọc kinh.
Sau
khi ra lệnh xong, chính vị ấy ngồi tại cửa am thất với
gối dựa, đặt quyển sách bao bìa sáng loáng trên một giá
gỗ có sơn và giảng kinh cho đám học trò thông minh chừng
bốn năm người. Vừa lúc ấy nhà vua đến, thấy họ đang
diễn trò khổ hạnh giả dối này lại rất hài lòng. Vua đến
gần Setakeku, kính vái chàng, rồi ngồi xuống một bên, sau
đó ngâm vần kệ thứ ba nói chuyện với vị tế sư của
hoàng gia:
Hàm
răng bẩn, áo da dê, tóc bện,
Miệng
thì thầm kinh thánh, dáng bình an,
Chẳng
từ nan mọi phương tiện hiền nhân,
Chắc
đã đạt Chân như và Giải thoát.
Vị
tế sư nghe vậy, liền đáp vần kệ thứ tư:
Một
trí nhân có thể làm ác hạnh,
Một
trí nhân có thể chẳng chánh chân,
Ngàn
câu Vệ-đà chẳng tạo an toàn
Khi
việc hỏng, hoặc cứu người lâm nạn.
Khi
vua nghe lời này, liền lấy lại mọi ân sủng dành cho đám
khổ hạnh kia. Setakeku nghĩ thầm: "Nhà vua ham thích đám khổ
hạnh, song tế sư này đã phá hoại như thể lấy rìu chặt
ngang sở thích của vua. Ta phải nói chuyện với tế sư mới
được". Do thế, chàng ngâm vần kệ thứ năm nói chuyện với
tế sư:
Một
trí nhân có thể làm ác hạnh,
Một
trí nhân có thể chẳng chánh chân,
Ngài
bảo Vệ-đà là vật không cần,
Chỉ
tu tập điều thân là thiết yếu.
Vị
tế sư nghe vậy, liền đáp vần kệ thứ sáu:
Không,
Vệ-đà không hoàn toàn vô dụng,
Dù
điều thân tu tập: đạo chánh chân,
Học
Vệ-đà vẫn mang lại vinh quang,
Song
ta đạt Tối an nhờ chánh hạnh.
Như
vậy, vị tế sư bài bác giáo lý của Setakeku. Ngài khuyên
cả đám khổ hạnh hoàn tục, cho họ gươm, giáo, mộc để
làm quan thị vệ cao cấp hầu cận vua. Từ đó người ta bảo
dòng dõi quan thị vệ cao cấp xuất hiện.
*
Khi
chấm dứt Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền
thân:
- Thời
ấy, Setakeku là Tỷ-kheo lừa dối này, kẻ Chiên-đà-la là
Sàriputta và tế sư của nhà vua chính là Ta.
-ooOoo-
378.
Chuyện Bà La Môn Darìmukha (Tiền thân Darìmukha)
Dục
lạc chỉ là đám bùn dơ bẩn..,
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về Ðại
sự Xuất thế.
Sự
tình dẫn đến chuyện này đã được kể trước kia.
*
Một
thuở nọ, vua Magadha trị vì tại thành Rajagaha (Vương Xá).
Bồ-tát được sinh làm con của chánh hậu, được đặt tên
vương tử Brahmadatta. Vào ngày ngài ra đời, vị tế sư của
hoàng gia cũng sinh một nam tử, diện mạo tuấn tú, vì thế
được đặt tên là Darìmukha (Miệng hang lớn). Cả hai cùng
lớn lên trong cung đình và trở thành bạn thân. Năm mười
sáu tuổi, hai vị đến Takkasilà học đủ mọi môn nghệ thuật.
Sau đó muốn tạo được các kiến thức có công dụng thực
tiễn và tìm hiểu phong tục trong nước, hai vị du hành qua
nhiều thành phố, thôn làng khắp mọi miền.
Vì
vậy, hai vị đến Ba-la-nại trú ở trong một ngôi đền và
hôm sau vào kinh thành khất thực. Có một nhà trong kinh thành
đã nấu xong cháo gạo và chuẩn bị chỗ ngồi để cúng dường
phần thức ăn cho các Bà-la-môn. Khi họ thấy hai nam tử này
khất thực, họ nghĩ: "Các Bà-la-môn đã đến", liền mời
vào và trải một tấm khăn trắng trên ghế của Bồ-tát và
một thảm đỏ dưới chân Darìmukkha.
Chàng
quan sát điềm này và hiểu ngay thân hữu chàng sẽ làm vua
ở Ba-la-nại và chính chàng sẽ làm đại tướng. Hai vị thọ
thực xong phần mình rồi nói lời tùy hỷ công đức và ra
đi về ngự viên. Bồ-tát nằm trên sàng tọa bằng đá của
vua, còn Darìmukha ngồi xoa chân ngài.
Thời
ấy, vua Ba-la-nại đã băng hà đã bảy ngày. Vị tế sư hoàng
gia làm lễ hỏa táng xong liền đưa vương xa ra khỏi thành
suốt bảy ngày vì chưa có ai kế vị ngai vàng. Lễ rước
vương xa này sẽ được giải thích trong Tiền thân Mahàjanaka,
số 539. Vương xa rời kinh thành và đến cổng ngự viên, được
bốn đạo quân xa pháo mã tượng hộ tống và âm nhạc của
hàng trăm nhạc khí trổi dậy vang lừng.
Darìmukha
nghe tiếng nhạc, nghĩ thầm: "Vương xa đến rước thân hữu
ta đó, ngài sẽ lên ngôi vua hôm nay, và phong ta chức đại
tướng, song ta có nên làm người thế tục chăng? Ta muốn
đi ngay làm ẩn sĩ khổ hạnh". Vì thế không nói gì với Bồ-tát,
chàng chạy sang một bên đứng ẩn mình.
Vị
tế sư ngừng xe trước cổng ngự viên, vừa bước vào thấy
Bồ-tát đang nằm trên bảo tọa của hoàng gia. Vừa quan sát
các tướng tốt trên chân ngài, ông nghĩ: "Ngài có đủ đức
độ và xứng đáng làm vua cả bốn đại châu cùng với hai
ngàn hải đảo vây quanh. Song lòng can đảm của ngài ra sao
đây?".
Vì
thế ông ra lệnh mọi nhạc khí đồng trổi dậy hết sức
inh ỏi. Bồ-tát thức dậy, giở tấm khăn ra khỏi mặt và
thấy đám đông. Rồi che mặt lại, ngài nằm xuống thêm chút
nữa, xong trở dậy ngồi xếp bằng trên sàng tọa trong lúc
xe vừa dừng lại.
Vị
tế sư quỳ xuống, thưa:
- Tâu
Chúa thượng, quốc độ được nhường cho Chúa thượng.
- Sao?
Không ai kế vị à?
- Tâu
Chúa thượng, không.
- Thế
thì tốt lắm.
Vậy
là ngài nhận lời thỉnh cầu và hội chúng làm lễ quán đảnh
rảy nước thánh lên đầu ngài tại ngự viên. Trong giờ phút
đại vinh quang ấy, ngài quên bẵng Darìmukha, ngài ngự lên
vương xa đi giữa đám quần thần uy nghi diễu vòng quanh kinh
thành. Sau đó dừng lại trước cung môn, ngài chỉ định vị
trí của các triều thần, xong bước lên lầu thượng.
Cùng
lúc ấy, Darìmukha thấy ngự viên đã vắng người liền bước
ra ngồi trên bảo tọa trong vườn. Một ngọn lá khô rơi xuống
trước mặt ngài. Thấy rõ các quy luật lão tử, ngài bừng
ngộ Tam pháp ấn (Khổ, vô thường, vô ngã) và chứng đắc
quả vị Ðộc Giác Phật (Paccekabodhi), liền reo mừng hoan hỷ
làm vang dậy cả cõi trần. Ngay lập tức các đặc tính của
một phàm nhân biến mất khỏi thân Ngài, một bình bát và
một tấm y kỳ diệu từ cõi thiên rơi xuống khoác vào người
và Ngài có đủ tám món cần thiết cùng tứ oai nghi hoàn thiện
của một Sa-môn cả trăm tuổi, rồi nhờ thần lực, Ngài
bay qua không gian đến tận động Nandamùla, nơi an trú của
các vị Ðộc Giác Phật tại miền Tuyết Sơn.
Phần
Bồ-tát trị nước rất chân chánh. Song cảnh đại vinh quang
đã làm ngài say đắm suốt bốn mươi năm ròng. Ngài quên
hẳn Darìmukha. Ðến năm thứ bốn mươi ấy ngài nhớ lại
bạn và tự bảo: "Trẫm có thân hữu tên là Darìmukha, nay
vị ấy ở đâu?". Ngài mong ước gặp lại bạn. Từ đó về
sau, ngay trong hậu cung hay giữa quần thần, ngài thường bảo:
- Thân
hữu Darìmukha nay ở đâu? Trẫm sẽ ban vinh hoa phú quý cho
ai báo tin với trẫm về nơi bạn hiền cư trú".
Lại
mười năm nữa trôi qua từ khi ngài thỉnh thoảng nhớ đến
bạn. Còn Tôn giả Darìmukha đã trở thành Ðộc Giác Phật,
sau năm mươi năm, suy xét lại và biết bạn cũng đang nhớ
đến Ngài, liền nghĩ: "Nay bạn ta đã già và tăng thêm đàn
con cháu, ta muốn đi thuyết Pháp và truyền giáo cho bạn".
Nhờ
thần lực, Ngài bay qua không gian và hạ mình xuống vườn
ngự uyển, ngồi xuống bảo tọa như một bức tượng vàng
ròng. Người giữ vườn thấy Ngài, đi đến hỏi:
- Thưa
Ngài, Ngài từ đâu đến?
- Từ
động Nandamùlaka.
- Thế
Ngài là ai?
- Hiền
giả, ta là Phật Ðộc Giác Darìmukha.
- Thưa
Ngài, thế Ngài biết đức vua của chúng tôi chăng?
- Ta
biết. Ngài là thân hữu từ thời ta còn ở thế tục.
- Thưa
Ngài, đức vua ước ao hội kiến Ngài, tôi xin đi trình báo
đức vua rằng Ngài đã đến.
- Hiền
hữu cứ đi làm như vậy.
Người
làm vườn liền đi trình vua rằng Tôn giả Darìmukha đã đến
và hiện đang ngồi trên thạch tọa. Vua phán:
- Thế
là Hiền hữu của trẫm đã đến, trẫm sẽ đi hội kiến
ngay.
Vì
vậy ngài ngự lên vương xa cùng đám tùy tùng hộ tống đông
đảo đến ngự viên, cung kính đảnh lễ vị Ðộc Giác Phật
và ngồi xuống một bên. Vị Ðộc Giác Phật bảo:
- Này
Brahmadatta, Ðại vương nên trị nước chân chánh, đừng bao
giờ theo ác đạo hay đàn áp dân chúng vì tiền bạc. Hãy
làm mọi thiện sự với lòng nhân từ.
Và
sau đó khi ân cần đáp lễ, Ngài bảo thêm:
- Này
Brahmadatta, nay Ðại vương đã già đã đến lúc Ðại vương
nên từ giã dục lạc và xuất gia.
Như
thế, Ngài thuyết Pháp và ngâm vần kệ đầu:
Dục
lạc chỉ là đám bùn dơ bẩn
"Nỗi
kinh hoàng ba gốc" được gọi là,
Ta
bảo rằng khói bụi với sương sa,
Hãy
bỏ chúng, xuất gia lìa thế tục.
Nghe
vầy, vua ngâm vần kệ giải thích ngài vẫn đang bị tham dục
ràng buộc: