Mục lục
Lời
Tựa
Lời
nói đầu
I-
Thân
Phần
nhập đề bài kinh
Lời
dạy của Ðức Phật: bắt đầu bài kinh
Lầm
tưởng thân là tự ngã
Tại
sao thân nầy không phải là tự ngã
Jīva
attā và parama attā
Căn
nguyên của niềm tin có tạo hóa
Luyến
ái bám vào tự ngã
Bốn
loại luyến ái bám vào tự ngã
Thân
quán niệm xứ
II-
Thọ
Một
khác biệt giữa tạng Luận và tạng Kinh
Hiểu
biết sai lầm rằng thọ là tự ngã
Thọ
gây đau khổ như thế nào
Thế
nào là không thể điều khiển thọ
Thọ
quán niệm xứ
Ngài
Sārīputta (Xá Lợi Phất) tìm con đường dẫn đến tuệ giác
cao siêu nhất
Kinh
Dīghanaka Sutta
Ðạo
và Quả phát sanh do nhàm chán
Ðạo
Quả A La Hán của Ngài Sārīputta
III-
Tưởng và Hành
Hành
không phải là tự ngã
Ý
nghĩa của saṅkhāra (hành) theo bài kinh nầy
Hành
uẩn cưỡng chế bằng cách nào
Câu
chuyện một ngạ quỉ bị nhiều mũi nhọn đâm chích
Sự
chứng nghiệm lý vô ngã đến với ta như thế nào
IV-
Thức
Thức
cưỡng chế ta như thế nào
Nguyên
nhân sanh khởi
Câu
chuyện Tỳ Khưu Sāti
Tóm
lược chánh pháp
Sắc
pháp giống như khối bọt
Thọ
giống như bong bóng nước
Tưởng
giống như ảo cảnh
Hành,
saṅkhāra, giống như cây không lỏi
Thức
giống như trò ảo thuật
Tóm
lược
V-
Thấy Vô ngã
Khó
thấu hiểu đặc tướng vô ngã
Thấy
vô ngã qua đặc tướng vô thường
Thấy
vô ngã xuyên qua đặc tướng đau khổ
Thấy
vô ngã xuyên qua cả hai đặc tướng, vô thường và khổ
Cuộc
thảo luận với Ðạo Sĩ Saccaka
Biện
luận về một tự ngã độc lập
Ðặc
tướng vô thường
Hai
loại đau khổ
Phát
triển tuệ minh sát thấu hiểu đặc tướng khổ
Chấp
thủ với tham ái "đây là của tôi"
Chấp
thủ với tâm ngã mạn "đây là tôi"
Chấp
thủ với tà kiến "đây là tự ngã của tôi"
VI-
Phân tách
Ðặc
tướng vô thường
Thấy
những thọ cảm đúng như nó thật sự là vậy
Bản
chất vô thường của tưởng uẩn
Bản
chất vô thường của hành uẩn
Bản
chất vô thường của thức uẩn
Mười
một phương cách phân tách sắc pháp
Quán
chiếu về Netaṁ mama và Anicca
Các
vị Tu Ðà Huờn được dạy về đặc tướng vô ngã
Mười
một phương cách quán niệm
Quán
chiếu các sắc pháp bên trong và bên ngoài
Quán
chiếu các sắc pháp thô kịch và vi tế
Quán
chiếu theo đặc tính thấp hèn hay cao thượng
Quán
chiếu theo đặc tính xa và gần
VII-
Mười một phương thức
Phân
tách ngũ uẩn
Thọ
kinh nghiệm trong ba thời
Những
cảm thọ bên trong và bên ngoài
Thọ
cảm thô kịch và vi tế
Thọ
cảm thấp hèn và cao thượng
Thọ
cảm xa và thọ cảm gần
Mười
một cách phân tách tưởng uẩn
Mười
một cách phân tách hành uẩn
Mười
một cách phân tách thức uẩn
Tiến
trình tái sanh
Ðịnh
luật phát sanh tùy thuộc
Thức
uẩn trong ba thời kỳ
Quán
chiếu tâm theo kinh Tứ Niệm Xứ
VIII-
Thuần hóa Tuệ minh sát
Làm
thế nào phát triển Tuệ minh sát
Tuệ
chán nản phát triển khi thấy khổ
Tuệ
chán nản phát triển khi thấy vô ngã
Ðịnh
nghĩa Nibbinda ñāṇa
Thật
sự mong muốn Niết Bàn
Ức
đoán Niết Bàn
Sáu
đặc điểm của tuệ xả hành
Phát
triển tuệ đưa vượt lên
Từ
nhàm chán tiến đến Thánh Ðạo và Thánh Quả
Sự
mô tả trùng hợp với thực nghiệm của hành giả như thế
nào
Suy
tư của vị A La Hán
Tóm
lược
Hết
lòng thành kính đảnh lễ sáu vị A La Hán
IX-
Thuật ngữ
Mười
sáu tầng tuệ minh sát
Cơ
năng của thức
Lời
tựa
Ðối
với người hành thiền Phật Giáo, danh tiếng của Ngài Mahasi
Sayadaw không cần phải được giới thiệu. Những lời dạy
về phương pháp hành thiền của Ngài đã được lãnh nhận
và hấp thụ cùng khắp thế giới. Hôm nay Hội Buddhadhamma
Foundation xin được vinh dự giới thiệu quyển "Kinh Vô Ngã
Tướng", như quyển sách đầu tiên trong loạt sách về giáo
huấn của vị thiền sư nổi tiếng nầy.
Bản
dịch sơ khởi (từ Miến sang Anh) của U Ko Lay, đã được
Hội Buddha Sasana Nuggaha Foundation tại Rangoon, Myanmar, sửa chửa
và ấn hành. Trong bản nầy vài đoạn lặp đi lặp lại đã
được loại bỏ và có thêm những danh từ Pāli được chuyển
dịch sang tiếng Anh. Tuy nhiên giáo huấn nguyên thủy vẫn được
giữ với đầy đủ chi tiết và vẫn còn những đoạn lặp
lại: bài giảng nầy cốt dành cho những thiền sinh đang dự
một khóa thiền tích cực.
Chúng
tôi hy vọng rằng những ấn bản nầy sẽ giúp đọc giả
thích thú quan tâm đến pháp hành thiền và những lời dạy
của Phật Giáo.
Buddhadhamma
Foundation
Bangkok
- Thailand
Lời
nói đầu
Bên
trong cá nhân của mỗi người thế gian (puthujjana, người phàm
tục, tại thế) những ô nhiễm (kilesa) như tham lam và luyến
ái mau chóng sanh sôi nảy nở. Những ô nhiễm ấy dính liền
theo đối tượng khởi phát ở lục căn, như hình sắc đẹp
đẽ chẳng hạn. Khi luyến ái khởi sanh theo tất cả những
gì vừa lòng và ưa thích thì trạng thái dính mắc vào một
attā (tự ngã, khái niệm về một "thực thể sống") chẳng
những là căn bản, mà cũng là phần nòng cốt sâu ẩn tiềm
tàng rất khó loại trừ.
Do
nhờ tinh tấn chuyên cần và trí tuệ, chư Phật Ðộc Giác
(Pacccekabuddhas, Bích Chi Phật) tự mình có khả năng tận diệt
trạng thái dính mắc vào khái niệm một tự ngã bên trong
mình mà không cần có sự trợ giúp. Nhưng các Ngài không có
khả năng giúp ai khác diệt trừ dính mắc nầy của họ. Chỉ
những vị có đủ khả năng đặc biệt sáng suốt chỉ rõ,
minh xác cho người khác hiểu biết chân lý và công hiệu của
Tứ Diệu Ðế mới có thể quét sạch tà kiến dính mắc nầy
trong tâm người khác. Chư vị Phật Ðộc Giác (Pacceka-buddhas)
không thể làm, vì lý do ấy các Ngài chỉ trở thành Ðộc
Giác Phật. Vị Ðộc Giác Phật nhập Niết Bàn đơn độc
một mình. Ngài không phải là bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác
và không thể truyền dạy Giáo Pháp cho người khác.
Chư
vị Chánh Ðẳng Chánh Giác, bậc Toàn Giác, có những khả
năng tinh thần quang minh sâu sắc hơn các vị Ðộc Giác Phật,
Paccekabuddhas. Vị Phật Chánh Ðẳng Chánh Giác cũng chứng ngộ
Tứ Diệu Ðế như chư vị Phật Ðộc Giác, mà hơn nữa, còn
có thể dạy dỗ, giúp người khác thấu triệt tận tường
bốn chân lý thâm diệu nầy. Vì thế ấy Ngài là Chánh Ðẳng
Chánh Giác, Sammā Sambuddha.
Ðức
Thế Tôn thuyết giảng thời Pháp Ðầu Tiên đề cập đến
Tứ Diệu Ðế, cho năm vị đạo sĩ. Thời Pháp ấy được
gọi là Dhammacakkappavattana Sutta, Kinh Chuyển Pháp Luân, vận
chuyển Bánh Xe Của Giáo Pháp. Ðây là Giáo Pháp đầu tiên
mà Ðức Phật ban truyền. Ngài giảng bài kinh nầy vào buổi
chiều thứ Bảy, đêm trăng tròn tháng Bảy DL. đúng hai tháng
sau khi Thành Ðạo.
Khi
Ðức Phật chấm dứt thời Pháp Ðầu Tiên, vị đạo sĩ trưởng
đoàn, Koṇḍañña, Kiều Trần Như, đắc Quả Tu Ðà Huờn
(Sotāpanna, Nhập Lưu). Chứng đắc Ðạo Quả nầy vị Thánh
Tu Ðà Huờn đã loại trừ mọi hoài nghi về Giáo Pháp và
mọi khái niệm sai lầm về sakkāya, cơ thể vật chất, xem
thân nầy là "tự ngã" hay một thực thể sống. Dầu sao Ngài
vẫn còn māna, ngã mạn [*]. Bốn vị kia chưa chứng ngộ Giáo
Pháp đặc biệt, śự thức tỉnh đến siêu trí, hay mức độ
tâm cao siêu".
[*]
Lời người dịch: Danh từ ngã mạn dùng ở đây được phiên
dịch từ Phạn ngữ Māna, không chỉ có nghĩa tự cao tự đại
như thường được hiểu. Nơi đây là chấp vào cái "ngã"
nầy và đem so sánh với những cái "ngã" khác. Xem mình hơn
người, bằng người, hay thua người là ba hình thức của
māna, ngã mạn.
Vì
tính ngã mạn, hay chấp vào tự ngã, đã ăn sâu vào luồng
nghiệp của Koṇḍañña, và vì Vappa cũng như ba vị kia trong
nhóm
năm anh em đạo sĩ chưa thành đạt "Pháp Nhãn thanh tịnh và
vô nhiễm", nên Ðức Phật tiếp tục khuyến dạy và khích
lệ các Ngài nên duy trì chánh niệm và quán chiếu đúng theo
pháp hành thiền Minh Sát (vipassanā). Sau khi tích cực hành thiền,
tất cả năm vị đều thành tựu tầng Thánh Tu Ðà Huờn,
do đó loại trừ mọi dính mắc chấp rằng thân nầy là chính
mình, tự ngã (sakkāyadiṭṭhi, thân kiến). Ngài Vappa chứng
đắc tuệ Minh Sát vào ngày đầu tiên sau đêm trăng tròn,
Ngài Bhaddhiya vào ngày thứ nhì, Ngài Mahānāma ngày thứ ba,
và Ngài Assaji vào ngày thứ tư.
Chừng
đó Ðức Thế Tôn tập hợp toàn thể Nhóm Năm Vị lại và
thuyết giảng bài Pháp thứ nhì, trình bày học thuyết anattā
(vô ngã). Lúc bấy giờ là ngày thứ Năm, năm ngày sau đêm
trăng tròn tháng Bảy DL. Khi nghe xong bài Anattalakkhaṇa Sutta
(Kinh Vô Ngã Tướng) tất cả năm vị đều chứng đắc Ðạo
Quả A La Hán, do đó tất cả năm vị hoàn toàn tận diệt
mọi hình thức ái dục, bao gồm tính ngã mạn, māna. Như danh
từ Anattalakkhaṇa Sutta hàm xúc ý nghĩa (anattā = vô ngã, lakkhaṇa
= đặc tướng) bài kinh nầy rõ ràng trình bày lý "vô ngã",
đối nghịch với tà kiến chấp thủ "tự ngã".
Anattalakkhaṇa
Sutta không phải là một bài kinh dài. Trong bổn nguyên thủy
do cuộc Kết Hợp Phật Giáo Thế Giới Kỳ Sáu phát hành,
bài kinh nầy chỉ vỏn vẹn chiếm một trang giấy. Bài kinh
không có đề cập đến phương pháp hành thiền hoặc kỷ
thuật quán chiếu. Giáo huấn nầy chú trọng đến chân lý
thiên nhiên nhiều hơn là những phương pháp thực hành. Do
đó đối với người không quen thuộc với pháp hành thiền
Minh Sát (vipassanā meditation) ắt khó thông hiểu thực tướng
vô ngã được mô tả trong bài kinh. Sở dĩ năm vị đạo sĩ
nhanh chóng lãnh hội giáo lý có thể là vì thời Pháp do chính
Ðức Bổn Sư thuyết giảng và cũng vì thính giả may mắn
là bậc đã có kiến thức sâu sắc bén nhạy. Cả năm vị
chẳng những đã được thuần thục chứng nghiệm từ khi
nghe thời Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakka Sutta), mà còn đã
vượt đến giai đoạn Nhập Lưu. Nhờ vậy các Ngài nhanh chóng
thành tựu Ðạo Quả A La Hán.
Vào
thời Ðức Phật còn tại thế có những vị kiến thức bén
nhạy và ba-la-mật (pāramitā) tròn đầy như nhóm năm vị đạo
sĩ, vừa khi được nghe Ðức Bổn Sư thuyết giảng thì nhanh
chóng thành tựu Ðạo Quả (magga-phala). Dĩ nhiên, đó là nhờ
nghe chính Ðức Bổn Sư thuyết giảng, nhưng các vị ấy cũng
phải dành rất nhiều công phu để tích cực chuyên cần trau
giồi thiền Minh Sát (vipassanā). Giáo Pháp Ðặc Biệt chỉ
được thành tựu vì những vị ấy đã thành tâm cố gắng
tích cực hành thiền, đã nhập định vững chắc, thâm sâu
và quán chiếu bén nhạy, và chỉ một ít người có đủ trí
tuệ hay đủ ba-la-mật để được như vậy. Nhiều người
không thể quán chiếu và ghi nhận nhanh chóng dường thế ấy.
Mặc
dầu vậy cũng có những người lười biếng sẽ làm ra vẻ
thông thạo nói: Nếu nhờ đọc sách mình hiểu biết bản
chất thiên nhiên của lý vô ngã thì cần gì phải thực hành.
Ta có thể thành tựu Ðạo Quả bằng cách chỉ nghe suông lời
dạy." Với loại suy tư mong muốn như vậy họ tự đặt họ
ngang hàng với các bậc Thánh Nhân. Những khái niệm tương
tợ làm vừa lòng hạng người chỉ ăn không ngồi rồi, những
người tự nhận, tự phong mình là Thánh Nhân vì chỉ giản
dị được nghe Giáo Pháp. Hạng người nầy không phải ít.
Loại hiểu biết lý vô ngã bằng cách lượm lặt đó đây
xuyên qua những thời Pháp không phải là thật sự chứng ngộ
cá nhân, mà chỉ là hiểu biết qua sách vở. Nếu Ðạo và
Quả có thể được chứng ngộ bằng cách ấy, hầu hết những
người Phật tử hiểu biết lý vô ngã đều có thể được
xem là A La Hán. Tuy nhiên, vì người như vậy không có những
phẩm hạnh (paramittā) của một vị A La Hán, hiển nhiên họ
không phải thật sự là A La Hán. Quan tâm đến tình trạng
sai lầm của những ý kiến tương tợ Ngài Mahasi Sayadaw nêu
lên những lời dạy rõ ràng và chính xác trong bài Kinh Anattalakkhaṇa
Sutta, Vô Ngã Tướng, đem những người ấy về con đường
chân chánh.
Bài
Kinh Anattalakkhaṇa mô tả bản chất và đặc tính của lý
vô ngã, nhưng không chỉ giản dị dạy phương pháp hành thiền
hoặc kỷ thuật quán chiếu và ghi nhận, niệm và giác tỉnh.
Trong sách nầy Ngài Sayadaw diễn tả đầy đủ phương pháp
quán niệm và giải thích với đầy đủ chi tiết đường
lối suy tư về lý vô ngã có thể dẫn đến mức độ thành
tựu Niết Bàn.
Bài
kinh được trình bày đúng theo kinh điển, dựa trên kinh nghiệm
cá nhân trong khi thực hành thiền Minh Sát (vipassanā), và được
giải thích sau khi đã thâu thập những kinh nghiệm và những
hiểu biết cá nhân trong lúc thực hành dưới sự hướng dẫn
của một vị minh sư, và sau khi tham khảo những Kinh Ðiển
Pāli và những Chú Giải thích ứng.
Trong
những thời dạy giáo lý Ngài Sayadaw từ bi giảng rộng với
đầy đù chi tiết bài kinh Anattalakkhaṇa Sutta, vốn được
Ðức Phật giáo truyền một cách ngắn gọn. Khi những thời
Pháp ghi âm nầy được vị thẩm phán hồi hưu, U Thein Han,
chép và đánh máy lại đầy đủ, bản thảo dài 420 trang.
U Thein Han trình lên Ngài Sayadaw và xin phép cho ấn hành. Ngài
vui lòng chấp nhận sau khi tóm lược, chỉ giữ lại những
giáo lý cương yếu gồm 152 trang. Một phần cũng vì vào lúc
bấy giờ giấy in sách còn khan hiếm.
Lẽ
dĩ nhiên Ngài Sayadaw rất khéo léo giảng rộng những điểm
quá giản lược và thâu ngắn gọn những đoạn quá dài dòng.
Chẳng những Ngài tóm lược những bản dài dòng bài kinh Anattalakkhaṇa
Sutta, Vô Ngã Tướng và "Phương Pháp Hành Thiền Minh Sát" mà
còn giảng giải rành mạch bài Dhammacakka Sutta, Kinh Chuyển
Pháp Luân, giúp cho những ai muốn đọc và nghe Giáo Pháp một
cách tường tận, vắn tắt mà rõ ràng, và như thế là một
phước lành cho tất cả.
Mỗi
khi thuyết giảng hoặc viết, Ngài Sayadaw chú trọng đến ý
nghĩa nhiều hơn là những nguyên tắc văn phạm. Thí dụ như
Phạn ngữ "Bārāṇasiyaṁ", thường được dịch là "tại
Benares", thì không có gì sai. Nhưng để sát gần với thực
tại hơn, Ngài Mahasi Sayadaw viết là "trong vùng Benares" hoặc
"gần Thành Benares" vì lúc bấy giờ Ðức Thế Tôn tạm ngự
tại vườn nai (Lộc Uyển) gần Thành Phố Benares (thay vì trong
tĩnh Benares).
Mặc
dầu quan tâm nhiều đến ý nghĩa của câu văn, Ngài Sayadaw
không vì quá chú trọng đến ý mà bỏ quên không giữ đúng
văn phạm. Nói cách khác, Ngài chú tâm đầy đủ đến phần
văn phạm nhưng đặc biệt chú trọng đến ý nghĩa, không
để vì muốn theo đúng văn phạm mà làm sai ý nghĩa của câu
văn. Do đó bản dịch của Ngài không chính xác theo đúng phương
pháp cổ truyền. Sau khi đắn đo suy xét câu văn Ngài bám sát
theo ý nghĩa thật sự và diễn đạt ra thành lời, viết hay
nói.
Giáo
huấn về ba đặc tướng vô thường, khổ, vô ngã (anicca,
dukkha, anattā) nghe rất quen thuộc, và luôn luôn ở đầu môi
chót lưỡi người Phật tử. Mỗi khi có một diễn biến ít
nhiều quan trọng xảy ra ta liền nghe nhắc đến những danh
từ nầy, gợi ý nên nhớ lại Giáo Pháp. Ðiều nầy chứng
tỏ rằng giáo huấn về ba đặc tướng rất là phổ thông
và được hiểu biết rộng rãi trong giới Phật tử. Lẽ dĩ
nhiên đây chỉ là sự hiểu biết xuyên qua sách vở hay vì
thường được nghe lặp đi lặp lại, nhưng trong thực tế
đây là một giáo lý khó thấu đạt đầy đủ, mặc dầu
nhìn từ bên ngoài thấy hình như dễ hiểu. Trong ba đặc tướng,
lý vô ngã, "anattā", là thâm diệu và khó thông suốt nhất.
Cũng vì lý do ấy mà chính Ðức Thế Tôn đã gặp sự phản
đối nghiêm trọng của những nhân vật như Ðạo Sĩ Du Phương
Saccaka, và Phạm Thiên Baka vì những vị nầy có quan kiến
đối nghịch về "tự ngã".
Trước
khi có những lời dạy của Ðức Phật người ta hiểu rằng
cái "ta" cố hữu chằn chịt dính liền với cơ thể vật chất
(rūpa, sắc) và phần tâm linh (nāma, danh). Ðối nghịch với
tà kiến nầy Ðức Phật tuyên ngôn rằng danh và sắc không
phải là "ta", không phải là "tự ngã" của ta. Trong thực tế,
rất khó làm cho người ta thấu triệt lý "vô ngã" vì trong
vô lượng kiếp khái niệm sai lầm về cái "ta" nầy đã ăn
sâu, châm gốc rễ vững chắc. Nếu giáo lý về "tự ngã"
nầy có thể dễ dàng được hiểu biết thì không cần phải
có một vị Phật thị hiện trong thế gian. Cũng không cần
một vị đệ tử của Ðức Phật, như Ngài Mahasi Sayadaw, phải
dành nhiều công phu để giảng giải rõ ràng và viết ra tường
tận phần chú giải Kinh Vô Ngã Tướng, Anattalakkhaṇa Sutta.
Sự cố gắng không biết mệt của Ngài Sayadaw để làm sáng
tỏ giáo lý nầy cho thấy mức độ thâm sâu của lời dạy.
Chí đến trong giới không-phải-Phật-tử rất hiếm người
hiểu biết cái "ta", tự ngã, hay "attā" là gì, càng ít hiểu
biết lý "vô ngã". Những lời dạy thích đáng của Ngài Mahasi
Sayadaw giải thích rõ ràng và rành mạch bài Kinh Vô Ngã Tướng
Anattalakkhaṇa Sutta, có tác dụng đem những người lạc nẻo,
có quan kiến sai lầm, trở về con đường chân chánh.
Một
lần nọ, khi tôi đến ngôi chùa Wetlet Masoyein Monastery thì
có dịp yết kiến Ngài Sayadaw, lúc ấy đến thành phố Wetlet
để thuyết Pháp. Tôi bạch hỏi Ngài, "Có thể nào hiểu rằng
thuyết uccheda (đoạn kiến, chủ trương chết là hết, tức
sau khi chết thì tất cả đều chấm dứt) và Nibbāna, Niết
Bàn, được phân giải là giống y như nhau không? vì cả hai
đều có đặc tánh chấm dứt giống nhau." Ngài Sayadaw đáp,
"Lẽ dĩ nhiên là có sự khác biệt. Niết Bàn có những đặc
tính và phẩm cách cá biệt của nó. Làm thế nào Niết Bàn
không phải là đặc biệt." Vì lúc ấy cuộc đàm thoại bị
đứt ngang giữa chừng nên tôi không có dịp hỏi thêm, "Vậy
chớ đặc tính và phẩm cách đặc biệt của Niết Bàn là
gì?" Ngài Sayadaw có lẽ đã không còn nhớ câu chuyện không
quan trọng ấy. Tuy nhiên, lúc đọc qua bản thảo nầy, khi
tới đoạn giải thích liên quan đến uccheda và Nibbāna tôi
hồi nhớ cuộc nói chuyện. Những lời giải thích của quyển
sách nầy, trang , làm sáng tỏ sự khác biệt giữa uccheda-diṭṭhi,
chủ thuyết đoạn kiến, tức loại tà kiến chủ trương rằng
sau khi kiếp sống của một chúng sanh chấm dứt thì chúng
sanh ấy hoàn toàn tuyệt diệt, và Nibbāna, Niết Bàn. Những
người tin theo tà kiến nầy lầm lạc nghĩ rằng sự chấm
dứt cuộc sống và Niết Bàn là như nhau, nhưng hiểu biết
như thế hoàn toàn sai lầm. Trong thực tế cả hai khác biệt
nhau hẳn.
Về
khái niệm đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi), vào khoảng năm 1971
có lần tôi mời cộng đồng tập trung lại để nghe giảng
kinh Satipaṭṭhāna Sutta, Niệm Xứ, và cung thỉnh Ngài Mahasi
Dhammakatthikas U Samvara và U Zawtika giúp cho thân bằng quyến
thuộc tôi trong làng được cơ hội nghe Giáo Pháp. Tôi sắp
xếp cho thời Pháp được giảng tại làng Inchaung nơi mà có
đông họ hàng quyến thuộc tôi cư ngụ. Vào hôm ấy, trong
nhóm thính giả có một người tên Maung Kyi, vốn là một lãnh
tụ Ðảng Cộng Sản Cờ Ðỏ, một người tin tưởng nhiệt
thành nơi lý thuyết chủ trương không có đời sống sau kiếp
sống hiện tại. Anh ta là một người trong nhóm họ hàng với
tôi nên cũng đến để chung vui trong cuộc hợp mặt. Hôm ấy
Ngài U Samvara và vị Pháp Sư kia tận tình thuyết giảng Giáo
Pháp và mọi người rất hoan hỷ chú tâm lắng nghe.
Maung
Kyi được mời và sẵn sàng giúp một tay trong cuộc lễ, trước
sự ngạc nhiên của mọi người, vì ai cũng biết rằng anh
ta chỉ tin tưởng vào thuyết chủ trương "không có đời sống
nào sau kiếp nầy".
Vào
sáng sớm ngày hôm sau anh lại có mặt tại nhà một người
mời tôi đến dùng bửa. Trong dịp nầy Maung Kyi nói với tôi,
"Thưa Ông, tôi chấp nhận quan điểm về Giáo Pháp mà Ngài
U Samvara đề cập đến đêm hôm qua, nhưng xin Ông chớ hiểu
lầm rằng tôi đã theo đạo, trở thành người tin tưởng
chủ thuyết tâm linh (nāma). Bởi vì quý vị là Phật tử,
quý vị tin có một kiếp sống trong tương lai, sau kiếp nầy,
nên quý vị cố gắng tạo phước để thỏa mãn tham vọng
cho kiếp sau. Phần chúng tôi, chúng tôi không tin như thế,
chúng tôi không có lòng tham. Trong đời chúng tôi không tham
bất luận gì. Chúng tôi đã dập tắt mọi bám níu và mọi
luyến ái vào cuộc sống." Nghe như vậy tôi suy nghĩ, "Ðiều
nầy tùy thuộc nơi quan điểm của mình. Theo Phật Giáo, lòng
ham muốn và luyến ái bám vào sự sống chỉ chấm dứt, hay
chỉ được tận diệt, khi ta trở thành A La Hán. Nếu chưa
giải thoát ra khỏi bản năng tham ái đeo níu vào kiếp sinh
tồn, nếu còn tin tưởng mãnh liệt rằng cuộc sống nầy
sẽ tuyệt diệt sau khi chết, ta sẽ sa đọa địa ngục, cảnh
giới Niraya, khổ cảnh. Ðiều đó đúng theo lời dạy của
Ðức Phật."
Mặc
dầu Maung Kyi cắt đứt mọi trói buộc và tự tách rời ra
khỏi "kiếp sinh tồn", người vợ của ông không thể làm
được như vậy. Bà bắt đầu chuẩn bị cho các con vừa lớn
lên của ông bà làm lễ xuất gia sa di (sāmaṇera).
Say
đắm trong niềm tin cuồng tín, Maung Kyi nói với vợ, "Em không
cần thực hành bất luận nghi lễ gì để cầu phước cho
anh được hưởng trong kiếp sau [*]. Nếu em muốn thì tự ý
làm gì cũng được để cầu phước cho chính em nhưng phần
anh, khi hành lễ xuất gia cho các con, anh không thể đóng vai
trò người chủ lễ, ôm bình bát và cầm quạt, đưa mấy
sa-di đến chùa".
Bà
vợ đáp lời, "Không có một người đứng ra làm chủ lễ
ắt tôi không thể hướng dẫn mấy sa-di. Nếu anh không chịu,
tôi sẽ thuê một người đóng vai chủ lễ và thực hành những
nghi lễ cần thiết." Nghe vậy Maung Kyi rất bàng hoàng bực
bội, sốt ruột ngồi đứng không yên, không thể chịu đựng
hay chấp nhận sự hiện diện của một người được thuê
để đóng vai trò chủ lễ thế mình. Lúc bấy giờ ông ở
trong tình trạng tấn thối lưỡng nan, rất khó giải quyết.
Về sau tôi có nghe một người trong làng thuật lại câu chuyện
nầy.
Tôi
hoàn toàn tin tưởng rằng những lời dạy cao quý về kinh
Anattalakkhaṇa Sutta sẽ làm tăng trưởng vững chắc kho báu
niềm tin của tất cả quý vị độc giả và đem nhiều lợi
ích đến quý vị.
U
Teiktha,
(Wetlet
Masoyein Sayadaw)
Do
U Min Swe (Min Kyaw Thu) dịch.
[*]
Theo phong tục, con nhỏ xuất gia, sống đời tu sĩ để hồi
hướng phước báu cho cha mẹ.
Hồi
hướng công đức
Chư
Phật tử bốn phương, kẻ công người của, chung cùng ấn
tống quyển kinh nầy để tạo phần công đức thanh cao và
thành tâm kính dâng đến:
* Tất
cả chư Thiên, chư Phạm Thiên và chư Long Vương cùng khắp
mười phương thế giới;
*
Các bậc Thầy Tổ, từ ngàn xưa đã bước theo dấu chân của
Ðức Bổn Sư, đã gìn giữ Giáo Pháp, và đã trao truyền nguyên
vẹn đến chúng ta;
*
Các vị cư sĩ tiền bối, đã dày công hộ trì Tam Bảo, giúp
cho Giáo Pháp được truyền thừa đến ngày nay;
*
Các đấng ông bà cha mẹ, cữu huyền thất tổ nhiều đời,
còn tại tiền hay đã quá vãng; và
*
Tất cả chúng sanh trong ba giới bốn loài.
Ngưỡng
nguyện Giáo Pháp trường tồn, tất cả chúng sanh đều an
vui hạnh phúc trong Chánh Pháp.
Xem
bản dịch Anh Ngữ: Anattalakkhana
Sutta by Venerable Mahasi Sayadaw
(Xin
lưu ý: Cần có phông chữ Pali
Unicode CN-Times
cài
vào máy để đọc được các chữ Pàli.)
Chân
thành cám ơn Đạo Hữu Bình Anson
đã
gửi tặng bản vi tính (Tâm Diệu, 06-2002).