Bồ-tát
Văn-thù-sư-lợi
thưa
hỏi
ÂM:
Như
thị ngã văn: Nhất thời Bà-già-bà nhập ư Thần thông Ðại
quang minh tạng Tam-muội Chánh thọ, nhất thiết Như Lai quang
nghiêm trụ trì, thị chư chúng sanh thanh tịnh giác địa, thân
tâm tịch diệt, bình đẳng bản tế, viên mãn thập phương,
bất nhị tùy thuận, ư bất nhị cảnh, hiện chư tịnh độ.
DỊCH:
Tôi
nghe như vầy: Một hôm Thế Tôn nhập chánh định Thần thông
Ðại quang minh tạng, là nơi an trụ quang nghiêm của tất cả
Như Lai, cũng là giác địa thanh tịnh của chúng sanh, thân
tâm đều lặng lẽ, bản tế bình đẳng, tròn đầy cả mười
phương, tùy thuận không hai, ở cảnh giới không hai này mà
hiện các cõi Tịnh độ.
GIẢNG:
Ðây
là một điều lạ, chúng ta thường thấy các kinh khác mở
đầu bằng câu: Tôi nghe như vầy, một hôm đức Phật ở
tại vườn ông Cấp Cô Ðộc. hay tại tinh xá Trúc
Lâm v.v..., là lời ngài A-nan trùng tuyên lại tạng kinh
nên nói "Tôi nghe" là chỉ cho ngài A-nan nghe. "Như vầy" là
chỉ pháp Phật nói. Kế đó là đức Phật ở tinh xá nào,
vườn cây nào, quốc độ nào v.v... nêu lên nơi chốn hẳn
hoi. Còn kinh này thì nói: Một hôm đức Phật nhập chánh
định Thần thông Ðại quang minh tạng... Ðịnh ấy không
riêng gì một đức Phật Thích-ca, mà tất cả chư Phật đều
an trụ trong đó, và cũng là giác địa thanh tịnh của tất
cả chúng sanh. Như vậy đoạn này muốn nêu lên cho chúng ta
biết cảnh giới Viên giác của chư Phật, cảnh giới đó
không phải do chư Phật tu rồi mới được, mà chính là do
lọc luyện những cấu bợn phiền não rồi được hiển lộ
tròn đầy. Ngay nơi phàm phu chúng sanh cũng sẵn có cảnh giới
đó, nhưng vì không biết lọc luyện nên cấu bợn che phủ
chúng ta không thấy. Cảnh giới đó theo kinh luận có những
tên khác nhau, chỗ gọi Viên giác, chỗ gọi Căn bản trí.
Kinh
này không nêu rõ nơi chốn của đức Phật thuyết pháp, mà
chỉ nói đức Phật thuyết pháp ngay trong Bản thể lặng lẽ
thanh tịnh của tánh Viên giác. Tánh Viên giác bao trùm tất
cả chúng sanh và chư Phật, chư Phật và chúng sanh đều an
trụ trong đó và chính đức Phật cũng an trụ trong đó mà
nói pháp. Bất nhị tùy thuận là tùy thuận không hai. Bởi
vì không còn mắc kẹt bên này bên kia, là có là không, là
sanh là diệt nên gọi là bất nhị. Chính trong cảnh không
hai đó là Tịnh độ của tất cả cõi Phật chớ không có
gì khác. Tánh Viên giác là cảnh giới không hai và chính từ
cảnh giới không hai đó mới tùy duyên hiện ra các cõi Tịnh
độ, Tịnh độ đó là Tịnh độ của Tự tâm. Như vậy là
đức Phật nói pháp trong chánh định Viên giác và người
nghe pháp cũng ở trong định Viên giác. Vậy ai là thính chúng
trong pháp hội này?
ÂM:
Dữ
Ðại Bồ-tát Ma-ha-tát thập vạn nhân câu, kỳ danh viết:
Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát, Phổ Hiền Bồ-tát, Phổ Nhãn Bồ-tát,
Kim Cang Tạng Bồ-tát, Di-lặc Bồ-tát, Thanh Tịnh Tuệ Bồ-tát,
Oai Ðức Tự Tại Bồ-tát, Biện Âm Bồ-tát, Tịnh Chư Nghiệp
Chướng Bồ-tát, Phổ Giác Bồ-tát, Viên Giác Bồ-tát, Hiền
Thiện Thủ Bồ-tát đẳng, nhi vi thượng thủ dữ chư quyến
thuộc giai nhập tam-muội đồng trụ Như Lai bình đẳng pháp
hội.
DỊCH:
Cùng
mười muôn vị Bồ-tát lớn câu hội, tên là: Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi,
Bồ-tát Phổ Hiền, Bồ-tát Phổ Nhãn, Bồ-tát Kim Cang Tạng,
Bồ-tát Di-lặc, Bồ-tát Thanh Tịnh Tuệ, Bồ-tát Oai Ðức
Tự Tại, Bồ-tát Biện Âm, Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng,
Bồ-tát Phổ Giác, Bồ-tát Viên Giác, Bồ-tát Hiền Thiện
Thủ v.v... làm thượng thủ, cùng với quyến thuộc đều nhập
chánh định, đồng trụ trong pháp hội bình đẳng Như Lai.
GIẢNG:
Phật
nói pháp ở trong chánh định Viên giác, chư Bồ-tát đến
nghe pháp cũng ở trong chánh định Viên giác và cùng ở trong
pháp hội bình đẳng của Như Lai. Ðức Phật nhập chánh định
làm sao nói pháp? Chư Bồ-tát nhập định làm sao nghe pháp?
Ví dụ như bây giờ tôi và quí vị ngồi định có nói pháp
và nghe pháp được không? Mải lo thiền định, làm sao nói
làm sao nghe? Vậy Phật nói pháp và Bồ-tát nghe pháp trong kinh
này khác với chúng ta nói pháp và nghe pháp như thế nào? Chỗ
này nếu không giản trạch thì quí vị sẽ nghi ngờ: Tại
sao Phật và Bồ-tát ở trong định mà nói pháp và nghe pháp?
Ðịnh này không giống như chúng ta ngồi thiền chăm chăm nhìn
xuống, chú tâm vào một đề mục để cho tâm an trụ không
tán loạn. Ðịnh này là định tự tại do nhập được Thể
tánh thanh tịnh của chính mình; mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe,
vẫn tiếp xúc với người cảnh, mà tâm không chạy theo người
cảnh, được gọi là định của Tự tánh, định ở trong
động, chớ không phải định thân ngồi im lìm. Ðối với
Bồ-tát, nhất là với tinh thần Thiền tông, Như Lai bất cứ
đi đứng nằm ngồi nói nín, lúc nào cũng sống trong Thanh
tịnh Pháp thân, tức là sống trong chánh định bất sanh bất
diệt và tùy duyên ứng dụng. Chớ không phải đợi ngồi
mới định mà đi không định, nếu đi mà không định thì
không phải là Phật. Vì vậy mà nói đức Phật nhập định
nói pháp, Bồ-tát nhập định nghe pháp hỏi đạo, định này
không khác định của Lục Tổ trong kinh Pháp Bảo Ðàn: "Ngoài
không dính mắc với cảnh gọi đó là thiền, trong không loạn
gọi đó là định." Ðịnh này cũng gọi là Tự tánh Viên
giác, an trụ trong đó thì gọi là thiền định, nên ở đây
nói Phật nhập định nói pháp, chư Bồ-tát nhập định nghe
pháp. Do an trụ trong Tâm thể bình đẳng thanh tịnh bất động
nên văn kinh nói: Ðồng trụ trong pháp hội bình đẳng Như
Lai.
Ðoạn
này là phần chúng thành tựu, cũng khác hơn kinh khác, Phật
nói với những vị Bồ-tát không có lịch sử. Những vị
Bồ-tát này căn cơ thuần thục, chứng tỏ kinh này là Ðại
thừa đốn giáo chỉ thẳng tâm tánh của chúng sanh tức là
Phật.
Ðó
là tổng quát phần tựa của quyển kinh.
ÂM:
Ư
thị Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát tại đại chúng trung, tức tùng
tòa khởi, đảnh lễ Phật túc hữu nhiễu tam táp, trường
quì xoa thủ, nhi bạch Phật ngôn:
-
Ðại bi Thế Tôn, nguyện vị thử hội chư lai pháp chúng,
thuyết ư Như Lai bản khởi thanh tịnh nhân địa pháp hạnh,
cập thuyết Bồ-tát ư Ðại thừa trung phát thanh tịnh tâm,
viễn ly chư bệnh, năng sử vị lai mạt thế chúng sanh cầu
Ðại thừa giả, bất đọa tà kiến.
Tác
thị ngữ dĩ, ngũ thể đầu địa, như thị tam thỉnh, chung
nhi phục thủy.
DỊCH:
Khi
ấy Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ở trong đại chúng, từ chỗ
ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên
phải ba vòng, quì gối chấp tay mà bạch Phật rằng:
-
Ðấng Thế Tôn đại bi, xin vì chúng đến nghe pháp trong hội
này, mà nói về nhân địa pháp hạnh bản khởi thanh tịnh
của Như Lai và Bồ-tát đối với Ðại thừa phát tâm thanh
tịnh, làm sao xa lìa các bệnh, hay khiến cho chúng sanh đời
sau, người cầu Ðại thừa chẳng rơi vào tà kiến?
Thưa
lời đây rồi, năm vóc gieo sát đất, thưa thỉnh như vậy,
lặp lại ba lần.
GIẢNG:
Chúng
ta nên biết những vị Bồ-tát trong hội này hầu hết là
những vị Bồ-tát không có lịch sử ở cõi này. Ðầu tiên,
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đứng ra thưa hỏi. Văn-thù-sư-lợi
(Mađsjuri) là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Diệu Kiết Tường.
Văn-thù tượng trưng cho Căn bản trí. Kinh này nêu Căn bản
trí làm tiêu chuẩn. Ngài hỏi nhân địa tu hành thanh tịnh
của Như Lai, nghĩa là hỏi chỗ phát ra nguyên nhân để tiến
tu được thanh tịnh của Như Lai thế nào? Nói cho dễ hiểu,
đức Phật do tu tập nhân gì mà thân tâm được thanh tịnh,
trí tuệ viên mãn? Xin Phật dạy cho các ngài và cho các vị
Bồ-tát ở trong Ðại thừa khi phát tâm thanh tịnh, làm sao
xa lìa được các bệnh, giúp cho chúng sanh đời sau, người
cầu Ðại thừa không rơi vào tà kiến?
Chúng
ta thấy Bồ-tát Văn-thù nêu lên hai câu hỏi hết sức quan
trọng cho sự tu hành của chúng ta. Câu đầu hỏi cách tu để
thành Phật, câu kế hỏi cách trừ bệnh để khỏi bị chướng
trên đường tu. Ðó là hai điều căn bản chúng ta phải học.
Nếu chúng ta tu mà không hiểu rõ hai điểm đó thì trên đường
tu dễ bị thoái thất. Một là chúng ta không biết đức Phật
tu như thế nào mà Ngài được thành Phật, thì chúng ta làm
sao nương theo để tu? Hai là trong khi tu, nếu chúng ta gặp
những chướng ngại, làm sao vượt qua để tiến? Hai điều
đó, nếu chúng ta không thông thì trên đường tu sẽ bị chướng
ngại vô cùng. Ngài Văn-thù muốn khai thác nguyên nhân đó
để chúng ta nắm vững cốt yếu của sự tu hành, nên Ngài
đảnh lễ Phật thưa hỏi. Ðó là vì lòng từ bi của Bồ-tát
muốn cho chúng sanh sau này được lợi ích nên Ngài tha thiết
đảnh lễ Phật, thưa thỉnh trước sau ba lần, Phật mới
hứa khả trả lời.
ÂM:
Nhĩ
thời Thế Tôn cáo Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát ngôn:
-
Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử, nhữ đẳng nãi năng vị
chư Bồ-tát ti tuần Như Lai nhân địa pháp hạnh, cập vị
mạt thế nhất thiết chúng sanh cầu Ðại thừa giả, đắc
chánh trụ trì bất đọa tà kiến, nhữ kim đế thính, đương
vị nhữ thuyết.
Thời
Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát phụng giáo hoan hỉ cập chư đại
chúng mặc nhiên nhi thính.
-
Thiện nam tử, Vô thượng Pháp vương hữu Ðại Ðà-la-ni môn,
danh vi Viên giác lưu xuất nhất thiết thanh tịnh Chân như
Bồ-đề Niết-bàn cập Ba-la-mật giáo thọ Bồ-tát, nhất
thiết Như Lai bản khởi nhân địa, giai y viên chiếu thanh
tịnh giác tướng, vĩnh đoạn vô minh phương thành Phật đạo.
DỊCH:
Bấy
giờ đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi rằng:
-
Lành thay, lành thay! Này thiện nam, ông hay vì các vị Bồ-tát
mà thưa hỏi nhân địa pháp hạnh của Như Lai và vì tất
cả chúng sanh đời sau, những người cầu Ðại thừa an trụ
trong chánh kiến, không rơi vào tà kiến. Ông nay lắng nghe,
ta sẽ vì ông mà nói.
Bấy
giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi vui vẻ vâng lời dạy và đại
chúng yên lặng lắng nghe.
-
Này thiện nam, Vô thượng Pháp vương có môn Ðại Ðà-la-ni
tên là Viên giác, lưu xuất tất cả pháp thanh tịnh: Chân
như, Bồ-đề, Niết-bàn và Ba-la-mật, (nay ta) dạy trao cho
các Bồ-tát, nhân địa tu hành của tất cả chư Phật đều
y nơi tướng giác thanh tịnh viên chiếu, hằng đoạn vô minh
mới thành Phật đạo.
GIẢNG:
Bồ-tát
Văn-thù nêu lên hai câu hỏi quan trọng trong việc tu hành để
đưa đến quả Phật nên được Phật khen ngợi.
Vô
thượng Pháp vương là chỉ cho Phật. Vì đối với bệnh khổ
của chúng sanh, Ngài dùng nhiều phương tiện nói pháp khiến
cho chúng sanh hết bệnh mê lầm dứt khổ, nên ví Ngài là
một vị Vua pháp cao tột không ai bằng. Ðà-la-ni (Dhàrani)
là chữ Phạn, Trung Hoa dịch là tổng trì, tổng trì là gồm
hết tất cả. Phật nói ở đây là pháp môn gồm hết tất
cả pháp môn, tên là Viên giác. Viên là tròn, giác là sáng,
là biết. Từ tánh Viên giác đó lưu xuất ra tất cả pháp
thanh tịnh Chân như, Bồ-đề, Niết-bàn và Ba-la-mật để
giáo hóa Bồ-tát. Như vậy, những danh từ mà chúng ta thường
được nghe như Chân như, Bồ-đề, Niết-bàn v.v... đều từ
tánh Viên giác lưu xuất. Vì vậy, tánh Viên giác là tổng
trì, bởi nó bao gồm hết thảy, nên nói là bản khởi nhân
địa của tất cả chư Phật. Tất cả chư Phật đều y theo
tánh Viên giác để đoạn trừ vô minh và thành Phật đạo.
Qua câu trả lời tổng quát của đức Phật, chúng ta tìm được
ý gì trong lời đáp này? Ðức Phật nói: Tất cả chư Phật
đều y nơi tướng giác thanh tịnh hằng chiếu soi để phá
trừ vô minh mà được thành Phật. Quí vị thấy nói có khác
với Tổ không? Các Tổ cũng nói: "Chúng ta y nơi Phật tánh
hay y nơi Tánh thanh tịnh sẵn có của chính mình để khởi
tu thì sẽ được thành Phật." Như vậy, điểm y cứ ở đây
đức Phật dạy là phải nhận ra được Bản tánh Viên giác
của mình. Nhận ra rồi lấy đó làm trụ xứ căn cứ của
mình, nương đó mà khởi dụng chiếu soi, dụng chiếu soi đó
sẽ phá dẹp vô minh.
Ðức
Phật nói tánh Viên giác, tại sao Ngài không giảng tánh Viên
giác trước, lại giản trạch vô minh? Vì khi nói đến tánh
Viên giác mà không nói đến vô minh thì người đời không
hiểu. Do vô minh làm mờ Tánh giác, nếu muốn Tánh giác hiển
hiện viên mãn thì trước phải đoạn trừ vô minh. Vì vậy,
phải hiểu rõ thế nào là vô minh mới phá trừ được. Khi
dẹp được vô minh rồi thì Tánh giác hiện tiền.
ÂM:
-
Vân hà vô minh? Thiện nam tử, nhất thiết chúng sanh tùng vô
thủy lai, chủng chủng điên đảo, do như mê nhân, tứ phương
dịch xứ, vọng nhận tứ đại vi tự thân tướng, lục trần
duyên ảnh vi tự tâm tướng. Thí bỉ bệnh mục kiến không
trung hoa, cập đệ nhị nguyệt.
DỊCH:
-
Thế nào là vô minh? Này thiện nam! Tất cả chúng sanh từ
vô thủy đến nay, bị các thứ điên đảo (làm mờ tánh Viên
giác) như người mê lầm lộn bốn phương, vọng nhận tướng
tứ đại là thân mình, chấp cái duyên theo dáng sáu trần
là tâm mình. Ví như (người) nhặm mắt thấy hoa đốm trong
hư không và mặt trăng thứ hai.
GIẢNG:
Theo
Phật, vô minh là tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay
bị các thứ điên đảo làm mờ tánh Viên giác. Ðiên đảo
là sao? Ðiên đảo là cái thấy lộn ngược. Như thế gian,
ai mà chuyện không nói có, chuyện có nói không là nói lộn
ngược, nghĩa là cái thật thế này mà mình bảo là thế kia.
Như chúng ta bây giờ đang ở trong cái thấy điên đảo, nên
thấy giả cho là thật. Muốn rõ hơn Phật đưa ra ví dụ như
người mê lầm lộn bốn phương dời chỗ. Bốn phương dời
chỗ là sao? Tôi xin đưa ra một ví dụ: Có một người đi
vào rừng bị lạc lối, muốn về nhà nhưng quên hướng. Nhà
ở phương Nam mà đi lầm về phương Bắc, vì tưởng phương
Bắc là phương Nam. Khi ấy, họ cứ nhắm phương Bắc mà đi
thì chừng bao lâu tới nhà? Chắc chắn là càng đi càng xa
nhà, nếu lầm phương Bắc là phương Nam thì phương Ðông
phương Tây họ cũng lầm luôn. Vì vậy nên đức Phật nói
lầm một cái là tất cả những cái khác đều lầm. Trong
vũ trụ này muôn ngàn hiện tượng, chỉ lầm một vài hiện
tượng thì muôn ngàn hiện tượng đều lầm. Chúng ta lầm
cái gì đây? Phật dạy: Một là nhận lầm tướng tứ đại
làm thân mình. Cái thân này do đất nước gió lửa hợp
lại, chúng ta tự nhận tướng đó làm thân mình thật, đó
là vô minh. Ở đây có ai thấy mình đã hết vô minh? Vì chúng
ta thấy thân này thật nên chúng ta sống trong vô minh mà không
biết. Hai là nhận lầm cái duyên theo bóng dáng sáu
trần làm tâm mình. Như vậy, thân và tâm đã lầm thì
tất cả đều lầm hết. Cũng như Phật nói một phương lầm
thì các phương khác đều lầm luôn.
Quí
vị xét kỹ xem mình có nhận cái duyên theo bóng dáng sáu trần
là tâm mình không? Ai cũng nói tôi nghĩ thế này, tôi nghĩ
thế nọ. Vậy cái gì là tâm của quí vị? Hầu hết đều
trả lời cái hay suy nghĩ là tâm tôi. Tất cả cái suy nghĩ
phải quấy, dại khôn, hơn thua... là tâm tôi. Quí vị có biết
tại sao mình có suy nghĩ không? Nếu từ trước quí vị chưa
từng thấy con sư tử, quí vị có suy nghĩ được không? Không
biết hình dáng nó như thế nào, làm sao mà suy nghĩ? Nhưng
giả sử chúng ta thấy nó rồi thì chúng ta nghĩ về con sư
tử được. Như vậy, sau khi thấy và nghe chúng ta mới có
cái suy nghĩ. Nghĩ về sắc là do mắt tiếp xúc với sắc trần,
sau khi tiếp xúc, bóng dáng của sắc trần rơi vào tâm thức
của chúng ta, một lúc nào đó nó dấy lên, ý thức chúng
ta duyên theo bóng ấy mà suy nghĩ. Tai nghe âm thanh, bóng dáng
êm dịu hay chát chúa của âm thanh rơi vào tâm thức của chúng
ta, một lúc nào đó nó dấy lên, ý thức chúng ta duyên theo
bóng ấy mà có suy nghĩ. Bóng dáng của hương, vị, xúc cũng
như thế. Như vậy, tất cả cái suy nghĩ của chúng ta, đều
suy nghĩ theo bóng của sáu trần rơi vào tâm thức và khi nó
dấy lên chúng ta nương theo đó mà phân biệt cho là tâm mình.
Cái duyên theo bóng dáng sáu trần mà cho là tâm mình, không
phải điên đảo là gì? Bốn đại giả hợp mà cho là thân
mình, cái duyên theo bóng dáng sáu trần mà cho là tâm mình!
Không phải mình mà cho là mình, thật quá mê muội, thật đáng
thương xót!
Tất
cả chúng ta đang sống trong vô minh và đang bị vô minh che
phủ, tu không thành Phật là tại chỗ đó. Chấp nhận vô
minh là mình thì làm sao thành Phật được? Vì Phật là giác
là sáng, cho nên muốn thành Phật thì điều kiện tiên quyết
là phải dẹp sạch vô minh. Chúng ta biết được vô minh rồi
thì mới có thể phá dẹp nó và mới mong tu thành Phật được.
Ðức
Phật đưa ra thêm một ví dụ nữa để cho chúng ta rõ hơn:
Ví
như người nhặm mắt thấy hoa đốm trong hư không và mặt
trăng thứ hai. Khi mắt chúng ta lành mạnh, nhìn hư không
không thấy có hoa đốm; nhưng khi mắt nhặm, chúng ta nhìn
bầu trời trưa nắng thấy hoa đốm lăng xăng đầy cả hư
không. Hoặc ban đêm chúng ta nhìn lên bầu trời thấy có hai
mặt trăng. Như vậy, chúng ta thấy lầm có hoa đốm, có mặt
trăng thứ hai là do mắt nhặm, chớ hư không đâu có hoa đốm
và mặt trăng thứ hai! Cũng như thế, thân tứ đại này không
thật mà chúng ta nhận lầm là thật, cái duyên theo bóng dáng
sáu trần không thật mà nhận lầm là tâm mình thật. Chúng
ta lầm nhận thân tâm rồi thì tất cả những cái khác theo
đó mà lầm. Sở dĩ chúng ta nhận lầm là do vô minh mà ra,
nếu hết vô minh thì không còn nhận lầm nữa.
ÂM:
-
Thiện nam tử, không thật vô hoa, bệnh giả vọng chấp, do
vọng chấp cố, phi duy hoặc thử hư không tự tánh, diệc
phục mê bỉ thật hoa sanh xứ, do thử vọng hữu luân chuyển
sanh tử, cố danh vô minh.
DỊCH:
-
Này thiện nam, hư không thật không có hoa đốm, vì người
bệnh vọng chấp, do vọng chấp nên chẳng những lầm Tự
tánh của hư không mà cũng lầm luôn chỗ sanh ra hoa đốm là
thật. Do vọng chấp này mà có luân chuyển sanh tử nên gọi
là vô minh.
GIẢNG:
Ðoạn
trên đức Phật đưa ra ví dụ hoa đốm trong hư không và mặt
trăng thứ hai để chỉ rõ vì vô minh mà chúng ta lầm chấp
thân chấp tâm là ngã. Giờ đây, Ngài lại đưa ra một ví
dụ nữa để chỉ cho chúng ta thấy, nếu lầm chấp thân tâm
thì chúng ta cũng lầm chấp luôn tất cả. Thí dụ hoa đốm
được nhắc tới nhắc lui để chúng ta thấy rõ hoa đốm
không thật do mắt bệnh mà thấy. Như vậy khi thấy hoa đốm
nên nghĩ thế nào? Muốn trừ hoa đốm phải làm sao? Muốn
trừ hoa đốm không nên dẹp hư không, cũng không phải tìm
bắt từng cái hoa đốm cho hết, mà chỉ lo trị con mắt cho
lành. Con mắt bệnh ví dụ cho cái gì? Chỉ cho cái vọng chấp
thân tâm là thật. Bởi vọng chấp thân tâm là thật cho nên
thấy tất cả pháp thế gian là thật, mà tất cả pháp thế
gian đều như hoa đốm ở trong hư không. Khi đã vọng nhận
thân tâm là thật thì đối với tánh Chân như đã quên. Cho
nên ở đây nói chúng ta đã lầm tánh hư không. Rồi lại
còn cho rằng hoa đốm có thật sanh có thật diệt, vì thật
sanh thật diệt cho nên thật có chỗ sanh. Cái không có lại
tưởng là có, còn cái có lại quên mất. Một khi lầm chấp
thân tâm là thật thì tất cả pháp chúng ta đều thấy là
thật. Ðó là gốc của vô minh, đó là gốc của luân hồi
sanh tử. Khi thân tâm này không còn nhận lầm nữa thì tất
cả pháp thế gian cũng không còn nhận lầm. Ngài nói: Hư
không thật không có hoa đốm, vì người bệnh vọng chấp,
vọng chấp nên chẳng những lầm Tự tánh của hư không mà
cũng lầm luôn chỗ sanh ra hoa đốm là thật. Vừa nhận
lầm có hoa đốm trong hư không, cũng nhận lầm có chỗ sanh
ra hoa đốm là thật. Hoa đốm là dụ cho thân, chỗ sanh ra
hoa đốm là dụ cho cảnh. Nhận lầm thân thật rồi lại nhận
lầm cảnh thật là do vô minh, vì vậy mà luân chuyển trong
sanh tử. Do lầm chấp thân thật nên khi mất thân này vội
tìm thân khác, nếu biết nó là giả thì khi mất đâu có nuối
tiếc gì! Ngày xưa, các Thiền sư thấy mệt mỏi liền từ
giã mọi người, an nhiên ngồi kiết-già thị tịch, không
chút nuối tiếc sợ hãi. Chúng ta bây giờ thấy thân thật,
nên khi đau nuốt nước không trôi mà nghe nói chết là sợ
hãi. Còn niệm tham sanh úy tử, làm sao mà không lưu chuyển
trong luân hồi. Cho nên lối tu của nhà Phật là lối tu trở
lại mình, xoay lại mình. Ngay nơi con người chúng ta mà tìm
sự thật thì tất cả sự thật chung quanh đều hiện, nghĩa
là trong bốn hướng không lầm một hướng thì các hướng
khác cũng không lầm. Ngay nơi mình khám phá ra thân không thật,
khám phá ra vọng tưởng không thật, chừng đó tất cả cái
khác cũng đều thấy rõ nó không thật. Ðược vậy là dẹp
được vô minh thì cái chân thật đầy khắp, đó là tánh
Viên giác tròn đầy. Vô minh và chỗ y cứ khởi tu đã biết
rõ thì sự tu sẽ dễ dàng.
ÂM:
-
Thiện nam tử, thử vô minh giả, phi thật hữu thể, như mộng
trung nhân, mộng thời phi vô, cập chí ư tỉnh, liễu vô sở
đắc. Như chúng không hoa diệc ư hư không, bất khả thuyết
ngôn hữu định diệt xứ. Hà dĩ cố? Vô sanh xứ cố. Nhất
thiết
chúng sanh ư vô sanh trung, vọng kiến sanh diệt thị cố thuyết
danh luân chuyển sanh tử.
DỊCH:
-
Này thiện nam, cái vô minh này không có thật thể. Như người
trong mộng, khi mộng chẳng phải không có (cảnh vật) và đến
khi thức dậy rõ ràng (cảnh vật) chẳng có. Như hoa đốm
diệt trong hư không, không thể nói có chỗ diệt cố định.
Vì cớ sao? Vì không có chỗ sanh. Tất cả chúng sanh ở trong
vô sanh mà vọng thấy có sanh diệt, nên nói luân chuyển sanh
tử.
GIẢNG:
Ðoạn
này Ðức Phật chỉ thêm cho rõ, vì nghe nói vô minh chúng ta
lại lầm chấp vô minh là thật, nên Phật liền chỉ vô minh
không phải thật. Ðức Phật nói vô minh không có the
cố định, nếu có the cố định thì chúng ta
dẹp nó không được. Ví như người ở trong mộng, khi mộng
thì không phải không có cảnh vật, nhưng đến khi tỉnh thì
cảnh vật rõ ràng không có; hoa đốm diệt trong hư không,
không thể nói quyết định có chỗ diệt. Mắt bệnh nên thấy
có hoa đốm. Khi mắt hết bệnh thì hoa đốm không có, nên
nói hoa đốm đâu có thật sanh mà nói có chỗ thật diệt.
Cũng như thế vô minh không có thật thể, nếu có thật thể
thì không ai phá nổi. Vì nó không thật nên đức Phật ví
như người ngủ mê mộng thấy cảnh thấy người đủ thứ...
Khi thức giấc thì cảnh người không còn nữa. Cũng vậy khi
chúng ta mê thì thấy thân thật, tâm thật, rồi lầm chấp
tạo ra đủ thứ nghiệp, nhưng khi giác thì thấy thân giả,
tâm giả. Mê và giác cách nhau không xa. Vô minh là gốc của
luân hồi mà gốc luân hồi lại không thật thì sự luân hồi
đó có thật hay không? Nếu không thật tại sao chúng ta đang
luân hồi? Ðang luân hồi mà nói không có thật làm sao tin
được điều đó, ai biết cho mình như mộng huyễn? Ở đây
chúng ta xác nhận rõ ràng điểm này để tu. Ðức Phật đã
chỉ cho chúng ta biết, ai cũng có tánh Viên giác. Nơi đức
Phật đã đoạn hết vô minh nên tánh Viên giác toàn vẹn gọi
là thành Phật, còn nơi chúng ta vì chưa đoạn vô minh nên
là phàm phu. Phàm phu thì bị vô minh chủ động kéo vào vòng
luân hồi. Làm sao biết được luân hồi là không thật? Chỉ
cần biết mình đang sống đây là mộng thì luân hồi không
thật. Khi mê thì vô minh là chủ, sanh tử là bạn. Vô minh
là gốc, sanh tử là thân cây, vui buồn phiền não như cành
lá. Gốc đã không thật thì thân không thật, cành lá cũng
không thật. Như vậy buồn vui thương ghét không thật, nhưng
có ai chịu nó không thật đâu. Cứ chìm trong vô minh không
có ngày ra. Hiểu cho thấu đáo mới thấy lời Phật đưa chúng
ta tới chỗ giác ngộ hoàn toàn. Vì mình không giác ngộ được
nên thấy lời Phật khó hiểu. Tu của đạo Phật là chuyển
mê thành giác, mê và giác chỉ là thay đổi cái nhìn. Chỉ
cần nhận định theo trí tuệ Bát-nhã thì tất cả hành động
đều là tu, còn nhận định theo vọng tưởng mê lầm thì
tất cả hành động đều mê lầm hết.
Ðọc
Viên giác tôi thấy định nghĩa vô minh là rõ ràng nhất. Nơi
thân tứ đại chấp đó là thân tướng của mình, nơi tâm
duyên theo bóng dáng sáu trần chấp là tâm tướng của mình,
đó là vô minh. Ðơn giản vô cùng! Ðức Phật đã chỉ tường
tận rồi, nếu chúng ta nhận được thì không còn lầm nữa.
Trong tánh Viên giác mình không muốn trở về cũng là trở
về, còn không rõ vô minh mà muốn trở về Viên giác thì cũng
khó mà trở về.
"Tất
cả chúng sanh ở trong vô sanh mà vọng thấy có sanh diệt,
nên luân chuyển sanh tử." Chúng sanh đang ở trong vô sanh,
lại thấy có sanh tử là tại sao? Vì tánh giác không sanh không
tử, mà chúng sanh không nhận ra lại nhận thân này tâm này
là thật, bị nó dẫn đi trong sanh tử luân hồi, nên nói nguyên
là vô sanh, vì lầm nên bị lưu chuyển. Lưu chuyển hay không
là do chúng sanh vì chúng sanh là chủ động.
ÂM:
-
Thiện nam tử, Như Lai nhân địa tu Viên giác giả, tri thị
không hoa, tức vô luân chuyển diệc vô thân tâm thọ bỉ sanh
tử, phi tác cố vô, bản tánh vô cố.
DỊCH:
-
Này thiện nam, người tu nhân địa Viên giác Như Lai, biết
hoa đốm trong hư không (không thật) liền dứt luân hồi và
cũng không có thân tâm chịu sanh tử. Chẳng phải làm cho nó
thành không mà Bản tánh nó vốn không.
GIẢNG:
Tiếp
theo đức Phật giải cho chúng ta thấy rõ khi tu về nhân địa
Viên giác là biết các pháp đều hư huyễn, như hoa đốm trong
hư không rõ ràng không thật, thì không còn sanh tử luân hồi.
Quí vị hiểu rõ chỗ này rồi thì sẽ thấy cái thâm trầm
của sự tu. Có nhiều người nói rằng: "Làm sao thấy thân
này không cho được? Thân chúng ta đang đi, đứng, ăn, nói,
hoạt động mà nói là không, thì làm sao tin và coi đó như
là hoa đốm được?" Chúng ta hãy dùng trí tuệ chiếu soi cho
thật kỹ thì sẽ thấy thân này không thật. Vì nó vay mượn
tứ đại ngoài để bồi bổ cho tứ đại trong, trong ngoài
phù trợ nhau mà tồn tại, nếu giờ phút nào đó tứ đại
ngoài không bồi bổ cho tứ đại trong thì thân tan rã. Như
vậy, thân do tứ đại bồi bổ mới tồn tại thì làm sao
nói thật được? Ví dụ một đại là nước, như bây giờ
chúng ta khát nước, ai cho một bát nước trà nóng vừa thổi
vừa uống vô, một hồi lâu mồ hôi xuất ra, vậy mồ hôi
đó từ đâu mà ra? Có phải từ bát nước trà vừa uống
vô không? Tại sao khi nãy nó là nước trà, bây giờ lại nói
nó là mồ hôi của tôi? Vậy tôi là nước trà phải không?
Nếu tôi là nước trà, sao khi nãy nó ở ngoài, không gọi
nó là tôi? Ba đại kia cũng vậy. Khi bốn đại ngoài phụ
vào bốn đại trong thân, nếu quân bình thì nói tôi mạnh
khỏe, khi mất quân bình thì nói tôi bệnh, bệnh đó chẳng
qua là do tứ đại mất quân bình. Phân tích như vậy để
chúng ta thấy rõ tứ đại không phải là tôi, mà chúng ta
cứ lầm chấp nó, rồi bám cứng vào đó, ai chạm tới khối
tứ đại này là chịu không nổi. Do chúng ta quá quan trọng
nó, nên vì nó mà tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử.
Về
tâm cũng vậy, tâm là cái duyên theo bóng dáng sáu trần mà
cứ chấp cho là thật, nên tôi nghĩ tôi nói ra mà ai cãi lại
là tôi nổi sân! Vì sao? Vì ý nghĩ của tôi là chân lý. Nhưng
xét kỹ cái suy nghĩ đó chẳng phải của tôi có từ lúc mới
lọt lòng mẹ, mà chỉ do huân tập theo thói quen. Như vậy
làm sao nói nó là thật được? Bởi chấp tâm là thật nên
tất cả những cái tôi huân tập được tôi đều cho là đúng,
còn thấy ai nói khác làm khác với sự huân tập của tôi
thì cho là sai. Ví dụ như ăn chay, khi thấy người khác tu
ăn mặn liền sanh tâm bực bội, trách tại sao tu mà ăn mặn?
Lại cũng có người tu ăn mặn thấy người khác tu ăn chay
liền thắc mắc tại sao tu phải ăn chay, ăn mặn có lỗi gì?
Do sự huân tập của hai bên khác nhau và đều cho cái mình
huân tập là đúng nên không ai chấp nhận ai, bởi không chấp
nhận nhau cho nên gặp nhau không vui.
Tóm
lại, chấp thân chấp tâm là thật ngã chính là căn bệnh
trầm kha khiến cho người đau khổ, nếu chúng ta cứ ôm kiến
chấp đó tu thì ngàn đời cũng không giải thoát được.
Như
vậy, bước đầu tiên của người tu hành là phá vô minh,
có phá được vô minh mới mong giải thoát được sanh tử.
Có người nói: "Tôi ăn hiền ở lành, làm tròn bổn phận
trong xã hội cần gì phải tu!" Câu nói đó đúng chưa? Nói
tu để đời sau được sanh làm thân người có nhiều phước
báo thì câu nói đó đúng. Muốn tu để giải thoát sanh tử
thì tu như vậy chưa đủ. Tôi xin lặp lại, muốn giải thoát
sanh tử thì phải phá cho được gốc vô minh. Trong mười hai
nhân duyên, vô minh đứng đầu. Nếu vô minh diệt thì hành
diệt v.v... Ðức Phật lại nói: "Cũng không có thân tâm chịu
sanh tử." Vì thân tâm con người là giả dối không thật nên
Phật nói không có thân tâm con người chịu sanh tử. Chẳng
phải do chúng ta phá hoại làm cho nó thành không, mà biết
rõ Bản tánh nó vốn là không. Vì sao vậy? Vì ngay trong cái
thân sanh tử chúng ta thấy nó là hư giả do duyên hợp huyễn
có, tự tánh nó là không, sanh là huyễn sanh nên nói chưa từng
sanh, tử là huyễn tử nên nói chưa từng tử, thế nên đâu
có thân tâm để chịu sanh tử.
ÂM:
-
Bỉ tri giác giả, do như hư không, tri hư không giả, tức không
hoa tướng, diệc bất khả thuyết vô tri giác tánh, hữu vô
câu khiển, thị tắc danh vi tịnh giác tùy thuận. Hà dĩ cố?
Hư không tánh cố, thường bất động cố, Như Lai tạng trung
vô khởi diệt cố, vô tri kiến cố, như pháp giới tánh, cứu
kính viên mãn biến thập phương cố. Thị tắc danh vi nhân
địa pháp hạnh, Bồ-tát nhân thử, ư Ðại thừa trung, phát
thanh tịnh tâm, mạt thế chúng sanh y thử tu hành bất đọa
tà kiến.
DỊCH:
-
Cái tri giác kia ví như hư không, biết hư không tức là (biết)
tướng hoa đốm cũng không và không thể nói không có tánh
tri giác. Có, không đều dẹp gọi là tùy thuận tánh Viên
giác thanh tịnh. Vì cớ sao? Vì tánh hư không thường bất
động, trong Như Lai tàng không khởi diệt vì không có tri kiến,
như pháp giới tánh cứu kính viên mãn khắp cả mười phương.
Ðây gọi là nhân địa tu hành (của Như Lai), Bồ-tát cũng
nhân đây mà phát tâm thanh tịnh tu theo Ðại thừa, chúng sanh
đời sau y đây mà tu hành thì chẳng rơi vào tà kiến.
GIẢNG:
Ðức
Phật dụ tri giác như hư không, biết được hư không tức
là biết tướng hoa đốm vốn không và cũng không thể nói
không có tri giác. Nghĩa là tri giác hay tánh Viên giác dụ cho
hư không, còn hoa đốm dụ cho vô minh. Khi hoa đốm hết ở
trong hư không mà hư không thì không diệt, nên nói tri giác
như hư không. "Biết" được hoa đốm tướng nó vốn không,
không thể nói là không có tri giác. Chúng ta biết tất cả
hoa đốm sanh diệt lăng xăng trong hư không là không thật,
còn hư không thì không diệt. Có hoa đốm là do mắt nhặm
thấy nên nó là hư giả. Khi hoa đốm hết, hư không vẫn nguyên
vẹn. Cũng thế, dùng trí biết được thân tứ đại này và
vọng tưởng này là hư giả, khi cái giả đó mất rồi thì
"cái biết" giả đó không mất; nên đây nói: Không thể
nói tánh tri giác là không. Nói có nói không là
hai bên, có không đều dẹp gọi là tùy thuận tánh Viên
giác. Chúng ta thấy Phật và Tổ nói không khác. Tổ nói
nhập được Tự tánh thanh tịnh của mình thì không kẹt hai
bên. Vì sao? Vì Tánh giác là bất động. Hư không dụ cho Tánh
giác, hoa đốm dụ cho vô minh, hoa đốm hết, hư không vẫn
còn. Cũng vậy, khi vô minh hết, Tánh giác không mất nên nói
tánh hư không thường không động, đâu từng sanh đâu từng
diệt. Cũng thế, trong Như Lai tàng không khởi diệt, vì chúng
ta mê nên thấy nó khởi diệt; Như Lai tàng đó như pháp giới
tánh rốt ráo tròn đầy khắp cả mười phương.
Tóm
lại, đức Phật muốn cho chúng ta thấy rõ, khi biết thân
tứ đại là giả, biết tâm duyên theo bóng dáng sáu trần
là giả, không còn kẹt trong hai cái đó là tùy thuận Tánh
giác. Nghĩa là khi niệm chấp cái giả mất rồi thì Tánh giác
hiện tiền, giống như khi hoa đốm trong hư không mất rồi
thì hư không vẫn bất động. Cũng vậy, Tánh giác của chúng
ta khi không còn bị vô minh che phủ thì hiển lộ và trùm khắp
mười phương. Nhiều người lầm cho rằng Phật nói thân này
là giả, vọng tưởng là giả, buông hết rồi thì còn cái
gì? Chúng ta buông được hai cái giả đó thì cái chân thật
hiển bày. Ðó là nhân địa của Phật tu, chư Bồ-tát và
chúng sanh đời sau cũng phải tu như vậy mới khỏi rơi vào
các bệnh.
Ðó
là gốc của sự tu hành, nếu chúng ta không y gốc để tu
và chặt đứt cội rễ vô minh đã ăn sâu từ nghìn muôn kiếp
thì càng tu chúng ta càng bệnh. Ví dụ như chúng ta lập ra
thời khóa ngày đêm phải tọa thiền bốn thời, nhưng với
bối cảnh xã hội hiện tại phải làm ruộng rẫy mới có
lương thực để ăn, chúng ta không thể hạn cuộc trong thời
khóa đã ấn định mà phải giảm bớt một hoặc hai thời.
Tu như vậy chúng ta cho là không đủ công phu, rồi sanh phiền
não, phiền não là bệnh. Hoặc chúng ta tu ngày đêm sáu thời
đầy đủ, nhưng thấy người khác tu có hai thời, chúng ta
nhìn họ với cặp mắt xem thường cho rằng mình tu hơn họ.
Do chấp trên hình tướng nên thấy có hơn thua, nếu như chúng
ta tu theo kinh Viên Giác thì đâu có cái gì hơn thua? Thân không
thật, tâm không thật thì có ai hơn ai? Chúng ta hằng quán
chiếu như vậy thì càng tu cái ngã càng mòn đâu có sanh bệnh.
Giả sử tôi nói trì chú được công đức vô lượng. Quí
vị nghe ham quá, về chuyên tâm trì chú, bỗng một hôm đang
trì chú thấy hào quang rực rỡ cả bầu trời, quí vị hài
lòng lắm, tự cho là mình tu có công phu nhiều. Khi ấy gặp
bạn đồng tu hỏi thăm họ: "lâu nay bạn tu có kết quả gì
không", bạn ấy trả lời: "không thấy". Quí vị tự hào và
cho rằng bạn mình không tu hành gì hết. Từ đó bản ngã
ngầm trồi lên mà quí vị không hay. Vì thế càng tu càng sanh
bệnh. Gần đây có nhiều vị tu hành tinh tấn lắm, ngồi
thiền có hào quang sáng. Nhưng thình lình bị "Ma-đăng-già"
lôi ra đời, làm nhiều điều ác tệ hơn những người Phật
tử tại gia. Ðó cũng vì chưa thấu triệt được cái lý rốt
ráo của sự tu hành, chỉ chú trọng trên hình tướng nên
tâm kiêu mạn dấy sanh, bệnh nặng mà không hay.
Chúng
ta nên biết những phương pháp Phật dạy tu là những phương
thuốc huyễn để trị lành bệnh vô minh huyễn của chúng
ta. Vì vậy nên trên đường tu, người hướng dẫn rất là
quan trọng. Khéo hướng dẫn thì càng tu càng tiến, còn không
khéo thì càng tu càng bệnh. Tôi thường nói người thế gian
là kẻ chấp ngã đã đành, nhưng người tu nếu không khéo
sẽ rơi vào bệnh chấp ngã số một. Khi còn hành Ðiệu thì
cái ngã còn nhỏ, đến khi làm thầy thiên hạ thì cái ngã
cũng tăng trưởng dần theo địa vị mà không hay. Hoặc không
có địa vị, càng tu thâm niên cái ngã càng lớn. Giả sử
như có người tu hai, ba mươi năm mà giáo lý không thông, pháp
tu nắm không vững, kẻ hậu học đến thưa hỏi thì ú ớ
đáp không trôi, nhưng họ có lỡ lời chi thì chê trách: "kẻ
hậu sanh vô lễ, ta tu mấy chục năm không đáng làm thầy
tụi bây hay sao". Ðó là bệnh chấp ngã rất lớn. Phá được
cái ngã thật là khó, vì chúng ta không chịu nhìn lại cái
thân hư giả và cái tâm hư giả của mình, cho nên tu nhiều
chừng nào thì cái ngã lớn chừng nấy. Nếu y theo lời Phật
dạy mà tu thì phá trừ vô minh mới mong tiến đạo.
Trong
chương này ngài Văn-thù hỏi hai câu, đức Phật trả lời
như trên là đủ chúng ta tu cả đời. Ðức Phật dạy hết
sức rõ ràng, chính xác và thực tế.
ÂM:
Nhĩ
thời Thế Tôn dục trùng tuyên thử nghĩa nhi thuyết kệ ngôn:
Văn-thù
nhữ đương tri
Nhất
thiết chư Như Lai
Tùng
ư bản nhân địa
Giai
dĩ trí tuệ giác
Liễu
đạt ư vô minh
Tri
bỉ như không hoa
Tức
năng miễn lưu chuyển
Hựu
như mộng trung nhân
Tỉnh
thời bất khả đắc
Giác
giả như hư không
Bình
đẳng bất động chuyển
Giác
biến thập phương giới
Tức
đắc thành Phật đạo
Chúng
huyễn diệt vô xứ
Thành
đạo diệc vô đắc
Bản
tánh viên mãn cố
Bồ-tát
ư thử trung
Năng
phát Bồ-đề tâm
Mạt
thế chư chúng sanh
Tu
thử miễn tà kiến.
DỊCH:
Khi
ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên nên nói kệ
rằng:
Văn-thù
ông nên biết
Tất
cả các Như Lai
Ðều
dùng trí Viên giác
Thấu
suốt cả vô minh
Biết
kia như không hoa
Thì
ắt khỏi lưu chuyển
Lại
như người trong mộng
Khi
tỉnh chẳng có gì
Tánh
giác như hư không
Bình
đẳng chẳng động chuyển
Tánh
giác khắp mười phương
Liền
được thành Phật đạo
Các
huyễn diệt không chỗ
Thành
đạo cũng không thành
Bản
tánh vốn viên mãn
Bồ-tát
ở trong ấy
Hay
phát tâm Bồ-đề
Các
chúng sanh đời sau
Tu
đây khỏi tà kiến.
GIẢNG:
Chúng
ta thấy trong bài trùng tụng Phật lặp lại thật là đầy
đủ ý nghĩa trên. Trước hết là nói nhân địa của tất
cả chư Phật tu hành đều từ nơi trí tuệ giác chiếu. Do
dùng trí tuệ giác chiếu nên thấy rõ vô minh, biết nó như
hoa đốm trong hư không nên ra khỏi luân hồi sanh tử. Cõi
đời này giống như giấc mộng. Mộng dụ cho vô minh, khi vô
minh thì thấy người thật cảnh thật, khi tỉnh thì thấy
người không thật cảnh không thật, nên nói tỉnh rồi thì
không có gì cả. Tánh giác ví dụ như hư không bình đẳng
không động. Vì hư không bình đẳng nên bao dung tất cả mọi
loài. Hư không không động, nếu có động là gió động bụi
bay, chớ hư không lúc nào cũng bất động. Cũng vậy, vọng
tưởng là động, còn Tánh giác thì bình đẳng không động,
bởi bình đẳng không động nên trùm khắp cả mười phương.
Người hằng sống với Tánh giác tạm nói là thành Phật.
Các huyễn diệt rồi cũng không có chỗ diệt, thành đạo
rồi cũng không có gì gọi là chứng. Bởi vì sao? Vì Tánh
giác vốn viên mãn nên khi vô minh hết thì Tánh giác tròn sáng.
Cũng như khi ngủ mộng thấy cảnh thấy người... nhưng khi
thức thì cảnh người cũng không còn, khi thức thì biết thức
thôi, chớ có nói là tôi được thức không? Ðâu có cái gì
mà được? Sự tu cũng vậy, tu để dẹp vô minh, khi vô minh
hết thì Tánh giác hiện tiền. Nếu còn thấy được là còn
có cái bị được và người hay được, như vậy là còn năng
còn sở thì không thể gọi là thành Phật. Các Bồ-tát ở
trong đây tu hạnh Bồ-đề, các chúng sanh đời sau y đây mà
tu thì không rơi vào tà kiến.
Trong
chương này, ngài Văn-thù chỉ hỏi Phật có hai câu mà Phật
dạy chúng ta tu suốt kiếp cũng không xong. Nếu ai y theo chương
này tu cũng đủ để giải thoát sanh tử.