Ghi
Sau Khi Duyệt Vu Lan
Việc tự
tứ và trai tăng trong ngày Vu lan, và qua đó mà báo hiếu cha
mẹ, thì không cần phải nói đến nữa. Điều đáng nói là
các chùa nên tổ chức hiệp kị cho Phật tử trong ngày Vu
lan, sau khi tự tứ và trai tăng.
Ngày nay
kị giỗ của mỗi nhà cũng không thể còn như xưa. Vậy khuyến
khích mỗi nhà hiệp kị vào ngày Vu lan là điều thiết nghĩ
nên làm. Có điều cũng rất nên khuyến khích đừng kị mặn,
hoặc ít nhất cũng đừng kị bằng vật sống.
Mồng 8
tháng tư, 2537. Trí Quang
Ghi Chú
- Vu Lan
Kinh này
dịch giải và ấn hành năm 2516 (1971). Nay chữa lại, khá nhiều.
1.1.2528
(1984)
Trí Quang
Khai
Kinh 
-
Đại từ đại bi
-
thương xót chúng
sinh,
-
đại hỷ đại xả
-
cứu vớt hàm thức,
-
ánh sáng tướng
tốt
-
dùng tự trang nghiêm,
-
đệ tử chí tâm
-
qui mạng đảnh lễ.
-
Kính lạy đức Phật
bổn sư Thích ca mâu ni như lai, cùng Phật Pháp Tăng vô thượng
tam bảo.
-
Kính lạy đức Phật
bổn tôn A di đà như lai, cùng Quan thế âm bồ tát, Đại thế
chí bồ tát, Thanh tịnh đại hải chúng bồ tát.
-
Kính lạy tôn giả
Đại mục kiền liên, cùng hết thảy liệt vị Bồ tát, Duyên
giác và Thanh văn.
Nam mô Đại bi hội
thượng Phật Bồ tát (3 lần).
Bài chú Tinh túy
của đại từ bi:
Nam mô hát ra đát
na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát
ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca
lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả.
Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất
phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn
đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà
tát đá na ma bà dà. Ma phạt đặc đậu. Đát điệt tha. Án.
A bà lô hê, lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề
tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng.
Câu lô câu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế,
ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất phật
ra da. Dá ra dá ra. Mạ mạ. Phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê
y hê, thất na thất na. A ra sâm phật ra xá lị, phạt sa phạt
sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị.
Sa ra sa ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ
đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế lị dạ. Na ra cẩn
trì. Địa rị sắt ni na. Ba dạ ma na, sa bà ha. Tất đà dạ,
sa bà ha. Ma ha tất đà dạ, sa bà ha. Tất đà du nghệ. Thất
bàn ra da, sa bà ha. Na ra cẩn trì, sa bà ha. Ma ra na ra, sa bà
ha. Tất ra tăng a mục khư da, sa bà ha. Sa bà ma ha a tất đà
dạ, sa bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ, sa bà ha. Ba đà ma
yết tất đà dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra da, sa bà
ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, sa bà ha. Nam mô hát ra đát
na đá ra dạ da. Nam mô a lị da, Bà lô cát đế. Thước bàn
ra dạ, sa bà ha. Án tát điện đô, Mạn đa ra, Bạt đà da,
sa bà ha.
Nam mô bổn sư
Thích ca mâu ni như lai. Nam mô Thập phương đại uy đức tăng
bảo. Nam mô Vu lan duyên khởi Đại mục kiền liên tôn giả.
Tụng
Kinh 
-
Tôi nghe như vầy:
-
Một thời Thế tôn
-
ở nước Xá vệ,
-
trong khu vườn rừng
-
Chiến thắng Thiện
thí.
-
Khi ấy tôn giả
-
Đại mục kiền
liên
-
mới thành tựu được
-
sáu thứ thần thông
-
muốn cứu cha mẹ,
-
đền đáp ân đức
-
sinh thành dưỡng
dục,
-
nên dùng thiên nhãn
-
quan sát khắp cả
-
thế giới luân hồi,
-
nhìn thấy mẹ mình
-
sinh trong ngạ quỉ,
-
không có đồ ăn,
-
không được thức
uống,
-
da liền với xương.
-
Tôn giả thống thiết,
-
lấy bát đựng cơm
-
đem hiến cho mẹ.
-
Bà mẹ nhận được,
-
tức thì tay trái
-
che lấy cái bát,
-
tay phải vốc cơm.
-
Nhưng mà cơm ấy
-
chưa vào đến miệng
-
đã thành than lửa,
-
nên không ăn được.
-
Tôn giả kêu lên,
-
khóc lóc bi thảm,
-
chạy về bạch rõ
-
với đức Thế tôn
-
cảnh tượng như
vậy.
-
*
-
Đức Thế tôn dạy,
-
Đại mục kiền
liên,
-
thân mẫu tôn giả
-
gốc rễ tội chướng
-
kết đã quá sâu,
-
không phải năng
lực
-
một mình tôn giả
-
có thể giải cứu.
-
Dầu cho tôn giả
-
hiếu thảo khóc
than
-
vang động trời
đất,
-
nhưng mà những vị
-
thiên thần địa
kỳ,
-
tà ma ngoại đạo,
-
các vị đạo sĩ
-
và bốn thiên vương,
-
cũng đều không
thể
-
làm gì cho được.
-
Phải nhờ uy lực
-
của Thập phương
tăng
-
mới được siêu
thoát.
-
Hôm nay Như lai
-
chỉ dạy tôn giả
-
cách thức cứu vớt,
-
để cho hết thảy
-
những kẻ khổ nạn
-
cùng được siêu
thoát.
-
*
-
Đại mục kiền
liên,
-
Thập phương tăng
chúng
-
lấy rằm tháng bảy
-
làm ngày tự tứ.
-
Ngày ấy các người
-
hãy vì tất cả
-
cha mẹ bảy đời,
-
cha mẹ hiện tại,
-
những kẻ đang ở
-
trong vòng khổ nạn,
-
mà sắm trai soạn
-
đủ hết mùi vị,
-
các thứ trái củ,
-
bồn chậu múc rưới,
-
hương dầu đèn
nến,
-
giường có đồ
nằm,
-
đem đồ ngon nhất
-
đặt vào trong bồn,
-
hiến cúng Thập
phương
-
đại đức tăng
chúng.
-
*
-
Chính trong ngày này,
-
các hiền thánh tăng
-
hoặc tu thiền định
-
ở trong rừng núi,
-
hoặc đã thành tựu
-
bốn thứ đạo quả,
-
hoặc thường kinh
hành
-
dưới gốc đại
thọ,
-
hoặc là Thanh văn
-
hay là Duyên giác
-
đủ sáu thần thông
-
giáo hóa tự tại,
-
hoặc chính những
vị
-
Bồ tát đại sĩ
-
đã lên thập địa
-
mà lại phương tiện
-
hiện tướng tỷ
kheo.
-
Tất cả qui tụ
-
ở trong Tăng chúng,
-
đồng đẳng nhất
tâm
-
mà thọ tự tứ.
-
Vì có đầy đủ
-
giới pháp thanh tịnh,
-
cho nên đạo đức
-
của Tăng chúng ấy
-
sâu rộng mênh mông.
-
*
-
Ai được hiến cúng
-
Tăng chúng tự tứ
-
đã nói trên đây,
-
tất cả cha mẹ
-
cùng với bà con
-
trong đời hiện
tại
-
mà đã quá vãng
-
thì thoát thống
khổ
-
ở trong ba đường
--
-
thoát được tức
thì,
-
cơm áo tự nhiên;
-
cha mẹ bà con
-
trong đời hiện
tại
-
mà đang sống còn
-
thì hưởng phước
lạc,
-
sống lâu trăm tuổi.
-
Đến như cha mẹ
-
bảy đời quá khứ
-
thì sinh chư thiên,
-
tự tại hóa sinh
-
ở trong thiên giới
-
hoa lệ chói sáng.
-
*
-
Bấy giờ Thế tôn
-
qui định điều
này:
-
Thập phương tăng
chúng
-
trước hết chú
nguyện
-
cho người trai chủ,
-
chú nguyện cho đến
-
cha mẹ bảy đời.
-
Định ý chú nguyện
-
rồi mới thọ thực.
-
Trước đó hãy đặt
-
mọi thứ trai soạn
-
trước án thờ Phật
-
tại chỗ trai tăng
-
hay trong chùa tháp,
-
Tăng chúng chú nguyện
-
rồi mới tự thọ.
-
*
-
Khi ấy tôn giả
-
Đại mục kiền
liên
-
liệt vị đại sĩ
-
đều rất hoan hỷ.
-
Tiếng khóc bi thảm
-
của ngài Mục liên
-
tức thì tan biến.
-
Thân mẫu của ngài
-
ngay trong ngày ấy
-
thoát được thống
khổ
-
một kiếp ngạ quỉ.
-
*
-
Tôn giả Mục liên
-
liền đó lại thưa,
-
bạch đức Thế
tôn,
-
thân mẫu của con
-
đã được siêu
thoát
-
là nhờ năng lực
-
công đức Tam bảo,
-
trong đó gồm có
-
uy lực Tăng chúng.
-
Trong thì vị lai,
-
hết thảy Phật
tử
-
có thể hay là
-
không thể phụng
hành
-
thắng pháp Vu lan,
-
cứu độ cha mẹ
-
trong đời hiện
tại
-
cho đến bảy đời
-
bằng cách làm theo
-
lời đức Thế tôn
-
đã dạy như trên?
-
*
-
Đức Thế tôn dạy,
-
Đại mục kiền
liên,
-
lời tôn giả hỏi
-
rất đúng và hay.
-
Như lai muốn nói,
-
tôn giả lại hỏi.
-
Đại mục kiền
liên,
-
các vị tỷ kheo
-
hay tỷ kheo ni,
-
quốc vương vương
tử,
-
đại thần tể tướng,
-
tam công bách quan
-
cùng toàn dân chúng,
-
ai muốn thực hành
-
cái đức từ hiếu,
-
thì trước nên vì
-
cha mẹ hiện tại,
-
kế đó nên vì
-
cha mẹ bảy đời
-
trong thì quá khứ,
-
đến rằm tháng
bảy --
-
ngày Phật hoan hỷ,
-
ngày Tăng tự tứ
--
-
đặt để trai soạn
-
đủ các mùi vị
-
vào bồn Vu lan,
-
hiến cúng mười
phương
-
Tăng chúng tự tứ,
-
cầu nguyện cha mẹ
-
đang còn hiện tại
-
sống lâu trăm tuổi,
-
không bịnh không
khổ;
-
cha mẹ bảy đời
-
trong thì quá khứ
-
thoát khổ ngạ quỉ,
-
sinh trong nhân loại
-
hay trên chư thiên,
-
phước lạc vô cùng.
-
Đệ tử Như lai
-
thực hành từ hiếu,
-
thì mỗi ý nghĩ
-
thường thường
tưởng nhớ
-
cha mẹ hiện tại,
-
cho đến cha mẹ
-
bảy đời quá khứ.
-
Hằng năm cứ đến
-
ngày rằm tháng bảy,
-
đem lòng từ hiếu
-
ưởng nhớ song thân,
-
sắm bồn Vu lan
-
hiến cúng Phật
đà,
-
hiến cúng Tăng chúng,
-
báo đáp ân đức
-
từ ái nuôi dưỡng
-
của cha của mẹ.
-
Những ai đã là
-
đệ tử Như lai,
-
thì phải tuân giữ
-
cách thức trên đây.
-
*
-
Khi ấy tôn giả
-
Đại mục kiền
liên,
-
cùng với bốn chúng
-
đệ tử Thế tôn,
-
nghe lời ngài dạy
-
ai cũng hoan hỷ
-
và nguyện phụng
hành.
-
Hoàn
Kinh
Bài
kinh Tinh túy của đại bát nhã
Quan tự tại đại
bồ tát đã đi vào Bát nhã ba la mật đa sâu xa, soi thấy năm
uẩn đều không, vượt mọi khổ ách. Ngài nói, tôn giả Thu
tử, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức
là không, không tức là sắc. Thọ tưởng hành thức cũng đều
như vậy. Tôn giả Thu tử, Không ấy của các pháp không sinh
không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt. Thế
nên trong Không không sắc thọ tưởng hành thức, không nhãn
nhĩ tyՠthiệt thân ý, không sắc thanh hương vị xúc pháp,
không nhãn giới cho đến không ý thức giới, không vô minh
và sự diệt tận của vô minh, cho đến không lão tử và sự
diệt tận của lão tử, không khổ tập diệt đạo, không
quán trí, không thủ đắc, vì không thủ đắc gì cả. Bồ
tát vì y theo Bát nhã ba la mật đa nên tâm không vướng mắc,
vì không vướng mắc nên không khiếp sợ, siêu thoát mộng
tưởng thác loạn, cứu cánh niết bàn. Phật đà cả ba thì
gian vì y theo Bát nhã ba la mật đa nên được vô thượng bồ
đề. Do đó mà biết Bát nhã ba la mật đa là bài chú rất
thần diệu: bài chú rất sáng chói, bài chú tối thượng,
bài chú tuyệt bậc mà đồng bậc, trừ được hết thảy
khổ não, chắc thật, không hư ngụy. Nên tôi nói chú Bát
nhã ba la mật đa. Ngài liền nói chú ấy: Yết đế, yết đế,
ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha.
-
Biển ái nước mênh
mông,
-
sông mê sóng dồn
dập,
-
muốn báo ơn cha
mẹ,
-
phải niệm Phật
Di đà.
Nam mô A di đà phật
(30 đến 108 tiếng). Nam mô Quan thế âm bồ tát (3 đến 7 tiếng).
Nam mô Đại thế chí bồ tát (3 đến 7 tiếng). Nam mô Thanh
tịnh đại hải chúng bồ tát (3 đến 7 tiếng).
Thần chú Vãng
sinh Cực lạc :
Nam mô a di đa
bà dạ, đá tha dà đá dạ, đá địa dạ tha, a di lị đô
bà tì, a di lị đá tất đam bà tì, a di lị đá tì ca lan đế,
a di lị đá tì ca lan đá, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ,
sa bà ha (21 lần).
Đệ tử chúng
con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và
bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính
lạy đức Phật bổn sư Thích ca mâu ni như lai, cùng Phật
Pháp Tăng vô thượng tam bảo.
Đệ tử chúng
con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và
bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính
lạy đức Phật bổn tôn A di đà như lai, cùng Quan thế âm
bồ tát, Đại thế chí bồ tát, Thanh tịnh đại hải chúng
bồ tát.
Đệ tử chúng
con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và
bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính
lạy tôn giả Đại mục kiền liên, cùng hết thảy liệt vị
Bồ tát, Duyên giác và Thanh văn.
Đệ tử chúng
con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và
bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính
lạy thắng pháp Vu lan, cùng hết thảy Phật pháp giải thoát
chúng sinh.
Đệ tử chúng
con xin thay cho cha mẹ và bà con hiện tại, thay cho cha mẹ và
bà con quá khứ, thay cho hết thảy chúng sinh, nhất tâm kính
lạy mười phương Đại uy đức tự tứ tăng chúng.
-
Đệ tử chúng con
-
hết lòng chân thành
-
tụng kinh Vu lan,
-
cúng Tăng tự tứ,
-
trì pháp Bát nhã,
-
niệm hiệu Di đà,
-
hồi hướng công
đức
-
thù thắng như vậy,
-
nguyện cầu cha mẹ
-
cùng với bà con
-
trong đời hiện
tại,
-
bao kiếp quá khứ,
-
được nhờ thần
lực
-
bất khả tư nghị
-
của đức bổn tôn
-
A di đà phật,
-
của Phật Pháp Tăng
-
tam bảo vô thượng,
-
đại phóng uy quang
-
bí mật da trì.
-
Làm cho cha mẹ
-
bà con chúng con,
-
cùng với pháp giới
-
hết thảy chúng
sinh,
-
bao nhiêu vọng nghiệp
-
nơi thân miệng ý
-
hết còn sức lực
-
gây nhân quả khổ,
-
ở trong đời ác
-
gặp ma hóa Phật,
-
sống trong lục đạo
-
Cực lạc hiện tiền.
-
Lại nguyện cùng
nhau
-
đời đời kiếp
kiếp
-
kết thành từ bi
-
bồ đề quyến thuộc.
Tự qui y Phật, xin
nguyện chúng sinh thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng.
Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sinh thâm nhập kinh tạng, trí
tuệ như biển. Tự qui y Tăng, xin nguyện chúng sinh thống lý
đại chúng, hết thảy không ngại.
Một,
Tài Liệu và Ký Hiệu 
1. Hầu hết tài
liệu sử dụng đều nằm trong Đại tạng kinh bản Đại chính
tân tu và Tục tạng kinh bản chữ Vạn. Ký hiệu 2 tạng ấy
là Chính và Vạn. Muốn biết tên riêng của tài liệu, tra
là thấy liền.
2. Tài liệu chính
là chính văn trong Chính 16/779 và bản dịch khác nằm ngay sau
chính văn ấy. Tôi lại đọc 8 bản chú thích xưa: 1 trong Chính
39/505, 1 trong Chính 85/540, 5 trong Vạn 35/100 và 1 trong Vạn 44/369.
3. Đa số trích
dẫn là của các bộ A hàm. Các tài liệu khác là Cao tăng
truyện (Chính 50/326-327) và Phật học nghiên cứu của Lương
Khải Siêu (các bài số 5, số 6, số 3 với chú thích ở trang
7, số 14). Từ hải và Phật học đại từ điển cũng dùng
không ít.
Hai,
Dịch Chủ Kinh Vu Lan 
Dịch chủ kinh
này là ngài Pháp hộ, người được tôn xưng là Đôn hoàng
bồ tát. Phạn tự thì tên ngài dịch âm là Đàm ma la sát.
Người gốc Nhục chi, xưa là vùng giữa Đôn hoàng và Kỳ
liên, nay là miền tây trung bộ tỉnh Cam túc và miền đông
tỉnh Thanh hải. Nhục chi tuy chỉ là một quốc gia thuộc Tây
vức xưa, nhưng có một thời đã là một đế quốc lớn,
và rất liên quan đến Phật giáo cùng văn hóa của Ấn độ
và Trung hoa. Ca nị sắc ca vương chính là người xứ ấy.
Dịch chủ Pháp hộ không những đồng hương với nhà vua này,
mà niên đại chỉ sau ông hơn 2 thế kỷ -- Lương Khải Siêu
luận chứng niên đại của ông là bách kỷ thứ 6 sau Phật
niết bàn, không phải thế kỷ thứ 4. Đồng hương với ngài
Pháp hộ mà có tiếng trong giới phiên dịch của Phật giáo
Trung hoa là các ngài Chi lâu ca sấm và Chi khiêm.
Tiểu truyện của
ngài Pháp hộ chép ngài gốc Nhục chi, họ Nhục (hoàng tộc
Nhục chi), nhưng tiên nhân qua cư ngụ Đôn hoàng. Xuất gia
lúc lên 8, thờ ngài Cao tòa làm thầy. Rất thông minh, ký ức
cực mạnh. Bẩm tính thuần hậu, tiết tháo, chuyên tinh, chịu
khổ, quyết chí, háo học, muôn dặm tìm thầy cũng không từ.
Tuy nhiên, thế sự khen chê không chen được vào lòng ngài.
Bấy giờ là thời đại Vũ đế nhà Tấn. Tự viện tượng
tranh tuy đã có khắp cả kinh thành và thôn ấp, nhưng kinh
điển đại thừa vẫn nằm bên kia Thông lĩnh. Ngài phát phẫn,
quyết chí hoằng dương đại pháp, nên theo thầy vào Tây vức,
đi khắp các nước, 36 ngữ văn khác nhau ngài biết được
cả. Ngài mang về Trung hoa rất nhiều kinh điển Phạn tự.
Từ Đôn hoàng, ngài vào Tràng an. Trên đường đi, ngài đã
bắt đầu phiên dịch ra Hoa văn. Trong tổng số phiên dịch
của ngài, có Chánh pháp hoa và Quang tán bát nhã. Cần cù với
công việc, chỉ lấy sự hoằng pháp làm chí nghiệp, nên ngài
phiên dịch suốt đời, mệt nhọc mấy cũng không từ.
Kinh điển lưu
hành rộng rãi tại Trung hoa, đầu tiên, là nhờ ngài.
Cuối đời Vũ
đế nhà Tấn, ngài ẩn cư trong núi. Về sau ngài dựng chùa
ngoài Thanh môn của Trường an, tinh tiến hành đạo, đức
hóa vang xa, tăng tín vài ngàn thờ ngài tu học. Đến đời
Huệ đế nhà Tấn bôn tẩu về hướng tây, ngài cùng môn
đồ tị nạn về hướng đông, đến Thằng trì thì bịnh
mà mất, thọ 78 tuổi.
Sự phiên dịch
của ngài Pháp hộ được ngài Đạo an phê phán như sau, "kinh
sách xuất từ tay ngài Pháp hộ thì cương lĩnh chắc chắn
chính xác". Số lượng dịch phẩm của ngài, tiểu truyện
nói có 165 bộ (Chính 50/327). Từ hải nói có 210 bộ. Nay tôi
căn cứ mục lục Đại tạng kinh bản Đại chính tân tu, thống
kê số lượng dịch phẩm của ngài Pháp hộ như sau: loại
A hàm có 11 thứ 11 cuốn, loại Bản duyên có 7 thứ 18 cuốn,
loại Bát nhã có 1 thứ 10 cuốn, loại Pháp hoa có 3 thứ 14
cuốn, loại Hoa nghiêm có 5 thứ 19 cuốn, loại Bảo tích có
16 thứ 27 cuốn, loại Niết bàn có 4 thứ 7 cuốn, loại Đại
tập có 4 thứ 21 cuốn, loại Mật giáo có 1 thứ 1 cuốn, loại
Kinh tập (linh tinh, trong đó có Thiền) có 43 thứ 79 cuốn,
tổng cộng 95 thứ (hay bộ) 207 cuốn. Số lượng này chắc
chắn thiếu, vì không những sách xưa hay thất lạc, mà xưa
nay không có Đại tạng kinh hay bản Mục lục nào thu thập
hoặc liệt kê đủ hết những sách hiện còn, chưa nói những
thứ đã mất. Nhìn vào số lượng kê ra ở trên, thấy ngài
Pháp hộ dịch toàn kinh. Tuy nhiên, số lượng ấy cũng làm
cho Lương Khải Siêu ghi vào Phật giáo đại sự biểu (dĩ
nhiên của Trung hoa, phụ lục bài số 1 của sách Phật học
nghiên cứu) 2 việc: năm 269 kinh Niết bàn của đại thừa
bắt đầu xuất hiện do ngài dịch, năm 288 kinh Pháp hoa và
kinh Bát nhã bắt đầu xuất hiện do ngài dịch.
Về niên đại
của ngài Pháp hộ, theo tiểu truyện, ngài viên tịch quãng
304, năm Huệ đế nhà Tấn bôn tẩu về tây, thọ 78 tuổi.
Như vậy niên đại của ngài ước định là 226-304, bách kỷ
thứ 9 sau Phật niết bàn, cùng thời với Thế thân bồ tát,
sau Long thọ bồ tát 2 bách kỷ và Ca ni sắc ca vương hơn 2
bách kỷ, trước các ngài Đạo an gần 1 bách kỷ, ngài La
thập và ngài Pháp hiển 1 bách kỷ, ngài Huyền tráng 3 bách
kỷ rưỡi. Lương Khải Siêu nói ngài bắt đầu phiên dịch
từ năm 266. Điều này rất đúng với tiểu truyện nói trên
đường vào Trường an ngài đã bắt đầu phiên dịch. Đại
sự niên biểu của Từ hải (trang 15) ghi ngài đến Trung hoa
năm 286, chỉ là ghi năm vào ở Trường an.
Lịch sử phiên
dịch của Phật giáo Trung hoa rõ ràng có 3 cái mốc là Pháp
hộ, La thập và Huyền tráng. Nhưng ngài Pháp hộ thuộc thời
kỳ phôi thai, lại không có sự hỗ trợ của thế quyền.
Cộng tác với ngài chỉ có cha con cư sĩ Nhiếp Thừa Viễn
và 4 nhân vật có tiếng. Nhưng truyện tích không có một tỳ
vết nào về tăng cách và nhân cách. Do đó mà bất cứ ai
đọc và học kinh sách Hoa văn đều ngưỡng mộ ngài không
ít. Chỉ nói, tuy đã gần hết 17 bách kỷ, mà Vu lan bồn,
một bản kinh rất ngắn nhưng hằng năm, cứ đến mùa Vu lan
báo hiếu, lời dịch của ngài non 1700 năm về trước, vẫn
được duy nhất tụng lên, và hình ảnh của ngài lại càng
hiện rõ trong niềm ngưỡng mộ của học giả Phật học,
cũng đủ biết.
Ba,
Lược Giải Đề Kinh 
Vu lan hay Vu lan
bồn là dịch âm Phạn tự. Còn có một dịch âm nữa là Ô
lam bà na. Trí húc đại sư nói, Vu lan bồn dịch nghĩa là cứu
đảo huyền: giải cứu cái khổ như sự bị treo ngược (Vạn
35/151B). Như vậy, Vu lan có nghĩa là bản kinh chỉ cách giải
cứu cái khổ khốn cấp trong các đường dữ.
Đó là nghĩa chính,
và Vu lan bồn toàn là dịch âm Phạn tự. Tuy nhiên, nhờ trùng
âm, ngẫu nhiên chữ Bồn lại có cái nghĩa của chữ Trung
hoa, và quan trọng là chữ ấy kinh văn dùng để nói đến
dụng cụ đặt đồ hiến cúng, trong cách cứu khổ đảo huyền.
Như vậy Vu lan bồn ngẫu nhiên mà có cái nghĩa bồn Vu lan.
Nhưng nghĩa này chỉ phụ thuộc, dầu theo kinh văn nghĩa này
khá quan trọng.
Bốn, Khái
Lược Nội Dung
Nội dung kinh Vu
lan có 2 phần. Phần trước là nguyên nhân và cách thức của
thắng pháp Vu lan. Phần sau mang một huấn thị của Phật mà
Tôn mật đại sư nói có tính chất Luật (Vạn 35/109A và Chính
39/506). Nói giản dị, phần đầu Phật chỉ dạy cách báo
hiếu cha mẹ, phần sau Phật qui định Phật tử thì phải
phụng hành cách ấy.
Năm, Lược Giải
Kinh Văn
Như mới nói,
kinh này có 2 phần lớn. Đây là phần trước nói nguyên nhân
và cách thức của thắng pháp Vu lan, gồm nhiều đoạn nhỏ.
Tôi nghe như vầy:
Câu này là lời
tôn giả A nan tự xưng để thuật lại kinh này. Lúc sắp nhập
diệt, Phật đã dạy tôn giả để lời ấy ở đầu các kinh
trong lúc kiết tập.
Như vầy là người
nói, người nghe, lời nói, cử động, sự việc, không gian
và thời gian, tất cả những gì được thuật lại ở dưới.
Tất cả những gì ấy biểu thị pháp của Phật dạy trong
một cuốn kinh, chứ không phải chỉ lời nói mới có khả
năng ấy. Ấy là chưa kể lời nói có khi không quan trọng
bằng hay hơn những điều khác. Thí dụ về người, kinh này
nói Phật tử thì phải báo hiếu, nói báo hiếu thì đề cao
trai tăng trong ngày tự tứ, nói tăng tự tứ thì đề cao tỷ
kheo tăng tự tứ, nói tỷ kheo tăng tự tứ thì đề cao hạnh
đầu đà, đề cao La hán và Duyên giác có lục thông giáo
hóa, lại kể cả Bồ tát đại sĩ hiện làm tỷ kheo. Rồi
thuật lại rằng nghe Phật dạy pháp Vu lan thì Bồ tát đại
sĩ đều rất hoan hỷ. Chỉ nói về người như vậy cũng đủ
thấy không kinh nào đại thừa hơn kinh này, nhất là không
kinh đại thừa nào thuần nhất với Phật giáo nguyên thỉ
bằng kinh này.
Một thời Thế
Tôn ở nước Xá vệ, trong khu vườn rừng Chiến thắng Thiện
thí.
Mấy câu này nói
về người nói và chỗ nói kinh Vu lan. Người nói là đức
bổn sư Thích ca thế tôn. Chỗ nói là khu vườn rừng Chiến
thắng Thiện thí ở nước Xá vệ.
Thế tôn là nói
về người nói. Tôi dùng chữ Thế tôn thay chữ Phật là vì
Khuy cơ đại sư nói, khi giải thích chữ Phật này, rằng xét
bản chữ Phạn của các kinh đều gọi đức Bổn sư là Thế
tôn. Chính đức Bổn sư dạy để chữ ấy, vì chữ ấy hàm
đủ các đức tính. Nhưng dịch chủ ý muốn vắn tắt nên
dùng chữ Phật (Vạn 33/71B).
Chiến thắng Thiện
thí là nói về chỗ nói, Xá vệ là một nước mà nay là Rapatmapet,
nam ngạn sông Rahti, thuộc tây bắc bộ Ấn độ. Đời Phật,
Xá vệ là quốc gia của Ba tư nặc vương, phụ hoàng của
vương tử Chiến thắng. Tại Xá vệ có khu vườn rừng Chiến
thắng Thiện thí, khu vườn rừng mà cây rừng là của vương
tử Chiến thắng, đất vườn là của trưởng giả Thiện
thí. Truyện kể rằng trưởng giả Thiện thí qui y Phật rồi,
tìm chỗ kiến thiết tinh xá, thấy không đâu bằng khu vườn
rừng của vương tử Chiến thắng, cây và suối đủ cả.
Hỏi mua, vương tử thách chơi rằng lát vàng khắp đất và
dày 5 tấc mới bán. Không ngờ trưởng giả làm y lời. Vương
tử cảm kích, giao đất vườn phần trưởng giả, còn cây
rừng phần mình, chung nhau hiến Phật. Phật dạy tôn giả
A nan hãy để tên 2 người đứng chung khi nói về khu vườn
rừng ấy.
Một thời Thế
Tôn là Phật ở đâu cũng chỉ một thì gian ngắn, vừa đủ.
Chỉ đọc 4 bộ A hàm không thôi, cũng thấy Phật du hóa luôn
luôn và khắp nơi, không bao giờ ở yên một chỗ. Ngay sau
mỗi lần an cư, gần ngày giải chế, ngài lại sửa y để
lên đường. Phật cũng rất ít ngủ. Mỏi lưng nằm xuống
là nghiêng hông bên phải, 2 chân chồng lên với nhau và tưởng
đến ánh sáng. Có đêm ngài còn kinh hành dưới trời mưa
lâm râm (Chính 2/362).
Nên nói thêm nữa
về Phật. Phật là ngôi vị phải do 3 vô số kiếp tu tập
phước trí; thân tối hậu phải đủ 32 tướng và thành Phật
bằng quá trình gọi là bát tướng thành đạo; có đủ 10
đức tính biểu thị bằng 10 huy hiệu; sau hết Phật là gốc
của Pháp và thầy của Tăng, kết thành tam bảo; và xuất
thế để làm 5 việc: chuyển pháp luân, độ cha mẹ, đem đức
tin lại cho những kẻ không có đức tin, ai chưa có chí nguyện
bồ tát thì làm cho họ có, và thọ ký làm Phật cho bồ tát
(Chính 2/612, 699 và 703). Do đó, muốn hiểu Phật, phải có
đức tin và sự thấy biết phù hợp với cái trí không thể
phá hoại (Chính 1/732). Một vài sự việc nhỏ nhặt sau đây,
cũng toàn là trích trong các bộ A hàm, tạm đủ cho ta hiểu
Phật như thế nào bằng tầm mức con người chúng ta. Giác
ngộ rồi, Phật tuyên bố liền, rằng nếu có ai nói một
cách đúng đắn để nói cái điều sáng suốt này: tất cả
chúng sinh sinh ra ở đời thực chất đều siêu việt, không
bị đau khổ hay khoái lạc khuất lấp, thì người ấy chính
là ta đây - Bởi vì chính ta nói đến cái điều sáng suốt
này: tất cả chúng sinh sinh ra ở đời thực chất đều siêu
việt, không bị đau khổ hay khoái lạc khuất lấp (Chính 1/680).
Lại xác định căn bản của hết thảy thiện pháp là chính
6 giác quan (Chính 2/225). Lời này, và lời trên, hay và rõ hơn
câu hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh. Cũng lúc giác
ngộ rồi, ngài nhìn bồ đề đại thọ đến 7 ngày không
chớp mắt (Chính 2/816). Xác nhận đưa đệ tử vào pháp tuyệt
đối, không phiền, không nhiệt và vĩnh cửu (Chính 1/769),
minh định đối với một thực vật đang cháy mà còn không
muốn nó hủy diệt, huống chi muốn hủy diệt một động
vật (Chính 2/352), nên cây mà hiểu được ý Phật nói thì
ngài cũng phán quyết cho biết được giải thoát như thế
nào (Chính 2/240). Dạy đệ tử rằng các người ở trong Phật
pháp mà vẫn vô phước là vì không săn sóc bịnh nhân. Ngài
tự tay rửa trừ đồ bẩn và sửa soạn chỗ nằm cho bịnh
nhân, ngăn sự làm thay của chư thiên mà bảo, khi xưa làm
bồ tát, ta vì một con chim nhỏ mà không tiếc tính mạng,
huống chi nay làm Phật mà ta lại bỏ một vị tỷ kheo bịnh
hay sao. Rồi ngài tự tay quét phòng, giặt y, đỡ bịnh nhân
dậy mà tắm rửa cho, xong, đưa lại giường, tự tay trao cho
đồ ăn. Ăn xong, chính Phật rửa bát, và khuyên hãy cố mà
trừ khử nguyên nhân của bịnh tật bây giờ và đời sau.
Vị tỷ kheo bịnh nghe dạy chăm chăm nhìn ngài, tức thì đốn
ngộ (Chính 2/766-767). Kêu gọi đệ tử hãy thương mà đừng
oán ta, vì ta không thuyết pháp như thợ gốm làm đồ gốm,
mà ta chỉ dẫn cho thấy những sự nghiêm trọng, cấp bách,
chí khổ, và ai chân thành thì có thể vượt qua được (Chính
1/740). Con người của Phật thánh thiện đến nỗi ngoại đạo
cố quan sát cả 4 tháng, thấy ăn mà khi đồ ăn chưa đưa
đến sát miệng, miệng không hả ra trước (Chính 1/687). Do
đó mà có kẻ chỉ ngước nhìn dung nhan của Phật cũng đốn
ngộ và giải thoát (Chính 2752), và kẻ điên nhìn Phật cũng
tỉnh (Chính 2/317). Còn đệ tử thì đến cư sĩ cũng tự tin
rằng sẽ không còn sinh ra bởi dạ con, sống bằng khí huyết
và tăng thêm mồ mả (Chính 2/152). Những chi tiết nhỏ nhặt
mà trong vài mươi phút duyệt lại ghi chú cũ tôi cũng đã
thấy được trên đây, cùng loại còn vô lượng sự việc
nằm trong kinh điển, nhất là trong 4 bộ A hàm và Luật tạng,
tập hợp lại thành đức Phật mà con người càng biết càng
tôn kính.
Riêng sự hiếu
hạnh của Phật, chính ngài đã nói với Ba tư nặc vương,
ta cũng là thành phần loài người, cha là Chân tịnh, mẹ là
Ma da (Chính 2/637). Nên ngay trong 5 công việc của Phật đã
dẫn ở trên, đối với cha mẹ quan trọng đến nỗi có chỗ
tách ra làm 2 mà dịch và kê như sau: chuyển pháp luân, thuyết
pháp cho cha, thuyết pháp cho mẹ, hướng dẫn phàm phu lập
hạnh bồ tát, và thọ ký làm Phật cho bồ tát (Chính 2/622).
Năm công việc này do chính Phật tự kể ra để trả lời
tôn giả Ưu tỳ ca diếp hỏi ngài, khi thấy ngài xoay người
lại, ngồi hướng về Ca tỳ la vệ, hoài niệm thân phụ,
họ hàng, quê hương, và sắp về vấn an, thuyết pháp. Khi
về, ngài nghĩ, ân cha mẹ rất nặng, tình dưỡng dục rất
dày, nên ngài đã đến gặp mà không để cho phụ hoàng nghênh
đón. Lần về thăm này, Phật đã độ cho phụ hoàng, bà con
cũng được độ không ít, trong số đó có 2 em con chú là
A nan và A na luật xuất gia (Chính 2/622-623).
Đời Phật, việc
thương tâm nhất là họ Thích bị tàn hại bởi Lưu ly vương.
Tuy biết nghiệp cũ khó tránh, ban đầu ngài cũng cản, và
cản được, bằng cách đón đường, ngồi dưới cây khô,
và trả lời với ác vương về ngụ ý của ngài, rằng sự
che chở của thân tộc vẫn hơn người ngoài (Chính 2/690).
Phật hiếu hạnh đến nỗi lúc niết bàn, ngài vẫn đề cao
phụ mẫu lực mà không sử dụng thần túc lực và trí tuệ
lực (Chính 2/749). Đối với kế mẫu, bà Đại thắng sinh
chủ, lúc bà từ trần, Phật đã từ chối sự làm thay của
chư thiên, nói rằng cha mẹ sinh thành, làm cho con được lợi
ích rất nhiều, ân nuôi dưỡng không thể không báo đáp,
rồi đích thân khiêng 1 góc của linh sàng, 3 góc kia khiến
3 tôn giả A nan, Nan đà và La vân khiêng, đến tận chỗ hỏa
táng, cũng chính Phật đích thân hỏa táng kế mẫu (Chính
1/822). Quan trọng hơn nữa là việc lên Đao lợi an cư và thuyết
pháp cho mẹ. Việc này Tăng a hàm và Tạp a hàm (Chính 2/134
và 703) đều có ghi. Dịch chủ Pháp hộ cũng có 1 dịch phẩm
đề rõ là Phật thăng Đao lợi vị mẫu thuyết pháp kinh (Chính
17/687-799). Còn kinh Địa tạng thì không những ngụ ý Phật
báo hiếu cho mẹ bằng cách nói về hạnh nguyện của Địa
tạng đại sĩ, mà còn đem chúng sinh tội khổ ký thác cho
ngài, ngụ ý báo hiếu cha mẹ nhiều kiếp - báo hiếu chúng
sinh. Nay, ở đây, bằng kinh Vu lan, Phật dạy cách báo hiếu
cho muôn đời đệ tử của ngài. Nhưng, tất cả và hết thảy,
không quan trọng bằng khi mới thành đạo, ngay dưới gốc
bồ đề đại thọ, Phật đã kiết bồ tát giới, rằng hiếu
là giới, vì lục đạo chúng sinh đều là cha mẹ. Chính điều
này cho thấy, đối với Phật, hiếu hạnh là luật.
Khi ấy tôn giả
Đại mục kiền liên mới thành tựu được 6 thứ thần thông,
muốn cứu cha mẹ, đền đáp ân đức sinh thành dưỡng dục,
nên dùng thiên nhãn quan sát khắp cả thế giới luân hồi,
nhìn thấy mẹ mình sinh trong ngạ quỉ, không có đồ ăn, không
được thức uống, da liền với xương. Tôn giả thống thiết,
lấy bát đựng cơm đem hiến cho mẹ. Bà mẹ nhận được,
tức thì tay trái che lấy cái bát, tay phải vốc cơm. Nhưng
mà cơm ấy chưa vào đến miệng đã thành than lửa, nên không
ăn được. Tôn giả kêu lên, khóc lóc bi thảm, chạy về bạch
rõ với đức Thế tôn cảnh tượng như vậy.
Đoạn này là
duyên khởi, mở đầu kinh và pháp Vu lan. Duyên khởi này đã
chứng tỏ thần thông không địch nỗi nghiệp lực. Địch
nổi nghiệp lực chỉ có uy lực của Tăng chúng.
Đại mục kiền
liên là tên gọi theo họ mẹ. Gọi theo họ cha là Câu lợi
ca hay Câu luật đà. Ngài với ngài Xá lợi phất là bạn chí
thiết, và là 2 đệ tử thượng túc của đức Bổn sư (Chính
1/3). Đối riêng với ngài Xá lợi phất, thần thông của ngài
đã có trường hợp không bằng, nhưng ngài vẫn là thần thông
đệ nhất, song song với ngài Xá lợi phất là trí tuệ đệ
nhất (Chính 2/639). Tôn giả Mục liên thường thưa với Phật,
nếu nói đúng đắn rằng Phật tử là sinh ra từ miệng Phật,
sinh ra từ pháp hóa, hưởng phần tài sản chánh pháp của
Phật, thì Phật tử ấy chính là con đây; trong 1 ngày mà con
được đức Thế tôn 3 lần đến tận chỗ con ở, đưa con
vào chỗ ở của vĩ nhân (Chính 2/132). Ngài biết rành 64 thứ
ngữ âm, nên đã lãnh sứ mạng vào tận vô gián ngục thăm
Đề bà đạt đa (Chính 2/804). Có một sự liên hệ đặc biệt
là đại chúng đã ủy ngài lên Đao lợi thỉnh Phật, sau khi
Phật đến đó thuyết pháp cho mẹ mà không cho ai hay, để
họ khát vọng, hết giải đải (Chính 2/705). Việc này do thần
thông đệ nhất, nhưng ngẫu nhiên mà liên hệ đến hiếu
hạnh của Phật và của ngài.
Sáu thứ thần
thông là thần cảnh, thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, túc mạng
và lậu tận. Năm thứ đầu ai cũng có thể thực hiện, nhưng
thứ 6 thì chỉ thánh giả đệ tử của Phật mới có. Nghĩa
6 thần thông ấy như sau: thứ nhất là biến hóa như ý, thứ
hai là thị giác vô ngại, thứ ba là thính giác vô ngại, thứ
tư là biết tâm lý người, thứ năm là biết đời kiếp trước,
thứ sáu là sạch hết phiền não. Tuy nói 5 thứ đầu ai cũng
có thể có, nhưng Phạn vương thấy cả ngàn thế giới mà
không tự thấy phục sức của mình, vì lẽ không có "con mắt
tuệ giác vô thượng" (Chính 2/581). Như vậy cũng đủ biết
ngũ thông của kẻ khác chất và lượng đều khác xa chất
và lượng ngũ thông của đệ tử Phật. Tuy nhiên, không phải
đệ tử La hán của Phật ai cũng đủ lục thông, và lục
thông la hán như ngài Mục liên thì thật hiếm có. Mà lục
thông thì tự tại giáo hóa, nên lục thông la hán là đại
thừa.
Đền đáp ân
đức sinh thành dưỡng dục, theo chính văn thì chỉ là trả
ơn bú mớm, tức là chỉ nói cái ơn nuôi dưỡng. Tôi dịch
như trên là để cho đủ cả 2 cái ơn sinh và dưỡng. Phật
pháp luôn luôn cảnh giác rằng thân người khó được mà
dễ mất. Khó được mà được là một phần nhờ cái ơn
sinh, dễ mất mà còn là một phần nhờ cái ơn dưỡng. Cái
lý nói cha mẹ vì sinh lý mà có con chứ có ơn gì, chỉ nên
để cho kẻ khác nói. Còn những kẻ làm con Phật thì phải
biết "có 2 việc làm cho phàm phu được đại công đức, thành
đại quả báo, được vị cam lộ, đến chỗ vô vi, ấy là
phụng sự cha và phụng sự mẹ. Phụng sự cha mẹ được
đại công đức thành đại quả báo cũng y như được đại
công đức thành đại quả báo khi hiến cúng vị bồ tát chỉ
còn một đời nữa là thành Phật. Vì vậy, các thầy tỷ
kheo, hãy luôn luôn nhớ mà hiếu thuận phụng dưỡng cha mẹ".
"Các thầy tỷ kheo, có 2 người mà các thầy hướng dẫn làm
điều thiện đi nữa cũng vẫn chưa trả ơn được, đó là
cha và mẹ. Các thầy phải phụng dưỡng cha mẹ, luôn luôn
hiếu thuận cho đúng lúc, không lỡ mất cơ hội" (Chính 2/601).
Lời này của Phật dạy trực tiếp cho người xuất gia. Người
xuất gia không thể nại cớ chỉ lo phần hướng dẫn cha mẹ
làm lành, hay nại chính cái cớ xuất gia, mà không phụng dưỡng
cha mẹ khi cha mẹ cần đến mình. Câu "hiếu thuận cho đúng
lúc, không lỡ mất cơ hội" cho thấy khi cha mẹ còn, không
lo phụng dưỡng theo nhu cầu, đến khi cha mẹ mất mới làm
mọi cách siêu độ, thì đó là điều không đúng ý Phật
chút nào. Như vậy, "nếu xuất gia mà khi cha mẹ cần đến
mình, mình không thể đáp ứng, thì thà tại gia để suốt
đời phụng dưỡng cha mẹ" (Chính 1/500). Bởi vì ngài Trí
húc đã dẫn lời Phật dạy, "có 2 vị Phật đang sống trong
nhà các người, đó là cha và mẹ" (Vạn 35/154A). Bởi vì kinh
Bảo tạng đã dạy, hiếu sự cha mẹ thì vua trời Đế thích
ở trong nhà các người, thực hành hiếu sự thì chúa trời
Đại phan ở trong nhà các người, và hiếu sự tận lực thì
đức đại giác Thích tôn ở trong nhà các người (Vạn 59/201A
dẫn). Bởi vì ngay trong giới luật thanh văn đi nữa mà, ví
dụ thấy cha mẹ bị bắt, không cố chuộc ra, thì phạm đệ
thất tụ (Vạn 59/213A). Nên tôn giả Mục liên được thần
thông là nghĩ ngay đến việc cứu độ cha mẹ, và việc ấy
đã duyên khởi ra pháp Vu lan.
Thế giới luân
hồi, chính văn là thế gian. Theo định nghĩa của Phật giáo,
thế gian nghĩa là ở trong sự biến đổi, tức những gì thuộc
về sự chi phối của thì gian. Nên thế gian là luân hồi,
bao gồm cả 6 loài là chư thiên, nhân loại và tu la, địa
ngục, ngạ quỉ và súc sinh. Dùng chữ luân hồi thay chữ thế
gian thì sát nghĩa và khỏi bị hiểu như thường hiểu về
chữ ấy. Mẹ ngài Mục liên đọa trong loài thứ 2 của 3 loài
thuần khổ hay khổ nhiều, của thế giới luân hồi. Sự hiến
cơm cho mẹ của ngài Mục liên là làm theo huấn dụ của Phật,
"khất thực đúng phép mà hiến cho cha mẹ thì phước rất
lớn" (Chính 2/22). Nhưng mẹ ngài khi nhận được bát cơm hiến
cho, tức thì tay che tay vốc, ấy là cái nghiệp tham lẫn hiện
hành ra đó: đó là lý do không ăn được. Xưa kia, khi Phật
còn làm một tội nhân đại địa ngục, mục kích ngục tốt
hành hạ tội nhân khác nên phát bồ đề tâm, bằng cách xin
ngục tốt nhẹ tay cho họ và để mình chịu thay. Nhờ một
niệm phát bồ đề tâm như vậy mà bị ngục tốt nổi giận
giết chết tức khắc, làm ngài thoát được cái tội trăm
kiếp ở trong địa ngục, mở đầu cho sự thành Phật của
ngài (Chính 3/136). Câu chuyện "sợi tơ Thiện", sách của tạp
chí Niết bàn xưa, thuật một kẻ đọa địa ngục, nhờ nghĩ
rằng hãy để mình chịu mọi cực hình thay cho bao nhiêu tội
nhân khác, nên thấy một sợi tơ rất nhỏ như tơ nhện, từ
trên cao thòng xuống. Kẻ ấy nắm lấy thì tự nhiên sợi
tơ từ từ rút lên. Thấy vậy, tội nhân tranh nhau đến nắm.
Sợi tơ vẫn rút lên, không đứt. Kẻ ấy cũng vui lòng và
vẫn vui lòng. Nhưng khi tội nhân nắm nhiều quá thì kẻ ấy
đâm hoảng, đổ lếu, la lên, rằng đừng nắm nữa kẻo đứt,
tức thì sợi tơ đứt ngay. Nên mẹ ngài Mục liên, khi nhận
được bát cơm mà biết rộng rãi, chia cho kẻ khác với, biết
thương thân nên thương kẻ cùng cảnh ngộ, thì không những
ăn được mà chắc chắn còn thoát được ngay cái kiếp ngạ
quỉ. Đó là ý kiến của hầu hết các nhà chú giải kinh
Vu lan. Tự lực của bà đã không được như vậy, nhưng may
còn có uy lực của Tăng chúng.
Đức Thế tôn
dạy, Đại mục kiền liên, thân mẫu tôn giả gốc rễ tội
chướng kết đã quá sâu, không phải năng lực một mình tôn
giả có thể giải cứu. Dầu cho tôn giả hiếu thảo khóc
than vang động trời đất, nhưng mà những vị thiên thần
địa kỳ, tà ma ngoại đạo, các vị đạo sĩ và bốn thiên
vương cũng đều không thể làm gì cho được. Phải nhờ uy
lực của Thập phương tăng mới được siêu thoát. Hôm nay
Như lai chỉ dạy tôn giả cách thức cứu vớt, để cho hết
thảy những kẻ khổ nạn cùng được siêu thoát.
Đoạn trước
đã chứng tỏ thần thông cao như ngài Mục liên vẫn không
làm gì được đối với nghiệp lực. Đoạn này nói thần
thông cao như ngài Mục liên hay thần thông nhiều như cả trời
đất quỉ thần và các đạo sĩ gồm lại cũng không làm gì
được đối với nghiệp lực. Làm gì được đối với nghiệp
lực là uy lực của Tăng chúng.
Bốn thiên vương
là Trì quốc ở phương đông, Tăng trưởng ở phương nam,
Quảng mục ở phương tây, Đa văn ở phương bắc. Đó là
4 vị thiên vương chuyên hộ vệ thế gian: hộ vệ dân chúng
và hộ vệ đất nước.
Thập phương tăng
hay Thập phương tăng chúng, Thập phương đại uy đức tăng
chúng, chỉ là một mà nói tắt hay nói rõ. Tăng, hay Tăng già,
dịch nghĩa là chúng: 4 vị xuất gia sắp lên, đã thọ tỷ
kheo giới, sống với nhau theo nguyên tắc lục hòa, thì gọi
là tăng hay chúng. Tăng chúng hay Chúng tăng là tiếng ghép cả
Hoa Phạn. Thập phương tăng là những vị tỷ kheo ở tất
cả mọi nơi. Khi những vị này hiện diện tại một chỗ,
trong thì gian mau, lâu, hay vĩnh viễn, với số lượng 4 vị
hay nhiều đến bao nhiêu, đều gọi là Thập phương tăng.
Uy lực, hay uy đức, là cái thế của sức mạnh tinh thần
uy nghiêm (uy lực), nói cách khác, là cái thế của sức mạnh
công đức rất uy nghiêm và khó lường (uy đức). Công đức
ấy của Tăng chúng là giới, định, tuệ, giải thoát và giải
thoát tri kiến. Chính uy lực hàm đủ chất lượng các công
đức này mới có thể cứu khổ, mới diệt được nghiệp
và nghiệp báo, nói tóm, uy lực này mới địch nổi nghiệp
lực. Uy lực này là căn bản của thắng pháp Vu lan.
Phật hứa dạy
cách cứu độ cha mẹ cho tôn giả Mục liên, mà nói để cho
hết thảy những kẻ khổ nạn cùng được siêu thoát, thì
không phải chỉ dạy một mình tôn giả Mục liên, không phải
chỉ để cứu độ một mình mẹ ngài, cũng không phải chỉ
để cứu độ một loài ngạ quỉ, mà là dạy cho hế thảy
Phật tử cái cách cứu độ tất cả cha mẹ ở mọi nơi thống
khổ. Cách ấy như dưới đây.
Đại mục kiền
liên, Thập phương tăng chúng lấy rằm tháng bảy làm ngày
tự tứ. Ngày ấy các người hãy vì tất cả cha mẹ bảy
đời, cha mẹ hiện tại, những kẻ đang ở trong vòng khổ
nạn, mà sắm trai soạn đủ hết mùi vị, các thứ trái củ,
bồn chậu múc rưới, hương dầu đèn nến, giường có đồ
nằm, đem đồ ngon nhất đặt vào trong bồn, hiến cúng Thập
phương đại đức tăng chúng.
Cách cứu độ
cha mẹ, hay là thắng pháp Vu lan, là trai tăng trong ngày Tăng
tự tứ tức rằm tháng bảy. Chính yếu đoạn này là như
vậy, nhưng đoạn này có nhiều điều cần giải thích.
Trước hết, các
câu Thập phương tăng chúng lấy rằm tháng bảy làm ngày tự
tứ. Ngày ấy các người ..., sát chính văn thì phải dịch:
trong buổi lễ tự tứ ngày rằm tháng bảy của Thập phương
tăng chúng, các người... Nói như vậy có nghĩa Vu lan trai tăng
rằm tháng bảy là trai tăng đúng ngọ, sau lễ tự tứ, và
lễ ấy phải cử hành trong ngày rằm tháng bảy, trước giờ
ngọ. Dịch như đã dịch, chỉ để thuận ứng với những
chữ ngày trong các đoạn văn sau mà thôi.
Thập phương tăng
chúng hay Thập phương đại đức tăng chúng đã giải thích
ở trên. Còn tự tứ là dịch nghĩa chữ Bát hòa la (Phạn:
Pra-varana, Paly: Pavarana). Tăng chúng an cư đến ngày rằm tháng
bảy thì giải chế. Trước khi giải chế, việc quan trọng
nhất là cử hành tự tứ. Sau khi tự tứ, vị tỷ kheo được
thêm một tuổi tỷ kheo giới, nên tự tứ cũng gọi là thọ
tuế - là nhận tuổi mới mà thường gọi là hạ lạp. Tự
tứ là sau 3 tháng tức 90 ngày an cư, các vị tỷ kheo ai cũng
hoan hỷ mà đưa mình ra cho những vị tỷ kheo cùng an cư tùy
ý chỉ những lỗi lầm mà họ thấy, nghe hay nghi. Sau khi chỉ,
người được chỉ nếu thấy chỉ sai thì phân trần, nếu
thấy chỉ đúng thì chấp nhận, rồi do cả Tăng chúng phán
định. Phán định có lỗi, và lỗi gì, thì y Luật mà sám
hối: như vậy là phục hồi thanh tịnh. Về cách thức và
lời nói tự tứ, Tôn mật đại sư viết, kẻ đương cục
hay mù mờ, nên phải nhờ người bàng quan chỉ cho những chỗ
ưu điểm và nhược điểm, như thế dẫu chưa diệt vô minh,
chứng thánh quả, thì cũng diệt tội lỗi, sinh phước đức.
Nên trần vai áo bên phải (tức sửa pháp y), quỳ trước Tăng
chúng mà bạch, "Đại đức, hay Trưởng lão, hoặc thấy tôi
có lỗi, hoặc nghe tôi có lỗi, hoặc nghi tôi có lỗi, xin
tùy ý nêu lên, thương mà nói cho tôi, tôi sẽ sám hối". Như
vậy thì thân tâm sẽ thanh tịnh như ngọc pha lê, thiền định
giải thoát có thể có được (Vạn 35/121B). Lời này không
được như nguyên ngữ của Luật bằng lời sau đây, do Trí
húc đại sư dẫn, "bạch Đại đức chúng tăng, hôm nay là
ngày tự tứ, tôi cũng xin tự tứ. Nếu thấy, nghe hay nghi
tôi có tội gì, thì xin đại đức (hay trưởng lão) vì thương
xót mà nói cho tôi. Nếu tôi thấy tội ấy thì sẽ như pháp
sám hối". Theo thứ tự, ai cũng phải thưa như vậy 3 lần.
Tự tứ rồi mới hoàn tất việc an cư (Vạn 35/156B). Cả 2
lời trên đây, không bằng cách thức và lời nói thọ tuế
(tự tứ) trong Tăng a hàm: Bấy giờ, đến ngày rằm tháng
bảy, đức Thế tôn trải tọa cụ ngồi giữa chỗ đất trống.
Các vị tỷ kheo ngồi vây quanh ngài. Ngài bảo tôn giả A nan,
hãy đánh kiền chùy lên. Vì hôm nay là rằm tháng bảy, ngày
thọ tuế. Tôn giả thưa, thọ tuế là thế nào, thì ngài dạy,
thọ tuế là làm sạch động tác của thân miệng ý. Cứ mỗi
2 vị tỷ kheo đối diện với nhau mà tự trình bày nhược
điểm của hành vi. Bằng cách tự xưng pháp danh của mình
và nói rằng, hôm nay Tăng chúng thọ tuế, tôi cũng muốn thanh
tịnh nên thọ tuế, xin tha thứ cho lỗi lầm của tôi. Tôn
giả A nan lại hỏi, việc này là pháp của chư Phật hay chỉ
đức Thế tôn có? Đức Thế tôn nói, quá khứ vị lai hằng
sa chư Phật đều có, như ta có ngày nay. Tôn giả A nan hoan
hỷ hết sức, tức thì lên giảng đường đánh kiền chùy
mà nói, tôi đánh lên hiệu lịnh của Như lai, đệ tử của
ngài xin tập hợp lại! Tăng chúng tập hợp cả rồi, đức
Thế tôn nhìn mà nói, hôm nay tôi thọ tuế: tôi có lỗi với
ai không? thân miệng ý của tôi có phạm lỗi gì không? Đức
Thế tôn nói đến 3 lần như vây, rằng hôm nay tôi muốn thọ
tuế: tôi có lỗi gì với tăng chúng không? Tôn giả Xá lợi
phất đứng dậy, bạch đức Thế tôn: Tăng chúng quan sát
Như lai, không thấy có lỗi gì về thân miệng ý. Như lai cũng
không có lỗi gì với ai. Còn phần con, con xin hướng về Như
lai mà tự trình bày: con có lỗi gì với Như lai và Tăng chúng
không? Đức Thế tôn bảo, Xá lợi phất, tôn giả không có
hành động gì phi chánh pháp nơi thân miệng ý. Tôn giả Xá
lợi phất lại thưa, bạch đức Thế tôn, tất cả tỷ kheo
tăng đây cũng muốn thọ tuế: tất cả tỷ kheo tăng đây
có lỗi gì đối với Như lai không? Đức Thế tôn dạy, không
(lược dịch Chính 2/676). Tạp a hàm cũng nói, bấy giờ là
ngày rằm tháng bảy, ngày thọ tự tứ. Đức Thế tôn trải
tọa cụ trước Tăng chúng mà ngồi, nói, chư vị tỷ kheo,
tôi có thể bạt nhổ cho chư vị mũi kiếm đã đâm vào chư
vị. Chư vị là con tôi, từ miệng của tôi mà sinh, từ pháp
hóa của tôi mà sinh, hưởng phần tài sản chánh pháp của
tôi. Chư vị hãy nhiếp thọ tôi, đừng để thân miệng ý
của tôi có những điều đáng hiềm trách. Tôn giả Xá lợi
phất đứng dậy, sửa pháp y, lạy mà thưa, bạch đức Thế
tôn, chúng con không thấy thân miệng ý của đức Thế tôn
có điều gì đáng hiềm trách. Còn phần con, con xin đức Thế
tôn nhiếp thọ cho con, thấy, nghe hay nghi con có lỗi gì không,
thân miệng ý của con có điều gì đáng hiềm trách không?
Đức Thế tôn dạy, thân miệng ý của tôn giả không có điều
gì đáng hiềm trách mà tôi thấy, nghe hay nghi. Tôn giả Xá
lợi phất lại thưa, bạch đức Thế tôn, phần con không có,
còn Tăng chúng đây có vị nào đức Thế tôn thấy, nghe hay
nghi thân miệng ý có điều gì đáng hiềm trách không? Đức
Thế tôn dạy, tôi cũng không thấy nghe hay nghi vị nào trong
Tăng chúng này có điều gì đáng hiềm trách về thân miệng
ý (lược dịch Chính 2/330). Như vậy sự tự tứ thật quan
trọng. Chính Phật cũng tự tứ như ta thấy.
Cha mẹ bảy đời
không phải là ông cha 7 thế hệ, mà là cha mẹ bảy đời
kiếp đã qua của mình. Nhưng, chặt tất cả cây cối trên
cõi đất này làm những cái thẻ bằng 4 đốt ngón tay mà
tính đi nữa, cha mẹ quá khứ vẫn nhiều hơn (Chính 2/241).
Như vậy tại sao chỉ nói 7 đời? Trong kinh điển Phật giáo,
và các sách xưa của Ấn độ cũng vậy, không hiểu vì lý
do hoặc tập quán nào mà hay lấy số 7 làm thành số như ta
lấy số 10 làm thành số. Nói cả 7 đời thì cũng như nói
mười phần vẹn mười, chứ không phải là định số.
Những kẻ đang
ở trong vòng khổ nạn là cha mẹ bà con trong hiện tại và
trong quá khứ mà đang bị khổ nạn. Nhưng câu này cũng có
nghĩa cha mẹ bà con hiện tại và quá khứ, cùng những kẻ
đang bị khổ nạn khác.
Đủ hết mùi
vị và ngon nhất, chính văn là bách vị và tận thế cam myլ
nghĩa đen là trăm mùi và ngon tốt nhất đời, chỉ là những
thành ngữ tả sự đủ mùi và ngon nhất. Các thứ trái củ,
chính văn là ngũ quả, nghĩa đen là trái củ đủ cả 5 loại,
cũng chỉ có nghĩa các thứ trái và củ. Những câu trên đây
là nói về thực phẩm, còn 3 câu dưới đây là nói về dụng
cụ. Bồn chậu múc rưới là dịch nghĩa đen chính văn cấp
quán bồn khí. Bồn chậu ở đây là thau chậu và những dụng
cụ lớn nhỏ cùng loại, dùng để múc nước, đựng nước
mà rưới, rửa, tắm ... Hương dầu đèn nến, nói đại loại
là hương đèn, để cúng Phật và dùng vào những việc cần
thiết những thứ này. Giường có đồ nằm, chính văn là
sàng phu ngọa cụ, dịch đủ là giường có đồ nằm trải
đặt trên đó, tức gồm có màn, chiếu, gối, chăn nệm ...
Năm 1956 lên Lào dự lễ Phật đản, tôi thấy Phật tử xứ
ấy sắm những chiếc giường mới, với chăn, màn, khăn trải,
chiếu, nệm, gối, tất cả đều mới. Những chiếc giường
này được sắp để có hàng lối thứ tự trước mặt Tăng
chúng, và của ai thì cả gia đình người ấy ngồi dưới
đất, cạnh chiếc giường, cầu nguyện theo Tăng chúng cho
đến ngày giờ hiến cúng. Trên những chiếc giường ấy còn
để nhiều vật dụng khác, cần thiết cho một vị tỷ kheo
được dùng theo giới luật cho phép. Trong số vật dụng ấy
có 1 cái làm bằng thiếc mà tôi tạm gọi là bồn, không lớn
như cái bồn theo tiếng ta, mà chỉ cao cỡ 3 tấc kể cả chân,
miệng hình tròn hay hình thuẫn, trong đó chứa để thực phẩm
đầy đủ cho 1 người ăn. Bồn này có người không chứa
để thực phẩm mà chứa để những vật dụng linh tinh cần
thiết cho một vị tỷ kheo. Khi hiến cúng, người cúng 2 tay
bưng cái bồn ấy, tượng trưng cho cả chiếc giường và mọi
vật dụng khác, trao cho vị tỷ kheo - Trao theo thứ tự chứ
không phải lựa chọn hay định trước. Phải trao và trao bằng
2 tay, vì ngay Luật tạng Hoa văn cũng cấm người xuất gia
tự tay lấy vật dụng mà không qua 2 tay trao cho của người
hiến cúng đúng cách (Vạn 35/124A).
Đặt vào trong
bồn, bồn ở đây chính là bát. Bát là gọi tắt chữ Phạn
dịch âm Bát đa la, và dịch nghĩa là ứng khí : đồ của
vị tỷ kheo dùng để ứng cúng mà ứng với cái lượng đủ
ăn. Chữ bát gọi tắt này hay đi đôi với chữ bồn, gọi
là bát bồn, là tiếng gồm cả Phạn Hoa, và bồn là nghĩa
nôm na của bát. Gọi chung như vậy cũng có lý do. Nguyên chén
để ăn, Tàu gọi là bát, viết trên chữ hữu là bạn bè,
dưới chữ mãnh là đồ bát đĩa, và khi gọi thì hay kèm với
chữ bồn cũng là chén ăn nhưng lớn hơn, thành tiếng bát
bồn. Tiếng bát bồn này qua nhà chùa thì bát viết bên chữ
kim bên chữ bản, tức chữ bát đã nói ở trên và gọi bát
bồn cũng với cái nghĩa đã nói ở trên.
Chính bồn là
bát của Tăng chúng này, người cúng đặt thực phẩm vào
đó mà hiến cúng. Có điều trước khi đặt vào đó, thực
phẩm được đặt vào cái bồn như Phật tử Lào làm và tôi
đã kể, hoặc vào bát dĩa như Phật tử Việt Hoa làm - Bát
dĩa ấy ngài Trí húc nói gọi chung là bồn (Vạn 35/151B). Nói
tóm, bồn trong câu vào bồn Vu lan ở đây hay sắm Vu lan bồn
ở sau, chính là bát, là bát ứng khí của Tăng chúng. Còn
bồn như dụng cụ Phật tử Lào dùng hay bồn là bát đĩa
như ngài Trí húc nói, chỉ là đồ để thực phẩm trước
khi đặt thực phẩm ấy vào bát bồn của Tăng chúng.
Hiến cúng Thập
phương đại đức tăng chúng, hiến cúng hay hiến, cúng, cúng
dường (cung dưỡng), bố thí, cho, tất cả đều nghĩa là
cho, chỉ đổi tiếng theo mỗi trường hợp mà thôi. Tuy nhiên,
cái cách và cái lòng hiến cúng bố thí mới là quan trọng
và phải nói . Có của mà cách cho của lếu thì không ra gì.
Tôi trích, và lược dịch sau đây, từ trong Tăng a hàm, những
lời Phật huấn dụ để thấy cái cách ấy. Phật dạy, miệng
ta không nói cho ta phước nhiều, cho người khác phước ít
(Chính 2/827). Cho thì phải bình đẳng, đừng nghĩ nên cho kẻ
này, không nên cho kẻ khác. Hãy nghĩ ai cũng nhờ ăn mới sống
mà cho (Chính 2/826). Từ khi mới phát tâm cho đến ngày thành
đạo, lòng ta không có sự đầy vơi, không chọn người, không
chọn địa phương. Nên cho thì phải nhớ mãi ý niệm bình
đẳng, đừng sinh tâm thị phi (Chính 2/826). Ba tư nặc vương
bạch Phật, từ nay con cấm ngoại đạo vào lãnh thổ của
con. Con xin luôn luôn cúng dường những thứ cần dùng cho Tăng
chúng. Phật dạy, đừng nói như vậy; cho súc vật còn được
phước, nữa là (Chính 2/781). Hãy cho kịp thời, cho trong sạch,
cho bằng tay mình, cho với lòng cầu nguyện chứ không kiêu
căng, cho một cách giải thoát chứ không cầu quả báo, cho
mà cầu niết bàn chứ không cầu sinh chư thiên, cho một cách
tìm ruộng phước mà cho chứ không bỏ vào đất hoang, cho
rồi đem cái phước ấy cho mọi người mọi loài chứ không
vì bản thân (Chính 2/755). Trưởng giả Sư tử thưa, nghe Phật
ca tụng cái phước hiến cúng Tăng chúng, chứ không ca tụng
cái phước thỉnh cúng riêng, nên từ nay về sau, con xin luôn
luôn chỉ hiến cúng Tăng chúng. Phật dạy, ta không nói rằng
chỉ nên hiến cúng Tăng chúng mà không nên cho ai. Vì cho súc
vật mà còn có phước, huống chi cho mọi người. Trưởng
giả thưa, như vậy từ nay về sau con sẽ hiến cúng Tăng chúng
và mọi người mà không chọn lựa ai cả. Sau đó, lần khác,
trưởng giả Sư tử lại thưa Phật, con đang nhớ lời ngài
dạy thỉnh Tăng mà hiến cúng, thì có thiên nhân đến bảo
con, nên phân biệt vị này thế này, vị khác thế khác. Con
nghĩ lời Phật không nên trái. Con lại nghĩ, con hiến cúng
tất cả, còn ai giữ giới thì phước báo vô cùng, ai phạm
giới thì tự chịu tai họa. Con chỉ nghĩ ai cũng phải ăn
mới sống nên hiến cúng mà thôi. Phật dạy, đó là cái nguyện
rộng rãi, cái tâm bình đẳng của bồ tát. Trưởng giả hãy
nhớ, bố thí bình đẳng thì phước báo vô tận. Bấy giờ
trưởng giả Sư tử chăm nhìn Thế tôn, lòng không xao động,
tức thì chưa rời khỏi chỗ mình ngồi mà đã được sự
trong sạch của con mắt chánh pháp (Chính 2/792). Từ nay sắp
đi, con cấm ngoại đạo vào nhà con. Con chỉ mời đệ tử
Phật, tại gia cũng như xuất gia. Đó là lời thưa Phật của
cư sĩ Ưu ba ly. Phật dạy, cư sĩ cứ nên tùy sức mà tiếp
tục hiến cúng cho họ. Cư sĩ, ta không nói nên cho ta mà đừng
cho kẻ khác, nên cho đệ tử của ta mà đừng cho đệ tử
kẻ khác, cho ta thì phước lớn mà cho kẻ khác thì phước
nhỏ, cho đệ tử của ta thì phước nhiều mà cho đệ tử
của kẻ khác thì phước ít. Cư sĩ, ta nói như thế này, hãy
cho tất cả, tùy tâm hoan hỷ. Có khác chăng là cho người
tinh tiến thì phước nhiều hơn là cho người biếng nhác,
mà thôi (Chính 1/630). Ty tứ vương bố thí nhưng cho đồ xấu,
viên đầu bếp của ông là Ưu đà ra tìm cách cải thiện
tâm cho và cách cho ấy, nên chết rồi sinh lên tầng trời
Tứ thiên vương, còn Ty tứ vương chết rồi chỉ được sinh
trong cung điện trống rỗng của rừng Nhĩ thọ thuộc tầng
trời ấy. Tôn giả Kiều kiệm bát đế thấy, hỏi, Ty tứ
vương xưng tên, tôn giả ngạc nhiên : ông chủ trương không
có đời sau, sao lại được lên đây? Ty tứ vương thưa có,
nhưng đã được ngài Cưu ma la ca diếp làm cho tiêu tan. Tôn
giả trở lại Diêm phù, con xin ngài nói cho ai nấy hiểu rằng,
khi bố thí làm phước thì phải cho một cách thành tâm, cho
bằng cách tự tay mình đưa, cho bằng cách tự mình đi đến,
cho với đức tin sâu xa, cho với sự xác nhận có nghiệp và
nghiệp báo. Đừng cho để rồi chịu cái nghiệp báo như Ty
tứ vương này. Ty tứ vương này là chủ mà cho không thành
tâm, nên sinh tầng trời Tứ thiên vương mà chỉ được ở
trong cung điện trống rỗng của rừng rú (Chính 1/532). Đế
thích, có 7 việc mà ta gọi là sự bố thí rộng rãi cho mọi
người, và thực hành thì sinh ngay lên Phạn thiên: xây dựng
Phật tháp Tăng phòng, lập vườn cây ăn quả có ao hồ cây
cối mát mẻ, cung cấp thầy thuốc và thuốc để cứu chữa
bịnh nhân, làm thuyền bè chắc chắn cho dân chúng qua sông
vượt biển, thiết lập cầu cống, đào giếng bên đường
cung cấp nước cho người qua đường, làm chỗ vệ sinh công
cộng cho đại tiểu tiện lợi (Chính 16/777). Như vậy cho mà
lòng cho và cách cho đều đúng với giáo huấn của Phật,
lại cho đúng với nhu cầu mà Phật chỉ dẫn, mới có phước
lớn.
Nói tóm, đoạn
kinh trên đây, như đã nói, là chỉ cách trai tăng trong ngày
tự tứ để cứu độ cha mẹ. Cách ấy, cho đến đây, vẫn
còn vài chi tiết cần thảo luận.
Thứ nhất, chính
văn nói sắm đủ mọi thứ, mà là thứ tốt. Nói như vậy
mà nếu hiểu như vậy thì mấy ai làm nổi. Phải hiểu nói
như vậy chỉ là nói sự hết lòng chân thành. Đem sự hết
lòng ấy mà tùy sức và tùy nghi hiến cúng. Chứ không phải
hiến cúng phải cho nhiều, cho tốt, càng không phải có gì
hiến cúng cho hết. Hiến cúng để rồi gây ra hậu quả hư
hỏng thiện tâm nơi bản thân hay nơi người nhà hoặc người
xung quanh, thì đó là điều Phật tối kﮠLại nữa, không
nhất thiết phải có của mới hiến cúng được. Phật nói
của có thứ ở trong, có thứ ở ngoài. Của ở ngoài là tài
sản, của ở trong là sức lực và tư tưởng: đem sức lực
và tư tưởng mà đóng góp vào sự hiến cúng thì cũng như,
và có khi hơn, hiến cúng tài sản. Viên đầu bếp của Ty
tứ vương hơn chủ là vì biết hiến cúng cái của ở trong.
"Thiện nam tử, trong đời có ai nghèo đến nỗi không có thân
thể. Có thân thể thì thấy người làm phước, mình đem thân
đến giúp, với lòng hoan hỷ không chán. Như vậy cũng là
bố thí và cũng được phước đức. Phước đức ấy có
khi bằng một phần, có khi bằng nhau, có khi hơn. Vì vậy mà
khi thọ Ba tư nặc vương hiến cúng, ta chú nguyện cho cả
nhà vua và những người nghèo khó cùng được phước như
nhau" (Chính 24/1056).
Thứ hai, trong
những lời trích dẫn ở trên có câu Phật ca tụng cái phước
hiến cúng Tăng chúng chứ không ca tụng cái phước thỉnh
cúng riêng. Lời này rất quan trọng. Lời này phân sự hiến
cúng ra làm 2: cúng Tăng chúng và cúng riêng. Cúng Tăng chúng
là cúng để cầu nguyện, và cúng với sự thỉnh cúng theo
thứ tự chứ không thỉnh cúng riêng. Trái lại, cúng riêng
thì vì lý do nào đi nữa cũng không được gọi là hiến cúng
Tăng chúng. Thỉnh cúng riêng là thỉnh cúng theo ý thích riêng,
thích vị nào thì mời riêng vị đó, không do Tăng chúng thọ
thỉnh cúng và phái cử đi dự. Thỉnh cúng Tăng chúng theo
thứ tự là thế này. Tăng chúng từ mười phương bốn hướng
qui tụ lại một nơi, sự qui tụ ấy mau, lâu hay vĩnh viễn,
và qui tụ bất cứ nhiều hay ít, bất cứ thường trú hay
khách tăng, vị tri sự đương xứ phải y theo tuổi thọ giới
mà lập thứ tự (bằng cách có thể ghi thành bản danh sách).
Khi có người muốn thỉnh cúng, thì thưa với vị tri sự rằng
xin thỉnh cúng Tăng chúng, lại thưa rõ thỉnh cúng mấy vị.
Vị tri sự thấy số thỉnh cúng đầy đủ thì trình bạch
Tăng chúng họ thỉnh cúng và đi dự cả. Nếu thỉnh cúng
ít đến nỗi chỉ một vài vị mà thôi, thì vị tri sự trình
bạch Tăng chúng thọ thỉnh cúng và phái cử số người đại
diện đi dự theo khả năng của người thỉnh cúng. Sự phái
cử này chiếu theo thứ tự đã lập, và phái cử hết người
này đến người khác, hết số này đến số khác, bao giờ
giáp vòng thì bắt đầu trở lại. Như vậy người thỉnh
cúng dầu ít nhiều gì cũng là thỉnh cúng Tăng chúng, còn
Tăng chúng thọ thỉnh cúng dầu ít nhiều gì cũng là Tăng
chúng thọ thỉnh cúng. Và cái phước mà người thỉnh cúng
được là phước hiến cúng Tăng chúng mười phương.
Liên quan đến
việc thỉnh cúng và thọ thỉnh cúng theo thứ tự mà không
riêng biệt này, tôi lược dịch một đoạn văn sau đây của
Tăng a hàm để thấy rõ hơn. Phật hỏi tôn giả La vân, ông
ở đâu đến đây? Tôn giả thưa, con thọ sự thỉnh cúng
của trưởng giả Sư tử rồi đến đây. Vật thực tốt không?
Rất tốt, và nhiều nữa. Tăng chúng thọ thỉnh bao nhiêu,
ai là thượng tọa? Thượng tọa là tôn giả Xá lợi phất,
Tăng chúng thần đức có đến 500 vị. Như vậy ông nghĩ trưởng
giả Sư tử được phước nhiều không? Rất nhiều. La vân,
nếu từ trong tăng chúng mà thỉnh cúng được 1 vị do Tăng
chúng phái cử theo thứ tự, thì cái phước này hơn cái phước
hiến cúng 500 vị La hán đến trăm ngàn vạn lần. Cái phước
của Tăng chúng khó có ai biết được giới hạn. Sự thỉnh
cúng riêng biệt chỉ như những dòng sông nhỏ, có thể được
phước, có thể không. Còn Tăng chúng thì như biển cả. Trong
Tăng chúng có Tu đà hoàn hướng và quả, có Tư đà hàm hướng
và quả, có A na hàm hướng và quả, có A la hán hướng và
quả, có Duyên giác, có Phật. Vì vậy mà biết cái phước
thỉnh cúng vị do Tăng chúng phái cử không có giới hạn (Chính
2/791). Cần phải nói thêm rằng sự thỉnh cúng và thọ thỉnh
cúng phải theo thứ tự mà không được riêng biệt là giới
27 và giới 28 của Bồ tát giới Phạn võng, "thỉnh cúng thứ
tự là thỉnh cúng được mười phương hiền thánh tăng, thỉnh
cúng riêng biệt thì 500 vị la hán tăng và bồ tát tăng cũng
không bằng 1 vị phàm phu tăng do Tăng chúng phái cử theo thứ
tự. Thỉnh cúng riêng biệt là nề nếp ngoại đạo, 7 đức
Phật không có qui chế ấy". (Chính 24/1007).
Chính trong ngày
này, các hiền thánh tăng hoặc tu thiền định ở trong rừng
núi, hoặc đã thành tựu bốn thứ đạo quả, hoặc thường
kinh hành dưới gốc đại thọ, hoặc là Thanh văn hay là Duyên
giác đủ sáu thần thông giáo hóa tự tại, hoặc chính những
vị Bồ tát đại sĩ đã lên thập địa mà lại phương tiện
hiện tướng tỷ kheo, tất cả qui tụ ở trong Tăng chúng,
đồng đẳng nhất tâm mà thọ tự tứ. Vì có đầy đủ giới
pháp thanh tịnh, cho nên đạo đức của Tăng chúng ấy sâu
rộng mênh mông.
Thiền định trong
núi hay kinh hành dưới cây, cũng trong núi, là tu hạnh đầu
đà của tôn giả Đại ca diếp. Bốn đạo quả là tu đà
hoàn, tư đà hàm, a na hàm và a la hán, đó là 4 đạo quả
của Thanh văn. Thập địa là 10 địa vị gần cuối cùng của
52 địa vị Bồ tát: cực hỷ, ly cấu, phát quang, diệm tuệ,
nan thắng, hiện tiền, viễn hành, bất động, thiện tuệ,
pháp vân; sau 10 địa này chỉ còn 1 (diệu giác) hay 2 (diệu
giác, đẳng giác) giai đoạn rất ngắn nữa là thành Phật
đà. Thập địa bồ tát hiện tướng tỷ kheo là "trong cất
hạnh bồ tát mà ngoài hiện hình thanh văn".
Tất cả các vị
mà chính văn liệt kê đều là hiền thánh tăng, "những vị
có đủ giới định tuệ, lấy tuệ giác vô thượng làm sinh
mạng mà sống, và vị thầy giới luật ở luôn với các ngài"
(Chính 2/210); "những vị sống đồng nhất, tự độ và độ
người bằng tam thừa" (Chính 2/254). Nhưng, ngoài hiền thánh
tăng, thành phần chính của Tăng chúng vẫn là phàm phu tăng.
Thành phần ấy bao gồm trong chữ Tăng chúng của chính văn,
chứ không thể không có. Bởi vì luật của Tăng chúng là
như vậy, bởi vì "nhà Cồ đàm rất rộng", dung được cả
những kẻ hý lộng ngài (Chính 2/362). Phàm phu tăng có 2 hạng,
hạng có giới luật và hạng chỉ có hình thức.
Hạng có giới
luật biết thanh sắc và đời sống hoa myՠlà hiện thân ma
vương. Ma vương luôn luôn rình rập đằng sau, tìm cơ hội
mà phá hoại. Ma vương muốn đoạt các giác quan bằng thanh
sắc và đời sống hoa myծ Biết vậy nên tỷ kheo không mê
hoặc thanh sắc và đời sống ấy. Thì ma vương lo rầu mà
thoái chí. Tỷ kheo biết thọ của tín thí rất khó tiêu hóa,
dễ rơi ác đạo, dễ mất tuệ giác, nên tỷ kheo chuyên nhất,
hy vọng được cái chưa được (Chính 2/560).
Hạng chỉ có
hình thức tỷ kheo thì Trí húc đại sư nói rất phải: Thập
luân kinh để lại huấn thị sau đây, "đừng khinh khi hủy
nhục những người xuất gia, vì lẽ đầu cạo, y mang, chính
là biểu tướng của hiền thánh tăng, dẫu phá giới cho đến
không giới, trong giới luật của Phật họ chỉ là thây chết,
chết rồi đọa ác đạo đi nữa, cũng vẫn làm được ruộng
phước cho cả nhân thiên, ở chỗ vì có hình thức của hiền
thánh tăng nên làm cho nhân thiên nhìn vào sinh nhiều cảm nghĩ
thù thắng, lại có thể tuyên thuyết diệu pháp cho nhân thiên,
bản thân cũng có chánh nguyện, và phạm tội thì biết sám
hối. Hạng phàm phu tăng này thật ra không phải là thành phần
của Tăng chúng, nhưng là cái thế lực thừa của giới đức
xuất gia, là cái sức kính tin Tam bảo và thánh giới" (Vạn
35/157B, Chính 13/736 và 750).
Cho nên dẫu Thập
phương tăng thọ cúng trong ngày tự tứ để làm cho cha mẹ
hiện tại và quá khứ của người thỉnh cúng được siêu
thoát đi nữa, Thập phương tăng ấy, theo Luật, cũng không
phải chỉ có hiền thánh tăng. Tăng chúng quan trọng ở giới
luật và biểu tướng xuất gia. Tăng chúng mà có, hay có tập,
5 đức sau đây, thì dầu thế nào đi nữa cũng vẫn là tăng
số : Phật dạy Đế thích, Tăng chúng có 5 đức, là 1. phát
tâm xuất gia vì cảm mến Phật pháp, 2. hủy bỏ hình đẹp
vì thích ứng pháp y, 3. cắt bỏ ân ái vì không còn thân sơ,
4. khinh thường tính mạng vì tôn sùng Phật pháp, 5. chí cầu
đại thừa vì hóa độ tất cả. Vì 5 đức này mà gọi là
ruộng phước, làm cho lúa phước đức ngon, tốt, không chết
khô, chết sớm, và hiến cúng thì phước khó có gì so sánh
được (Chính 16/777).
Đồng đẳng nhất
tâm mà thọ tự tứ, chính văn là giai đồng nhất tâm thọ
bát hòa la phạn. Bát hòa la, Phạn tự là pravarana, dịch nghĩa
là tự tứ. Bát hòa la không phải là bát đa la như một số
người hiểu lầm. Bát đa la, Phạn tự là patra, dịch nghĩa
là ứng khí. Vì lầm bát hòa la là bát đa la, nên hiểu rằng
chính văn ở đây nói sự thọ thực, và thêm vào chữ "phạn"
để nói rằng thọ cơm trong bát. Tôi quyết đoán chữ "phạn"
được thêm vì 2 lý do. Thứ nhất, chính văn ở đây đang
nói về sự Tăng chúng đồng thọ tự tứ. Và phải nói như
vậy mới đúng với văn nghĩa ở đây. Tăng chúng thọ tự
tứ rồi mới thành Tăng chúng tự tứ, đủ giới đủ đức
cho người hiến cúng trong ngày tự tứ để giải cứu cái
khổ đảo huyền cho cha mẹ. Còn việc thọ thực sẽ nói sau
đoạn này một đoạn nữa. Thứ hai, tra trong bản dịch khác
của kinh này (mà rõ ràng như là sao lại) thì không có chữ
"phạn" ấy (Chính 16/780). Nếu chấp nhận chữ "phạn" thì
thọ bát hòa la phạn có nghĩa là thọ cơm trai tăng trong ngày
tự tứ, không có gì khúc mắc cả. Nhưng không thể chấp
nhận như vậy chỉ vì, như đã nói, ở đây văn, nghĩa và
việc không phải và không thể như vậy.
Nói tóm, đoạn
văn trên đây nói về thành phần Tăng chúng tự tứ. Tất
cả hiền thánh tăng và phàm phu tăng đều phải thọ tự tứ
sau khi an cư. Thọ tự tứ rồi mới thành Tăng chúng tự tứ,
có đủ giới đức, cái đức căn bản và trọng đại trong
việc địch lại nghiệp và nghiệp báo.
Ai được hiến
cúng Tăng chúng tự tứ đã nói trên đây, tất cả cha mẹ
cùng với bà con trong đời hiện tại mà đã quá vãng thì
thoát thống khổ ở trong ba đường - thoát được tức thì,
cơm áo tự nhiên; cha mẹ bà con trong đời hiện tại mà đang
sống còn thì hưởng phước lạc, sống lâu trăm tuổi. Đến
như cha mẹ bảy đời quá khứ thì sinh chư thiên, tự tại
hóa sinh ở trong thiên giới hoa lệ chói sáng.
Đoạn này nói
hiến cúng được Tăng chúng tự tứ mới cứu khổ được
cho cha mẹ. Câu ai được hiến cúng Tăng chúng tự tứ đã
nói trên đây làm cho sự nhận định thọ bát hòa la phạn
chỉ là thọ tự tứ (chứ chưa phải thọ cơm tự tứ) được
thế hơn lên
của văn khí.
Chính văn ở đây
nói về cha mẹ hiện tại rất rõ ràng: cha mẹ trong đời
này mà đã quá vãng thì siêu thoát tức thì, cơm áo tự nhiên;
còn cha mẹ trong đời này mà đang sống còn thì phước lạc
và sống lâu. Siêu thoát tức thì là như mẹ ngài Mục liên
sẽ nói ở sau. Cơm áo tự nhiên là sinh trong nhân loại và
chư thiên, với đời sống hạnh phúc. Phước lạc là không
bịnh và không khổ như đoạn sau sẽ nói.
Bấy giờ Thế
tôn qui định điều này: Thập phương tăng chúng trước hết
chú nguyện cho người trai chủ, chú nguyện cho đến cha mẹ
bảy đời. Định ý chú nguyện rồi mới thọ thực. Trước
đó hãy đặt mọi thứ trai soạn trước án thờ Phật tại
chỗ trai tăng hay trong chùa tháp. Tăng chúng chú nguyện rồi
mới tự thọ.
Những đoạn trước
đã dạy cách hiến cúng Tăng chúng tự tứ, đã nói về sự
thọ tự tứ của Tăng chúng, đã nói năng lực cứu khổ cha
mẹ của sự hiến cúng Tăng chúng tự tứ. Đoạn này dạy
sự thọ thực. Và đây mới nói đến sự ấy.
Tăng chúng thọ
thực, đúng ra, trường hợp nào cũng phải làm theo nghi thức.
Chỉ khác là nghi thức ấy được tụng tiếng hay niệm thầm
mà thôi. Động tác thọ thực, theo chính văn trên đây, đại
khái có 3, là chú nguyện, cúng Phật, thọ thực. Nhưng xét
văn ý và sự việc thì 3 động tác này cần đổi thứ tự,
là cúng Phật, chú nguyện rồi thọ thực.
Cúng Phật tức
như ngày nay tụng nghi thức cúng dường, trên điện Phật
hay ngay nơi trai bàn.
Cúng Phật rồi
chú nguyện. Chú nguyện cho trai chủ, cho cha mẹ bà con trong
hiện tại và trong quá khứ của họ. Chính văn nói chú nguyện
cho đến cha mẹ bảy đời có nghĩa là chú nguyện cho cha mẹ
bà con từ hiện tại cho đến quá khứ. Chú nguyện như đoạn
trên đã nói, "cha mẹ bà con trong đời hiện tại mà đã quá
vãng thì thoát thống khổ ở trong ba đường - thoát được
tức thì, cơm áo tự nhiên ; cha mẹ bà con trong đời hiện
tại mà đang sống còn thì hưởng phước lạc, sống lâu trăm
tuổi. Đến như cha mẹ bảy đời quá khứ thì sinh chư thiên,
tự tại hóa sinh ở trong thiên giới hoa lệ chói sáng". Lại
chú nguyện cho trai chủ cùng với những người giúp công,
góp sức hay là tùy hỷ trong sự hiến cúng đều được tăng
trưởng phước lạc, sống lâu, đạo niệm tăng tiến, đời
đời kết thành bà con Phật pháp. Định ý chú nguyện là
tập trung tư tưởng, định tâm mà chú nguyện như vậy. Định
ý còn là căn bản phải có trong tất cả động tác và tâm
tư suốt thì gian thọ thực.
Chú nguyện rồi
thọ thực. Nhưng bưng bát cơm lên thì phải xét nghĩ 5 điều
là 1. Xét công lao nhiều ít và tìm hiểu xuất xứ của thực
phẩm, 2. Xét đức hạnh của mình đủ hay thiếu để hưởng
thọ thực phẩm ấy, 3. Đề phòng tâm lý tránh những tính
xấu mà phần chính vẫn là tham sân si, 4. Mục đích chính
là lấy thực phẩm làm dược phẩm tốt để trị liệu thân
thể gầy yếu, 5. Vì thành đạo nghiệp mà hưởng thọ thực
phẩm ấy. Lại phải tự nhắc 3 đại thừa giới: nguyện
đoạn điều ác, nguyện làm điều lành, nguyện độ chúng
sinh. Rồi mới thọ thực. Thọ thực xong thì kiết trai. Trong
sự kiết trai cũng có sự chú nguyện: chú nguyện cho trai chủ,
chú nguyện cho cha mẹ bà con trong hiện tại và trong quá khứ
của trai chủ, chú nguyện cho chúng sinh.
Như đã nói, định
ý là căn bản suốt thì gian thọ thực. Nghĩa là khi ăn thì
tập trung tư tưởng của mình vào các động tác, vào ý nguyện
của trai chủ, nhất là vào sự hổ thẹn. Miệng không nói
chuyện, thân không mất uy nghi, tâm không ham ngon, ghét dở.
Thọ thực mà
như vậy, và như vậy sau khi an cư tự tứ, thì người hiến
cúng, người thọ cúng, và thân nhân của người hiến cúng,
tất cả đều được những sự nghĩa lợi của Phật pháp,
trong hiện tại cũng như trong vị lai.
Khi ấy tôn giả
Đại mục kiền liên, liệt vị đại sĩ đều rất hoan hỷ.
Tiếng khóc bi thảm của ngài Mục liên tức thì tan biến.
Thân mẫu của ngài ngay trong ngày ấy thoát được thống khổ
một kiếp ngạ quỉ.
Đại sĩ là đại
bồ tát. Chính sự hiện diện của liệt vị đại sĩ trong
pháp hội Phật thuyết kinh này, thêm nữa, kinh này nói trong
hiền thánh tăng có Thập địa bồ tát hiện thân tỷ kheo,
làm cho kinh này và thắng pháp Vu lan đều thuộc đại thừa.
Thân mẫu tôn
giả Mục liên được thoát liền cái kiếp ngạ quỉ là phải.
Được thoát liền vì chính hiếu hạnh của con, vì công đức
duyên khởi thắng pháp Vu lan của con, vì uy lực của Phật
và của thắng pháp Vu lan, vì ảnh hưởng của thắng pháp
Vu lan đến tận ngày nay vẫn còn.
Tôn giả Mục
liên liền đó lại thưa, bạch đức Thế tôn, thân mẫu của
con đã được siêu thoát là nhờ năng lực công đức Tam bảo,
trong đó gồm có uy lực Tăng chúng. Trong thì vị lai, hết
thảy Phật tử có thể hay là không thể phụng hành thắng
pháp Vu lan, cứu độ cha mẹ trong đời hiện tại cho đến
bảy đời bằng cách làm theo lời đức Thế tôn đã dạy
như trên?
Đối với Tam
bảo, Phật tử nghĩ rằng Tam bảo còn mình còn, Tam bảo mất
mình mất (Chính 2/821). Phật tử gồm cả 4 chúng tại gia xuất
gia, và đại thừa tiểu thừa đều định nghĩa rằng sinh
ra từ miệng Phật, sinh ra từ pháp hóa của Phật, hưởng
phần tài sản chánh pháp của Phật. Phật lại nói như sau,
trong Tăng a hàm: Nếu tỷ kheo tự phấn chấn, phấn chấn với
nỗi thích thú về chánh pháp, thì những người như vậy đích
thân ta sinh ra (Chính 2/783).
Như đã nói, nội
dung kinh này có 2 phần. Phần trước là nguyên nhân và cách
thức của thắng pháp Vu lan. Phần sau mang một huấn thị có
tính chất Luật của Phật. Đoạn văn trên đây là lời hỏi
mở đầu huấn thị ấy. Lời hỏi muốn biết thắng pháp
Vu lan có hạn chế đối với người nào và đối với lúc
nào không. Nói cách khác, lời hỏi này cốt để Phật xác
định rằng người nào và lúc nào cũng có thể và cũng cần
phải báo hiếu cha mẹ -- tức phụng hành thắng pháp Vu lan,
xác định rằng Phật tử là phải như vậy.