Nhưng
có một thiêng liêng không thuộc tư tưởng, cũng không
thuộc một cảm thấy được làm sống lại bởi tư tưởng.
Nó không thể nhận ra được bởi tư tưởng và nó cũng không
thể bị sử dụng bởi tư tưởng. Tư tưởng không thể hình
thành nó. Nhưng có một thiêng liêng, không bị tác động bởi
bất kỳ biểu tượng hay từ ngữ nào. Nó không thể diễn
đạt. Nó là một sự kiện.
Krishnamurti’s
Notebook, Ngày 28 tháng 6 năm 1961
MỤC LỤC
Lời
tựa
Bombay,
ngày 6 tháng 1 năm 1960
Eddington,
Pennsylvania, ngày 12 tháng 6 năm 1936
Từ
quyển: Những cuộc nói chuyện ở Châu âu năm 1967,
London,
ngày 30 tháng 9 năm 1967
Seattle,
ngày 16 tháng 7 năm 1950
Từ
quyển: Những cuộc nói chuyện ở Châu âu năm 1967,
Paris,
ngày 30 tháng 4 năm 1967
Từ
quyển: Tự do đầu tiên và cuối cùng, Chương 28
Từ
quyển: Cuộc sống trước mặt, Chương 4
Từ
quyển: Cuộc sống trước mặt, Chương 7, với Những người
trẻ
Từ
quyển: Bình phẩm về cuộc sống Quyển một, Chương 18
Bombay,
ngày 3 tháng 3 năm 1965
Bangalore,
ngày 4 tháng 7 năm 1948
Bombay,
ngày 8 tháng 2 năm 1948
Bombay,
ngày 27 tháng 2 năm 1955
Bombay,
ngày 24 tháng 12 năm 1958
Bombay,
ngày 8 tháng 3 năm 1961
London,
ngày 23 tháng 10 năm 1949
Madras,
ngày 29 tháng 1 năm 1964
Madras,
ngày 15 tháng 12 năm 1974
Từ
quyển: Sổ tay của Krishnamurti
New
Delhi, ngày 31 tháng 10 năm 1956
Ojai,
ngày 5 tháng 7 năm 1953
Ojai,
ngày 21 tháng 8 năm 1955, Nói chuyện
Ojai,
ngày 21 tháng 8 năm 1955, Những câu hỏi
Saanen,
ngày 2 tháng 8 năm 1964
Saanen,
ngày 1 tháng 8 năm 1965
Từ
quyển: Sự kết thúc của thời gian, ngày 2 tháng 4 năm 1980
Từ
quyển: Sổ tay của Krishnamurti
Lời
tựa
Jiddu
Krishnamurrti được sinh ra ở Ấn độ năm 1895 và, lúc 13 tuổi,
được bảo trợ bởi Tổ Chức Thần học Theosophical Society,
đã công nhận ông là phương tiện cho “Thầy Thế Giới”
mà sự xuất hiện của ông đã được công bố từ trước.
Chẳng mấy chốc K đã nổi lên như một người thầy, không
thể phân hạng, không thỏa hiệp và đầy quyền năng; những
buổi nói chuyện và những tác phẩm của ông không liên quan
đến bất kỳ tôn giáo đặc biệt nào và cũng không thuộc
phương Đông hay phương Tây nhưng dành cho toàn thế giới.
Cương quyết phủ nhận hình ảnh đấng Cứu thế, vào năm
1929 ông tuyên bố giải tán tổ chức lớn và giàu có đã
được xây dựng quanh ông và tuyên bố sự thật là “một
mảnh đất không lối vào”, không thể tiếp cận được
bởi bất kỳ tôn giáo, triết lý hay giáo phái chính thức
nào.
Trong
suốt cuộc đời còn lại K liên tục phủ nhận danh vị đạo
sư mà những người khác cố gắng ép buộc ông phải nhận.
Ông tiếp tục thu hút vô số người khắp thế giới nhưng
khẳng định không là uy quyền, không muốn những môn đồ,
và luôn luôn nói chuyện như một cá thể cùng một cá thể
khác. Tâm điểm những lời giáo huấn của ông là nhận ra
những thay đổi cơ bản trong xã hội chỉ có thể được
tạo ra bởi sự thay đổi của ý thức cá thể. Sự cần thiết
phải hiểu rõ về chính mình và hiểu rõ những ảnh hưởng
gây tách rời, gây giới hạn của tình trạng bị quy định
thuộc quốc gia và tôn giáo liên tục được nhấn mạnh. Krishnamurti
luôn luôn vạch ra sự cần thiết cấp bách phải có được
sự khoáng đạt, phải có được “không gian rộng lớn trong
bộ não” mà trong đó có năng lượng vô hạn. Điều này
dường như đã là nguồn suối của sự sáng tạo riêng của
ông và cốt lõi cho những ảnh hưởng to tát của ông đối
với vô số người khắp thế giới.
Ông
tiếp tục giảng thuyết khắp thế giới cho đến khi qua đời
năm 1986 ở tuổi chín mươi. Những buổi nói chuyện, những
cuộc đối thoại, những lá thư và những bài viết trên báo
của ông đã được tổng hợp thành hơn sáu mươi quyển.
Từ những lời giáo huấn nhiều như thế một loạt những
quyển sách có đề mục này đã được biên soạn, mỗi quyển
sách tập trung vào một đề tài có liên quan đặc biệt và
khẩn cấp trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
BÀN VỀ THƯỢNG
ĐẾ
Bombay,
ngày 6 tháng 1 năm 1960
Cái
trí là cái đã được biết – cái đã được biết là những
điều đã được trải nghiệm. Với sự đo lường đó, chúng
ta cố gắng biết cái không biết được. Nhưng chắc chắn
cái đã được biết không bao giờ có thể biết cái không
biết được; nó chỉ có thể biết cái gì nó đã trải nghiệm,
cái gì nó đã được dạy bảo, cái gì nó đã thâu lượm.
Liệu cái trí có thể thấy sự thật rằng nó không có khả
năng riêng để biết cái không biết được hay không?
Chắc
chắn nếu tôi thấy rất rõ ràng rằng cái trí của tôi không
thể biết cái không biết được, có sự tĩnh lặng tuyệt
đối. Nếu tôi cảm thấy rằng tôi có thể nắm bắt cái
không biết được bằng những khả năng của cái đã được
biết, tôi tạo ra vô số nhiễu loạn; tôi nói chuyện, tôi
khước từ, tôi chọn lựa, tôi cố gắng tìm ra một phương
cách dẫn đến nó. Nhưng nếu cái trí thấy rằng nó hoàn
toàn không có khả năng riêng để nhận biết cái không biết
được, nếu nó trực nhận rằng nó không thể dùng bất kỳ
phương cách nào để tìm ra cái không biết được, vậy thì
điều gì xảy ra? Vậy thì cái trí trở nên tĩnh lặng tuyệt
đối. Nó không bị vô vọng; nó không còn đang tìm kiếm bất
kỳ điều gì nữa.
Chuyển
động của tìm kiếm chỉ có thể từ cái đã được biết
đến cái đã được biết, và mọi việc mà cái trí có thể
làm là tỉnh thức rằng chuyển động này sẽ không bao giờ
khai phá cái không biết được. Bất kỳ chuyển động nào
được thực hiện bởi cái đã được biết vẫn còn trong
lãnh vực của cái đã được biết. Đó là điều duy nhất
tôi phải trực nhận; đó là điều duy nhất cái trí phải
thấy. Vậy thì, nếu không có bất kỳ kích động, nếu không
có bất kỳ mục đích nào, cái là tĩnh lặng.
Bạn
không thấy tình yêu là tĩnh lặng hay sao? Nó có lẽ như vậy
khi nắm tay một người khác, hay nhìn đầy thương yêu một
đứa trẻ, hay quan sát vẻ đẹp của một chiều tối. Tình
yêu không có quá khứ hay tương lai, và vì vậy nó ở trong
trạng thái lạ thường của tĩnh lặng này. Và nếu không
có tĩnh lặng này, mà là trống không trọn vẹn, không có
sáng tạo. Bạn có lẽ rất khôn ngoan trong khả năng của bạn,
nhưng nơi nào không có sáng tạo, có hủy diệt, thoái hóa,
và cái trí tàn tạ.
Khi
cái trí trống không, tĩnh lặng, khi nó ở trong một trạng
thái tiêu cực hoàn toàn – mà không là trơ trơ, cũng không
là đối nghịch của tích cực, nhưng một trạng thái hoàn
toàn khác hẳn mà trong đó mọi tư tưởng đã kết thúc –
chỉ lúc đó mới có thể cho cái không thể đặt tên hiện
diện.
Eddington,
Pennsylvania,
Ngày
12 tháng 6 năm 1936
Quan
điểm máy móc về cuộc sống là, vì con người là sản phẩm
của môi trường sống và của những phản ứng khác nhau,
chỉ có thể nhận thức qua những giác quan, môi trường sống
và những phản ứng nên được kiểm soát bởi một hệ thống
có lý luận mà sẽ cho phép cá thể vận hành chỉ trong cái
khung. Làm ơn hãy hiểu rõ ý nghĩa đầy đủ của quan điểm
máy móc này về cuộc sống. Nó tin tưởng rằng không có thực
thể thăng hoa tối thượng, không cái gì có một tiếp tục,
quan điểm về cuộc sống này công nhận không có sự tồn
tại của bất kỳ loại nào sau khi chết; sự sống chỉ là
một khoảng ngắn ngủi dẫn đến hủy hoại hoàn toàn. Vì
con người không là gì cả ngoại trừ kết quả của những
phản ứng thuộc môi trường sống, bị quan tâm đến sự
theo đuổi an toàn ích kỷ riêng của anh ấy, anh ấy đã giúp
đỡ tạo ra một hệ thống bóc lột, hung bạo, và chiến tranh.
Vì vậy những hoạt động của anh ấy phải được định
hình và được hướng dẫn bằng sự thay đổi và kiểm soát
môi trường sống.
Và
rồi có những người công nhận quan điểm rằng con người
căn bản là thần thánh, rằng số mạng của anh ấy được
kiểm soát và được hướng dẫn bởi một đấng tối cao
nào đó. Những người này khẳng định rằng họ đang tìm
kiếm Thượng đế, sự hoàn hảo, sự giải thoát, hạnh phúc,
một trạng thái tồn tại trong đó tất cả những xung đột
chủ quan đã kết thúc. Niềm tin của họ trong một thực thể
tối thượng đang hướng dẫn số mạng của con người được
đặt nền tảng trên sự trung thành. Họ sẽ nói thực thể
thăng hoa hay đấng tối thượng này đã tạo ra thế giới
và rằng cái “tôi”, bản ngã, cái cá thể, là cái gì đó
vĩnh cửu trong chính nó và có một chất lượng thường hằng.
Thỉnh
thoảng bạn nghĩ rằng cuộc sống là máy móc, và vào lúc
khác khi có đau khổ và hoang mang, bạn chuyển sang sự trung
thành, hướng vào một thực thể tối thượng để có hướng
dẫn và giúp đỡ. Bạn liên tục thay đổi quan điểm giữa
những đối nghịch, trái lại chỉ qua hiểu rõ sự ảo tưởng
của những đối nghịch bạn mới có thể giải thoát chính
mình khỏi những giới hạn và những ngăn cản của chúng.
Bạn thường tưởng tượng rằng bạn được tự do khỏi
chúng, nhưng bạn chỉ có thể được tự do khi bạn hoàn toàn
hiểu rõ qui trình dựng lên những giới hạn này và kết thúc
chúng. Bạn không thể có được sự hiểu rõ sự thật, cái
gì là, chừng nào qui trình không có khởi đầu của ngu dốt
này còn được tiếp tục. Khi qui trình này, tự nuôi dưỡng
chính nó qua những hoạt động có ý chí riêng của nó về
tham lam, kết thúc, có cái đó mà có lẽ được gọi là chân
lý, sự thật, hạnh phúc vô cùng.
Từ
quyển: Những cuộc nói chuyện ở Châu âu năm 1967,
London,
ngày 30 tháng 9 năm 1967
Có
lẽ rất xứng đáng khi dùng một ít thời gian cố gắng tìm
ra liệu cuộc sống có bất kỳ ý nghĩa nào hay không. Không
phải cuộc sống mà người ta sống, bởi vì sự tồn tại
hiện nay chẳng có ý nghĩa bao nhiêu. Người ta nghĩ ra một
ý nghĩa trí năng cho cuộc sống, một ý nghĩa thuộc trí năng,
lý thuyết, thần học hay (nếu người ta có thể sử dụng
từ ngữ đó) huyền bí cho nó; người ta cố gắng tìm ra một
ý nghĩa sâu sắc – như một số tác giả đã làm trong nỗi
tuyệt vọng của sự hiện hữu vô vọng này – sáng chế
ra lý do thuộc trí năng, sâu sắc, sinh động nào đó. Và dường
như đối với tôi nó sẽ xứng đáng hơn nhiều nếu chúng
ta có thể tìm ra cho chính chúng ta, không theo cảm tính hay
trí năng, nhưng thực sự, thực tế, liệu trong cuộc sống
có bất kỳ điều gì thực sự thiêng liêng hay không. Không
phải những sáng chế của cái trí mà đã trao một ý nghĩa
thiêng liêng cho cuộc sống, nhưng thực sự liệu có một sự
việc như thế hay không. Bởi vì người ta quan sát dựa theo
lịch sử lẫn thực tế trong sự tìm kiếm này, trong cuộc
sống mà người ta đã sống – trải qua kinh doanh, ganh đua,
thất vọng, cô độc, lo âu, với sự hủy diệt của chiến
tranh và hận thù – cuộc sống như tất cả những điều
này chẳng có ý nghĩa bao nhiêu. Chúng ta có lẽ sống bảy
mươi năm, trải qua bốn mươi hay năm mươi năm trong văn phòng,
với những thói quen, nhàm chán và sự cô độc của nó, mà
chẳng có ý nghĩa bao nhiêu. Nhận ra điều đó, cả ở phương
Đông lẫn ở đây, sau đó người ta cho ý nghĩa và sự quan
trọng đến một biểu tượng, một lý tưởng, một vị Thượng
đế – mà rõ ràng là những sáng chế của cái trí. Ở phương
Đông họ đã nói rằng cuộc sống là một: đừng giết chóc;
Thượng đế tồn tại trong mỗi con người: đừng hủy diệt.
Nhưng phút kế tiếp họ đang hủy diệt lẫn nhau, thực sự,
bằng từ ngữ, hay trong kinh doanh, và vì vậy ý tưởng cuộc
sống là một này, sự thiêng liêng của cuộc sống, chẳng
có ý nghĩa bao nhiêu.
Cũng
vậy ở phương Tây, nhận ra rằng cuộc sống thực sự là
gì – bạo lực, hung hăng tàn khốc của cuộc sống hàng ngày
– người ta trao ý nghĩa đến một biểu tượng. Những biểu
tượng đó mà mọi tôn giáo đều đặt nền tảng trên nó
được nghĩ là rất thiêng liêng. Đó là, những nhà thần
học, những vị giáo sĩ, những vị thánh mà đã có những
trải nghiệm đặc trưng của họ, đã trao những ý nghĩa cho
cuộc sống và chúng ta bám vào những ý nghĩa kia từ tuyệt
vọng của chúng ta, từ cô độc của chúng ta, từ lề thói
hằng ngày của chúng ta mà chẳng có ý nghĩa bao nhiêu. Và
nếu chúng ta có thể gạt đi mọi biểu tượng, mọi hình
ảnh, mọi ý tưởng và những niềm tin mà người ta đã dựng
lên hàng thế kỷ và với nó người ta đã cho một ý nghĩa
thiêng liêng, nếu chúng ta có thể thực sự tháo gỡ tình
trạng bị quy định của chúng ta không còn tất cả những
sáng chế kỳ lạ này, vậy thì có lẽ chúng ta có thể thực
sự tự hỏi chính mình liệu có một cái gì đó là sự thật,
thiêng liêng và thánh thiện thực sự. Bởi vì đó là điều
gì con người đã tìm kiếm trong những hỗn loạn, vô vọng,
tội lỗi, và chết này. Trong nhiều hình thức khác nhau con
người đã luôn luôn tìm kiếm sự cảm thấy này về một
cái gì đó mà phải vượt khỏi sự ngắn ngủi, vượt khỏi
dòng chảy của thời gian. Chúng ta có thể dành chút ít thời
gian để tìm hiểu vấn đề này và cố gắng tìm ra cho chính
mình liệu có một sự việc như thế hay không? – nhưng không
phải điều gì bạn muốn, không phải Thượng đế, không
phải một ý tưởng, không phải một biểu tượng. Liệu người
ta có thể gạt đi tất cả điều đó và sau đó tìm ra?
Những
từ ngữ chỉ là một phương tiện để truyền đạt nhưng
từ ngữ không là sự việc. Từ ngữ, biểu tượng không là
sự thật, và khi người ta bị trói buộc trong những từ ngữ,
vậy thì nó trở nên rất khó khăn để tháo gỡ chính mình
khỏi những biểu tượng, những từ ngữ, những ý tưởng
mà thực sự ngăn cản trực nhận. Mặc dù người ta phải
sử dụng những từ ngữ, nhưng từ ngữ không là sự thật.
Vì vậy nếu người ta cũng có thể tỉnh thức, cảnh giác,
rằng từ ngữ không là sự thật, vậy thì chúng ta có thể
bắt đầu tìm hiểu nghi vấn này rất sâu thẳm. Đó là, con
người từ cô độc và tuyệt vọng của anh ấy đã trao tặng
sự thiêng liêng đến một ý tưởng, đến một hình ảnh
được làm bằng bàn tay hay bằng cái trí. Hình ảnh đó đã
trở thành quan trọng cực kỳ đối với người Thiên chúa
giáo, người Ấn độ giáo, người Phật giáo, và vân vân,
và họ đã đầu tư ý nghĩa của thiêng liêng trong hình ảnh
đó. Liệu chúng ta có thể gạt nó đi – không phải bằng
từ ngữ, không phải bằng lý thuyết, nhưng thực sự gạt
nó đi – hoàn toàn thấy được sự vô ích của một hoạt
động như thế? Sau đó chúng ta có thể bắt đầu một nghi
vấn. Nhưng không có ai để trả lời, bởi vì bất kỳ nghi
vấn căn bản nào mà chúng ta đưa ra cho chính chúng ta không
thể được trả lời bởi bất kỳ ai và bởi chính chúng
ta. Nhưng điều gì chúng ta có thể làm là đặt nghi vấn và
hãy cho phép nghi vấn đó âm ỉ, sôi sục – hãy cho phép nghi
vấn đó chuyển động. Và người ta phải có khả năng theo
sát nghi vấn đó xuyên suốt. Đó là điều gì chúng ta đang
nghi vấn: liệu rằng, vượt khỏi biểu tượng, từ ngữ có
bất kỳ cái gì đó thực sự, trung thực, cái gì đó hoàn
toàn thánh thiện trong chính nó?
Seatle,
ngày 16 tháng 7 năm 1950
Người
hỏi: Có nhiều ý tưởng về Thượng đế trong thế giới
ngày nay. Suy nghĩ của ông về Thượng đế là gì?
Krishnamurti:
Trước hết, chúng ta phải tìm ra chúng ta có ý gì qua từ
ngữ một ý tưởng. Chúng ta có ý gì qua qui trình suy nghĩ?
Bởi vì, rốt cuộc, khi chúng ta hình thành một ý tưởng,
chúng ta hãy nói ví dụ như ý tưởng về Thượng đế, công
thức hay ý tưởng của chúng ta là kết quả của tình trạng
bị quy định của chúng ta, phải không? Nếu chúng ta tin tưởng
Thượng đế, chắc chắn niềm tin của chúng ta là kết quả
của môi trường sống của chúng ta. Từ niên thiếu có những
người được dạy bảo để phủ nhận Thượng đế và những
người được dạy bảo để tin tưởng Thượng đế, giống
như hầu hết các bạn. Vì vậy chúng ta hình thành một ý
tưởng về Thượng đế theo sự dạy dỗ của chúng ta, theo
nền tảng quá khứ của chúng ta, theo cá tính riêng của chúng
ta, những ưa thích và không ưa thích, những hy vọng và những
sợ hãi. Vậy thì rõ ràng là, chừng nào chúng ta còn chưa
hiểu rõ qui trình suy nghĩ riêng của chúng ta, thuần túy những
ý tưởng về Thượng đế không có giá trị gì cả, phải
không? Bởi vì tư tưởng có thể chiếu rọi bất kỳ điều
gì nó thích. Nó có thể sáng chế và phủ nhận Thượng đế.
Mỗi người có thể sáng chế hay hủy diệt Thượng đế tùy
theo những khuynh hướng, những vui thú, và những đau khổ
của anh ấy. Vì vậy chừng nào tư tưởng còn năng động,
đang hình thành, đang sáng chế, cái vượt khỏi thời gian
không thể được khám phá. Thượng đế, hay sự thật, được
khám phá chỉ khi nào tư tưởng kết thúc.
Bây
giờ, khi bạn hỏi, “Suy nghĩ của ông về Thượng đế là
gì?” bạn đã hình thành sẵn tư tưởng riêng của bạn,
phải không? Tư tưởng có thể tạo ra Thượng đế và trải
nghiệm cái đó mà nó đã sáng chế. Nhưng chắc chắn đó
không là trải nghiệm thực sự. Nó chỉ là sự chiếu rọi
riêng của chính nó mà tư tưởng trải nghiệm, và vì vậy
nó không thực sự. Nhưng nếu bạn và tôi thấy sự thật
của điều này, vậy thì có lẽ chúng ta sẽ trải nghiệm
một cái gì đó lớn lao hơn một chiếu rọi thuần túy của
tư tưởng.
Vào
thời điểm hiện nay, khi có sự mất an toàn mỗi lúc một
nhiều hơn ở bên ngoài, rõ ràng có một khao khát tìm ra an
toàn ở bên trong. Bởi vì chúng ta không thể tìm được an
toàn ở bên ngoài, chúng ta tìm kiếm nó trong một ý tưởng,
trong tư tưởng, và thế là chúng ta tạo ra cái đó mà chúng
ta gọi là Thượng đế, và ý tưởng đó trở thành sự an
toàn của chúng ta. Bây giờ một cái trí tìm kiếm an toàn
chắc chắn không tìm ra sự thật, chân lý. Muốn hiểu rõ
cái vượt khỏi thời gian, những giả tạo của tư tưởng
phải kết thúc. Tư tưởng không thể tồn tại mà không có
những từ ngữ, những biểu tượng, những hình ảnh. Và chỉ
khi nào cái trí yên lặng, tự do khỏi những sáng chế riêng
của nó, mới có thể tìm ra điều gì là sự thật. Vì vậy
chỉ hỏi liệu có hay không có Thượng đế là một phản
ứng không chín chắn đến vấn đề, phải vậy không? Hình
thành những quan điểm về Thượng đế là rất ngây ngô.
Muốn
trải nghiệm, muốn nhận ra cái vượt khỏi thời gian, rõ
ràng chúng ta phải hiểu rõ qui trình của thời gian. Cái trí
là kết quả của thời gian, nó được đặt nền tảng trên
những kỷ niệm của ngày hôm qua. Và liệu có thể được
tự do khỏi vô số kỷ niệm của những ngày hôm qua
mà là qui trình của thời gian hay không? Chắc chắn đây là
một vấn đề rất nghiêm túc; nó không là vấn đề của
niềm tin hay không niềm tin. Tin tưởng và không tin tưởng
là qui trình của dốt nát, trái lại hiểu rõ chất lượng
gây trói buộc vào thời gian của tư tưởng mang lại tự do
mà tự trong chính nó có thể có khám phá. Nhưng hầu hết
chúng ta muốn tin tưởng bởi vì nó thuận tiện hơn nhiều;
nó cho chúng ta một ý thức của an toàn, một ý thức của
thuộc về một nhóm. Chắc chắn chính niềm tin này cô lập
chúng ta; bạn tin tưởng một sự việc và tôi tin tưởng một
sự việc khác. Vì vậy niềm tin hành động như một chướng
ngại; nó là một qui trình của không hội nhập.
Vậy
thì, điều quan trọng là, không phải sự vun quén niềm tin
hay không niềm tin, nhưng hiểu rõ qui trình của cái trí. Chính
cái trí, chính tư tưởng tạo ra thời gian. Tư tưởng là thời
gian, và bất kỳ điều gì tư tưởng chiếu rọi phải thuộc
thời gian; vì vậy, tư tưởng không thể vượt khỏi chính
nó. Muốn khám phá cái gì vượt khỏi thời gian, tư tưởng
phải kết thúc, và đó là một sự việc khó khăn nhất bởi
vì sự kết thúc tư tưởng không xảy ra qua kỷ luật, qua
kiểm soát, qua phủ nhận hay đè nén. Tư tưởng kết thúc
chỉ khi nào chúng ta hiểu rõ toàn qui trình của suy nghĩ, và
muốn hiểu rõ suy nghĩ phải có hiểu rõ về chính mình. Tư
tưởng là bản ngã, tư tưởng là cái từ ngữ mà gắn kết
chính nó như cái “tôi” và, dù bản ngã được đặt ở
bất kỳ mức độ nào, cao hay thấp, nó vẫn còn trong lãnh
vực của tư tưởng.
Muốn
tìm được Thượng đế, cái vượt khỏi thời gian, chúng
ta phải hiểu rõ qui trình của tư tưởng – đó là, qui trình
của chính mình. Bản ngã rất phức tạp, nó không ở một
mức độ, nhưng được tạo thành bởi nhiều tư tưởng, nhiều
thực thể, mỗi một cái đối nghịch với những cái khác.
Phải có một tỉnh thức liên tục được tất cả chúng,
một tỉnh thức trong đó không chọn lựa, không chỉ trích
hay so sánh; đó là, phải có thể thấy những sự vật như
chúng là mà không làm biến dạng hay diễn giải chúng. Khoảnh
khắc chúng ta nhận xét hay diễn giải cái gì được thấy,
chúng ta làm biến dạng nó tùy theo nền tảng quá khứ của
chúng ta. Muốn khám phá sự thật hay Thượng đế, không thể
có niềm tin bởi vì chấp nhận hay phủ nhận là một ngáng
trở cho sự khám phá. Tất cả chúng ta đều muốn được
an toàn cả bên trong lẫn bên ngoài. Và cái trí phải hiểu
rõ rằng sự tìm kiếm an toàn là một ảo tưởng. Chỉ có
cái trí không an toàn, hoàn toàn được tự do khỏi bất kỳ
hình thức nào của sở hữu mới có thể khám phá – và đây
là một công việc gian nan. Nó không có nghĩa là rút lui vào
rừng rú, hay đến một tu viện, hay tự cô lập chính mình
trong một niềm tin đặc biệt nào đó; trái lại không cái
gì có thể tồn tại trong tách rời. Tồn tại là liên hệ;
chỉ trong những liên hệ ngay đó chúng ta mới khám phá được
chính chúng ta như chúng ta là. Chính sự khám phá được chính
chúng ta như chúng ta là này, mà không có bất kỳ ý thức
của chỉ trích hay khen ngợi, mới mang lại một thay đổi
cơ bản trong cái gì chúng ta là. Và đó là khởi đầu của
thông minh.
Từ
quyển: Những cuộc nói chuyện ở Châu âu năm 1967
Paris,
ngày 30 tháng 4 năm 1967
Cái
trí tôn giáo hoàn toàn khác hẳn cái trí tin tưởng tôn giáo.
Cái trí tôn giáo theo tâm lý được tự do khỏi văn hóa của
xã hội; nó cũng được tự do khỏi bất kỳ hình thức nào
của niềm tin, khỏi bất kỳ hình thức nào của đòi hỏi
để trải nghiệm hay tự mở rộng. Và xuyên suốt mọi thời
đại qua niềm tin con người đã tạo ra một ý tưởng được
gọi là Thượng đế. Đối với con người niềm tin trong ý
tưởng được gọi là Thượng đế đã cần thiết bởi vì
anh ấy tìm thấy cuộc sống là một công việc đau khổ, một
công việc của những đấu tranh liên tục, xung đột, phiền
muộn, với thỉnh thoảng một lóe sáng, vẻ đẹp và hân hoan.
Tin
tưởng trong một khái niệm, trong một công thức, trong một
ý tưởng, đã trở nên cần thiết bởi vì cuộc sống chẳng
có ý nghĩa bao nhiêu. Những công việc đều đặn hàng ngày,
đi đến văn phòng, gia đình, ái ân, cô độc, gánh nặng,
xung đột của tự diễn tả, tất cả những điều này chẳng
có ý nghĩa bao nhiêu – và luôn luôn có cái chết tại khúc
cuối của tất cả nó. Vì vậy con người phải tin tưởng
như một nhu cầu khẩn cấp.
Tùy
theo cảm nghĩ chung, tùy theo năng lực thuộc trí năng của
những người sáng chế ra những khái niệm và những công
thức này, ý tưởng về Thượng đế, đấng cứu rỗi, vị
Thầy, được hình thành, và qua đó con người luôn luôn luôn
cố gắng đạt được một trạng thái hạnh phúc, chân lý,
sự thật về một trạng thái của cái trí không bao giờ bị
náo động. Vì vậy anh ấy đã đặt ra một đích đến và
làm việc hướng về nó. Những tác giả của những ý tưởng
và những khái niệm này đã đặt ra hoặc một hệ thống
hoặc một con đường mà phải được tuân theo với mục đích
đạt được sự thật tối thượng đó. Và con người đã
hành hạ cái trí của anh ấy – qua kỷ luật, qua kiểm soát,
qua tự chối từ, qua thực hành kềm chế ăn uống, rượu
chè, ái ân, qua khổ hạnh – sáng chế ra những phương pháp
khác nhau để tiếp cận sự thật đó. Ở Châu á có nhiều
phương pháp dẫn đến sự thật đó, (ít nhất chúng cũng
đã được nói như thế) tùy thuộc vào tính khí và những
hoàn cảnh, và những con đường đó được tuân theo để
đạt được sự thật mà không thể đo lường được bởi
con người, bởi tư tưởng. Ở phương Tây chỉ có một đấng
cứu rỗi; qua Ngài, một mình, sẽ tìm được cái gì đó tối
thượng. Tất cả những hệ thống của phương Đông hay phương
Tây hàm ý sự kiểm soát liên tục, sự biến dạng liên tục
của cái trí để tuân phục một khuôn mẫu được đặt ra
bởi vị giáo sĩ, bởi những quyển sách thiêng liêng, bởi
tất cả những sự việc bất hạnh kia mà thuộc về chính
bản chất của bạo lực. Bạo lực của họ không chỉ trong
việc khước từ ham muốn nhục dục của thân thể, mà còn
khước từ mọi hình thức của ham muốn, mọi hình thức của
vẻ đẹp, và trong việc kiểm soát và tuân phục một khuôn
mẫu nào đó đã được đặt ra.
Họ
đã nói về một loại phép lạ nào đó – nhưng những phép
lạ là việc dễ dàng nhất để đạt đến, dù ở phương
Tây hay phương Đông. Và những người đạt được những
phép lạ này được phong chức thành những vị thánh; họ
đã thiết lập được kỷ lục khi họ hoàn toàn tuân phục
đến một khuôn mẫu được diễn tả trong đời sống hàng
ngày của họ. Họ chẳng có bao nhiêu khiêm tốn, vì khiêm
tốn không thể được thể hiện phía bên ngoài – mặc vào
một cái khố hay một cái áo choàng vải thô không thể hiện
khiêm tốn gì cả. Giống như bất kỳ đức hạnh nào, khiêm
tốn là từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc; nó không thể được
tính toán, được thiết lập, và được đặt ra như một
khuôn mẫu để được tuân theo. Nhưng con người, qua những
thời đại, đã làm việc này; người khởi xướng, người
sáng chế mà đã trải nghiệm cái gì đó gọi là sự thật,
đã đặt ra một hệ thống, một phương pháp, một phương
cách – và phần còn lại của thế giới đã tuân theo. Rồi
thì những đệ tử, qua truyền bá ma mãnh, qua những phương
cách ma mãnh để quyến rũ cái trí con người, thiết lập
một nhà thờ và những giáo điều, những nghi lễ. Và con
người bị trói buộc trong đó – rằng bất kỳ con người
nào ao ước tìm được cái đó mà cái trí luôn luôn đang
tìm kiếm phải trải qua loại xuyên tạc sự thật, loại đè
nén, loại hành hạ nào đó, để đến được vẻ đẹp tối
thượng đó.
Và
thế là, theo trí năng, người ta thấy sự vô lý của tất
cả việc này; theo trí năng, theo từ ngữ, người ta thấy
được sự vô lý khi có bất kỳ niềm tin nào; người ta thấy
được sự ngu xuẩn của bất kỳ học thuyết nào. Theo trí
năng cái trí có lẽ nói rằng điều đó vô lý và gạt bỏ
nó, nhưng bên trong, sâu thẳm, luôn luôn có sự tìm kiếm vượt
khỏi những nghi lễ, vượt khỏi những giáo điều, những
niềm tin, vượt khỏi những Đấng cứu rỗi, vượt khỏi
mọi hệ thống mà rõ ràng là sự sáng chế của con người.
Người ta thấy rằng những Đấng cứu rỗi của anh ấy, những
vị Thượng đế của anh ấy, là những sáng chế, và người
ta có thể gạt bỏ những điều này tương đối dễ dàng
– và những con người hiện đại đang làm như vậy. (Tôi
không biết tại sao người ta sử dụng từ ngữ hiện đại
– con người đã tồn tại như anh ấy là hiện nay từ bao
nhiêu thế hệ qua bao nhiêu thế hệ. Nhưng cảm nghĩ chung của
ngày nay là anh ấy đang phủ nhận hoàn toàn uy quyền của
vị giáo sĩ, niềm tin, và giáo điều, tại ngay gốc rễ của
ý tưởng; đối với anh ấy Thượng đế đã chết rồi, và
ngài chết khi còn rất trẻ.) Và vì không còn Thượng đế
hay không còn niềm tin, không còn ý tưởng nào khác hơn là
tận hưởng vật chất thực sự, và thỏa mãn vật chất,
và sự phát triển xã hội: con người sống cho hiện tại,
phủ nhận toàn thể ý tưởng về tôn giáo.
Người
ta khởi đầu bằng cách phủ nhận những vị Thượng đế,
ở bên ngoài, với những vị giáo sĩ của họ – thuộc bất
kỳ tôn giáo có tổ chức nào – người ta phải hoàn toàn
phủ nhận những sự việc này bởi vì chúng không có giá
trị gì cả. Chúng đã nuôi dưỡng chiến tranh, đã tách rời
con người; dù rằng trong Do thái giáo, Ấn độ giáo, Thiên
chúa giáo, hay Hồi giáo – chúng đã hủy diệt con người,
chúng đã tách rời con người, chúng đã là một trong những
nguyên nhân chính của chiến tranh, của bạo lực. Khi thấy
tất cả việc này, người ta phủ nhận nó, người ta gạt
nó đi như một cái gì đó ngây ngô và không chín chắn. Theo
trí năng người ta có thể thực hiện việc này rất dễ dàng.
Đang sống trong thế giới này, đang quan sát những phương
pháp trục lợi của những nhà thờ, những đền chùa, ai có
thể làm gì đây ngoại trừ phủ nhận? Nhưng làm tự do khỏi
niềm tin và khỏi tìm kiếm tại mức độ tâm lý còn khó
khăn hơn nhiều. Tất cả chúng ta đều muốn tìm ra cái gì
đó mà không bị tác động bởi con người, không bị lay động
bởi tư tưởng ma mãnh, cái gì đó mà không bị vấy bẩn
bởi bất kỳ tổ chức thuộc văn hóa, thuộc trí năng, hay
thuộc xã hội, cái gì đó mà không bị hủy diệt bởi lý
lẽ. Tất cả chúng ta trong sâu thẳm đều tìm kiếm nó, vì
cuộc sống này là một lao dịch, một trận chiến, một đau
khổ, một lề thói. Người ta có lẽ có khả năng bày tỏ
chính mình bằng từ ngữ, hay trong hội họa, trong điêu khắc,
trong âm nhạc, nhưng thậm chí như thế việc đó cũng trở
nên khá trống rỗng. Cuộc sống như nó là bây giờ rất trống
rỗng và chúng ta cố gắng lấp đầy bằng âm nhạc và văn
chương, bằng vui chơi, bằng giải trí, bằng những ý tưởng,
bằng hiểu biết; nhưng khi người ta tìm hiểu nó sâu xa và
rộng rãi hơn một tí, người ta phát giác rằng người ta
quá trống rỗng, toàn hiện hữu này là nhỏ nhen – mặc dù
người ta có lẽ có những tước hiệu, những của cải, những
năng lực.
Cuộc
sống là trống rỗng, và nhận ra việc đó chúng ta muốn lấp
đầy nó. Chúng ta đang tìm kiếm, đang tìm kiếm những phương
pháp và những phương tiện, không chỉ lấp đầy sự trống
rỗng này mà còn tìm ra cái gì đó mà không thể đo lường
được bởi con người. Một vài người có lẽ dùng thuốc
men – LSD hay một trong vô số loại thuốc kích thích nào đó
mà trao tặng “sự mở rộng của ý thức” – và trong trạng
thái đó người ta có được hay trải nghiệm những kết quả
nào đó, bởi vì một nhạy cảm nào đó đã được tác động
vào bộ não. Nhưng đây là những kết quả hóa học. Chúng
là những kết quả của những tác nhân gián tiếp từ bên
ngoài. Người ta tràn trề hy vọng khi dùng thuốc kích thích,
rồi thì ở bên trong người ta có những trải nghiệm này;
bởi vì người ta có những niềm tin nào đó, thế là người
ta trải nghiệm tùy theo những niềm tin đó; những tiến hành
đều giống hệt nhau. Cả hai đều sản xuất một trải nghiệm,
tuy nhiên con người lại bị lạc lõng trong niềm tin – trong
thuốc men của chính niềm tin, hay trong niềm tin của thuốc
men hóa học. Rõ ràng anh ấy đã bị trói buộc trong những
tư tưởng của anh ấy. Và qua tất cả việc đó người ta
thấy và gạt bỏ nó; đó là, người ta hoàn toàn được tự
do khỏi tất cả mọi niềm tin. Điều đó không có nghĩa người
ta phải theo thuyết bất khả tri, người ta phải trở nên
ngờ vực hay cay đắng. Trái lại, bạn thấy bản chất của
niềm tin và tại sao niềm tin trở nên quan trọng cực kỳ;
đó là bởi vì chúng ta sợ hãi – theo căn bản đó là lý
do. Bởi vì sợ hãi – không chỉ trong sự giày xéo hàng ngày
của cuộc sống, sợ hãi của không trở thành, của không
đạt được phần tinh thần, không có quyền lực, chức vụ,
thanh danh, nổi tiếng – tất cả việc này gây ra nhiều sợ
hãi và người ta chịu đựng sợ hãi đó, nhưng cũng bởi
vì sợ hãi bên trong này nên niềm tin đã trở thành quá quan
trọng. Bị đối diện với sự trống rỗng hoàn toàn của
cuộc sống, người ta vẫn bám víu vào niềm tin; mặc dù người
ta có thể vất bỏ những uy quyền của niềm tin ở bên ngoài
– niềm tin được sáng chế bởi những vị giáo sĩ khắp
thế giới – người ta tạo cho chính mình niềm tin riêng của
người ta với mục đích tìm ra và bắt gặp được sự việc
lạ thường đó mà con người đã và đang tìm kiếm, đang
tìm kiếm, đang tìm kiếm.
Và
thế là người ta tìm kiếm. Bản chất, cấu trúc, của tìm
kiếm là rất rõ ràng. Tại sao người ta lại tìm kiếm nó?
Cốt lõi là tánh tư lợi – tánh tư lợi muốn được khai
sáng, nhưng nó vẫn còn là tánh tư lợi. Vì vậy người ta
nói rằng,: “Cuộc sống thật là mệt mỏi, trống rỗng,
đờ đẫn, ngu xuẩn, phải có cái gì đó khác hơn nữa; tôi
sẽ đến đền chùa đó, đến nhà thờ đó, đến … đó.”
Và rồi người ta vất bỏ tất cả việc đó, và người ta
bắt đầu tìm kiếm sâu thẳm hơn. Nhưng tìm kiếm, trong bất
kỳ hình thức nào, trở thành một ngáng trở tâm lý. Tôi
nghĩ điều đó phải được thấy rất đơn giản và rõ ràng.
Theo khách quan người ta có lẽ gạt bỏ uy quyền của bất
kỳ tác nhân bên ngoài nào mà khẳng định dẫn đế sự thật
tối thượng, và người ta thực hiện việc đó. Nhưng gạt
bỏ bởi vì người ta hiểu rõ bản chất của tìm kiếm, gạt
bỏ mọi tìm kiếm, là cần thiết; bởi vì, người ta hỏi,:
“Người ta đang tìm kiếm cái gì?” Nếu bạn tìm hiểu chúng
ta đang tìm kiếm cái gì, chúng ta muốn cái gì, nó không hàm
ý tìm kiếm một cái gì đó mà bạn đã biết rồi, mà bạn
đã bị mất mát, và bạn cố gắng nắm bắt nó hay sao? Đó
là một trong những hàm ý của tìm kiếm. Trong tìm kiếm, có
liên hệ đến qui trình của công nhận – đó là ví dụ như,
khi bạn tìm được nó, dù nó là bất kỳ cái gì, bạn phải
có thể công nhận nó – nếu không tìm kiếm không có ý nghĩa
gì cả. Làm ơn, hãy theo sát điều này. Người ta tìm kiếm
một cái gì đó với hy vọng tìm được, và khi tìm được
nó, công nhận nó; nhưng công nhận là hành động của ký
ức; vì vậy có hàm ý rằng bạn đã biết nó rồi, rằng
bạn đã thoáng thấy nó rồi. Hay là, vì bạn bị quy định
quá nặng nề bởi sự truyền bá rộng rãi của tất cả những
tôn giáo có tổ chức, bạn tự nhớ lại một trạng thái.
Vì vậy khi bạn đang tìm kiếm, bạn đã có sẵn một ý tưởng,
một ý tưởng về cái gì bạn đang tìm kiếm, và khi bạn
tìm được nó, nó có nghĩa rằng bạn biết nó rồi, nếu
không bạn không thể cảm nhận nó. Vì lý do này nó không
là sự thật gì cả.
Vì
vậy người ta cần thấy trạng thái đó của cái trí mà thực
sự được tự do khỏi tất cả tìm kiếm, khỏi tất cả
niềm tin – mà không trở nên nghi ngờ, mà không làm trì trệ.
Dù chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng nếu chúng ta không tìm
kiếm, gắng sức, đấu tranh, lục soát – vô tận – chúng
ta sẽ tàn tạ đi. Và tôi không biết tại sao chúng ta không
tàn tạ đi – như thể là chúng ta không đang tàn tạ bây
giờ vậy. Người ta tàn tạ đi; khi người ta chết, khi người
ta già nua, những cơ quan vật chất kết thúc. Cuộc sống của
người ta là tiến hành của tàn tạ, bởi vì trong nó, trong
cuộc sống hàng ngày, chúng ta mô phỏng, bắt chước, tuân
theo, vâng lời, qui phục – mà là những hình thức của tàn
tạ. Vì vậy một cái trí mà không còn bị trói buộc trong
bất
kỳ hình thức nào của niềm tin, không còn bị trói buộc
trong niềm tin tự tạo, không đang tìm kiếm bất kỳ điều
gì – mặc dù điều đó có lẽ khá khẩn cấp – sinh động
cực kỳ. Sự thật là một cái gì đó chỉ từ khoảnh khắc
sang khoảnh khắc. Giống như đạo đức, giống như vẻ đẹp,
nó là cái gì đó không tiếp tục. Cái có tiếp tục là sản
phẩm của thời gian và thời gian là tư tưởng.
Khi
thấy điều gì con người đã làm cho chính anh ấy, anh ấy
đã hành hạ anh ấy, đã khiến anh ấy trở thành tàn bạo
như thế nào – quá kiêu hãnh trong chủ nghĩa quốc gia,
bị mất hút trong một dạng giải trí nào đó, dù nó là văn
chương, hay cái này hay cái kia – thấy được tất cả những
khuôn mẫu này của cuộc sống anh ấy, người ta hỏi chính
mình, người ta phải trải qua tất cả việc này hay sao? Bạn
hiểu rõ câu hỏi không? Một con người phải trải qua tất
cả tiến hành này, từng bước một – gạt bỏ niềm tin
(nếu bạn tỉnh thức), gạt bỏ bất kỳ hình thức tìm kiếm
nào, gạt bỏ sự hành hạ của cái trí, gạt bỏ sự buông
thả? Khi thấy việc gì con người đã gây ra cho chính anh ấy
với mục đích tìm được điều gì anh ấy gọi là sự thật,
người ta hỏi – liệu có một cách, hay liệu có một trạng
thái nổ tung mà gạt bỏ tất cả trong một hơi thở hay không?
Bởi vì thời gian không là phương cách.
Tìm
kiếm hàm ý thời gian – ví dụ như mười năm hay nhiều hơn,
hay cuối cùng tìm được qua sự đầu thai như toàn thể Châu
á tin tưởng. Tất cả việc này ngụ ý thời gian – quẳng
đi từ từ những xung đột này, những vấn đề này, trở
nên khôn ngoan hơn, ma mãnh hơn, được hiểu rõ dần dần –
từ từ tháo gỡ tình trạng bị quy định cho cái trí. Thời
gian hàm ý công việc đó. Rõ ràng thời gian không là phương
cách, cũng không là niềm tin, cũng không là những kỷ luật
giả tạo được áp đặt bởi một hệ thống, bởi một vị
đạo sư, bởi một vị thầy, bởi một triết gia, bởi một
giáo sĩ – tất cả điều đó quá ngây ngô. Vì vậy liệu
có thể không trải qua tất cả việc này và tuy nhiên lại
bất ngờ bắt gặp được sự việc lạ lùng đó hay không?
– bởi vì sự việc đó không thể được mời mọc. Làm
ơn hãy hiểu rõ sự kiện rất đơn giản này; nó không thể
được mời mọc, nó không thể được tìm kiếm; bởi vì
cái trí quá ngu xuẩn, quá nhỏ nhen, những cảm xúc của chúng
ta quá tầm thường, những cách sống của chúng ta quá rối
loạn cho cái vĩ đại đó, cho cái gì đó bao la được mời
mọc vào ngôi nhà nhỏ xíu đó, vào một căn phòng tầm thường
mặc dù ngăn nắp. Người ta không thể mời mọc nó. Muốn
mời mọc nó, bạn phải biết nó, và bạn không thể biết
nó (không đặt thành vấn đề ai nói như thế) bởi vì khoảnh
khắc bạn nói rằng “Tôi biết”, bạn không biết. Khoảnh
khắc bạn nói rằng bạn đã tìm được nó, bạn đã không
tìm được nó. Nếu bạn nói rằng bạn đã trải nghiệm nó,
bạn chưa bao giờ trải nghiệm nó. Đó là tất cả những
phương cách ma mãnh trục lợi một người khác – người
khác là người bạn của bạn hay kẻ thù của bạn.
Khi
thấy tất cả việc này – không phải từ sách báo, nhưng
trong cuộc sống hàng ngày, trong những hoạt động hàng ngày
của bạn, khi bạn nhặt lên một cây bút, khi bạn nói chuyện,
khi bạn lái xe ra ngoài hay khi bạn đang dạo bộ một mình
trong cánh rừng – thấy tất cả việc này trong chớp mắt
– bạn không phải đọc những quyển sách để tìm ra nó
– thấy tất cả việc này trong một hơi thở, trong một thoáng
nhìn, bạn có thể hiểu rõ toàn sự việc. Và bạn chỉ có
thể thực sự hiểu rõ điều này như một tổng thể khi bạn
hiểu rõ chính bạn, hiểu rõ chính bạn như bạn là, rất
đơn giản, như kết quả của tổng thể của nhân loại, dù
bạn là một người Ấn độ giáo, một người Hồi giáo,
một người Thiên chúa giáo, hay bạn là bất kỳ ai. Nó kìa.
Khi bạn hiểu rõ chính bạn như bạn là, vậy thì bạn hiểu
rõ toàn cấu trúc của sự nỗ lực của con người, những
dối gạt của anh ấy, tàn bạo của anh ấy, tìm kiếm của
anh ấy.
Và
người ta hỏi liệu có thể bất ngờ bắt gặp được sự
việc này mà không cần mời mọc, không cần mong đợi, không
cần tìm kiếm, không cần khám phá, cho cái đó đơn giản
được hiện hữu, cho nó đơn giản được xảy ra. Giống
như cơn gió mát mẻ ùa vào khi bạn để cửa sổ mở toang
– bạn không thể mời mọc cơn gió mát mẻ đó, nhưng bạn
phải để cửa sổ mở toang. Điều này không có nghĩa rằng
chúng ta ở trong trạng thái mong đợi – đó là một hình
thức khác của dối gạt; nó không có nghĩa rằng người ta
phải mở toang chính mình để đón tiếp – lại nữa điều
đó là một phương cách khác của tư tưởng.
Nhưng
nếu người ta hỏi chính mình mà không tìm kiếm, không tin
tưởng, vậy thì trong chính đang hỏi đó là đang tìm được.
Nhưng chúng ta không hỏi. Chúng ta muốn được chỉ bảo cho
biết, chúng ta muốn có mọi thứ được chứng thực, được
khẳng định; theo căn bản, sâu thẳm, chúng ta không bao giờ
được tự do khỏi mọi hình thức của uy quyền bên ngoài
hay bên trong. Đó là một trong những sự việc kỳ lạ nhất
trong cấu trúc tinh thần của chúng ta; tất cả chúng ta đều
muốn được chỉ bảo cho biết; chúng ta là kết quả của
điều gì chúng ta đã được chỉ bảo. Điều gì chúng ta
đã được chỉ bảo là sự truyền bá của hàng ngàn năm.
Có uy quyền của quyển sách cổ xưa, của vị lãnh đạo hiện
nay, hay của người nói. Nhưng nếu thực sự sâu thẳm người
ta phủ nhận mọi uy quyền, nó có nghĩa rằng người ta không
có những sợ hãi. Không có sợ hãi là nhìn vào sợ hãi, nhưng
giống như vui thú, chúng ta không bao giờ tiếp xúc trực tiếp
cùng sợ hãi. Chúng ta không bao giờ tiếp xúc cùng sợ hãi
như bạn tiếp xúc trực tiếp khi bạn sờ một cái cửa, một
bàn tay, một khuôn mặt, một cái cây; chúng ta chỉ tiếp xúc
trực tiếp cùng sợ hãi qua hình ảnh của sợ hãi mà chúng
ta đã tạo ra cho chính chúng ta. Chúng ta chỉ biết vui thú
qua những vui thú từng phần. Chúng ta không bao giờ tiếp xúc
trực tiếp cùng cái gì cả. Tôi không biết liệu bạn đã
theo dõi khi bạn sờ một cái cây hay không – như bạn làm
khi bạn đang dạo bộ trong cánh rừng – liệu bạn thực sự
đang sờ một cái cây? Hay có một bức màn giữa bạn và cái
cây, mặc dù bạn đang sờ nó? Trong cùng cách như vậy, với
mục đích tiếp xúc trực tiếp cùng sợ hãi phải không còn
hình ảnh, mà thực sự có nghĩa rằng đang không có ký ức
của sợ hãi ngày hôm qua. Vậy thì chỉ đến lúc đó bạn
mới có thể tiếp xúc thực sự cùng sợ hãi thực sự của
ngày hôm nay. Vậy thì, nếu không có ký ức của sợ hãi ngày
hôm qua, bạn có năng lượng để gặp gỡ sự sợ hãi tức
khắc, và bạn phải có một năng lượng lạ thường để
gặp gỡ hiện tại. Chúng ta lãng phí năng lượng đầy sinh
khí này – tất cả chúng ta đều như vậy – qua hình ảnh
này, qua công thức này, qua uy quyền này; và nó cũng như vậy
trong tìm kiếm vui thú. Sự theo đuổi vui thú rất quan trọng
với chúng ta. Vui thú vĩ đại nhất trong tất cả là Thượng
đế – giả sử là có – và đó có lẽ là sự việc kinh
hãi nhất mà bạn có thể chưa từng biết – nhưng chúng ta
đã tưởng tượng nó, cái tối thượng, vì vậy chúng ta không
bao giờ bất ngờ bắt gặp nó. Lại nữa, chính khi bạn đã
công nhận một vui thú như vui thú của ngày hôm qua; bạn thực
sự không bao giờ tiếp xúc trực tiếp cùng trải nghiệm thực
sự, một trạng thái thực sự. Luôn luôn là ký ức của ngày
hôm qua bao bọc và che giấu hiện tại.
Vì
vậy, khi thấy tất cả việc này, liệu có thể không làm
một việc gì, không cố gắng, không tìm kiếm, hoàn toàn phủ
nhận, hoàn toàn trống không, không có bất kỳ hành động
nào? Bởi vì mọi hành động là kết quả của ý tưởng hình
thành. Nếu bạn đã quan sát chính bạn đang hành động, bạn
sẽ thấy rằng nó xảy ra bởi vì một ý tưởng từ trước,
một khái niệm từ trước, một kỷ niệm từ trước. Có
một phân chia giữa ý tưởng và hành động, một khoảng ngừng
dù chớp nhoáng, dù chốc lát chừng nào chăng nữa, và bởi
vì phân chia đó có xung đột. Liệu cái trí có thể hoàn toàn
tĩnh lặng, không có suy nghĩ cũng không có sợ hãi, và vậy
là sinh động, mãnh liệt lạ thường?
Bạn
biết từ ngữ đam mê; từ ngữ đó thường được định
nghĩa là đau khổ; những người Thiên chúa giáo đã sử dụng
từ ngữ đó để diễn đạt hóa những hình thức nào đó
của đau khổ. Chúng ta không đang sử dụng từ ngữ đam mê
theo ý nghĩa đó. Trong trạng thái hoàn toàn của phủ nhận
là hình thức tột đỉnh của đam mê. Đam mê đó hàm ý tự
phủ nhận tổng thể cái tôi. Muốn tự phủ nhận tổng thể
cái tôi đó phải có mộc mạc vô cùng, mộc mạc mà không
là sự khắc khổ của vị giáo sĩ đang làm khổ sở con người,
của những vị thánh mà đã hành hạ chính họ, đã trở nên
khổ hạnh bởi vì họ đã đối xử hung bạo với những cái
trí của họ. Thật ra mộc mạc là tánh đơn giản lạ thường,
không phải trong quần áo, không phải trong thức ăn, nhưng
bên trong. Mộc mạc này, đam mê này, là hình thức tột đỉnh
của tự phủ nhận tổng thể cái tôi. Và rồi có lẽ, nếu
bạn may mắn – không có may mắn ở đó, cái đó đến không
mời mọc – lúc đó cái trí không thể nỗ lực. Vậy thì
bạn làm bất kỳ điều gì bạn muốn, bởi vì có tình yêu.
Nếu
không có cái trí tôn giáo này, một xã hội thực sự không
thể nào được sáng tạo. Chúng ta phải sáng tạo một xã
hội mới mẻ mà trong đó hoạt động khủng khiếp của tánh
tư lợi này không còn vị trí. Chỉ một cái trí tôn giáo
như thế mới có thể có hòa bình, bên trong cũng như bên ngoài.
Từ
quyển: Tự Do Đầu Tiên và Cuối Cùng – Chương 28
Người
hỏi: Cái trí của chúng ta chỉ biết cái đã được biết.
Điều gì trong chúng ta mà thúc đẩy chúng ta tìm ra cái không
biết được, sự thật, Thượng đế?
Krishnamurti:
Cái trí của bạn giục giã hướng về cái không biết được
à? Có một thôi thúc trong chúng ta để tìm kiếm cái không
biết được, tìm kiếm sự thật, tìm kiếm Thượng đế?
Làm ơn hãy suy nghĩ nó nghiêm túc. Đây không là một câu nói
hoa mỹ; thực sự chúng ta hãy tìm ra. Liệu có một giục giã
bên trong mỗi người chúng ta để tìm ra cái không biết được?
Có hay không? Làm thế nào bạn có thể tìm ra cái không biết
được? Nếu bạn không biết nó, làm thế nào bạn có thể
tìm ra nó? Liệu có một thôi thúc để tìm kiếm sự thật,
hay nó chỉ là một ham muốn cho cái đã được biết mở rộng
ra? Bạn hiểu điều gì tôi nói không? Tôi đã biết nhiều
sự việc; chúng đã cho tôi nhiều hạnh phúc, thỏa mãn, hân
hoan. Vì vậy bây giờ tôi đang muốn một cái gì khác nữa
mà sẽ cho tôi hân hoan lớn hơn, hạnh phúc lớn hơn, sinh lực
lớn hơn – bất kỳ điều gì bạn muốn. Liệu cái đã được
biết, mà là cái trí của tôi – bởi vì cái trí của tôi
là cái đã được biết, kết quả của quá khứ – liệu
cái trí đó có thể tìm được cái không biết được? Nếu
tôi không biết sự thật, làm thế nào tôi có thể tìm được
nó? Chắc chắn nó phải đến, tôi không phải tìm kiếm nó.
Nếu tôi tìm kiếm nó, tôi đang tìm kiếm một cái gì đó
mà là cái đã được biết, được chiếu rọi bởi tôi.
Vấn
đề của chúng ta không phải cái gì trong chúng ta mà thúc
đẩy chúng ta tìm ra cái không biết được. Điều đó rõ
ràng rồi; chính ham muốn riêng của chúng ta để được an
toàn hơn, bền vững hơn, cố định hơn, hạnh phúc hơn; để
tẩu thoát khỏi rối loạn, khỏi đau khổ, hoang mang. Đó là
động cơ rõ ràng của chúng ta. Khi có động cơ đó, thúc
giục đó, bạn sẽ tìm ra một tẩu thoát tuyệt vời, một
nơi trú ẩn tuyệt vời – trong Phật, trong Chúa, hay trong những
khẩu hiệu chính trị và mọi việc như thế. Đó không là
sự thật; đó không là cái không thể biết được, cái không
biết được. Vì vậy sự thôi thúc tìm kiếm cái không biết
được phải kết thúc, sự tìm kiếm cái không biết được
phải ngừng lại, mà có nghĩa rằng phải hiểu rõ cái đã
được biết đang tích lũy, mà là cái trí. Cái trí phải hiểu
rõ chính nó như cái đã được biết, bởi vì đó là tất
cả mà nó biết. Bạn không thể suy nghĩ về một điều gì
đó mà bạn không biết. Bạn chỉ có thể suy nghĩ về một
điều gì đó mà bạn biết.
Khó
khăn của chúng ta là làm cho cái trí không chuyển động trong
cái đã được biết; điều đó chỉ có thể xảy ra khi cái
trí hiểu rõ chính nó và tất cả chuyển động của nó như
thế nào từ quá khứ, đang chiếu rọi chính nó qua hiện tại
đến tương lai. Nó là một chuyển động liên tục của cái
đã được biết. Liệu chuyển động đó có thể kết thúc?
Nó có thể kết thúc chỉ khi nào hệ thống máy móc thuộc
qui trình riêng của nó được hiểu rõ, chỉ khi nào cái trí
tự hiểu rõ chính nó và những công việc của nó, những
phương cách của nó, những mục đích của nó, những theo
đuổi của nó, những đòi hỏi của nó – không chỉ những
đòi hỏi giả tạo nhưng những thôi thúc và những động
cơ sâu thẳm bên trong. Đây là một công việc quá gian nan.
Không chỉ trong một cuộc gặp gỡ hay tại một buổi diễn
thuyết hay bằng cách đọc một quyển sách mà bạn sẽ tìm
được. Trái lại, nó cần tỉnh thức liên tục, canh chừng
liên tục mọi chuyển động của tư tưởng, không chỉ khi
bạn thức giấc mà còn khi bạn đang ngủ. Nó phải là một
tiến hành tổng thể, không phải một tiến hành từng phần,
rời rạc.
Cũng
vậy, ý định phải đúng đắn. Đó là, phải có một kết
thúc của mê tín rằng bên trong tất cả chúng ta đều ao ước
cái không biết được. Chính là một ảo tưởng khi nghĩ rằng
tất cả chúng ta đang tìm kiếm Thượng đế; chúng ta không
như vậy. Chúng ta không phải tìm kiếm ánh sáng. Sẽ có ánh
sáng khi không còn bóng tối, và qua bóng tối chúng ta không
thể tìm được ánh sáng. Mọi điều chúng ta có thể làm
là cởi bỏ những rào chắn tạo ra bóng tối đó, và sự
cởi bỏ đó tùy thuộc vào ý định. Nếu bạn đang cởi bỏ
chúng với mục đích thấy ánh sáng, vậy thì bạn đang không
cởi bỏ bất kỳ thứ gì cả, bạn chỉ đang thay đổi từ
ngữ ánh sáng cho bóng tối. Thậm chí khi nhìn vượt khỏi
bóng tối là một tẩu thoát khỏi bóng tối.
Chúng
ta phải xem xét không phải cái gì đang thúc đẩy chúng ta,
nhưng tại sao chúng ta lại có hoang mang như thế, hỗn loạn
như thế, xung đột và hận thù như thế – tất cả những
ngu xuẩn trong sự hiện hữu của chúng ta. Khi những điều
này không còn, vậy thì có ánh sáng, chúng ta không phải tìm
kiếm nó. Khi ngu dốt không còn nữa, có thông minh. Nhưng con
người ngu dốt mà cố gắng trở nên thông minh vẫn còn ngu
dốt. Ngu dốt không bao giờ có thể chuyển thành thông minh;
chỉ khi nào ngu dốt biến mất mới có trí tuệ, thông minh.
Con người ngu dốt và cố gắng trở thành thông minh, trí tuệ,
rõ ràng không bao giờ có thể như thế. Muốn thấy điều
gì là ngu dốt người ta phải thâm nhập vào nó, không phải
hời hợt, nhưng trọn vẹn, tổng thể, sâu thẳm, thâm sâu;
người ta phải thâm nhập mọi tầng khác nhau của ngu dốt,
và khi có sự kết thúc của ngu dốt đó, có thông minh.
Vì
vậy rất quan trọng phải tìm ra không phải liệu có một
cái gì đó nhiều hơn, một cái gì đó to tát hơn cái đã
được biết, mà đang thôi thúc chúng ta đến cái không biết
được, nhưng trong chúng ta phải thấy được cái gì đang
tạo ra hoang mang, những cuộc chiến tranh, những phân biệt
giai cấp, sự hợm hĩnh, theo đuổi sự nổi tiếng, sự tích
lũy hiểu biết, sự tẩu thoát qua âm nhạc, qua nghệ thuật,
qua quá nhiều phương cách. Chắc chắn, rất quan trọng,
phải thấy chúng như chúng là và quay trở lại chính chúng
ta như chúng ta là. Từ đó chúng ta có thể tiến tới. Vậy
thì quẳng đi cái đã được biết tương đối dễ dàng. Khi
cái trí yên lặng, khi nó không còn đang chiếu rọi chính nó
vào tương lai, ao ước một điều gì đó, khi cái trí hoàn
toàn tĩnh lặng, hoàn toàn an bình, cái không biết được hiện
hữu. Bạn không phải tìm kiếm nó. Bạn không thể mời mọc
nó. Cái bạn có thể mời mọc chỉ là cái bạn biết. Bạn
không thể mời mọc một người khách không biết được.
Bạn chỉ có thể mời mọc người mà bạn biết rồi. Nhưng
bạn không biết cái không biết được, Thượng đế, sự
thật, hay cái gì bạn muốn. Nó phải đến. Nó có thể đến
chỉ khi nào cánh đồng thích hợp, khi đất màu được cày
xới, nhưng nếu bạn cày xới để mong ngóng nó đến, vậy
thì bạn sẽ không có nó.
Vấn
đề của chúng ta không phải làm thế nào để tìm kiếm cái
không thể biết được, nhưng hiểu rõ những qui trình tích
lũy của cái trí mà luôn luôn là cái đã được biết. Đó
là một công việc gian nan; nó đòi hỏi chú ý liên tục, một
tỉnh thức liên tục mà trong đó không có ý thức của xao
lãng, của nhận dạng, của chỉ trích; nó đang ở cùng cái
gì là. Vậy thì chỉ lúc đó cái trí mới có thể tĩnh lặng.
Không phương pháp thiền định, kỷ luật nào có thể làm
cho cái trí tĩnh lặng – trong ý nghĩa thực sự của từ ngữ.
Chỉ khi nào những cơn gió ngừng lại mặt hồ mới trở nên
yên lặng. Bạn không thể làm cho cái hồ yên lặng. Công việc
của chúng ta không là theo đuổi cái không thể biết được,
nhưng hiểu rõ sự hoang mang, hỗn loạn, đau khổ, trong chính
chúng ta. Và rồi cái đó lặng lẽ hiện diện mà trong đó
có hân hoan.
Từ
quyển: Cuộc Sống Trước Mặt, Chương 4
Người
hỏi: Thượng đế là gì?
Krishnamurti:
Làm thế nào bạn sẽ tìm ra đây? Bạn sẽ chấp nhận thông
tin của một người khác à? Hay bạn sẽ tự cố gắng khám
phá cho mình Thượng đế là gì? Rất dễ dàng khi đặt những
câu hỏi, nhưng trải nghiệm sự thật đòi hỏi nhiều thông
minh, nhiều tìm hiểu và tìm kiếm.
Vì
vậy câu hỏi đầu tiên là: bạn sẽ chấp nhận điều gì
một người khác nói về Thượng đế phải không? Không đặt
thành vấn đề người đó là ai, Krishna, Buddha, hay Christ, bởi
vì tất cả họ đều có lẽ sai lầm – và vì vậy vị đạo
sư đặc biệt riêng của bạn có lẽ cũng bị sai lầm. Chắc
chắn, muốn tìm ra điều gì là sự thật, cái trí của bạn
phải được tự do để tìm hiểu, mà có nghĩa rằng nó không
thể chấp nhận hay tin tưởng. Tôi có thể cho bạn một diễn
tả của sự thật, nhưng nó sẽ không giống như trải nghiệm
sự thật của chính bạn. Tất cả những quyển sách thiêng
liêng đều diễn tả Thượng đế là gì, nhưng những diễn
tả kia không là Thượng đế. Từ ngữ Thượng đế không
là Thượng đế, phải vậy không?
Muốn
tìm ra điều gì là sự thật bạn phải không bao giờ chấp
nhận, bạn phải không bao giờ bị ảnh hưởng bởi điều
gì những quyển sách, những vị thầy, hay bất kỳ người
nào có lẽ nói. Nếu bạn bị ảnh hưởng bởi họ, bạn sẽ
chỉ tìm được điều gì họ muốn bạn tìm. Và bạn phải
biết rằng cái trí riêng của bạn có thể sáng chế hình
ảnh của điều gì nó muốn; nó có thể sáng chế ra Thượng
đế với bộ râu quai nón, hay với một con mắt; nó có thể
khiến Ngài thành màu xanh hay màu tím. Vì vậy bạn phải tỉnh
thức được những ham muốn riêng của bạn và không bị lừa
gạt bởi những chiếu rọi của những đòi hỏi và ao ước
riêng của bạn. Nếu bạn ao ước gặp Thượng đế trong một
hình thức nào đó, hình ảnh bạn thấy sẽ tùy thuộc vào
những ao ước của bạn, và hình ảnh đó sẽ không là Thượng
đế, phải vậy không? Nếu bạn đang đau khổ và muốn được
an ủi, hay nếu bạn có cảm tính và lãng mạn trong cảm hứng
tôn giáo của bạn, cuối cùng bạn sẽ tạo ra một vị Thượng
đế mà sẽ cung cấp điều gì bạn muốn, nhưng vẫn vậy
nó sẽ không là Thượng đế.
Vì
vậy cái trí của bạn phải hoàn toàn được tự do, và chỉ
đến lúc đó bạn mới có thể tìm ra điều gì là sự thật
– không phải bằng cách chấp nhận điều mê tín nào đó,
cũng không phải bằng cách đọc những quyển sách tạm gọi
là thiêng liêng, cũng không phải bạn bằng cách tuân theo một
vị đạo sư nào đó. Chỉ khi nào bạn có được tự do này,
tự do thực sự này khỏi những ảnh hưởng bên ngoài cũng
như khỏi những ham muốn và ao ước riêng của bạn để cho
cái trí của bạn rất rõ ràng – vậy thì chỉ lúc đó mới
có thể tìm được Thượng đế là gì. Nhưng nếu bạn chỉ
ngồi xuống và suy đoán vậy thì suy đoán của bạn cũng giỏi
bằng suy đoán của vị đạo sư của bạn, và ảo tưởng
lại bằng nhau.
Người
hỏi: Chúng ta có thể tỉnh thức được những ham muốn không
ý thức được của chúng ta hay không?
Krishnamurti:
Trước hết, bạn có tỉnh thức được những ham muốn có
ý thức của bạn hay không? Bạn biết ham muốn là gì hay không?
Bạn có biết rằng thường thường bạn không lắng nghe bất
kỳ ai đang nói một điều gì đó đối nghịch với điều
gì bạn tin tưởng hay không? Ham muốn của bạn ngăn cản bạn
không lắng nghe. Nếu bạn ham muốn Thượng đế, và một ai
đó chỉ rõ rằng vị Thượng đế mà bạn ham muốn là kết
quả của những thất vọng và sợ hãi của bạn, liệu bạn
có lắng nghe anh ấy hay không? Dĩ nhiên là không? Bạn muốn
một việc, và sự thật là cái gì đó hoàn toàn khác hẳn.
Bạn tự giới hạn chính mình trong những ham muốn riêng của
bạn. Bạn chỉ tỉnh thức nửa vời được những ham muốn
có ý thức của bạn, phải vậy không? Và muốn tỉnh thức
được những ham muốn được giấu giếm sâu thẳm còn khó
khăn hơn nhiều. Muốn tìm ra điều gì được giấu giếm,
muốn phát giác những động cơ riêng của nó là gì, cái trí
mà đang tìm kiếm phải rất rõ ràng và tự do. Vì vậy trước
hết phải hoàn toàn tỉnh thức được những ham muốn có
ý thức của bạn; sau đó, bởi vì mỗi lúc bạn đang gia tăng
sự tỉnh thức được cái gì là trên bề mặt, bạn có thể
đi sâu thẳm hơn và sâu thẳm hơn.
Từ
quyển: Cuộc Sống Trước Mặt , Chương 7
với
Những Người Trẻ
Người
hỏi: Cách dễ dàng nhất để tìm được Thượng đế là
gì?
Krishnamurti:
Tôi e rằng không có cách dễ dàng, bởi vì tìm được Thượng
đế là công việc khó khăn nhất, một việc gian khổ nhất.
Điều gì chúng ta gọi là Thượng đế không là điều gì
mà cái trí sáng chế. Bạn biết cái trí là gì không? Cái
trí là kết quả của thời gian, và nó có thể sáng chế bất
kỳ cái gì, bất kỳ ảo tưởng nào. Nó có khả năng sáng
chế những ý tưởng, tự chiếu rọi chính nó trong những
ảo tưởng, trong tưởng tượng; nó liên tục tích lũy, đang
loại bỏ, đang chọn lựa. Vì có thành kiến, chật hẹp, bị
giới hạn, cái trí có thể vẽ lên hình tượng Thượng đế,
nó có thể tưởng tượng Thượng đế là gì tùy theo những
giới hạn riêng của nó. Bởi vì những vị thầy, những vị
giáo sĩ, và những vị tạm gọi là cứu rỗi nào đó đã
nói rằng có Thượng đế và đã mô tả ông ấy, cái trí
có thể tưởng tượng Thượng đế trong những quy định đó,
nhưng hình ảnh đó không là Thượng đế. Thượng đế là
điều gì đó mà không thể tìm được bởi cái trí.
Muốn
hiểu rõ Thượng đế, trước hết bạn phải hiểu rõ cái
trí riêng của bạn. Điều đó rất khó khăn. Cái trí rất
phức tạp và muốn hiểu rõ nó không phải dễ dàng. Nhưng
lại rất dễ dàng khi ngồi xuống và chìm vào một giấc mộng
nào đó, có những tầm nhìn, những ảo tưởng khác biệt,
rồi sau đó nghĩ rằng bạn rất gần Thượng đế. Cái trí
có thể tự dối gạt chính nó ghê lắm. Vì vậy muốn trải
nghiệm thực sự điều đó mà có lẽ được gọi là Thượng
đế, bạn phải hoàn toàn tĩnh lặng – và bộ bạn không
phát giác rằng điều đó khó khăn cực kỳ à? Bạn không
thấy là ngay cả những người lớn tuổi hơn cũng không bao
giờ ngồi yên lặng, họ luôn luôn bồn chồn, họ luôn luôn
cựa quậy ngón chân của họ và chuyển động bàn tay của
họ hay sao? Theo phần thân thể thật khó khăn khi ngồi yên
lặng, và nó càng khó khăn biết bao để cho cái trí được
tĩnh lặng. Bạn có lẽ tuân theo vị đạo sư nào đó và cưỡng
bách cái trí của bạn tĩnh lặng; nhưng cái trí của bạn
không thực sự tĩnh lặng. Nó vẫn khuấy động, giống như
đứa bé bị bắt đứng ở góc tường. Cái trí được hoàn
toàn tĩnh lặng mà không có bất kỳ ép buộc nào là một
nghệ thuật tuyệt vời, và chỉ lúc đó mới có thể có trải
nghiệm cái đó mà có lẽ được gọi là Thượng đế.
Người
hỏi: Thượng đế ở khắp mọi nơi phải không?
Krishnamurti:
Bạn có thực sự thích thú để tìm ra hay không? Bạn đặt
những câu hỏi, và sau đó không còn hứng thú; bạn không
lắng nghe. Bạn có biết tại sao những người lớn hơn hầu
như không bao giờ lắng nghe bạn? Hiếm khi họ lắng nghe bạn
bởi vì họ bị vây bủa trong những tư tưởng riêng của
họ, trong những cảm xúc riêng của họ, trong những thỏa
mãn và đau khổ riêng của họ. Tôi hy vọng bạn đã nhận
ra điều này. Nếu bạn biết quan sát và biết lắng nghe, thực
sự lắng nghe, bạn sẽ tìm ra nhiều sự việc, không chỉ
về con người nhưng còn về thế giới.
Ở
đây cậu bé này đang hỏi Thượng đế có ở khắp mọi nơi
hay không. Cậu ấy còn khá trẻ để đặt câu hỏi đó. Cậu
ấy không biết được nó thực sự có ý nghĩa gì. Cậu ấy
có lẽ thấy mơ hồ về điều gì đó – cảm thấy của vẻ
đẹp, nhận biết chim chóc trong bầu trời, dòng nước đang
chảy, một khuôn mặt trong sáng đang mỉm cười, một chiếc
lá đang tung tăng trong cơn gió, một người phụ nữ đang vác
một bó nặng. Và có tức giận, ồn ào, đau buồn – tất
cả việc đó trong không gian. Vì vậy tự nhiên cậu ấy quan
tâm và băn khoăn muốn tìm ra cuộc sống là gì. Cậu ấy nghe
những người lớn hơn nói về Thượng đế, và cậu ấy thắc
mắc. Rất quan trọng cho cậu ấy nên đặt một câu hỏi như
thế, phải vậy không? Và cũng quan trọng như thế cho tất
cả các bạn phải tìm được câu trả lời; bởi vì, như
tôi đã nói ngày hôm trước, bạn sẽ bắt đầu nắm bắt
được ý nghĩa của tất cả việc này ở bên trong, không
ý thức được, thăm thẳm; và rồi khi bạn lớn lên, bạn
sẽ có những hàm ý của những sự việc khác ngoài cái thế
giới xấu xa của đấu tranh này. Thế giới rất đẹp đẽ,
quả đất thật trù phú, nhưng chúng ta là những người phá
hỏng nó.
Người
hỏi: Mục đích thực sự của cuộc sống là gì?
Krishnamurti:
Đầu tiên nó là cái gì bạn tạo thành nó. Nó là cái gì
bạn tạo thành cuộc sống.
Người
hỏi: Vì sự thật được quan tâm đến, nó phải là điều
gì đó khác nữa. Tôi không đặc biệt thích thú cho một mục
đích cá thể, nhưng tôi muốn biết điều gì là mục đích
cho mọi người.
Krishnamurti:
Làm thế nào bạn sẽ tìm được? Ai sẽ chỉ cho bạn? Bạn
có thể khám phá điều đó bằng cách đọc sách hay sao? Nếu
bạn đọc sách, một tác giả có lẽ cho bạn một phương
pháp đặc biệt, trái lại một tác giả khác có lẽ trao tặng
một phương pháp hoàn toàn khác hẳn. Nếu bạn tìm đến một
người đang đau khổ, anh ấy sẽ nói rằng mục đích của
cuộc sống là hạnh phúc. Nếu bạn tìm đến một con người
đang chết đói, anh ấy đã không có đầy đủ lương thực
trong nhiều năm, mục đích của anh ấy là được ăn uống
no nê. Nếu bạn tìm đến một nhà chính trị, mục đích của
anh ấy là trở thành một trong những người điều khiển,
một trong những người cai trị của thế giới. Nếu bạn
hỏi một phụ nữ trẻ, cô ấy sẽ nói rằng, “Mục đích
của tôi là có được một em bé.” Nếu bạn tìm đến một
vị khất sĩ, mục đích của anh ấy là tìm được Thượng
đế. Mục đích, ham muốn sâu thẳm của con người thông thường
là tìm ra cái gì đó gây thỏa mãn, gây dễ chịu; họ muốn
một hình thức an toàn, an ninh nào đó, để cho họ sẽ không
còn những ngờ vực, không còn những nghi vấn, không còn lo
âu, không còn sợ hãi. Hầu hết chúng ta đều muốn một cái
gì đó vĩnh cửu để chúng ta có thể bám víu, phải vậy
không?
Vì
vậy mục đích chung của cuộc sống cho con người là một
loại hy vọng nào đó, một loại an toàn nào đó, một loại
vĩnh cửu nào đó. Đừng hỏi rằng, “Đó là tất cả à?”
Đó là sự kiện ngay lập tức, và đầu tiên bạn phải hoàn
toàn quen thuộc với việc đó. Bạn phải nghi vấn tất cả
việc đó – mà có nghĩa rằng, bạn phải tự nghi vấn chính
bạn. Mục đích chung của cuộc sống con người được phủ
dày trong bạn, bởi vì bạn là thành phần của tổng thể.
Chính bạn muốn an toàn, vĩnh cửu, hạnh phúc; bạn muốn cái
gì đó để bám víu.
Bây
giờ muốn tìm ra cái gì đó vượt khỏi, một sự thật nào
đó không thuộc cái trí, tất cả những ảo tưởng của cái
trí phải được kết thúc; đó là, bạn phải hiểu rõ chúng
và gạt chúng đi. Chỉ lúc đó bạn mới có thể tìm được
sự thật thực sự, liệu có một mục đích hay không? Khi
khẳng định rằng phải có một mục đích, hay tin tưởng
rằng có một mục đích, chỉ hoàn toàn là một ảo tưởng
khác mà thôi. Nhưng nếu bạn có thể nghi vấn tất cả những
xung đột, những đấu tranh, những đau khổ, những hão huyền,
những tham vọng, những hy vọng, những sợ hãi của bạn và
thâm nhập chúng, vượt khỏi chúng và trên chúng, vậy thì
bạn sẽ tìm ra.
Người
hỏi: Nếu tôi phát triển những khả năng cao hơn liệu cuối
cùng tôi sẽ thấy được cái tối thượng chứ?
Krishnamurti:
Làm thế nào bạn có thể thấy cái tối thượng khi còn nhiều
chướng ngại giữa bạn và cái đó? Đầu tiên bạn phải
gỡ bỏ những chướng ngại. Bạn không thể ngồi trong một
căn phòng đóng kín cửa mà biết được không khí trong lành
như thế nào. Muốn có không khí trong lành bạn phải mở toang
những cửa sổ. Gíống như vậy, bạn phải thấy được tất
cả những trở ngại, những giới hạn và tình trạng bị
quy định bên trong chính bạn; bạn phải hiểu rõ chúng và
gạt chúng đi. Sau đó bạn sẽ tìm ra. Nhưng chỉ ngồi ở
bên này và cố gắng tìm ra cái gì ở bên kia chẳng có ý
nghĩa bao nhiêu.
Từ
quyển: Bình phẩm về cuộc sống
Quyển
đầu tiên, Chương 18.
Những
cái bóng chiều đổ dài trên những dòng nước đứng yên,
và sau một ngày con sông trở nên yên lặng. Những con cá đang
tung tăng vọt khỏi mặt nước, và những con chim to lớn đang
bay đến để trú đêm trong những cây to. Không một đám mây
trong bầu trời, màu xanh bạc. Một con thuyền đầy người
đang trôi qua dòng nước; họ đang vỗ nhịp ca hát, và một
con bò rống lên ở xa xa. Có mùi hương của chiều tối. Một
vòng hoa màu vàng rực đang lung linh theo cùng dòng nước lấp
lánh trong ánh hoàng hôn. Tất cả đều sinh động và đẹp
làm sao – con sông, những con chim, cây cối và dân làng.
Chúng
tôi đang ngồi dưới một cái cây, nhìn ra con sông. Gần cái
cây là một ngôi đền nhỏ, một vài con bò dơ xương đang
lang thang. Ngôi đền sạch sẽ và được quét dọn đều đặn,
và những bụi hoa được tưới nước và chăm sóc cẩn thận.
Một người đàn ông đang thực hiện nghi lễ buổi chiều
của ông ấy, giọng đọc kinh của ông ấy nhẫn nại và buồn
thảm. Dưới những tia nắng cuối cùng của mặt trời, dòng
nước là màu sắc tinh anh của những đóa hoa vừa nở. Lúc
này một ai đó tham gia cùng chúng tôi và bắt đầu nói về
những trải nghiệm của ông ấy. Ông ấy nói rằng ông ấy
đã hiến dâng nhiều năm của cuộc đời để tìm kiếm Thượng
đế, đã luyện tập nhiều khổ hạnh và từ bỏ nhiều sự
việc quý báu. Ông ấy cũng đã giúp đỡ khá nhiều trong công
việc từ thiện, trong xây dựng một ngôi trường, và vân
vân. Ông ấy quan tâm đến nhiều sự việc, nhưng quan tâm
lớn lao nhất của ông ấy là tìm được Thượng đế, và
bây giờ, sau nhiều năm, tiếng nói của Ngài đang được nghe,
và nó đã hướng dẫn ông ấy trong những sự việc to tát
lẫn nhỏ nhoi. Ông ấy không có ý muốn riêng, nhưng tuân theo
tiếng nói bên trong của Thượng đế. Nó không bao giờ lừa
dối ông ấy, dù ông ấy thường làm hư hỏng sự minh bạch
của nó; lời cầu nguyện của ông ấy luôn luôn dành cho sự
tinh khiết của con tàu bao la, mà nó có lẽ xứng đáng nhận
được.
Liệu
cái không đo lường được có thể được tìm ra bởi bạn
và tôi? Liệu cái không thời gian có thể được tìm ra bởi
cái bị quy định trong thời gian? Liệu một kỷ luật được
rèn luyện nghiêm ngặt có thể dẫn dắt chúng ta đến cái
không biết được? Liệu có một phương tiện chỉ đường
vào cái không khởi đầu lẫn không kết thúc? Liệu sự thật
đó có thể bị trói buộc trong mạng lưới của những ham
muốn của chúng ta? Điều gì chúng ta có thể nắm bắt là
sự chiếu rọi của cái đã được biết; nhưng cái không
biết được không thể bị nắm bắt bởi cái đã được
biết. Cái có danh tính không là cái không danh tính, và qua
danh tính chúng ta chỉ đánh thức những phản hồi bị quy
định. Những phản hồi này, dù cao quý hoặc thanh tao, không
thuộc về sự thật. Chúng ta phản hồi đến những kích thích,
nhưng sự thật không dâng tặng những kích thích: Nó là.
Cái
trí chuyển động từ cái đã được biết sang cái đã được
biết, và nó không thể vươn ra ngoài vào cái không biết được.
Bạn không thể suy nghĩ về cái gì đó mà bạn không biết;
điều đó không thể được. Điều gì bạn suy nghĩ, xuất
phát từ cái đã được biết, quá khứ, dù rằng quá khứ
đó ở thật xa, hay một giây vừa trôi qua. Quá khứ này là
tư tưởng, bị định hình và bị điều kiện bởi nhiều
ảnh hưởng, tự bổ sung chính nó theo những hoàn cảnh và
những áp lực, nhưng luôn luôn vẫn còn là một qui trình của
thời gian. Tư tưởng chỉ có thể phủ nhận hay khẳng định,
nó không thể khám phá hay tìm được cái mới mẻ. Tư tưởng
không thể bắt gặp cái mới mẻ, nhưng khi tư tưởng yên
lặng, vậy thì có lẽ có cái mới mẻ – mà ngay tức khắc
bị chuyển đổi thành cái cũ kỹ, thành cái đã được trải
nghiệm, bởi tư tưởng. Tư tưởng luôn luôn đang định hình,
đang bổ sung, đang tô màu tùy theo một khuôn mẫu của trải
nghiệm. Chức năng của tư tưởng là truyền đạt nhưng không
ở trong trạng thái của đang trải nghiệm. Khi đang trải nghiệm
chấm dứt, liền đó tư tưởng đảm đương và định hình
nó bên trong bảng phân loại của cái đã được biết. Tư
tưởng không thể thâm nhập cái không biết được, và vì
vậy nó không bao giờ có thể khám phá hay trải nghiệm sự
thật.
Những
kỷ luật, những từ bỏ, sự tách rời, những nghi lễ, sự
rèn luyện đạo đức – tất cả những việc này, dù cao
quý như thế nào, đều là qui trình của tư tưởng; và tư
tưởng chỉ có thể làm việc hướng về một kết thúc, hướng
về một thành tựu, mà luôn luôn là cái đã được biết.
Thành tựu là an toàn, một chắc chắn tự bảo vệ của cái
đã được biết. Tìm kiếm an toàn trong cái không danh tính
là phủ nhận nó. Sự an toàn có lẽ được tìm ra chỉ ở
trong sự chiếu rọi của quá khứ, của cái đã được biết.
Vì lý do này cái trí phải thăm thẳm và tuyệt đối tĩnh
lặng; nhưng tĩnh lặng này không thể được theo đuổi qua
hy sinh, thăng hoa, hay đè nén. Tĩnh lặng này đến khi cái trí
không còn đang tìm kiếm, không còn bị trói buộc trong qui
trình của trở thành. Tĩnh lặng này không tích lũy được,
nó không được phép vun đắp qua luyện tập. Tĩnh lặng phải
hiện diện không biết được cho cái trí giống như cái không
thời gian; bởi vì nếu cái trí trải nghiệm tĩnh lặng, vậy
thì có người trải nghiệm mà là kết quả của những trải
nghiệm quá khứ, mà là sự công nhận của một tĩnh lặng
quá khứ; và cái gì được trải nghiệm bởi người trải
nghiệm chỉ là một lặp lại tự chiếu rọi. Cái trí không
bao giờ có thể trải nghiệm cái mới mẻ, và vì vậy cái
trí phải tuyệt đối tĩnh lặng.
Cái
trí có thể tĩnh lặng chỉ khi nào nó không đang trải nghiệm,
đó là, khi nó không đang định hình hay đặt tên, đang ghi
lại hay đang lưu trữ trong ký ức. Đang định hình và đang
đặt tên này là một qui trình liên tục thuộc những tầng
khác nhau của ý thức, không chỉ thuộc cái trí tầng ý thức
bên ngoài. Nhưng khi cái trí bên ngoài tĩnh lặng, cái trí sâu
thẳm hơn có thể đưa ra những hàm ý của nó. Khi ý thức
tổng thể tĩnh lặng và yên ổn, tự do khỏi tất cả trở
thành, mà là tự phát, vậy thì chỉ lúc đó cái không thể
đo lường mới hiện hữu. Ham muốn duy trì tự do này trao
tặng sự tiếp tục đến ký ức của người trở thành, mà
là một ngáng trở sự thật. Sự thật không tiếp tục; nó
từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc, luôn luôn mới mẻ, luôn
luôn trong sáng. Cái gì có tiếp tục không bao giờ có thể
là sáng tạo.
Cái
trí bên ngoài chỉ là một dụng cụ của truyền đạt, nó
không thể đo lường cái không thể đo lường được.
Sự thật không dành cho diễn đạt; khi nó được diễn đạt,
nó không là sự thật.
Đây
là thiền định.
Bombay,
ngày 3 tháng 3 năm 1965
Đối
với tôi có vẻ rằng qua quá nhiều thế kỷ con người đã
luôn luôn tìm kiếm hòa bình, tự do, và một trạng thái hạnh
phúc vô cùng mà anh ấy gọi là Thượng đế. Anh ấy đã tìm
kiếm nó dưới nhiều danh tính khác nhau và ở nhiều thời
điểm khác nhau trong lịch sử, và rõ ràng chỉ một ít người
đã tìm được ý thức bên trong của an bình, tự do vô hạn
đó, và trạng thái đó mà con người đã gọi là Thượng
đế. Trong thời hiện đại nó trở thành sự việc chẳng
quan trọng bao nhiêu; chúng ta sử dụng từ ngữ Thượng đế
mà chẳng còn bao nhiêu ý nghĩa. Chúng ta luôn luôn đang tìm
kiếm một trạng thái của hạnh phúc vô cùng, an bình và tự
do khỏi thế giới này, và chúng ta bay bổng trong những hình
thức khác nhau khỏi thế giới này để tìm ra cái gì đó
mà sẽ vĩnh cửu, mà sẽ cho chúng ta thiêng liêng và thiên
đàng, mà sẽ cho chúng ta một ý thức nào đó của tĩnh lặng
thăm thẳm bên trong. Dù người ta tin tưởng Thượng đế hay
không đều lệ thuộc vào ảnh hưởng tinh thần, truyền thống,
môi trường sống. Muốn tìm ra trạng thái hạnh phúc vô cùng
đó, tự do đó, an bình lạ thường đó, nó phải là một
sự việc đang sống. Tôi nghĩ người ta phải hiểu rõ tại
sao người ta không thể đối diện sự kiện và thay đổi
sự kiện, và nhờ vậy vượt khỏi nó.
Tôi
muốn, nếu tôi được phép nói – hay đúng hơn cùng nhau chuyển
tải – tại sao chúng ta luôn luôn trao nhiều quan trọng như
thế cho ý tưởng chứ không phải hành động. Mặc dù chúng
ta đã nói về nó trong nhiều cách khác nhau và vào những thời
điểm khác nhau, tôi muốn tìm hiểu nó trong một cách khác,
bởi vì dường như đối với tôi chúng ta có trách nhiệm
hoàn toàn, tổng thể đối với xã hội trong đó chúng ta đang
sống. Đối với sự đau khổ, sự hoang mang, sự hung bạo
khủng khiếp của sự tồn tại hiện đại, mỗi người
chúng ta phải chịu trách nhiệm hoàn toàn và tổng thể. Chúng
ta không thể tẩu thoát nó; chúng ta phải thay đổi nó. Con
người là bộ phận của xã hội và đã tạo ra xã hội này
– anh ấy hoàn toàn và tổng thể chịu trách nhiệm cho việc
này – anh ấy phải thay đổi nó; và tạo ra một chuyển đổi,
một thay đổi bên trong chính anh ấy và nhờ vậy bên trong
khuôn mẫu của xã hội, chỉ có thể được khi anh ấy hoàn
toàn kết thúc sự tẩu thoát vào những ý tưởng.
Thượng
đế là một ý tưởng lệ thuộc vào môi trường sống, hoàn
cảnh, và truyền thống mà trong đó bạn đã được nuôi dưỡng.
Trong thế giới Cộng sản, lệ thuộc vào những hoàn cảnh
đó, con người không tin tưởng Thượng đế. Ở đây bạn
lệ thuộc vào những hoàn cảnh của bạn, vào cuộc sống
của bạn, và vào truyền thống của bạn, và bạn đã dựng
lên ý tưởng của bạn. Người ta phải tự giải thoát chính
mình khỏi những hoàn cảnh này, khỏi xã hội; chỉ đến
lúc đó, trong tự do này, một con người mới có thể tìm
được cái là sự thật. Nhưng chỉ tẩu thoát vào một ý
tưởng được gọi là Thượng đế không giải quyết được
vấn đề gì cả.
“Thượng
đế” – hay bất kỳ cái tên nào khác mà bạn muốn sử
dụng – là sự sáng chế ma mãnh của con người, và chúng
ta che đậy sự sáng chế đó, sự ma mãnh đó,, bằng hương
trầm, bằng lễ nghi, bằng nhiều hình thức khác nhau của
niềm tin, những giáo điều, tách rời con người như những
người Thiên chúa giáo, những người Ấn độ giáo, những
người Hồi giáo, những người Parsis, những người Phật
giáo – tất cả cấu trúc ma mãnh khôn ngoan được sáng chế
bởi con người. Con người, vì đã sáng chế ra nó, bị trói
buộc trong nó. Nếu không hiểu rõ thế giới hiện nay, thế
giới anh ấy sống trong nó – thế giới đau khổ của anh
ấy, thế giới hoang mang, sầu muộn, lo âu, thất vọng của
anh ấy và sự thống khổ của tồn tại, cô độc hoàn toàn,
ý thức của sự vô ích hoàn toàn của cuộc sống – nếu
không hiểu rõ tất cả việc đó, chỉ có vô số những ý
tưởng, dù thỏa mãn đến chừng nào, không giá trị gì cả.
Rất
quan trọng phải hiểu rõ tại sao chúng ta tạo ra hay hình thành
một ý tưởng. Tại sao cái trí hình thành một ý tưởng?
Tôi có ý qua từ ngữ đang hình thành, đang tạo ra một cấu
trúc của những ý tưởng thuộc triết lý hay lý luận hay
nhân văn hay duy vật. Ý tưởng là tư tưởng đã được tổ
chức; trong tư tưởng, niềm tin, ý tưởng đã được tổ
chức đó, con người sống. Đó là điều gì tất cả chúng
ta đều làm, dù chúng ta là người tôn giáo hay không tôn giáo.
Tôi nghĩ rất quan trọng phải tìm ra tại sao con người qua
bao nhiêu thời đại đã cho một quan trọng lạ kỳ như thế
đến những ý tưởng. Tại sao chúng ta hình thành những ý
tưởng? … Chúng ta hình thành những ý tưởng, nếu người
ta quan sát chính mình, khi không có chú ý. Khi bạn hoàn toàn
năng động, mà đòi hỏi chú ý tổng thể – mà là hành động
– trong đó không có ý tưởng; bạn đang hành động.
Làm
ơn, nếu tôi được phép đề nghị, chỉ lắng nghe. Đừng
chấp nhận hay phủ nhận; đừng dựng lên những phòng vệ
để ngăn cản lắng nghe, bằng cách có những tư tưởng, những
niềm tin, những mâu thuẫn riêng của bạn, và tất cả việc
đó. Nhưng chỉ lắng nghe. Chúng ta không đang cố gắng thuyết
phục bạn về bất kỳ điều gì; chúng ta không đang cưỡng
bách bạn qua bất kỳ phương tiện nào để tuân phục vào
một ý tưởng, hay một khuôn mẫu, hay một hành động đặc
biệt. Chúng ta chỉ đang phát biểu những sự kiện – dù
bạn ưa thích hay không ưa thích nó – và điều quan trọng
là học hỏi về sự kiện. “Học hỏi” ngụ ý lắng nghe
tổng thể, một quan sát trọn vẹn. Khi bạn lắng nghe âm thanh
của con quạ (trong cây cối nơi ông ta đang nói), đừng lắng
nghe bằng những ồn ào riêng của bạn, bằng những sợ hãi
riêng của bạn, bằng những tư tưởng, bằng những ý kiến
riêng của bạn, bằng những quan điểm riêng của bạn. Vậy
là bạn sẽ thấy rằng không có ý tưởng gì cả, nhưng bạn
đang thực sự lắng nghe.
Trong
cùng cách, nếu tôi được phép đề nghị, chỉ lắng nghe.
Chỉ lắng nghe, không chỉ tầng ý thức bên ngoài nhưng cả
tầng ý thức sâu thẳm – mà có lẽ còn quan trọng hơn nhiều.
Hầu hết chúng ta đều bị ảnh hưởng. Chúng ta có thể phủ
nhận những ảnh hưởng của tầng ý thức bên ngoài; nhưng
xóa sạch những ảnh hưởng của tầng ý thức bên trong còn
khó khăn vô vàn. Khi bạn đang lắng nghe trong cách này, lúc
đó nó là lắng nghe không có cả tầng ý thức bên ngoài lẫn
bên trong. Lúc đó bạn chú ý tổng thể. Và chú ý không là
chú ý của bạn hay của tôi; nó không thuộc quốc gia, không
thuộc tôn giáo, nó không thể phân chia được. Khi bạn đang
lắng nghe tổng thể như thế, không ý tưởng; chỉ có một
trạng thái lắng nghe. Hầu hết chúng ta làm việc này khi chúng
ta đang lắng nghe một điều gì đó khá hay ho, khi có tiếng
nhạc cuốn hút, hay khi bạn đang thấy một hòn núi, ánh sáng
chiều hôm, hay ánh sáng trên dòng nước, hay một đám mây.
Vậy thì trong trạng thái chú ý đó, trong trạng thái đang
lắng nghe, đang thấy đó, không có ý tưởng.
Giống
như vậy, nếu bạn có thể lắng nghe thật thanh thản, đầy
chú ý không nỗ lực đó, vậy thì có lẽ bạn sẽ thấy được
sự quan trọng quá nhiều của ý tưởng và hành động. Hầu
hết chúng ta hình thành những ý tưởng khi không chú ý. Chúng
ta tạo ra hay lập thành những ý tưởng khi những ý tưởng
đó cho chúng ta sự an toàn, một ý thức của vĩnh cửu. Và
ý thức của vĩnh cửu đó, ý thức của an toàn đó, tạo
ra những ý tưởng, và chúng ta tẩu thoát vào những ý tưởng
đó; và vì vậy không có hành động. Chúng ta sáng chế hay
hình thành những ý tưởng khi chúng ta hoàn toàn không hiểu
rõ cái là. Vì vậy những ý tưởng trở thành quan trọng nhiều
hơn sự kiện.
Muốn
tìm ra, thực sự muốn tìm ra sự thật – liệu có Thượng
đế, hay không có Thượng đế, những ý tưởng không có ý
nghĩa gì cả. Dù bạn tin tưởng hay không tin tưởng, dù bạn
là người có tín ngưỡng hay không tín ngưỡng, không có ý
nghĩa gì cả. Muốn tìm ra, bạn cần tất cả năng lượng
của bạn, năng lượng mà không bị vấy bẩn, không bị hỗn
tạp, năng lượng mà không bị biến chất, không bị hư hỏng.
Vì
vậy muốn hiểu rõ, muốn tìm ra liệu có một sự việc gọi
là sự thật đó mà con người đã tìm kiếm trong nhiều triệu
năm, người ta phải có năng lượng – năng lượng tổng thể
nguyên vẹn, không bị vấy bẩn. Và để mang lại năng lượng
đó, chúng ta phải hiểu rõ nỗ lực.
Hầu
hết chúng ta dành cuộc sống của chúng ta trong nỗ lực, trong
đấu tranh, và nỗ lực, đấu tranh, cố gắng, là một lãng
phí của năng lượng đó. Con người, xuyên suốt lịch sử,
đã nói rằng muốn tìm ra sự thật hay Thượng đế đó –
bất kỳ cái tên gì có lẽ anh ấy tặng cho nó – bạn phải
là một người trong trắng; đó là, bạn phải giữ lời thề
sống trong trắng và đè nén, kiểm soát, tranh đấu không ngừng
nghỉ với chính bạn suốt cuộc đời để giữ lời thề
của bạn. Hãy nhìn sự lãng phí qua năng lượng! Nó cũng là
sự lãng phí năng lượng khi buông thả. Và nó còn có ý nghĩa
nhiều hơn nữa khi bạn đè nén. Nỗ lực bị lãng phí trong
đè nén, trong kiểm soát, trong khước từ ham muốn của bạn
này, làm biến dạng cái trí của bạn, và qua biến dạng đó
bạn có một ý thức nào đó của mộc mạc, mà trở nên khổ
hạnh. Làm ơn hãy lắng nghe. Quan sát nó trong chính bạn và
quan sát những con người quanh bạn. Và quan sát sự lãng phí
của năng lượng này, sự đấu tranh – không phải những
hàm ý của ái ân, không phải hành động thực sự, nhưng
những lý tưởng, những hình ảnh, vui thú – sự suy nghĩ
liên tục về chúng là một lãng phí của năng lượng. Và
hầu hết con người lãng phí năng lượng của họ hoặc qua
khước từ, hoặc qua một lời thề trong trắng, hoặc suy nghĩ
về nó liên tục.
Con
người chịu trách nhiệm – bạn và tôi chịu trách nhiệm
– cho sự quy định của xã hội trong đó chúng ta sống. Bạn
chịu trách nhiệm, không phải những nhà chính trị của bạn
bởi vì bạn đã biến những nhà chính trị thành cái gì họ
là – ma mãnh, tự tôn vinh chính họ, tìm kiếm chức vụ và
thanh danh – mà là cái gì chúng ta đang làm trong cuộc sống
hàng ngày. Chúng ta chịu trách nhiệm cho xã hội. Cấu trúc
tâm lý của xã hội còn quan trọng hơn phía bên ngoài được
tổ chức của xã hội. Cấu trúc tâm lý của xã hội được
dựa vào tham lam, đố kị, thâu lợi, ganh đua, tham vọng, sợ
hãi, sự đòi hỏi liên tục này của một con người muốn
được an toàn trong mọi liên hệ của anh ấy, an toàn trong
tài sản, an toàn trong liên hệ của anh ấy với con người,
an toàn trong liên hệ của anh ấy với những ý tưởng. Đó
là cấu trúc của xã hội mà con người đã tạo ra. Và sau
đó xã hội áp đặt thuộc tâm lý cấu trúc của nó vào mỗi
người chúng ta. Tham lam, ganh tị, tham vọng, ganh đua, tất
cả việc đó là một lãng phí của năng lượng, bởi vì trong
nó luôn luôn có xung đột – xung đột vô tận, như trong một
con người ganh tị.
Ganh
tị là một ý tưởng. Ý tưởng và sự kiện là hai sự việc
khác hẳn. Làm ơn hãy lắng nghe. Bạn tiếp cận cảm thấy
được gọi là “ganh tị” qua ý tưởng. Bạn không tiếp
cận trực tiếp cùng cảm thấy được gọi là ganh tị. Nhưng
bạn tiếp cận sự ganh tị qua ký ức của một từ ngữ nào
đó mà bạn đã hình thành trong cái trí của bạn như ganh
tị. Nó trở thành một ý tưởng, và ý tưởng đó ngăn cản
bạn không tiếp xúc trực tiếp cùng cảm thấy đó mà bạn
gọi là ganh tị. Lại nữa, đây là một sự kiện. Vì vậy
công thức, ý tưởng, ngăn cản bạn không tiếp xúc trực
tiếp cùng cảm thấy đó và vì vậy ý tưởng làm lãng phí
năng lượng này.
Vì
chúng ta chịu trách nhiệm cho đau khổ, cho nghèo đói, cho chiến
tranh, cho thiếu vắng hoàn toàn của hòa bình, một con người
tôn giáo không tìm kiếm Thượng đế. Con người tôn giáo
quan tâm đến sự thay đổi xã hội mà là chính anh ấy. Con
người tôn giáo không là con người mà làm vô số những lễ
nghi, tuân theo những truyền thống, sống trong một văn hóa
quá khứ và chết rồi, giải thích vô tận kinh Gita hay kinh
Bible, liên tục cầu kinh, hay giữ những lời thề. Đó không
là một con người tôn giáo; một con người như thế đang
tẩu thoát những sự kiện. Con người tôn giáo quan tâm tổng
thể, trọn vẹn đến sự hiểu rõ xã hội mà là chính anh
ấy. Anh ấy không tách rời xã hội. Tạo ra trong chính anh
ấy một thay đổi tổng thể, trọn vẹn có nghĩa là kết
thúc trọn vẹn tham lam, ganh tị, tham vọng; và vì vậy anh
ấy không lệ thuộc vào những hoàn cảnh, mặc dù anh ấy
là kết quả của những hoàn cảnh – thực phẩm anh ấy ăn,
những quyển sách anh ấy đọc, những cuộn phim anh ấy xem,
những giáo điều, những niềm tin, những nghi lễ tôn giáo,
và tất cả những việc như thế. Anh ấy có trách nhiệm;
và vì vậy con người tôn giáo phải hiểu rõ chính anh ấy,
mà là sản phẩm của xã hội do chính anh ấy đã tạo ra.
Vì vậy muốn tìm ra sự thật anh ấy phải khởi đầu ở
đây, không phải trong một ngôi đền, không phải trong một
hình ảnh – dù hình ảnh đó được chạm khắc bởi bàn
tay hay bởi cái trí. Nếu không làm thế nào anh ấy có thể
tìm ra một cái gì đó hoàn toàn mới mẻ, một trạng thái
mới mẻ?
Hòa
bình không là sự mở rộng của luật pháp hoặc quyền lực
cai trị. Hòa bình là một cái gì hoàn toàn khác hẳn; nó là
một trạng thái bên trong mà không thể đến được bằng
cách sửa đổi những hình ảnh bên ngoài, mặc dù thay đổi
những hình ảnh bên ngoài cũng cần thiết. Nhưng nó phải
khởi đầu bên trong để tạo ra một thế giới khác hẳn.
Và muốn tạo ta một thế giới khác hẳn bạn cần năng lượng
vô hạn, và lúc này lăng lượng đó đang bị lãng phí trong
xung đột liên tục. Vì vậy người ta phải hiểu rõ xung đột
này.
Nguyên
nhân chính của xung đột là tẩu thoát – tẩu thoát qua ý
tưởng. Làm ơn hãy quan sát chính bạn: thay vì giáp mặt –
chúng ta tạm nói như thế – ganh tị, ghen tuông, thay vì tiếp
xúc trực tiếp cùng nó, bạn nói rằng, “Làm thế nào tôi
sẽ vượt khỏi nó? Tôi sẽ làm gì? Những phương pháp
giúp đỡ tôi không thể ganh tị là gì?” – tất cả đều
là những ý tưởng và vì vậy là một tẩu thoát khỏi sự
kiện rằng bạn ganh tị, một chạy trốn khỏi sự kiện rằng
bạn ganh tị. Chạy trốn khỏi sự kiện qua những ý tưởng
không những lãng phí năng lượng của bạn, mà còn ngăn cản
bạn không tiếp xúc trực tiếp cùng sự kiện đó. Bạn phải
trao chú ý tổng thể của bạn không qua một ý tưởng. Ý
tưởng, như chúng ta đã vạch rõ, ngăn cản chú ý. Vì vậy
khi bạn quan sát, hay tỉnh thức được, cảm thấy của ganh
tị này, và trao chú ý tổng thể vào nó mà không có những
ý tưởng, vậy thì bạn sẽ thấy rằng không chỉ bạn tiếp
xúc trực tiếp cùng cảm thấy đó, nhưng bởi vì bạn đã
trao chú ý tổng thể của bạn, không qua những ý tưởng,
nó không còn hiện diện. Vậy là bạn có năng lượng lớn
lao hơn để gặp gỡ biến cố kế tiếp, hay cảm xúc kế
tiếp, cảm thấy kế tiếp.
Muốn
khám phá, muốn tạo ra một thay đổi trọn vẹn, bạn phải
có năng lượng – không phải năng lượng được tạo ra qua
đè nén, nhưng năng lượng đó mà đến với bạn khi không
còn đang tẩu thoát qua những ý tưởng hay qua đè nén. Thật
ra, nếu bạn suy nghĩ về nó, chúng ta biết chỉ có hai cách
để gặp gỡ cuộc sống – hoặc chúng ta tẩu thoát khỏi
nó hoàn toàn, mà là hình thức ngu dốt dẫn đến loạn thần
kinh, hoặc chúng ta đè nén mọi thứ bởi vì chúng ta không
hiểu rõ. Đó là tất cả mà chúng ta biết.
Đè
nén không chỉ là đặt một nắp đậy lên trên bất kỳ cảm
thấy hay bất kỳ cảm xúc nào, nhưng nó còn là một hình
thức của giải thích, lý luận thuộc trí năng. Làm ơn hãy
quan sát chính bạn và bạn sẽ thấy điều gì đang được
nói đúng thực như thế nào. Vì vậy rất cần thiết rằng
bạn phải không tẩu thoát. Và đó là một trong những sự
việc quan trọng nhất phải tìm ra, không bao giờ tẩu thoát.
Đó là một trong những sự việc khó khăn nhất – tìm ra
– bởi vì chúng ta tẩu thoát khỏi sự kiện không chỉ bằng
cách chạy đến một ngôi đền và mọi việc như thế, nhưng
còn qua những từ ngữ, qua những tranh luận, những quan điểm,
những đánh giá thuộc trí năng. Chúng ta có quá nhiều cách
tẩu thoát khỏi sự kiện. Ví dụ, hãy đưa ra một sự kiện
rằng người ta đần độn. Nếu người ta đần độn, đó
là một sự kiện. Và khi bạn ý thức rằng bạn đần độn,
sự tẩu thoát là cố gắng trở thành khôn ngoan. Nhưng để
trở thành nhạy bén, đòi hỏi rằng tổng thể chú ý của
bạn được điều khiển đến trạng thái của cái trí mà
đần độn đó.
Vì
vậy chúng ta cần năng lượng, mà không là kết quả của
bất kỳ mâu thuẫn, bất kỳ căng thẳng, nhưng năng lượng
hiện diện khi không có nỗ lực. Làm ơn hiểu rõ một sự
thật rất thực sự và đơn giản này: chúng ta lãng phí năng
lượng của chúng ta qua nỗ lực, và lãng phí của năng lượng
đó qua nỗ lực ngăn cản chúng ta không tiếp xúc trực tiếp
cùng sự kiện. Khi tôi đang tạo ra một nỗ lực khủng khiếp
để lắng nghe bạn, mọi năng lượng của tôi đều dồn trong
việc tạo ra nỗ lực, và tôi thực sự không đang lắng nghe.
Khi tôi tức giận hay mất kiên nhẫn, mọi năng lượng của
tôi đều dồn trong cố g