Lời giới
thiệu
Những
lá thư này không viết ra để được đọc lơ là khi các bạn
rảnh rỗi không làm những việc khác, chúng cũng không nên
được đối xử như một giải khuây. Những lá thư này được
viết nghiêm túc và nếu bạn lưu tâm đọc chúng, đọc chúng
với dự tính học hỏi điều gì được viết ra như bạn
chú ý một bông hoa bằng cách quan sát bông hoa đó rất cẩn
thận, nhụy của nó, cành của nó, màu sắc của nó, hương
thơm của nó, và vẻ đẹp của nó. Những lá thư này nên
được nghiền ngẫm trong cùng một cách như vậy, không phải
được đọc vào buổi sáng và quên nó trong suốt thời gian
còn lại trong ngày. Người ta phải dành thời gian cho nó, chơi
đùa cùng nó, nghi vấn nó, tìm hiểu nó mà không chấp nhận;
sống cùng nó trong một khoảng thời gian; lãnh hội nó để
cho nó là những lá thư của bạn và không là những lá thư
của người viết.
J.Krishnamurti
THƯ GỞI TRƯỜNG
HỌC
Quyển
I
1978
Thư
gởi trường học – Quyển I – Ngày 01-09-1978
Vì
tôi muốn duy trì sự liên hệ với tất cả những trường
học ở Ấn độ, Brockwood Park ở nước Anh, Oak Grove School
ở Ojai, California, tôi dự định viết và gởi một lá thư
cách nhau mười lăm ngày cho tất cả những trường đó trong
thời gian càng lâu càng tốt. Tự nhiên rất khó khăn để
liên hệ với từng cá thể ở trường, vì vậy, nếu tôi
được phép, tôi rất muốn viết những lá thư này để có
thể chuyển tải điều gì những ngôi trường nên là, để
chuyển tải cho tất cả những người chịu trách nhiệm của
những ngôi trường đó, rằng những ngôi trường này không
chỉ dạy giỏi về văn hóa mà còn nhiều hơn thế nữa. Chúng
sẽ phải quan tâm đến sự vun quén con người tổng thể.
Những trung tâm giáo dục này phải giúp đỡ em học sinh và
người giáo dục nở hoa một cách tự nhiên. Việc nở hoa
thực sự rất quan trọng, nếu không giáo dục chỉ trở thành
một qui trình máy móc được hướng dẫn đến một nghề
nghiệp, đến một ngành chuyên môn nào đó. Nghề nghiệp và
ngành chuyên môn, như xã hội hiện nay tồn tại, là việc
không thể tránh khỏi, nhưng nếu chúng ta quá nhấn mạnh vào
tất cả việc đó vậy thì sự tự do để nở hoa sẽ dần
dần héo tàn đi. Từ trước đến nay chúng ta đã nhấn mạnh
quá nhiều vào những kỳ thi và đạt được những bằng cấp
tốt. Đó không là mục đích chính cho những ngôi trường
như thế này được thành lập, mà không có nghĩa rằng về
văn hoá các em học sinh sẽ kém cỏi. Trái lại, với sự nở
hoa của người giáo viên cũng như em học sinh, nghề nghiệp
và ngành chuyên môn sẽ vào đúng vị trí của nó. Xã hội,
nền văn hóa mà chúng ta sống, khuyến khích và đòi hỏi rằng
em học sinh phải được hướng dẫn về một công việc và
sự an toàn vật chất. Điều này đã là áp lực liên tục
của tất cả những xã hội; nghề nghiệp trước tiên và
mọi thứ chỉ là phụ. Đó là, tiền bạc đầu tiên và những
phương cách phức tạp của cuộc sống hàng ngày của chúng
ta là thứ hai. Chúng ta đang cố gắng đảo ngược cái qui
trình này bởi vì con người không thể nào hạnh phúc chỉ
với tiền bạc mà thôi. Khi tiền bạc trở thành yếu tố
thống trị trong cuộc sống, có sự mất thăng bằng trong hoạt
động hằng ngày của chúng ta. Vì vậy, nếu tôi được phép,
tôi muốn tất cả những người giáo dục hiểu rõ điều
này rất nghiêm túc và nhìn thấy được trọn vẹn ý nghĩa
của nó. Nếu người giáo dục hiểu rõ được sự quan trọng
của điều này, và trong cuộc sống riêng của anh ấy nó đã
được đặt vào một nơi đúng đắn, vậy thì anh ấy có
thể giúp đỡ em học sinh bị thúc ép bởi phụ huynh và xã
hội của em để biến nghề nghiệp thành một sự việc quan
trọng nhất. Vì vậy tôi muốn trong lá thư đầu tiên nhấn
mạnh vào điểm này và luôn luôn duy trì trong những ngôi trường
này một cách sống vun quén con người tổng thể.
Vì
hầu hết mục đích của nền giáo dục chúng ta là thâu lượm
hiểu biết, nó đang làm cho chúng ta mỗi lúc một máy móc
thêm; những cái trí của chúng ta đang vận hành trong những
khe rãnh chật hẹp, dù rằng nó là hiểu biết thuộc khoa học,
triết lý, tôn giáo, kinh doanh hay công nghệ mà chúng ta đang
thâu lượm được. Những cách sống của cuộc đời chúng
ta, cả ở trong nhà lẫn bên ngoài, và sự chuyên biệt của
chúng ta trong một nghề nghiệp đặc biệt nào đó đang làm
cho những cái trí của chúng ta mỗi lúc một chật hẹp, bị
giới hạn và mất đi tánh tổng thể. Tất cả việc này dẫn
đến một cách sống máy móc, một tiêu chuẩn hoá về tinh
thần, và vì vậy dần dần những thể chế, ngay cả một
thể chế dân chủ, ra lệnh cho chúng ta nên trở thành điều
gì. Hầu hết con người có suy nghĩ tự nhiên ý thức được
việc này nhưng rủi thay họ dường như chấp nhận nó và
sống cùng nó.Vì vậy việc này đã trở thành một hiểm họa
đối với tự do.
Tự
do là một vấn đề rất phức tạp và muốn hiểu rõ sự
phức tạp của nó, sự nở hoa của cái trí là rất cần thiết.
Mỗi người tự nhiên sẽ đưa ra một định nghĩa khác biệt
về sự nở hoa của con người tùy theo văn hóa của người
ấy, tùy theo cái gì tạm gọi là nền giáo dục, những
trải nghiệm, những mê tín về tôn giáo của người ấy –
đó là, lệ thuộc vào tình trạng bị điều kiện của người
ấy. Ở đây chúng ta không đang giải quyết những ý kiến
hay những thành kiến, nhưng trái lại bằng hiểu rõ, không
qua từ ngữ, những hàm ý và kết quả của sự nở hoa cái
trí. Nở hoa này là sự bộc lộ và vun quén tổng thể những
cái trí của chúng ta, những tâm hồn của chúng ta và sự
lành mạnh thân thể của chúng ta. Đó là, sống trong hòa hợp
hoàn toàn mà trong đó không có đối nghịch hay mâu thuẫn
giữa chúng. Nở hoa cái trí chỉ có thể xảy ra khi có một
trực nhận rõ ràng, khách quan, không riêng tư, không bị trói
buộc bởi bất kỳ loại áp đặt nào vào nó. Đó không là
suy nghĩ cái gì nhưng suy nghĩ như thế nào. Trong nhiều thế
kỷ qua công việc truyền bá và vân vân, chúng ta đã được
khuyến khích để suy nghĩ cái gì. Hầu hết những nền giáo
dục hiện đại là việc đó và không là việc tìm hiểu toàn
bộ chuyển động của tư tưởng. Nở hoa ám chỉ tự do; giống
như bất kỳ cái cây nào đều cần tự do để tăng trưởng.
Chúng
ta sẽ giải quyết vấn đề này trong mỗi lá thư bằng những
phương cách khác nhau trong suốt những năm sắp tới đây:
với sự đánh thức của tâm hồn, mà không là cảm tính,
lãng mạn hay tưởng tượng, nhưng của tốt lành được sinh
ra từ lòng trìu mến và tình yêu; và với sự điều hòa của
thân thể, loại thức ăn đúng, vận động phù hợp mà sẽ
tạo ra tính nhạy cảm sâu sắc. Khi ba sự việc này hòa hợp
hoàn toàn – đó là, cái trí, tâm hồn và thân thể, vậy
thì nở hoa đến một cách tự nhiên, một cách dễ dàng và
trong hoàn hảo. Đây là công việc của chúng ta như những
người giáo dục, trách nhiệm của chúng ta, và dạy học là
một nghề nghiệp cao quý nhất trong cuộc sống.
Ngày
15 tháng chín
Thư
gởi trường học – Quyển I – Ngày 15-9-1978
Tốt
lành chỉ có thể nở hoa trong tự do. Nó không thể nở hoa
trong mảnh đất của thuyết phục dưới bất kỳ hình thức
nào, cũng không dưới bất kỳ cưỡng bách nào, và cũng không
là kết quả của phần thưởng. Nó không tự bộc lộ khi
có bất kỳ loại bắt chước hay tuân theo nào, và tự nhiên
nó không thể tồn tại khi có sợ hãi. Tốt lành tự thể
hiện trong cư xử và cư xử này được đặt nền tảng trên
nhạy cảm. Tốt lành này được biểu lộ trong hành động.
Toàn bộ chuyển động của tư tưởng không là tốt lành.
Tư tưởng, mà rất phức tạp, phải được hiểu rõ, nhưng
chính hiểu rõ về nó đánh thức tư tưởng vào giới hạn
riêng của nó.
Tốt
lành không có đối nghịch. Hầu hết chúng ta xem tốt lành
như đối nghịch với xấu xa hay đồi bại và vì vậy suốt
lịch sử trong bất kỳ nền văn hóa nào tốt lành đã được
coi như là bộ mặt ngược lại của hung bạo. Vì vậy con
người luôn luôn đấu tranh chống lại xấu xa với mục đích
được tốt lành; nhưng tốt lành không bao giờ có thể hiện
hữu nếu có bất kỳ hình thức bạo lực hay đấu tranh nào.
Tốt
lành tự thể hiện trong cư xử, hành động và trong liên hệ.
Thông thường cư xử hàng ngày của chúng ta đều được đặt
nền tảng trên hoặc tuân theo những khuôn mẫu nào đó –
có tánh máy móc và vì vậy giả tạo – hoặc là tùy theo
động cơ nào đã được suy nghĩ rất cẩn thận, được dựa
vào phần thưởng hay trừng phạt. Vì vậy cư xử của chúng
ta, có ý thức hay không ý thức, đều đã được tính toán.
Đây không là cư xử đúng đắn. Khi người ta nhận ra việc
này, không chỉ bằng trí năng hay bằng cách xếp đặt những
từ ngữ vào chung, rồi từ sự phủ nhận hoàn toàn này có
được cư xử đúng đắn.
Theo
cơ bản tinh túy của cư xử đúng đắn là không có cái tôi,
cái tôi lệ thuộc. Nó tự thể hiện trong lễ phép, trong ân
cần với những người khác, nhường nhịn mà không mất đi
tánh hòa đồng. Vì vậy cư xử trở nên quan trọng cực kỳ.
Nó không là một vấn đề tầm thường để lướt qua hay
một việc đùa giỡn của cái trí tinh ranh. Nó đến từ chiều
sâu thân tâm của bạn và nó là thành phần trong sự hiện
hữu hàng ngày của bạn.
Tốt
lành tự thể hiện trong hành động. Chúng ta phải phân biệt
giữa hành động và cách cư xử. Có thể cả hai đều cùng
là một sự việc nhưng để cho rõ ràng chúng phải được
tách rời ra và tìm hiểu. Hành động đúng cách là một trong
những sự việc khó khăn nhất phải thực hiện. Nó rất phức
tạp và phải được tìm hiểu rất cẩn thận, đầy kiên
nhẫn và không bám vào bất kỳ kết luận vội vã nào.
Trong
cuộc sống hàng ngày của chúng ta hành động là một chuyển
động liên tục từ quá khứ, thỉnh thoảng được phá vỡ
bởi một bộ mới mẻ của những kết luận; lại nữa những
kết luận này trở thành quá khứ và người ta hành động
theo nó. Người ta hành động theo những lý tưởng hay những
ý tưởng đã được nhận thức trước, vì vậy người ta
luôn luôn đang hành động hoặc từ hiểu biết được tích
lũy, mà là quá khứ, hoặc từ một tương lai được lý tưởng
hóa, một ý tưởng hoang tưởng nào đó.
Chúng
ta chấp nhận những hành động này như bình thường. Phải
vậy không? Chúng ta tìm hiểu nó sau khi nó đã xảy ra hay trước
khi làm việc đó, nhưng sự tìm hiểu này được đặt nền
tảng trên những kết luận có trước hay những phần thưởng
hoặc trừng phạt trong tương lai. Nếu tôi làm việc này –
tôi sẽ được việc kia, và vân vân. Vì vậy lúc này chúng
ta đang tìm hiểu toàn bộ cái ý tưởng đã được chấp nhận
của hành động.
Hành
động xảy ra sau khi đã tích lũy hiểu biết hay trải nghiệm;
hay chúng ta hành động và học hỏi từ hành động đó, dễ
chịu hay khó chịu, và lại nữa việc học hỏi này trở thành
sự tích lũy của hiểu biết. Vì vậy cả hai hành động này
đều được đặt nền tảng trên hiểu biết; chúng không
khác biệt gì cả. Hiểu biết luôn luôn là quá khứ và thế
là những hành động của chúng ta luôn luôn là máy móc.
Liệu
có một hành động không thuộc máy móc, không lặp lại, không
theo thói quen và vì vậy không có hối tiếc hay không? Hiểu
rõ điều này rất quan trọng cho chúng ta vì nơi nào có tự
do và nở hoa của tốt lành, hành động không bao giờ có thể
máy móc được. Viết là máy móc, học một ngoại ngữ, lái
một chiếc xe hơi là máy móc; thâu lượm bất kỳ loại hiểu
biết kỹ thuật nào và hành động tùy theo loại đó là máy
móc. Lại nữa trong hoạt động máy móc này có lẽ có một
khoảng ngừng và trong khoảng ngừng đó một kết luận mới
được hình thành mà lại nữa trở thành máy móc. Người
ta phải kiên định ghi nhớ rằng tự do là cần thiết cho
vẻ đẹp của tốt lành. Có một hành động không máy móc
nhưng bạn phải khám phá nó. Bạn không thể được chỉ bảo
về nó, bạn không thể được giảng giải về nó, bạn không
thể học hỏi từ những ví dụ, bởi vì lúc đó nó trở
thành bắt chước và tuân phục một khuôn mẫu. Vậy thì bạn
đã mất tự do hoàn toàn và không còn tốt lành nữa.
Tôi
nghĩ rằng điều đó đã đủ trong lá thư này, nhưng chúng
ta sẽ tiếp tục trong lá thư kế tiếp với sự nở hoa của
tốt lành trong liên hệ.
Ngày
01 tháng mười
Thư
gởi trường học – Quyển I – Ngày 01-10-1978
Chúng
ta phải tiếp tục, nếu người ta được phép, với sự nở
hoa của tốt lành trong tất cả những liên hệ của chúng
ta, dù rằng nó thân mật hay giả tạo nhất, hay trong những
vấn đề thông thường hàng ngày. Sự liên hệ với một người
khác là một trong những điều quan trọng nhất trong cuộc
sống. Hầu hết chúng ta không nghiêm túc trong những liên hệ
của chúng ta, bởi vì chúng ta quan tâm đến chính mình trước
và chỉ quan tâm đến người khác khi nó gây lợi lộc, gây
hài lòng hay gây thỏa mãn về giác quan. Chúng ta sử dụng
liên hệ từ xa, như nó đã là, và không phải như một điều
gì đó mà chúng ta hoàn toàn liên quan.
Chúng
ta không bao giờ bộc lộ bản thân mình cho một người khác,
bởi vì chúng ta không ý thức được chính chúng ta trọn vẹn
và điều gì chúng ta bộc lộ cho một người khác trong sự
liên hệ thì hoặc để sở hữu, thống trị hoặc qui phục.
Có người khác và tôi, hai thực thể tách rời đang duy trì
một sự phân chia vĩnh viễn cho đến khi cái chết đến. Người
khác đó quan tâm đến chính anh ấy hay chính cô ấy vì vậy
sự phân chia này được duy trì suốt cuộc đời. Dĩ nhiên
người ta thể hiện sự thông cảm, lòng thương yêu, sự khuyến
khích thông thường, nhưng tiến trình phân chia này vẫn tiếp
tục. Và từ việc này nảy sinh sự không phù hợp, sự khẳng
định của những tính khí và những ham muốn, và thế là
có sợ hãi và xoa dịu. Theo dục tình thì có thể đang đến
với nhau nhưng sự liên hệ đặc biệt hầu như cố định
này của cái bạn và cái tôi lại được duy trì, bằng những
cãi cọ, những thương tổn, những ghen tuông và mọi đau khổ
của nó. Tất cả việc này thông thường được hiểu là
sự liên hệ tốt đẹp.
Bây
giờ liệu tốt lành có thể nở hoa trong tất cả việc này
được không? Vẫn vậy liên hệ là cuộc sống và nếu không
có một loại liên hệ nào đó người ta không thể nào hiện
hữu. Vị thầy tu, người ẩn dật, dù họ có thể rút lui
khỏi thế giới này nhiều bao nhiêu chăng nữa, đang mang theo
thế giới này cùng họ. Họ có lẽ khước từ; họ có lẽ
đè nén nó; họ có lẽ hành hạ chính bản thân mình, nhưng
họ vẫn còn ở trong một loại liên hệ nào đó với thế
giới, bởi vì họ là kết quả của hàng ngàn năm truyền
thống, mê tín và tất cả hiểu biết mà con người đã thâu
lượm được qua hàng thiên niên kỷ. Vì vậy không có giải
thoát khỏi tất cả việc này.
Có
sự liên hệ giữa người giáo dục và em học sinh. Liệu rằng
người giáo viên có duy trì, dù cố ý hay không cố ý, ý thức
bề trên của anh ấy và vì thế luôn luôn đứng trên một
bục giảng, làm cho em học sinh, người phải được dạy dỗ,
cảm thấy thấp hèn hay không? Hiển nhiên trong việc này không
có sự liên hệ. Từ việc này nảy sinh sợ hãi về phía
em học sinh, cái ý thức của áp lực và căng thẳng, và vì
vậy em học sinh thâu nhận, từ thời niên thiếu của em, cái
chất lượng bề trên này; em bị bắt buộc cảm thấy nhỏ
bé, và thế là suốt cuộc đời em học sinh hoặc trở thành
một người hung hăng hoặc liên tục nhượng bộ và khúm núm.
Một
trường học là một nơi của nhàn rỗi, nơi mà cả người
giáo dục và người được giáo dục đều đang học hỏi.
Đây là yếu tố trọng điểm của trường học: học hỏi.
Qua từ ngữ nhàn rỗi chúng ta không có ý là có thời gian
cho bản thân mình, mặc dù điều đó cũng rất cần thiết;
nó cũng không có nghĩa là cầm một quyển sách và ngồi dưới
một cái cây, hay trong phòng ngủ của bạn, đọc lơ là. Nó
cũng không có nghĩa là một trạng thái bình thản của cái
trí; nó chắc chắn cũng không có nghĩa là lười biếng hay
sử dụng thời gian để mơ mộng. Nhàn rỗi có nghĩa là một
cái trí liên tục không bị bận tâm bởi một điều gì đó,
bởi một vấn đề, bởi một sự thích thú nào đó, bởi
một thích thú nào đó. Nhàn rỗi ngụ ý một cái trí có thời
gian vô tận để quan sát: quan sát điều gì đang xảy ra quanh
người ta và điều gì đang xảy ra trong chính người ta; có
nhàn rỗi để lắng nghe, để nhìn thấy rõ ràng. Nhàn rỗi
ngụ ý tự do, thông thường được giải thích như làm một
việc gì đó mà người ta mong muốn, là điều gì những con
người đang làm hiện nay, gây ra nhiều bất ổn đau khổ và
hoang mang. Nhàn rỗi ngụ ý một cái trí yên lặng, không động
cơ và vì vậy không phương hướng. Đây là nhàn rỗi và chỉ
trong trạng thái này cái trí mới có thể học hỏi, không
chỉ môn khoa học, lịch sử, toán học mà còn học hỏi về
chính bản thân mình; và người ta có thể học hỏi về chính
bản thân người ta trong liên hệ.
Tất
cả điều này có thể được dạy trong những ngôi trường
của chúng ta không? Hay nó là một điều gì đó mà bạn đọc
xong rồi hoặc thuộc lòng hoặc quên bẵng đi? Nhưng khi người
dạy học và người được dạy quan tâm trong việc hiểu rõ
thực sự sự quan trọng lạ thường của liên hệ vậy thì
họ đang thiết lập trong ngôi trường một liên hệ đúng
đắn giữa chính họ. Đây là một phần của giáo dục, quan
trọng hơn chỉ dạy những môn học văn hóa.
Liên
hệ đòi hỏi nhiều thông minh. Nó không thể mua trong một
quyển sách hay dạy dỗ được. Nó không là kết quả được
tích lũy của những trải nghiệm lớn lao. Hiểu biết không
là thông minh. Thông minh có thể sử dụng hiểu biết. Hiểu
biết có thể là khôn ngoan, nổi bật và thực dụng nhưng
đó không là thông minh. Thông minh đến một cách tự nhiên
và dễ dàng khi toàn bộ cấu trúc và bản chất của sự liên
hệ được nhìn thấy. Đó là lý do tại sao có nhàn rỗi là
rất quan trọng để cho người đàn ông hay người phụ nữ,
người giáo viên hay em học sinh có thể yên lặng và nghiêm
túc nói chuyện về sự liên hệ của họ mà trong đó những
phản ứng, những cảm xúc, những rào chắn thực sự của
họ được nhìn thấy, không phải được tưởng tượng, hay
xuyên tạc ý nghĩa với mục đích làm hài lòng lẫn nhau hay
trấn áp với mục đích xoa dịu người khác.
Chắc
chắn đây là chức năng của một ngôi trường: giúp đỡ
em học sinh đánh thức sự thông minh của em và học hỏi sự
quan trọng lớn lao của liên hệ đúng cách.
Ngày
15 tháng mười
Thư
gởi trường học – Quyển I – Ngày 15-10-1978
Dường
như hầu hết mọi người dành rất nhiều thời gian cho việc
thảo luận sự rõ ràng thuần túy thuộc từ ngữ và có lẽ
họ không hiểu rõ được chiều sâu và nội dung vượt khỏi
từ ngữ. Trong khi cố gắng tìm hiểu sự rõ ràng thuộc từ
ngữ họ đã biến những cái trí của họ thành máy móc, cuộc
sống của họ thành hời hợt và rất thường xuyên thành
mâu thuẫn. Trong những lá thư này chúng ta không quan tâm đến
sự hiểu rõ thuộc từ ngữ nhưng quan tâm đến những sự
kiện hàng ngày của cuộc sống chúng ta. Đây là yếu tố
trọng điểm của tất cả những lá thư này: không phải sự
giải thích thuộc từ ngữ về sự kiện nhưng chính sự kiện.
Khi chúng ta quan tâm đến sự rõ ràng thuộc từ ngữ và vì
vậy sự rõ ràng của những ý tưởng, cuộc sống hàng ngày
của chúng ta là thuộc khái niệm mà không là thực tế. Tất
cả những lý thuyết, tất cả những nguyên tắc, tất cả
những lý tưởng đều thuộc khái niệm. Những khái niệm
có thể không trung thực, giả dối và ảo tưởng. Người
ta có thể có vô vàn khái niệm hay lý tưởng nhưng chúng không
có liên hệ gì đến những chuyện đang xảy ra hàng ngày của
cuộc sống chúng ta. Con người được nuôi dưỡng bởi những
lý tưởng; những lý tưởng càng kỳ lạ bao nhiêu, chúng càng
được kính trọng bấy nhiêu; nhưng lại nữa hiểu rõ những
hoạt động hàng ngày còn quan trọng hơn những lý tưởng
nhiều lắm. Nếu cái trí của người ta bị nhồi nhét đầy
những khái niệm, những lý tưởng, và vân vân, sự kiện,
việc đang xảy ra thực tế không bao giờ có thể được đối
diện. Khái niệm trở thành một vật ngăn cản. Khi tất cả
những điều này được hiểu rõ – không phải một hiểu
biết thuộc khái niệm hay thuộc trí năng – sự quan trọng
lớn lao của đối diện với một sự kiện, thực tại, việc
ngay lúc này, trở thành yếu tố trọng điểm của nền giáo
dục chúng ta.
Chính
trị là một loại bệnh tật toàn cầu được dựa vào những
khái niệm và tôn giáo là chủ nghĩa cảm xúc, lãng mạn, tưởng
tượng. Khi bạn quan sát việc gì đang thực sự xảy ra, tất
cả việc này là một hiển thị của suy nghĩ thuộc khái niệm
và một lẩn tránh đau khổ, hoang mang và rối loạn hàng ngày
của cuộc sống chúng ta.
Tốt
lành không thể nở hoa trong vùng đất của sợ hãi. Trong vùng
đất này có nhiều loại sợ hãi. Sợ hãi ngay lập tức và
những sợ hãi của nhiều ngày mai. Sợ hãi không là một khái
niệm, nhưng sự giải thích về sợ hãi lại thuộc khái niệm
và những giải thích này thay đổi từ một học giả này
đến một học giả khác hay từ một người trí thức này
đến một người trí thức khác. Sự giải thích không quan
trọng nhưng điều quan trọng là đang đối mặt với sự kiện
của sợ hãi.
Trong
tất cả những ngôi trường của chúng ta người giáo dục
và những người chịu trách nhiệm với các em học sinh, dù
rằng ở trong lớp học, ở nơi chơi đùa hay trong phòng của
các em, có trách nhiệm hiểu rõ rằng sợ hãi dưới bất kỳ
hình thức nào đều không được phát sinh. Người giáo dục
không được khuấy động sự sợ hãi trong em học sinh. Đây
không là một khái niệm bởi vì chính người giáo dục hiểu
rõ, không chỉ bằng từ ngữ, rằng sợ hãi trong bất kỳ
hình thức nào làm què quặt cái trí, hủy diệt tánh nhạy
cảm, co rúm những giác quan. Sợ hãi là gánh nặng nặng
nề mà con người đã luôn mang theo. Từ sợ hãi này sinh ra
vô số những hình thức khác nhau của mê tín – thuộc tôn
giáo, thuộc khoa học và tưởng tượng. Người ta sống trong
một thế giới giả tạo, và bản chất của thế giới thuộc
khái niệm này được sinh ra từ sợ hãi. Từ trước chúng
ta đã nói rằng con người không thể sống mà không có liên
hệ, và liên hệ này không chỉ trong cuộc sống riêng tư của
anh ấy mà còn, nếu anh ấy là một người giáo dục, anh ấy
có sự liên hệ trực tiếp với em học sinh. Nếu có bất
kỳ sợ hãi nào trong những liên hệ này, vậy thì người
giáo viên không thể giúp đỡ em học sinh được tự do khỏi
nó. Em học sinh đến đây từ một nền tảng của sợ hãi,
của uy quyền, của mọi loại những ấn tượng và những
áp lực tưởng tượng và thực tế. Người giáo dục cũng
có những áp lực, những sợ hãi riêng của anh ấy. Anh ấy
sẽ không thể tạo ra được sự hiểu rõ về bản chất của
sợ hãi nếu chính anh ấy không lột bỏ được gốc rễ những
sợ hãi riêng của anh ấy. Không có nghĩa rằng trước hết
chính anh ấy phải được tự do khỏi tất cả những sợ
hãi riêng của anh ấy với mục đích giúp đỡ em học sinh
được tự do, nhưng trái lại trong liên hệ hàng ngày của
họ, trong đối thoại, trong lớp học, người giáo viên phải
xác định rõ rằng chính anh ấy cũng sợ hãi, giống hệt
như em học sinh, và vì vậy cùng nhau họ có thể tìm hiểu
toàn thể bản chất và cấu trúc của sợ hãi. Cần phải
được vạch rõ rằng đây không phải là một lời thú tội
về phía người giáo viên. Anh ấy chỉ đang phát biểu một
sự thật mà không có bất kỳ nhấn mạnh thuộc cá thể hay
cảm xúc. Nó giống như đang có một cuộc nói chuyện giữa
những người bạn tốt. Việc này đòi hỏi một thành thật
và khiêm tốn nào đó. Khiêm tốn không là qui phục. Khiêm
tốn không là ý thức của bị khuất phục; khiêm tốn cũng
không là ngạo mạn hay kiêu hãnh. Vì vậy người giáo viên
có một trách nhiệm lớn lao, bởi vì nó là nghề nghiệp cao
quí nhất trong tất cả mọi nghề nghiệp. Anh ấy có bổn
phận tạo ra một thế hệ mới trong thế giới, mà lại nữa
là một sự kiện không phải một khái niệm. Bạn có thể
thực hiện một khái niệm của một sự kiện, và vì vậy
sẽ lạc lõng trong những khái niệm, nhưng cái sự kiện, cái
thực tại luôn luôn tồn tại. Đối diện với cái thực tại,
điều ngay lúc này, và sự sợ hãi, là chức năng quan trọng
nhất của người giáo dục – không phải chỉ tạo ra sự
xuất sắc về học vấn – nhưng điều gì mà còn quan trọng
hơn nhiều, đó là tự do thuộc tâm lý của cả em học sinh
lẫn người giáo viên. Khi bản chất của tự do được hiểu
rõ, vậy thì bạn loại bỏ được tất cả mọi ganh đua,
trên sân chơi, trong lớp học. Liệu có thể loại bỏ
hoàn toàn sự đánh giá so sánh tương đối, về học
vấn lẫn đạo đức hay không? Liệu có thể giúp đỡ em học
sinh không phải suy nghĩ một cách ganh đua trong lãnh vực học
vấn và tuy nhiên lại có được sự xuất sắc trong việc
học hành của em, những hoạt động của em và cuộc sống
hàng ngày của em hay không? Làm ơn hãy luôn nhớ rằng chúng
ta quan tâm đến sự nở hoa của tốt lành mà không thể nở
hoa nơi nào có bất kỳ ganh đua. Ganh đua tồn tại chỉ khi
nào có so sánh, và so sánh không tạo được sự hoàn hảo.
Theo căn bản những ngôi trường này tồn tại để giúp đỡ
cả em học sinh lẫn người giáo viên được nở hoa trong tốt
lành. Việc này đòi hỏi sự hoàn hảo trong cách cư xử, trong
hành động và trong liên hệ. Đây là mục đích của chúng
ta và là lý do tại sao những ngôi trường này đã hiện hữu;
không phải sản xuất những con người nghề nghiệp thuần
túy mà là tạo ra sự hoàn hảo của tinh thần.
Trong
lá thư kế tiếp, chúng ta sẽ tiếp tục với bản chất của
sợ hãi; không phải từ ngữ sợ hãi nhưng sự việc xảy
ra thực sự của sợ hãi.
Ngày
01 tháng mười một
Thư
gởi trường học – Quyển I – Ngày 01-11-1978
Hiểu
biết sẽ không dẫn đến thông minh. Chúng ta tích lũy nhiều
hiểu biết về quá nhiều sự việc nhưng hành động một
cách thông minh về điều gì người ta đã học hỏi dường
như không thể được. Những trường trung học, những trường
cao đẳng, những trường đại học vun quén sự hiểu biết
về cách cư xử của chúng ta, về vũ trụ, về khoa học và
mọi hình thức của thông tin công nghệ. Những trung tâm giáo
dục này hiếm khi nào giúp đỡ được một con người sống
một cuộc sống hoàn hảo hàng ngày. Những học giả nói rằng
con người có thể tiến hóa chỉ qua sự tích lũy khủng khiếp
của thông tin và hiểu biết. Con người đã sống qua hàng
ngàn và hàng ngàn những cuộc chiến tranh; anh ấy đã tích
lũy nhiều hiểu biết về phương pháp giết người, tuy nhiên
chính hiểu biết đó đã ngăn cản anh ấy không chấm dứt
được tất cả những cuộc chiến tranh. Chúng ta chấp nhận
chiến tranh như một phương cách của cuộc sống và tất cả
những tàn nhẫn, bạo lực và giết chóc như là con đường
bình thường của cuộc sống chúng ta. Chúng ta biết rằng
chúng ta không nên giết người khác. Hiểu biết này hoàn toàn
không liên quan đến sự kiện giết chóc. Hiểu biết không
ngăn cản giết chóc thú vật và quả đất. Hiểu biết không
thể vận hành qua thông minh nhưng thông minh có thể vận hành
cùng hiểu biết. Biết là không biết và hiểu rõ sự thật
rằng hiểu biết không bao giờ có thể giải quyết được
những vấn đề của con người chúng ta là thông minh.
Giáo
dục trong những ngôi trường của chúng ta không chỉ là sự
thâu lượm hiểu biết nhưng là điều gì đó còn quan trọng
hơn nhiều – đánh thức thông minh mà sau đó vận dụng và
sử dụng hiểu biết. Không bao giờ có hướng đi ngược lại.
Đánh thức thông minh là quan tâm của chúng ta trong tất cả
những ngôi trường này và tiếp theo một vấn đề không tránh
khỏi sẽ nảy sinh là: làm thế nào thông minh này có thể
được đánh thức? Hệ thống nào, phương pháp nào và luyện
tập nào? Chính câu hỏi này ám chỉ rằng người ta vẫn còn
đang vận hành trong lãnh vực của hiểu biết. Nhận ra rằng
đó là một câu hỏi sai lầm là bắt đầu đánh thức thông
minh.
Luyện
tập, phương pháp, hệ thống trong cuộc sống hàng ngày của
chúng ta dẫn đến một vấn đề của lề thói, một hành
động lặp đi lặp lại và vì thế một cái trí máy móc.
Chuyển động liên tục của hiểu biết, dù rằng chuyên dụng
như thế nào chăng nữa, khép cái trí vào một cái rãnh, vào
một lối sống chật hẹp. Học hỏi để quan sát, và hiểu
rõ toàn bộ cấu trúc của hiểu biết này là bắt đầu đánh
thức thông minh.
Những
cái trí của chúng ta sống trong truyền thống. Chính cái nghĩa
lý của từ ngữ đó – “truyền lại” khước từ thông
minh. Thật dễ dàng và thoải mái khi tuân theo một truyền
thống, dù rằng nó là truyền thống chính trị, tôn giáo hay
tự sáng chế. Rồi thì người ta không phải suy nghĩ về nó,
người ta không phải tìm hiểu về nó; thành phần của truyền
thống là chấp nhận và vâng lời. Nền văn hóa càng cổ xưa
bao nhiêu, cái trí càng bị trói buộc vào quá khứ, càng sống
trong quá khứ nhiều bấy nhiêu. Rõ ràng là, sự phá vỡ một
truyền thống sẽ được theo sau bởi sự áp đặt của một
truyền thống khác. Một cái trí có nhiều thế kỷ của truyền
thống đặc biệt nào ở đằng sau nó chối từ buông bỏ
cái cổ xưa đi và chỉ chấp nhận khi nào có một truyền
thống khác gây thoả mãn và an toàn bằng cái cổ xưa. Truyền
thống trong tất cả những hình thức khác nhau của nó, từ
những truyền thống tôn giáo đến những truyền thống văn
hoá, phải khước từ thông minh. Thông minh là vô hạn. Hiểu
biết, dù rộng lớn chừng nào chăng nữa, bị giới hạn giống
như truyền thống. Trong những ngôi trường của chúng ta phương
pháp máy móc đang hình thành thói quen của cái trí phải được
quan sát và trong quan sát này sự nhạy bén của thông minh được
sinh ra.
Đó
là một phần truyền thống của con người để chấp nhận
sợ hãi. Chúng ta sống bằng sợ hãi, cả thế hệ già lẫn
thế hệ trẻ. Hầu hết mọi người đều không ý thức rằng
họ sống trong sợ hãi. Chỉ trong một hình thức không gay
gắt lắm của một cơn khủng hoảng hay một biến cố đảo
lộn nào đó thì người ta mới trở nên ý thức được sợ
hãi luôn tồn tại này. Nó ở đó. Một số người ý thức
được nó, những người khác e dè lẩn tránh nó. Truyền thống
nói rằng kiểm soát sợ hãi, chạy trốn nó, trấn áp nó,
phân tích nó, tác động nó, hay chấp nhận nó. Chúng ta đã
sống trong nhiều thiên niên kỷ cùng sợ hãi và bằng một
cách nào đó chúng ta đã xoay xở để sống hòa hợp cùng
nó. Đây là bản chất của truyền thống, hành động theo
nó hay chạy trốn nó; hay chấp nhận nó một cách cảm tính
và hướng về một tác nhân bên ngoài nào đó để nhờ giải
quyết. Những tôn giáo phát triển từ sợ hãi này, và sự
thôi thúc cưỡng bách để có quyền hành của những chính
trị gia có nguồn gốc từ sợ hãi này. Bất kỳ hình thức
nào để thống trị người khác là bản chất của sợ hãi.
Khi một người đàn ông hay một người phụ nữ chiếm hữu
một người khác đều có sợ hãi tại cơ bản và sợ hãi
này hủy hoại mọi hình thức của liên hệ.
Chính
chức năng của người giáo dục là giúp đỡ em học sinh đối
mặt sợ hãi này, dù rằng nó là sợ hãi về cha mẹ, về
người giáo viên, hay về cậu con trai lớn tuổi hơn, hay nó
là sợ hãi phải sống một mình và sợ hãi về thiên nhiên.
Đây là vấn đề trọng điểm trong việc hiểu rõ bản chất
và cấu trúc của sợ hãi, hãy đối mặt nó. Đối mặt nó
không phải qua bức màn của những từ ngữ nhưng quan sát
chính sự kiện đang xảy ra của sợ hãi mà không có bất
kỳ chuyển động nào chạy trốn nó. Chuyển động chạy trốn
sự kiện là làm rối tung sự kiện. Truyền thống của chúng
ta, giáo dục của chúng ta, đều khuyến khích sự kiểm soát,
sự chấp nhận, sự khước từ hay sự giải thích rất khôn
ngoan. Là người giáo viên, liệu bạn có thể giúp các em học
sinh và chính bản thân bạn đối mặt mỗi vấn đề khi nó
phát sinh trong cuộc sống hay không? Trong học hỏi, không có
người dạy học lẫn người được dạy; chỉ có học hỏi.
Muốn học hỏi toàn chuyển động của sợ hãi người ta phải
đến với nó bằng sự tò mò mà có sinh lực riêng của nó.
Giống như một em bé rất tò mò, trong tò mò đó có sự mãnh
liệt. Chính con đường của truyền thống là chinh phục điều
gì chúng ta không hiểu được, để dẹp tan nó, đè nén nó;
hay tôn thờ nó. Truyền thống là hiểu biết và kết thúc
hiểu biết sinh ra thông minh.
Bây
giờ, nhận ra rằng không có người dạy lẫn người được
dạy nhưng chỉ có trạng thái học hỏi của cả người lớn
và em học sinh, liệu rằng người ta có thể qua trực nhận
trực tiếp điều gì đang xảy ra, học hỏi được sợ hãi
này và tất cả những vấn đề quanh nó hay không? Bạn chỉ
có thể nếu bạn có ý định cho phép sợ hãi kể câu chuyện
cổ xưa của nó. Hãy lắng nghe nó đầy chú ý mà không có
một ngăn cản, vì nó đang kể cho bạn lịch sử của sợ
hãi riêng của bạn. Khi bạn lắng nghe như thế bạn sẽ phát
giác rằng sợ hãi này không tách rời khỏi bạn. Bạn là
chính sợ hãi đó, chính cái phản ứng đó với một từ ngữ
gắn kết vào nó. Từ ngữ không quan trọng lắm. Từ ngữ
là hiểu biết, truyền thống; nhưng thực tại, điều ngay
lúc này đang xảy ra, là một điều gì đó hoàn toàn mới
mẻ. Nó là sự khám phá trạng thái mới mẻ về sợ hãi riêng
của bạn. Đối mặt sự kiện sợ hãi, mà không còn bất
kỳ chuyển động nào của tư tưởng, là kết thúc sợ hãi.
Không phải bất kỳ sợ hãi đặc biệt nào nhưng chính cội
gốc của sợ hãi bị tiêu diệt trong quan sát này. Không có
người quan sát, chỉ có quan sát.
Sợ
hãi là một công việc rất phức tạp, cũng cổ xưa như những
quả đồi, cũng cổ xưa như nhân loại và nó có một câu
chuyện rất lạ thường để kể cho bạn nghe. Nhưng bạn phải
biết được nghệ thuật lắng nghe nó và có vẻ đẹp tuyệt
vời trong lắng nghe đó. Chỉ có đang lắng nghe và câu chuyện
không còn tồn tại nữa.
Ngày
15 tháng mười một
Thư
gởi trường học – Quyển I – Ngày 15-11-1978
Từ
ngữ trách nhiệm nên được hiểu trong tất cả ý nghĩa của
nó, nó có nguồn gốc từ to respond, đáp lại, đáp lại không
phải từng phần nhưng tổng thể. Từ ngữ đó cũng ngụ ý
hướng về lại: đáp lại đến cái nền tảng quá khứ của
bạn, mà là hướng về lại tình trạng bị quy định của
bạn. Như nó thông thường được hiểu, trách nhiệm là hành
động của những quy định con người. Nền văn hóa của người
ta, xã hội mà trong đó người ta sống, tự nhiên quy định
cái trí, dù rằng nền văn hóa đó là bản xứ hay ngoại lai.
Từ nền tảng quá khứ này người ta đáp lại và sự đáp
lại này giới hạn trách nhiệm của chúng ta. Nếu một người
được sinh ra ở Ấn độ, Châu âu, nước Mỹ hay bất kỳ
nơi nào, sự đáp lại của người ta sẽ lệ thuộc vào sự
mê tín tôn giáo – tất cả những tôn giáo là những cơ cấu
mê tín – hay chủ nghĩa quốc gia, hay những lý thuyết khoa
học. Những sự việc này quy định sự đáp lại của người
ta và chúng luôn luôn bị giới hạn, hạn chế. Và vì thế
luôn luôn có mâu thuẫn, xung đột và phát sinh rối loạn.
Điều này không tránh khỏi và nó tạo ra sự phân chia giữa
những con người. Phân chia trong bất kỳ hình thức nào phải
mang lại không chỉ xung đột và bạo lực mà cuối cùng là
chiến tranh.
Nếu
người ta hiểu rõ được nghĩa lý thực sự của từ ngữ
trách nhiệm và điều gì xảy ra trong thế giới ngày nay, người
ta thấy rằng trách nhiệm đã trở thành vô trách nhiệm. Trong
hiểu rõ điều gì là vô trách nhiệm chúng ta sẽ bắt đầu
nắm bắt được điều gì là trách nhiệm. Trách nhiệm dành
cho tổng thể, như từ ngữ ngụ ý, không phải cho chính bản
thân một người nào, không phải cho gia đình của một người
nào, không phải cho những khái niệm hay những niềm tin nào
đó, nhưng cho toàn thể nhân loại.
Những
nền văn hóa khác nhau của chúng ta đã nhấn mạnh vào sự
phân chia, được gọi là chủ nghĩa cá thể, mà kết quả
là mỗi người đang làm điều gì anh ấy muốn hay đang gắn
kết vào tài năng đặc biệt nhỏ xíu của anh ấy, dù rằng
tài năng đó có lẽ gây ích lợi và hữu dụng cho xã hội
bao nhiêu. Điều này không có nghĩa những người độc tài
muốn người ta tin tưởng bất kỳ điều gì, ngoại trừ rằng
chỉ có chính thể độc tài đó và những người có chức
quyền mà đại diện cho chính thể là quan trọng, không phải
những con người. Chính thể là một khái niệm, nhưng một
con người dù anh ấy sống trong chính thể đó, không là một
khái niệm. Sợ hãi là một thực tại không là một khái niệm.
Một
con người theo tâm lý là toàn thể nhân loại. Anh ấy không
chỉ đại diện cho nó nhưng anh ấy còn là toàn thể chủng
loại loài người. Anh ấy nhất thiết phải là toàn bộ cái
tinh thần của nhân loại. Trên thực tế này những nền văn
hóa khác nhau đã áp đặt ảo tưởng rằng mỗi con người
đều khác biệt. Trong ảo tưởng này nhân loại đã bị trói
buộc nhiều thế kỷ và ảo tưởng này đã trở thành một
thực tế. Nếu người ta quan sát cẩn thận toàn bộ cấu
trúc tâm lý của chính người ta, người ta sẽ phát giác rằng
khi người ta trải qua đau khổ, vậy là tất cả nhân loại
đều trải qua đau khổ trong những mức độ khác nhau. Nếu
bạn cô độc, toàn thể nhân loại biết sự cô độc này.
Nỗi thống khổ, ganh tị, đố kỵ và sợ hãi đều được
biết đến bởi tất cả mọi người. Vì vậy theo tâm lý,
ở phía bên trong, người ta giống như một con người khác.
Có lẽ có những khác biệt về thân thể, về sinh lý. Một
người thì cao, hay lùn và vân vân nhưng theo căn bản một
người là đại diện cho tất cả nhân loại. Vì thế theo
tâm lý bạn là thế giới; bạn chịu trách nhiệm cho toàn
thể nhân loại, không phải cho chính bạn như một con người
tách rời, mà là một ảo tưởng thuộc tâm lý. Vì là đại
diện của toàn thể chủng tộc loài người, đáp lại của
bạn là tổng thể chứ không phải từng phần. Vì vậy trách
nhiệm có một ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn. Người ta phải
học hỏi nghệ thuật của trách nhiệm này. Nếu người ta
hiểu rõ được đầy đủ ý nghĩa rằng theo tâm lý người
ta là thế giới, vậy thì trách nhiệm trở thành một tình
yêu ngập tràn. Rồi thì người ta sẽ chăm sóc cho một em
bé, không phải ở cái tuổi non trẻ, nhưng nhìn thấy rằng
em bé hiểu rõ đầy đủ ý nghĩa của trách nhiệm đó suốt
cuộc đời của em. Nghệ thuật này gồm có cách cư xử, những
phương cách suy nghĩ của người ta và sự quan trọng của
hành động đúng đắn. Trong những ngôi trường của chúng
ta, trách nhiệm đối với quả đất, đối với thiên nhiên
và đối với mỗi người khác là thành phần của nền giáo
dục của chúng ta chứ không chỉ đặt sự nhấn mạnh vào
những môn học về văn hóa mặc dù chúng cũng cần thiết.
Vậy
thì chúng ta có thể hỏi người giáo viên đang dạy điều
gì và học sinh đang thâu nhận điều gì, và rộng rãi
hơn – học hỏi là gì? Chức năng của người giáo viên là
gì? Bộ nó chỉ là dạy đại số, và vật lý hay chức năng
của nó là đánh thức trong em học sinh – và vì vậy trong
chính người giáo viên – cái ý thức to tát của trách nhiệm
này? Liệu rằng hai sự việc này có thể hòa hợp cùng nhau
hay không? Đó là, những môn học văn hóa mà sẽ trợ giúp
trong một nghề nghiệp và trách nhiệm cho toàn thể nhân loại
và cuộc sống này. Hay chúng phải được giữ tách rời nhau?
Nếu chúng tách rời, vậy thì sẽ có mâu thuẫn trong cuộc
sống của em học sinh; em trở thành một người đạo đức
giả và có ý thức hay không có ý thức vận dụng cuộc sống
của em trong hai cái ngăn được phân định rõ ràng. Nhân loại
sống trong sự phân chia này. Ở nhà anh ấy sống một cách
và trong nhà máy hay trong văn phòng anh ấy khoác một bộ mặt
khác hẳn. Chúng ta đã hỏi rằng liệu hai cái chuyển động
này có thể di chuyển cùng nhau hay không? Việc này có thể
được hay không? Khi một câu hỏi của loại này được đặt
ra người ta phải tìm hiểu những hàm ý của câu hỏi chứ
không phải liệu rằng có thể được hay liệu rằng không
thể được. Vì vậy điều tối thiết là làm thế nào bạn
tiếp cận câu hỏi này. Nếu bạn tiếp cận nó từ nền tảng
quá khứ bị giới hạn của bạn – và tất cả tình trạng
bị quy định đều bị giới hạn, vậy thì nó sẽ là một
hiểu rõ từng phần của những hàm ý trong vấn đề
này. Bạn phải đến với câu hỏi này mới mẻ lại. Lúc
đó bạn sẽ phát giác được sự vô ích của chính câu hỏi
bởi vì, khi bạn tiếp cận nó mới mẻ lại, bạn sẽ nhận
ra rằng hai sự việc này gặp gỡ được giống như hai con
suối tạo thành một con sông chảy cuồn cuộn mà là cuộc
sống của bạn, cuộc sống hàng ngày của bạn của trách
nhiệm tổng thể.
Đây
có là điều gì mà các bạn đang dạy dỗ, đang nhận ra rằng
người giáo dục có nghề nghiệp vĩ đại nhất trong tất
cả các nghề nghiệp hay không? Đây không chỉ là những từ
ngữ nhưng là một sự thật tồn tại mãi mãi không thể bỏ
qua được. Nếu bạn không cảm thấy sự thật của việc
này vậy thì bạn thực sự nên có một nghề nghiệp khác.
Rồi bạn sẽ sống trong những ảo tưởng mà con người đã
tạo ra cho chính nó.
Vì
vậy chúng ta có thể hỏi lại: bạn đang dạy điều gì và
người học sinh đang thâu nhận điều gì? Có phải bạn đang
tạo ra bầu không khí kỳ diệu mà trong đó học hỏi thực
sự đang xảy ra? Nếu bạn đã hiểu rõ sự tuyệt vời của
trách nhiệm và vẻ đẹp của nó, vậy thì bạn có trách nhiệm
tổng thể với em học sinh – em mặc cái gì, em ăn uống ra
sao, em nói chuyện như thế nào và vân vân.
Từ
câu hỏi này sẽ nẩy ra một câu hỏi khác, học hỏi là gì?
Có thể hầu hết chúng ta thậm chí không bao giờ đặt câu
hỏi đó, hay nếu chúng ta đã đặt ra, câu trả lời của
chúng ta luôn luôn xuất phát từ truyền thống, mà là sự
hiểu biết được tích lũy, hiểu biết mà vận hành có kỹ
năng hay không có kỹ năng để kiếm sống hàng ngày của chúng
ta. Đây là điều gì mà người ta đã được dạy dỗ, vì
tất cả những trường trung học, trường cao đẳng, trường
đại học vân vân đều tồn tại do việc này. Hiểu
biết giữ nhiệm vụ chính yếu trong sự điều phối cuộc
sống hàng ngày, mà là một trong những quy định quan trọng
nhất của chúng ta, và vì thế bộ não không bao giờ được
tự do khỏi cái đã được biết. Nó luôn luôn đang thêm vào
cái gì đã được biết sẵn rồi, và thế là bộ não bị
đặt trong một cái áo của cái đã được biết và không
bao giờ được tự do để khám phá một phương cách sống
mà có lẽ không đặt nền tảng vào cái đã được biết.
Cái đã được biết tạo ra một khe rãnh chật hẹp hoặc
rộng rãi và người ta ở trong khe rãnh đó bởi vì nghĩ rằng
có một an toàn trong nó. An toàn đó bị hủy diệt bởi vì
cái đã được biết rất giới hạn. Đây đã là cách sống
của con người từ trước đến nay.
Vì
vậy liệu rằng có một cách học hỏi mà không biến cuộc
sống thành một thói quen đều đều, một cái khe rãnh chật
hẹp hay không? Vậy thì học hỏi là gì? Người ta phải rất
rõ ràng về những phương cách của hiểu biết: đầu tiên
thâu lượm hiểu biết và tiếp theo hành động từ hiểu biết
đó – thuộc công nghệ và thuộc tâm lý, hay hành động,
và từ hành động đó thâu lượm được hiểu biết? Cả
hai đều là những thâu lượm của hiểu biết. Hiểu biết
luôn luôn là quá khứ. Có một cách hành động mà không có
cái trọng tải nặng nề của hiểu biết được tích lũy
của con người hay khộng? Thưa rằng có. Nó không là học
hỏi như chúng ta đã biết về nó; nó là sự quan sát thuần
khiết – quan sát mà không có sự tiếp tục và sau đó trở
thành ký ức, nhưng quan sát từ khoảnh khắc này sang khoảnh
khắc khác. Người quan sát là bản thể của hiểu biết và
anh ấy áp đặt vào cái gì anh ấy quan sát những việc mà
anh ấy đã thâu lượm được qua trải nghiệm và vô số hình
thức khác nhau của phản ứng thuộc giác quan. Người quan
sát luôn luôn gây ảnh hưởng cái cái gì anh ấy quan sát,
và cái gì anh ấy quan sát luôn luôn giảm thiểu đến giới
hạn hiểu biết. Vì vậy anh ấy luôn luôn bị trói buộc trong
những truyền thống cũ kỹ của hình thành thói quen. Vì vậy
học hỏi là quan sát thuần khiết – không chỉ về những
sự vật ở bên ngoài bạn mà còn về những điều đang xảy
ra phía bên trong; quan sát mà không còn người quan sát.
Ngày
01 tháng mười hai
Thư
gởi trường học – Quyển I – Ngày 01-12-1978
Nguyên
chuyển động của cuộc sống là học hỏi. Không bao giờ
có một thời gian trong đó không có học hỏi. Mỗi hành động
là một chuyển động của học hỏi và mỗi liên hệ là học
hỏi. Sự tích lũy hiểu biết, mà được gọi là học hỏi
và với sự tích lũy đó chúng ta đã quá quen thuộc, chỉ
cần thiết đến một mức độ có giới hạn, nhưng giới
hạn đó ngăn cản chúng ta không hiểu rõ chính bản thân chúng
ta. Hiểu biết đo lường được, nhiều hơn hay ít hơn, nhưng
trong học hỏi không có đo lường. Điều này thực sự rất
quan trọng để chúng ta hiểu rõ, đặc biệt nếu bạn muốn
nắm bắt được trọn vẹn ý nghĩa của một cuộc sống tôn
giáo. Hiểu biết là ký ức và nếu bạn đã quan sát cái thực
tế, điều ngay lúc này, không là ký ức. Trong quan sát ký
ức không còn nơi chỗ. Cái thực tế là cái gì đang thực
sự xảy ra. Một giây sau là đo lường được và đây là
cái cách của ký ức.
Quan
sát chuyển động của một con côn trùng cần sự chú ý –
đó là nếu bạn thích quan sát con côn trùng hay bất kỳ việc
gì gây thích thú cho bạn. Lại nữa quan sát này không thể
đo lường được. Trách nhiệm của người giáo dục là hiểu
rõ toàn cấu trúc và bản chất của ký ức, quan sát sự giới
hạn này và giúp đỡ em học sinh hiểu được việc này. Chúng
ta học hỏi từ những quyển sách hay từ một người giáo
viên có nhiều thông tin về một môn học và bộ não của
chúng ta bị nhét đầy những thông tin này. Thông tin này nói
về những sự vật, về thiên nhiên, về mọi thứ bên ngoài
của chúng ta, và khi chúng ta muốn học hỏi về chính bản
thân mình chúng ta dựa dẫm vào những quyển sách giải thích
về bản thân chúng ta. Vì vậy qui trình này tiếp tục vô
tận và dần dần chúng ta trở thành những con người phó
bản. Đây là một sự kiện có thể quan sát được khắp
thế giới và đây là nền giáo dục hiện đại của chúng
ta.
Hành
động của học hỏi, như chúng ta đã giải thích, là hành
động quan sát thuần khiết và quan sát này không bị trói
buộc trong giới hạn của ký ức. Chúng ta học để kiếm
sống nhưng chúng ta không bao giờ sống. Sự vận dụng để
kiếm sống đã nuốt trọn cuộc đời của chúng ta; chúng
ta hầu như không còn bất kỳ thời gian nào cho những việc
khác. Chúng ta tìm ra thời gian nói chuyện nhảm, giải trí,
chơi đùa, nhưng tất cả việc này không là đang sống. Còn
có nguyên một lãnh vực mà là đang sống thực sự, hầu như
bị bỏ quên hoàn toàn.
Muốn
học hỏi nghệ thuật sống người ta phải có nhàn rỗi. Từ
ngữ nhàn rỗi hầu như đã được hiểu quá sai rồi, như
chúng ta đã nói trong lá thư thứ ba của chúng ta. Thông thường
nó có nghĩa là không bị bận rộn bởi những thứ mà chúng
ta phải làm như kiếm sống, đi đến văn phòng, nhà máy và
vân vân, và chỉ khi nào những việc đó chấm dứt thì mới
có nhàn rỗi. Trong suốt thời gian tạm gọi là nhàn rỗi đó,
bạn muốn được vui đùa, bạn muốn được thư giãn, bạn
muốn làm những việc mà bạn thực sự thích thú hay đòi
hỏi khả năng cao nhất của bạn. Việc kiếm sống của bạn,
dù bạn làm việc gì chăng nữa, đối nghịch cái thời gian
tạm gọi là nhàn rỗi. Vì vậy luôn luôn có sự căng thẳng,
một áp lực và sự tẩu thoát khỏi áp lực đó, và nhàn
rỗi là khi bạn không còn căng thẳng. Trong suốt thời gian
nhàn rỗi đó bạn nhặt lên một tờ báo, dở một quyển
tiểu thuyết, nói chuyện nhảm nhí, chơi đùa và vân vân.
Đây là sự kiện thực sự. Đây là điều gì đang xảy ra
ở khắp mọi nơi. Kiếm sống là khước từ đang sống.
Thế
là chúng ta đến được câu hỏi – nhàn rỗi là gì? Nhàn
rỗi, như người ta hiểu nó, là một thời gian giải lao tách
khỏi những áp lực của kiếm sống. Áp lực của kiếm sống
hay bất kỳ áp lực nào áp đặt vào chúng ta thông thường
được hiểu là không có nhàn rỗi, nhưng có một áp lực
lớn lao hơn nhiều trong chúng ta, có ý thức hay không ý thức,
mà là ham muốn và chúng ta sẽ tìm hiểu điều đó sau.
Trường
học là một nơi dành cho nhàn rỗi. Chỉ khi nào bạn có nhàn
rỗi thì bạn mới có thể học hỏi được. Đó là: học
hỏi chỉ có thể xảy ra khi không còn áp lực của bất kỳ
loại nào. Khi một con rắn hay một mối hiểm họa đối diện
với bạn, có một loại học hỏi từ áp lực của sự
kiện nguy hiểm đó. Học hỏi dưới áp lực đó là sự vun
quén của ký ức mà sẽ giúp bạn nhận ra mối hiểm hoạ
của tương lai và vì thế trở thành một đáp lại máy móc.
Nhàn rỗi hàm ý một cái trí không bị bận rộn. Chỉ lúc
đó mới có một trạng thái học hỏi. Trường học là một
nơi học hỏi và không chỉ là nơi tích lũy hiểu biết. Điều
này thực sự quan trọng mà chúng ta cần hiểu rõ. Như chúng
ta đã nói, hiểu biết là cần thiết và có vị trí giới
hạn riêng của nó trong cuộc sống. Rủi thay giới hạn này
đã nuốt trọn hết cuộc sống của chúng ta và chúng ta không
còn khoảng không gian nào cho học hỏi nữa. Chúng ta quá bận
rộn bởi sinh kế của chúng ta đến nỗi nó cướp đi tất
cả năng lượng thuộc hệ thống máy móc của tư tưởng,
để cho chúng ta kiệt sức vào cuối ngày và cần được phấn
khích lại. Chúng ta hồi phục từ sự kiệt sức này qua giải
trí – tôn giáo hay những thứ khác. Đây là cuộc sống của
những con người. Những con người đã tạo ra một xã hội
đòi hỏi tất cả thời gian của họ, tất cả những năng
lượng của họ, tất cả cuộc sống của họ. Không có nhàn
rỗi để học hỏi và vì thế cuộc sống của họ trở thành
máy móc, hầu như vô nghĩa. Vì vậy chúng ta phải rất rõ
ràng khi hiểu từ ngữ nhàn rỗi – một thời gian, một thời
điểm, khi cái trí không bị bận tâm bởi bất kỳ điều
gì cả. Nó là thời gian của quan sát. Chỉ khi nào một cái
trí không bị chiếm hữu, không bị bận tâm mới có thể
quan sát. Một quan sát tự do là chuyển động của học hỏi.
Điều này làm tự do cái trí không còn bị máy móc.
Vì
vậy liệu người giáo viên, người giáo dục, có thể giúp
đỡ em học sinh hiểu rõ toàn thể công việc của kiếm sống
cùng tất cả áp lực của nó hay không? Việc học hành mà
giúp đỡ bạn có một công ăn việc làm cùng tất cả những
sợ hãi và lo âu của nó và hướng về ngày mai bằng cặp
mắt kinh hãi à? Bởi vì chính anh ấy đã hiểu rõ bản chất
của nhàn rỗi và quan sát thuần khiết để cho kiếm sống
không trở thành một hành hạ, một khốn khổ lớn lao suốt
cuộc đời, liệu rằng người giáo viên có thể giúp đỡ
em học sinh có một cái trí không máy móc hay không? Nó là
trách nhiệm tuyệt đối của người giáo viên để vun quén
sự nở hoa của tốt lành trong nhàn rỗi. Vì lý do này những
ngôi trường có mặt và tồn tại. Trách nhiệm của người
giáo viên là tạo ra một thế hệ mới để thay đổi cái
cấu trúc của xã hội hoàn toàn không còn bị bận rộn bởi
việc kiếm sống. Rồi thì dạy học trở thành một hành động
thánh thiện.
Ngày
15 tháng mười hai
Thư
gởi trường học – Quyển I – Ngày 15-12-1978
Một
trong những lá thư vừa qua chúng ta đã nói rằng trách nhiệm
tổng thể là tình yêu. Trách nhiệm này không dành cho một
quốc gia đặc biệt hay một nhóm người đặc biệt, hay một
cộng đồng đặc biệt, hay một thần thánh đặc biệt, hay
một hình thức nào đó của một cương lĩnh chính trị hay
vị đạo sư riêng của bạn, nhưng dành cho tất cả nhân loại.
Điều này phải được hiểu rõ và cảm thấy sâu sắc và
đây là trách nhiệm của người giáo dục. Hầu như tất cả
chúng ta đều cảm thấy trách nhiệm cho gia đình, con cái của
chúng ta và vân vân, nhưng không cảm thấy quan tâm và gắn
kết tổng thể đến môi trường chung quanh chúng ta, đến
thiên nhiên, hay cảm thấy trách nhiệm tổng thể cho những
hành động của chúng ta. Cảm thấy tổng thể này là tình
yêu. Nếu không có tình yêu này không thể có thay đổi trong
xã hội. Những nhà lý tưởng, mặc dù có lẽ họ yêu lý
tưởng hay khái niệm của họ, đã không tạo ra một xã hội
hoàn toàn khác hẳn. Những người cách mạng, những người
khủng bố, không có cách nào thay đổi triệt để cấu trúc
những xã hội của chúng ta. Những người cách mạng theo bạo
lực vật chất đã nói về tự do cho tất cả mọi người,
thành lập một xã hội mới, nhưng tất cả những biệt ngữ
và khẩu hiệu chỉ hành hạ thêm nữa cho tinh thần và sự
tồn tại. Họ đã bóp méo những từ ngữ để phù hợp với
quan điểm bị giới hạn riêng của họ. Không có một hình
thức nào của bạo lực đã thay đổi xã hội trong ý nghĩa
cơ bản nhất của nó. Những người cai trị vĩ đại qua quyền
lực của một ít người đã tạo ra một loại trật tự nào
đó trong xã hội. Thậm chí những người độc tài đã hời
hợt thiết lập được qua bạo hành và tra tấn cái vẻ bên
ngoài của trật tự. Chúng ta không đang nói về một trật
tự như thế trong xã hội.
Chúng
ta đang nói rất rõ ràng và dứt khoát rằng chỉ khi nào có
trách nhiệm tổng thể cho tất cả nhân loại – mà là tình
yêu – mới có thể thay đổi cơ bản tình trạng hiện nay
của xã hội. Dù hệ thống chính thể đang tồn tại có thể
khác biệt như thế nào chăng nữa trong những vùng đất khác
nhau của thế giới, nó đều thối nát, suy đồi và hoàn toàn
không có đạo đức. Bạn chỉ cần quan sát chung quanh bạn
để thấy được sự kiện này. Hàng triệu trên hàng triệu
đã chi phí vào công việc trang bị vũ khí khắp thế giới
và tất cả những chính trị gia nói về hòa bình trong khi
lại chuẩn bị cho chiến tranh. Những tôn giáo đã lặp đi
lặp lại sự thánh thiện của hòa bình, nhưng họ lại khuyến
khích những cuộc chiến tranh cùng những loại bạo lực và
hành hạ tinh tế. Có rất nhiều những phân chia và những
giáo phái với những nghi lễ của họ và tất cả những điều
vô lý đang xảy ra nhân danh Chúa và tôn giáo. Nơi nào có sự
phân chia phải có vô trật tự, tranh đấu,xung đột – dù
rằng đó là tôn giáo, chính trị hay kinh tế. Xã hội hiện
đại của chúng ta đặt nền tảng vào tham lam, đố kị, và
quyền lực. Khi bạn suy xét tất cả việc này như nó thực
sự xảy ra – chủ nghĩa thương mại đang tràn ngập này –
tất cả việc này thể hiện sự thoái hóa và vô đạo đức
từ căn bản. Thay đổi cơ bản khuôn mẫu của cuộc sống
chúng ta, mà là nền tảng của tất cả xã hội, là trách
nhiệm của người giáo dục. Chúng ta đang hủy diệt quả
đất và tất cả sự vật trên nó đều đang bị hủy diệt
để phục vụ sự thỏa mãn của chúng ta.
Giáo
dục không chỉ là dạy dỗ những môn học văn hóa khác nhau
nhưng còn là sự vun quén trách nhiệm tổng thể trong em học
sinh. Người ta, như một người giáo dục, không nhận ra rằng
người ta đang giới thiệu một thế hệ mới. Hầu hết những
trường học chỉ quan tâm đến sự truyền đạt hiểu biết.
Họ chẳng quan tâm gì đến sự chuyển đổi con người và
cuộc sống hàng ngày của anh ấy, và bạn – người giáo
dục trong những ngôi trường này – cần có sự quan tâm sâu
sắc này và sự ân cần của trách nhiệm tổng thể này.
Vậy
thì bằng phương cách nào bạn có thể giúp đỡ em học sinh
cảm thấy chất lượng tình yêu này cùng tất cả sự hoàn
hảo của nó? Nếu chính bạn không cảm thấy việc này thật
thâm sâu, nói về trách nhiệm này đều vô nghĩa. Như một
người giáo dục liệu bạn có cảm thấy sự thật của việc
này không?
Thấy
sự thật của nó tự nhiên sẽ tạo ra tình yêu và trách nhiệm
tổng thể này. Bạn phải suy nghĩ về nó, quan sát nó hàng
ngày trong cuộc sống của bạn, trong những liên hệ của bạn
với người vợ của bạn, những người bạn của bạn, những
em học sinh của bạn. Và trong sự liên hệ của bạn với
những em học sinh bạn sẽ nói về điều này từ quả tim
của bạn, không phải theo đuổi sự rõ ràng chỉ bằng từ
ngữ mà thôi. Cảm thấy của sự thật này là một quà tặng
lớn lao mà con người có thể có được và ngay khi nó đang
bừng cháy trong bạn, bạn sẽ tìm được từ ngữ đúng đắn,
hành động đúng đắn và cư xử đúng đắn. Khi bạn để
ý em học sinh bạn sẽ thấy rằng em đến với bạn hoàn toàn
không chuẩn bị cho tất cả sự việc này. Em đến với bạn
đầy sợ hãi, lo lắng, ưu tư, để làm hài lòng bạn hay để
phòng vệ, bị điều kiện bởi cha mẹ của em và xã hội
mà trong đó em đã sống trong vài năm. Bạn phải thấy được
nền tảng quá khứ của em, bạn phải quan tâm đến cái gì
em thực sự là và không áp đặt vào em những quan điểm,
những kết luận, những nhận xét riêng tư của bạn. Khi hiểu
rõ em ấy là gì, nó sẽ bộc lộ bạn là gì, và thế là bạn
sẽ phát giác ra em học sinh là bạn.
Và
bây giờ liệu bạn có thể trong khi dạy những môn toán, vật
lý và vân vân – mà em phải biết vì đó là một phương
cách để kiếm sống – giảng giải cho em học sinh rằng em
phải chịu trách nhiệm cho toàn thể nhân loại hay không? Mặc
dù có lẽ em đang học hành vì nghề nghiệp riêng của em,
vì phương cách sống riêng của em, nó sẽ không làm cho cái
trí của em chật hẹp lại. Em sẽ hiểu rõ sự nguy hiểm của
việc chuyên môn hóa cùng tất cả những giới hạn và tánh
hung bạo lạ lùng của nó. Bạn phải giúp cho em thấy được
tất cả việc này. Nở hoa của tốt lành không ở trong kiến
thức của môn toán và môn sinh hay vượt qua những kỳ thi
và có một nghề nghiệp thành công. Nó hiện hữu ở bên ngoài
những việc này và khi có nở hoa này, nghề nghiệp và những
hoạt động cần thiết khác được khắn khít cùng vẻ đẹp
của nở hoa. Hiện nay chúng ta đang nhấn mạnh vào một phía
và lại không hoàn toàn lưu tâm đến sự nở hoa. Trong những
ngôi trường này chúng ta đang cố gắng mang hai sự việc này
vào cùng nhau, không phải hời hợt, giả tạo, không phải
như một nguyên tắc hay một khuôn mẫu nào đó mà bạn đang
tuân theo, nhưng bởi vì bạn thấy được sự thật tuyệt
đối rằng hai sự việc này phải tuôn tràn cùng nhau cho sự
tái sinh của con người.
Bạn
có thể làm được việc này hay không? Không phải bởi vì
bạn đồng ý thực hiện công việc đó sau khi đã thảo luận
và đạt được một kết luận, nhưng trái lại nhìn thấy
cái lực hấp dẫn lạ lùng của việc này bằng con mắt phía
bên trong: hãy thấy nó cho chính bản thân bạn. Vậy là điều
gì bạn diễn tả sẽ có ý nghĩa ghê lắm. Vậy là bạn trở
thành một trung tâm của ánh sáng mà không bị thắp sáng bởi
một người nào khác. Vì bạn là tất cả nhân loại – mà
là một thực tế, sự thật, không phải một câu phát biểu
bằng từ ngữ – bạn hoàn toàn có trách nhiệm tổng thể
cho tương lai của nhân loại. Làm ơn hãy đừng coi sự việc
này như một gánh nặng. Nếu bạn như thế, gánh nặng đó
là một đống từ ngữ mà không có bất kỳ thực tế, sự
thật nào cả. Nó là một ảo tưởng. Trách nhiệm này có
hoan hỉ riêng của nó, hóm hỉnh riêng của nó, sự chuyển
động riêng của nó mà không còn sức nặng của tư tưởng.
–
1979 –
Ngày
01 tháng giêng
Thư
gởi trường học – Quyển I – Ngày 01-01-1979
Có
vẻ vì chúng ta quan tâm đến giáo dục, có hai yếu tố chúng
ta phải luôn luôn ghi nhớ. Một là chuyên cần và yếu tố
thứ hai là lười biếng. Hầu hết mọi tôn giáo đã nói về
hoạt động của cái trí, để được kiểm soát, được định
hướng theo ý muốn của Chúa, hay bởi một tác nhân bên ngoài
nào đó; và hiến dâng cho một thần thánh nào đó, được
chạm khắc bằng bàn tay hay tưởng tượng bởi cái trí, cần
một chất lượng nào đó của chú ý mà trong đó cảm xúc,
cảm tính và tưởng tượng lãng mạn đều có liên hệ đến.
Đây là hoạt động của cái trí mà là tư tưởng. Từ ngữ
chuyên cần ám chỉ chăm sóc, canh chừng, quan sát và một ý
thức sâu thẳm của tự do. Hiến dâng cho một mục đích,
một vật, một con người, hay một nguyên tắc là phủ nhận
tự do này. Chuyên cần là chú ý mà tự nhiên tạo ra một
ân cần, quan tâm vô biên và sự trong sáng của thương yêu.
Tất cả việc này đòi hỏi sự nhạy cảm cực độ. Người
ta nhạy cảm với những tổn thương tâm lý hay những ham muốn
riêng của người ta, hay người ta nhạy cảm với một con
người riêng biệt, quan sát những ham muốn của người ấy
và đáp ứng mau lẹ đến những yêu cầu của người ấy;
nhưng loại nhạy cảm này bị giới hạn và hầu như không
thể nào gọi là nhạy cảm được. Chất lượng của nhạy
cảm mà chúng ta đang bàn đến xảy ra một cách tự nhiên
khi có trách nhiệm tổng thể mà là tình yêu. Chuyên cần có
chất lượng này.
Lười
biếng là dửng dưng, uể oải; dửng dưng đối với những
cơ quan của thân thể, đối với trạng thái tinh thần và
dửng dưng đối với những người khác. Trong dửng dưng có
sự nhẫn tâm chai lỳ. Trong trạng thái này cái trí trở nên
lờ đờ, hoạt động của tư tưởng chậm lại, nhạy bén
của trực nhận bị khước từ và nhạy cảm là một sự
việc không thể nào hiểu rõ được. Hầu hết chúng ta thỉnh
thoảng chuyên cần nhưng thường xuyên đều lười biếng.
Chúng không thực sự là những đối nghịch. Nếu chúng là
những đối nghịch, vậy thì chuyên cần sẽ vẫn còn là lười
biếng. Chuyên cần có là kết quả của lười biếng hay không?
Nếu nó là như vậy, nó vẫn còn là thành phần của lười
biếng và vì vậy không thực sự là chuyên cần. Hầu hết
mọi người đều chuyên cần trong lợi ích riêng của họ,
dù rằng lợi ích đó được gắn kết với gia đình, với
một nhóm người, một giáo phái hay một quốc gia riêng. Trong
lợi ích này có hạt giống của lười biếng mặc dù có sự
tập trung liên tục của chính mình. Sự tập trung này bị
giới hạn bởi vậy nó là lười biếng. Sự tập trung này
là năng lượng bị nhốt trong một biên giới chật hẹp. Chuyên
cần là tự do khỏi tập trung tự tạo này và mang lại một
phong phú của năng lượng. Khi người ta hiểu rõ bản chất
của lười biếng, chuyên cần hiện hữu mà không cần bất
kỳ nỗ lực nào. Khi điều này được hiểu rõ – không phải
chỉ bằng những định nghĩa thuộc từ ngữ về lười biếng
và chuyên cần – lúc đó sự hoàn hảo tột đỉnh nhất trong
tư tưởng, hành động, cách cư xử của chúng ta sẽ tự thể
hiện. Nhưng bất hạnh thay, chúng ta không bao giờ đòi hỏi
cho chính mình chất lượng tột đỉnh của tư tưởng, hành
động và cách cư xử. Chúng ta hầu như không bao giờ thách
thức chính mình và nếu chúng ta có lần nào làm như thế,
chúng ta lại có rất nhiều lời bào chữa vì không đáp ứng
trọn vẹn. Việc này ám chỉ rằng, có phải như vậy không,
một sự lười biếng của cái trí, một hoạt động lờ đờ
của tư tưởng? Thân thể có thể lười biếng nhưng cái trí
cùng suy nghĩ nhạy bén và tinh tế của nó không bao giờ lười
biếng. Sự lười biếng của thân thể có thể dễ dàng hiểu
rõ được. Sự lười biếng này có thể bởi vì người ta
bị làm việc quá nhiều hay quá buông thả, hay đã chơi những
trò chơi quá cực nhọc. Vì thế thân thể cần nghỉ ngơi
mà có lẽ được coi là lười biếng dù nó không phải như
thế. Cái trí cảnh giác, đang tỉnh táo, nhạy cảm, biết
được khi nào các cơ quan thân thể cần được nghỉ ngơi
và chăm sóc.
Trong
những trường học của chúng ta rất quan trọng phải hiểu
rõ rằng chất lượng của năng lượng mà là chuyên cần đòi
hỏi một loại thức ăn phù hợp, một loại vận động đúng
cách, và ngủ đầy đủ. Thói quen, công việc đều đặn,
là kẻ thù của chuyên cần – thói quen của tư tưởng, của
hành động, của cách cư xử. Chính tư tưởng tạo ra khuôn
mẫu riêng của nó và sống trong khuôn mẫu đó. Khi khuôn mẫu
đó bị thách thức, có hai cách là hoặc nó không cần lưu
tâm hoặc tư tưởng tạo ra một khuôn mẫu an toàn khác. Đây
là chuyển động của tư tưởng – từ một khuôn mẫu này
đến một khuôn mẫu khác, từ một kết luận, một niềm
tin đến một cái khác. Đây chính là sự lười biếng của
tư tưởng. Cái trí chuyên cần không có thói quen; nó không
có khuôn mẫu của đáp lại. Nó là chuyển động vô tận,
không bao giờ kết hợp thành thói quen, không bao giờ bị trói
buộc trong những kết luận. Chuyển động đó có một chiều
sâu và khối lượng khổng lồ khi nó không còn biên giới
bị tạo ra bởi sự lười biếng của tư tưởng.
Bởi
vì bây giờ chúng ta quan tâm đến giáo dục, bằng phương
cách nào người giáo viên có thể chuyển tải sự chuyên cần
này cùng nhạy cảm của nó, cùng ân cần phong phú của nó
mà trong đó sự lười biếng của tinh thần không còn chỗ
đứng? Dĩ nhiên người ta hiểu rõ rằng người giáo dục
quan tâm đến câu hỏi này và nhìn thấy sự quan trọng của
chuyên cần suốt mọi ngày trong cuộc sống của anh ấy. Nếu
anh ấy làm như thế, vậy thì làm thế nào anh ấy khởi sự
vun quén được sự nở hoa của chuyên cần này? Anh ấy có
quan tâm sâu sắc đến em học sinh hay không? Anh ấy có thực
sự nhận trách nhiệm tổng thể cho những người trẻ tuổi
này mà anh ấy đang phụ trách hay không? Hay anh ấy chỉ ở
đó để kiếm sống, bị trói buộc trong sự đau khổ của
kiếm được quá ít tiền? Như chúng ta đã vạch rõ trong
những lá thư trước, dạy học là năng lực cao quí nhất
của con người. Bạn ở đó và bạn có những em học sinh
trước mặt bạn, chính như vậy mà bạn dửng dưng phải không?
Hay bởi vì những rắc rối riêng của bạn ở nhà đang lãng
phí năng lượng của bạn?
Phải
mang theo những vấn đề tâm lý từ ngày này qua ngày khác
là một lãng phí thời gian và năng lượng, là dấu hiệu của
lười biếng. Một cái trí chuyên cần gặp gỡ những vấn
đề khi nó nảy sinh, quan sát bản chất của nó và giải quyết
nó ngay tức khắc. Trì hoãn một vấn đề tâm lý không giải
quyết được vấn đề. Nó là một lãng phí của năng lượng
và tinh thần. Khi bạn giải quyết những vấn đề ngay khi
nó nảy sinh, vậy thì bạn sẽ thấy rằng chẳng còn vấn
đề nào cả.
Vì
vậy chúng ta phải quay trở lại câu hỏi: là một người
giáo dục trong những ngôi trường này hay bất kỳ những ngôi
trường nào khác, liệu bạn có thể vun quén được chuyên
cần này hay không? Chỉ trong chuyên cần này nở hoa của tốt
lành mới hiện hữu. Nó là trách nhiệm tổng thể không thể
chối bỏ được của bạn và trong nó là tình yêu này mà
tự nhiên sẽ tìm ra một phương cách để giúp đỡ em học
sinh.
Ngày
15 tháng giêng
Thư
gởi trường học – Quyển I – Ngày 15-01-1979
Rất
quan trọng khi giáo viên nên cảm thấy an toàn cả về tinh
thần lẫn tâm lý trong những ngôi trường này. Vài giáo viên
có vẻ sẵn lòng dạy học mà không quan tâm nhiều về tiền
bạc của họ; họ có lẽ đã đến đây vì việc dạy dỗ
và vì những lý do tâm lý, nhưng mỗi giáo viên nên cảm thấy
an toàn như họ ở nhà, được chăm sóc, mà không có những
lo âu về tiền bạc. Nếu chính người giáo viên không cảm
thấy an toàn và vì vậy không được tự do để chú ý đến
em học sinh và sự an toàn của em bé, người giáo viên sẽ
không thể có trách nhiệm tổng thể được. Nếu người giáo
viên không được hạnh phúc trong chính anh ấy, sự chú ý
của anh ấy sẽ bị phân chia và anh ấy không thể vận dụng
hết toàn năng lực của anh ấy.
Vì
vậy nó trở nên rất quan trọng rằng chúng ta nên tuyển những
giáo viên thích hợp, mời mỗi người ở lại những ngôi
trường của chúng ta trong một khoảng thời gian để tìm ra
liệu người thầy giáo hay cô giáo có thể vui vẻ tham gia
vào điều gì đang được thực hiện hay không. Việc này phải
có tác động chung, hỗ tương cho cả hai phía, trường học
và người dạy học. Rồi thì người giáo viên, vì hạnh phúc,
được an toàn, cảm thấy rằng anh ấy như ở nhà, có thể
tạo trong em học sinh chất lượng an toàn này, cảm thấy rằng
trường học là ngôi nhà của em.
Cảm
thấy như ở nhà ngụ ý, rằng không còn ý thức sợ hãi,
rằng em được bảo vệ về phần vật chất, được chăm
sóc và được tự do phải không? Sự bảo vệ, mặc dù em
học sinh có lẽ phản kháng ý tưởng đang được bảo vệ,
đang được che chở, không có nghĩa rằng em bị nhốt trong
một nhà tù, bị hạn chế và canh chừng nghiêm ngặt. Tự
do rõ ràng không có nghĩa làm điều gì người ta thích và
nó cũng rõ ràng rằng người ta không bao giờ có thể làm
điều gì người ta thích được. Nỗ lực làm điều gì người
ta thích – tạm gọi là tự do cá nhân, mà là chọn một hướng
hành động tùy theo sự ham muốn của người ta – đã tạo
ra sự hỗn loạn về kinh tế và xã hội trong thế giới. Phản
ứng cho sự hỗn loạn này là độc đoán.
Tự
do là một vấn đề rất phức tạp. Người ta phải tiếp
cận nó bằng chú ý tổng thể, bởi vì tự do không là đối
nghịch của tù tội hay một tẩu thoát khỏi những hoàn cảnh
mà người ta đang bị trói buộc. Nó không phải từ một sự
việc gì đó, hay sự lẩn tránh khỏi cưỡng ép, bắt buộc,
tự do không có đối nghịch; nó là chính nó, ở trong nó.
Chính hiểu rõ về bản chất của tự do là đánh thức thông
minh, nó không là một điều chỉnh đến cái gì là, nhưng
hiểu rõ cái gì là và vì vậy vượt khỏi nó. Nếu người
giáo viên không hiểu rõ bản chất của tự do anh ấy sẽ
chỉ áp đặt những thành kiến của anh ấy, những giới hạn
của anh ấy, những kết luận của anh ấy vào em học sinh.
Vì vậy em học sinh tự nhiên sẽ kháng cự hay chấp nhận
qua sợ hãi, trở thành một con người tầm thường, dù nhút
nhát hay hung hăng. Chỉ trong hiểu rõ sự tự do sống này –
không phải ý tưởng về nó hay sự chấp nhận bằng từ ngữ
về nó mà trở thành một khẩu hiệu – thì cái trí mới
được tự do để học hỏi.
Rốt
cuộc ra, một trường học là một nơi mà em học sinh theo
căn bản được hạnh phúc, không phải bị dọa nạt, không
phải bị kinh hãi bởi những kỳ thi, không phải bị những
thúc bách để hành động theo một khuôn mẫu, một hệ thống.
Nó là một nơi mà nghệ thuật của học hỏi đang được
dạy. Nếu em học sinh không hạnh phúc, em không có khả năng
học hỏi nghệ thuật này.
Học
thuộc lòng, ghi nhớ thông tin, được hiểu là học hỏi. Việc
này tạo ra một cái trí bị giới hạn và vì vậy bị điều
kiện nặng nề. Nghệ thuật của học hỏi là đặt thông
tin vào đúng vị trí của nó, để hành động khéo léo tùy
theo điều gì được học hỏi, nhưng cùng lúc không bị trói
buộc bởi những giới hạn của hiểu biết và những hình
ảnh hay biểu tượng mà tư tưởng tạo ra. Nghệ thuật ngụ
ý đặt mọi thứ vào đúng vị trí của nó, không phải tùy
theo một lý tưởng nào. Hiểu rõ hệ thống máy móc của những
lý tưởng và những kết luận là học hỏi nghệ thuật quan
sát. Một khái niệm được đặt vào chung bởi tư tưởng,
hoặc trong tương lai hoặc theo quá khứ, là một lý tưởng
– một ý tưởng được chiếu rọi hay một hồi tưởng.
Nó là một vở kịch của những cái bóng, tạo ra một trừu
tượng của thực tại. Trừu tượng này là một lẩn tránh
khỏi điều gì đang xảy ra ngay lúc này. Tẩu thoát khỏi thực
tại, sự kiện này là trạng thái không hạnh phúc. Bây giờ
liệu chúng ta như những giáo viên có thể giúp đỡ em học
sinh được hạnh phúc theo ý nghĩa thực sự hay không? Chúng
ta có thể giúp em quan tâm đến điều gì đang xảy ra thực
sự hay không? Đây là chú ý. Em học sinh đang nhìn ngắm một
chiếc lá run rẩy dưới ánh mặt trời là chú ý. Cưỡng bách
em quay trở lại quyển sách ngay khoảnh khắc đó là cản trở
sự chú ý; trái lại giúp đỡ em nhìn ngắm chiếc lá đó
trọn vẹn khiến em ý thức được chiều sâu của chú ý mà
trong đó không còn xao lãng. Cùng cách như vậy, bởi vì em
bé vừa hiểu rõ được chú ý ám chỉ điều gì em sẽ có
thể quay lại quyển sách hay bất kỳ điều gì đang được
dạy. Trong chú ý này không có cưỡng bách, không có tuân phục.
Nó là tự do mà trong đó có quan sát tổng thể. Liệu chính
người giáo viên có thể có chất lượng chú ý này hay không?
Và chỉ như vậy người giáo viên mới có thể giúp người
khác được.
Trong
hầu hết thời gian chúng ta tranh đấu chống lại những xao
lãng. Không có những xao lãng. Giả sử rằng bạn đang mơ
mộng hay cái trí của bạn đang lang thang; đó là điều gì
đang thực sự xảy ra. Hãy quan sát việc đó. Quan sát đó
là chú ý. Thế là không còn xao lãng.
Điều
này có thể được dạy dỗ cho những em học sinh, nghệ thuật
này có thể được học hỏi hay không? Các bạn chịu trách
nhiệm hoàn toàn về em học sinh; các bạn phải tạo ra bầu
không khí học hỏi này, một trạng thái nghiêm túc mà trong
đó có ý thức của tự do và hạnh phúc.
Ngày
01 tháng hai.
Thư
gởi trường học – Quyển I – Ngày 01-02-1979
Như
chúng ta đã vạch rõ nhiều lần trong những lá thư này, những
ngôi trường tồn tại chính yếu là tạo ra một thay đổi
sâu sắc trong những con người. Người giáo dục hoàn toàn
chịu trách nhiệm về việc này. Nếu người giáo dục không
nhận ra yếu tố trọng điểm này anh ấy sẽ chỉ đang giảng
giải cho em học sinh trở thành một người kinh doanh, một
kỹ sư, một luật sư, hay một người chính trị. Có quá nhiều
giáo viên dường như không có khả năng thay đổi chính bản
thân họ hay xã hội của họ. Trong cấu trúc hiện nay của
xã hội những luật sư và những người kinh doanh có lẽ là
cần thiết, nhưng khi những ngôi trường này hiện hữu thì
mục đích của nó là, và luôn luôn tồn tại như vậy, thay
đổi con người thật sâu thẳm. Những giáo viên trong những
ngôi trường này nên thực sự hiểu rõ điều này, không phải
bằng trí năng, không phải như một ý tưởng, nhưng bởi vì
họ thấy được ngụ ý đầy đủ của điều này bằng toàn
thân tâm của họ. Chúng ta quan tâm đến sự phát triển tổng
thể của một con người, không chỉ quan tâm đến sự tích
lũy hiểu biết.
Những
ý tưởng và những lý tưởng là một sự việc, và một sự
kiện, một điều đang xảy ra thực sự lại là một sự việc
khác. Hai sự việc này không bao giờ có thể theo cùng nhau.
Những lý tưởng đã được áp đặt vào những sự kiện
và bóp méo điều gì đã xảy ra để tuân theo điều gì nên
là, cái lý tưởng. Lý tưởng là một kết luận được rút
ra từ điều gì đang xảy ra và hy sinh thực tại để tuân
theo cái đó mà đã được lý tưởng hóa. Việc này đã là
qui trình của hàng ngàn năm và mọi học sinh lẫn tất cả
những bậc trí thức đã say sưa hưởng thụ trong sự hình
thành những lý tưởng. Lẩn tránh cái gì là, là bắt đầu
công việc phân hóa cái trí. Sự phân hóa này thâm nhập tất
cả những tôn giáo, chính trị và giáo dục, tất cả liên
hệ của con người. Hiểu rõ qui trình lẩn tránh này và vượt
khỏi nó là sự quan tâm của chúng ta.
Những
lý tưởng làm phân hóa cái trí: chúng được sinh ra từ những
ý tưởng, những nhận xét và hy vọng. Những ý tưởng là
những xao lãng của cái gì là và bất kỳ ý tưởng nào hay
kết luận nào về điều gì đang thực sự xảy ra làm biến
dạng điều gì đang xảy ra, và vì thế sự phân hoá xảy
ra. Nó chuyển chú ý đi khỏi sự kiện, cái gì là, và vì
vậy điều khiển chú ý đến những tưởng tượng. Chuyển
động đi khỏi sự kiện này đã tạo ra những biểu tượng,
những hình ảnh, mà sau đó chiếm lĩnh sự quan trọng nhất.
Chuyển động đi khỏi sự kiện này là sự phân hóa của
cái trí. Những con người buông thả trong chuyển động đi
khỏi này trong những lúc nói chuyện, trong những liên hệ
của họ, trong hầu hết mọi thứ họ làm. Sự kiện được
diễn giải ngay lập tức thành một ý tưởng hay một kết
luận mà sau đó ra lệnh những phản ứng của chúng ta.
Khi một điều gì đó được nhìn thấy, ngay lập tức tư
tưởng làm một bản sao và bản sao đó trở thành sự thật.
Bạn nhìn thấy một con chó và ngay lập tức tư tưởng quay
sang bất kỳ hình ảnh nào bạn có lẽ có về những con chó,
và thế là bạn không bao giờ nhìn thấy con chó đó.
Điều
này có thể được dạy dỗ cho những em học sinh: hãy ở
cùng sự kiện, điều gì thực sự đang xảy ra ngay lúc này,
dù rằng nó thuộc tâm lý hay ở phía bên ngoài, hay không?
Hiểu biết không là sự kiện; nó nói về sự kiện và việc
đó có vị trí thích hợp của nó, nhưng hiểu biết ngăn cản
trực nhận cái gì là thực sự; vậy thì phân hóa xảy ra.
Hiểu
rõ điều này rất quan trọng cho chúng ta. Những lý tưởng
được nghĩ là cao quí, được tán dương, có một ý nghĩa
quyết định, và điều gì đang thực sự xảy ra được coi
như là chỉ thuộc giác quan, thuộc thế tục và thuộc giá
trị thấp hơn. Những trường học khắp thế giới có mục
đích, lý tưởng được đề cao tán dương nào đó; vì vậy
họ đang giáo dục những em học sinh trong sự phân hóa.
Điều
gì phân hóa cái trí? Chúng ta đang sử dụng từ ngữ cái trí
để ám chỉ những tri giác, khả năng để suy nghĩ và bộ
não mà lưu trữ tất cả những ký ức và những trải nghiệm
như hiểu biết. Chuyển động toàn bộ này là cái trí. Ý
thức cũng như tiềm thức, một tầng tạm gọi là siêu ý
thức – toàn bộ những cái này là cái trí. Chúng ta đang
hỏi điều gì là những nhân tố, những hạt giống của phân
hóa trong tất cả việc này? Chúng ta đã nói rằng những lý
tưởng gây phân hóa. Cũng vậy hiểu biết gây phân hóa cái
trí. Hiểu biết, riêng biệt hay phổ biến, là chuyển động
của quá khứ, và khi quá khứ tỏa bóng lên sự kiện, thực
tại, sự phân hóa xảy ra. Hiểu biết, được chiếu rọi
vào tương lai và hướng dẫn điều gì đang xảy ra ngay lúc
này, là phân hóa. Chúng ta đang sử dụng từ ngữ phân hóa
để có nghĩa rằng cái đó mà đang bị vỡ ra, cái đó mà
không được coi là một nguyên vẹn. Sự kiện không bao giờ
có thể bị vỡ ra; sự kiện không bao giờ có thể bị giới
hạn bởi hiểu biết. Sự nguyên vẹn của sự kiện mở cánh
cửa vào vô hạn. Nguyên vẹn không thể nào bị phân chia;
nó không tự mâu thuẫn; nó không thể phân chia chính nó. Nguyên
vẹn, tổng thể là chuyển động vô hạn.
Bắt
chước, tuân phục là một trong những nhân tố lớn lao của
sự phân hóa cái trí; mẫu mực, người anh hùng, đấng cứu
rỗi, vị đạo sư, là cái nhân tố hủy hoại to lớn nhất
của phân hóa. Tuân theo, vâng lời, qui phục, là khước từ
tự do. Tự do ngay từ khởi đầu không phải ở khúc cuối.
Nó không là tuân phục, bắt chước, chấp nhận trước và
cuối cùng mới tìm ra tự do. Đó là tinh thần của chủ nghĩa
độc tài, dù rằng của vị đạo sư hay của vị giáo sĩ.
Đây là sự hung bạo, sự nhẫn tâm, của người độc tài,
của uy quyền, của vị đạo sư hay của vị giáo sĩ có chức
vụ cao.
Vì
vậy uy quyền là phân hóa. Uy quyền là sự phá vỡ tánh hòa
đồng, tánh tổng thể, tánh nguyên vẹn – uy quyền của một
người giáo viên trong một trường học, uy quyền của một
mục đích, của một lý tưởng, của cái con người mà nói
rằng ta biết, uy quyền của một học viện, một tổ chức.
Áp lực của uy quyền trong bất kỳ hình thức nào là nhân
tố xuyên tạc của sự phân hóa. Theo căn bản uy quyền khước
từ tự do. Chức năng của một giáo viên trung thực là hướng
dẫn, giải thích, thông tin, mà không có ảnh hưởng gây phân
hóa của uy quyền. Uy quyền của so sánh gây hủy diệt. Khi
một em học sinh bị so sánh với một em khác, cả hai đều
đang bị tổn thương. Sống không còn so sánh là sống cùng
tánh hòa đồng.
Liệu
bạn, người giáo viên có làm được việc này hay không?
Ngày
15 tháng hai
Thư
gởi trường học – Quyển I – Ngày 15-02-1979
Có
vẻ rằng con người có những sức lực khổng lồ của năng
lượng. Họ đã lên đến mặt trăng, đã leo những đỉnh
núi cao nhất của quả đất, họ có năng lượng khủng khiếp
cho những cuộc chiến tranh, cho những dụng cụ của chiến
tranh, và năng lượng to lớn dành cho sự phát triển công nghệ,
tích lũy cái hiểu biết vô biên mà con người đã thâu lượm
được, làm việc mỗi ngày, năng lượng để xây dựng những
kim tự tháp và tìm hiểu nguyên tử. Khi người ta xem xét tất
cả việc này, thật là kinh ngạc khi nhận ra năng lượng đã
bị lãng phí đi. Năng lượng này đã dùng vào sự tìm hiểu
những sự việc phía bên ngoài, nhưng con người chẳng dành
ra bao nhiêu năng lượng để tìm hiểu vào toàn thể cấu trúc
tâm lý của chính anh ta. Năng lượng được cần thiết, cả
phía bên ngoài lẫn phía bên trong, để hành động hay để
hoàn toàn yên lặng.