Bồ-tát
Phổ Nhãn
thưa
hỏi
ÂM:
Ư
thị Phổ Nhãn Bồ-tát tại đại chúng trung, tức tùng tòa
khởi, đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp trường quì
xoa thủ, nhi bạch Phật ngôn:
-
Ðại bi Thế Tôn, nguyện vị thử hội chư Bồ-tát chúng cập
vị mạt thế nhất thiết chúng sanh diễn thuyết Bồ-tát tu
hành tiệm thứ, vân hà tư duy, vân hà trụ trì, chúng sanh
vị ngộ tác hà phương tiện phổ linh khai ngộ. Thế Tôn,
nhược bỉ chúng sanh vô chánh phương tiện, cập chánh tư
duy, văn Phật Như Lai thuyết thử tam-muội tâm sanh mê muộn,
tức ư Viên giác bất năng ngộ nhập. Nguyện hưng từ bi vị
ngã đẳng bối cập mạt thế chúng sanh giả thuyết phương
tiện.
Tác
thị ngữ dĩ, ngũ thể đầu địa, như thị tam thỉnh, chung
nhi phục thủy.
DỊCH:
Lúc
đó Bồ-tát Phổ Nhãn ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải
ba vòng, quì gối chấp tay bạch Phật rằng:
-
Thế Tôn đại bi, xin vì chúng Bồ-tát trong hội này và tất
cả chúng sanh đời sau diễn nói thứ lớp tu của Bồ-tát,
làm sao tư duy, làm sao trụ trì? Chúng sanh chưa ngộ tạo phương
tiện gì khiến cho họ được khai ngộ? Bạch Thế Tôn, nếu
chúng sanh kia không có chánh phương tiện và chánh tư duy, nghe
Như Lai nói tam-muội này tâm sanh mê muội, đối với tánh
Viên giác không thể ngộ nhập. Xin Ngài từ bi, vì bọn chúng
con và chúng sanh đời sau tạm nói phương tiện.
Thưa
lời đây rồi năm vóc gieo xuống đất, thưa thỉnh như vậy
lặp lại ba lần.
GIẢNG:
Phổ
là khắp, Nhãn là con mắt tức là con mắt thấy khắp. Như
ngài Huyền Sa Sư Bị thường nói "Tam thiên đại thiên thế
giới là một con mắt của Sa-môn". Ðọc qua chương trước
chúng ta thấy đức Phật trả lời dường như đủ rồi. Nhưng
các Bồ-tát thấy chưa đủ, chưa thể tu được, nên ở chương
này, Bồ-tát Phổ Nhãn đứng ra thưa hỏi thật kỹ. Ðây là
ba câu hỏi:
1-
Chúng sanh phải thứ lớp tu như thế nào? Suy nghĩ thế nào
cho hợp đạo?
2-
Phải gìn giữ cách nào cho đúng với chánh pháp?
3-
Chúng sanh chưa ngộ làm cách nào cho họ dần dần được khai
ngộ?
Ðoạn
trên Phật nói tổng quát chắc họ không thực hành được,
nên Ngài yêu cầu Phật chỉ cho phương tiện để chúng sanh
sau này tư duy chân chánh, và nghe đến tam-muội này tâm không
sanh mê muội để thể nhập vào tánh Viên giác. Từ đây về
sau Phật mới nói qua phương tiện.
ÂM:
Nhĩ
thời Thế Tôn cáo Phổ Nhãn Bồ-tát ngôn:
-
Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử nhữ đẳng nãi năng vị
chư Bồ-tát cập mạt thế chúng sanh vấn ư Như Lai tu hành
tiệm thứ, tư duy trụ trì, nãi chí giả thuyết chủng chủng
phương tiện. Nhữ kim đế thính đương vị nhữ thuyết.
Thời
Phổ Nhãn Bồ-tát phụng giáo hoan hỉ cập chư đại chúng
mặc nhiên nhi thính.
DỊCH:
Khi
ấy Phật bảo Bồ-tát Phổ Nhãn rằng:
-
Lành thay, lành thay! Này thiện nam, các ông hay vì các Bồ-tát
và chúng sanh đời sau cầu thỉnh Như Lai thứ lớp tu hành
dạy cách tư duy cách an trụ gìn giữ cho đến tạm lập các
thứ phương tiện. Nay ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông
mà nói.
Bấy
giờ Bồ-tát Phổ Nhãn vui vẻ vâng lời dạy, cùng đại chúng
lặng lẽ lắng nghe.
GIẢNG:
Phật
khen Bồ-tát Phổ Nhãn vì đại chúng và chúng sanh đời sau
cầu xin Phật tạm lập phương tiện tu hành để nhập tánh
Viên giác.
ÂM:
-
Thiện nam tử, bỉ tân học Bồ-tát cập mạt thế chúng sanh
dục cầu Như Lai tịnh Viên giác tâm, ưng đương chánh niệm
viễn ly chư huyễn, tiên y Như Lai xa-ma-tha hạnh, kiên trì cấm
giới, an xử đồ chúng, yến tọa tĩnh thất, hằng tác thị
niệm: Ngã kim thử thân tứ đại hòa hợp, sở vị phát, mao,
trảo, xỉ, bì, nhục, cân, cốt, tủy, não cấu sắc giai qui
ư địa. Thóa, thế, nùng, huyết, tân dịch, tiên mạt, đàm,
lệ, tinh khí, đại, tiểu tiện lợi giai qui ư thủy. Noãn
khí qui hỏa. Ðộng chuyển qui phong. Tứ đại các ly, kim giả
vọng thân đương tại hà xứ? Tức tri thử thân tất cánh
vô thể, hòa hợp vi tướng, thật đồng huyễn hóa. Tứ duyên
giả hợp, vọng hữu lục căn, lục căn tứ đại trung ngoại
hợp thành, vọng hữu duyên khí, ư trung tích tụ tợ hữu
duyên tướng giả danh vi tâm. Thiện nam tử, thử hư vọng
tâm, nhược vô lục trần, tắc bất năng hữu. Tứ đại phân
giải, vô trần khả đắc. Ư trung duyên trần các qui tán diệt,
tất cánh vô hữu duyên tâm khả kiến.
DỊCH:
-
Này thiện nam, những vị Bồ-tát mới học và chúng sanh đời
sau, muốn cầu tâm Viên giác thanh tịnh Như Lai, phải chánh
niệm xa lìa các pháp huyễn, trước y theo hạnh xa-ma-tha Như
Lai, kiên trì giới cấm, sắp xếp đồ chúng, ngồi yên trong
thất vắng, thường khởi nghĩ: "Thân này của ta do tứ đại
hòa hợp, những là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương,
tủy, não. sắc chất dơ bẩn đều thuộc về đất. Nước
dãi, nước mắt, máu mủ, nước tiểu, nước bọt, đàm dãi...
thuộc về nước. Hơi nóng thuộc về lửa. Chuyển động thuộc
về gió. Bốn đại mỗi cái rời xa, hỏi thân không thật
này về chỗ nào? Liền biết thân này rốt ráo không có tự
thể (cố định), do hòa hợp mà có tướng, thật đồng với
huyễn hóa.
-
Bốn duyên (tứ đại) giả hợp tạm có sáu căn. Sáu căn bốn
đại trong ngoài hợp thành tạm có duyên khí tích tụ ở trong,
in tuồng như có tướng năng duyên, giả gọi là tâm.
-
Này thiện nam! Tâm hư vọng này nếu không có (duyên) sáu trần
ắt không có. Bốn đại phân tán (thân hoại, căn mất) sáu
trần cũng không còn. (Ý) căn ở trong duyên theo sáu trần mỗi
thứ phân tán. Rốt cuộc không còn cái tâm duyên có thể thấy.
GIẢNG:
Ðức
Phật dạy chúng ta muốn tu theo thứ lớp thì trước tiên phải
y theo pháp Chỉ. Kế là gìn giữ giới cấm của Phật cho tinh
nghiêm, đồng thời phải sắp xếp đồ chúng và ngồi yên
trong thất vắng để tư duy hay chánh quán. Chúng ta muốn theo
thứ lớp mà quán thì trước hết phải quán ngay nơi thân
này do đất nước gió lửa hòa hợp: Tóc, lông, răng, móng,
da, thịt, gân, xương. tất cả chất cứng đó thuộc về đất.
Nước miếng, mồ hôi, máu, mủ, nước tiểu, đàm dãi. thuộc
về nước. Hơi ấm trong người thuộc về lửa. Sự động
chuyển, hơi thở ra vào là gió. Bốn đại này, chúng ta tách
riêng mỗi thứ, tìm lại coi cái gì là thân mình? Tìm không
ra. Cả bốn cái đó hợp lại thì tạm nói là thân mình, còn
nếu phân ly ra thì tìm lại cái thân huyễn này không có chỗ
nơi, liền biết thân này rõ ràng không có thật thể, do tứ
đại hòa hợp mà có tướng, có đó rồi mất nên nói là
huyễn hóa. Bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp chúng ta đã lầm
cho nó là thật, cho nên mất thân này tạo thân khác. Quán
xét thật kỹ để biết nó hư giả, mầm sanh diệt lần lần
sẽ hết, muốn thoát luân hồi phải có trí tuệ để phá
mê lầm vô minh.
Xét
về thân rồi, đức Phật dạy chúng ta xét về tâm. Khi đất,
nước, gió, lửa duyên hợp thì tạm có thân, khi đã có thân
rồi thì có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu căn
có là do tứ đại bên trong và tứ đại bên ngoài hợp lại
mà có, hơi tích tụ ở trong, hơi đó vận chuyển nên có ý
nghĩ phân biệt sáu trần tạm gọi là tâm. Thí dụ chúng ta
thấy một hình ảnh nào đó, khi ngồi yên sực nhớ lại hình
ảnh đó. Tâm duyên theo hình bóng đó gọi là duyên khí. Tại
sao gọi là duyên khí? Như mùi hôi hay thơm của một cái khăn
là do xông ướp một cái khác mà có mùi. Cũng vậy do căn
trần tiếp xúc rồi bóng dáng đó xông ướp thành hơi, cái
hơi đó là bóng dáng ở trong tâm mình. Nó xông ướp cái nào
thì chứa nhóm thành chủng tử cái đó. Những chủng tử chứa
nhóm nhiều in tuồng như cái tướng để nó duyên rồi cái
tướng nó duyên giả danh tên là tâm. Tất cả những cái nghĩ
này nghĩ kia là đều nghĩ theo bóng dáng do huân tập của sáu
trần với sáu căn mà có.
Khi
chúng ta độc thoại, hoặc đang ngồi, hoặc đang đi, chợt
nhớ việc này việc nọ, rồi phát thành ngôn ngữ, đó là
do cuộn hơi từ rún đưa lên, nếu mạnh thì phát ra lời nói
diễn bày cho người khác nghe, yếu thì đủ mình nghe. Thành
ra những ý niệm suy nghĩ chỉ là do hơi cuộn phát ra thôi.
Một hôm ngồi chơi, tôi chợt thấu đáo được ý nghĩa của
hai chữ tập khí. Thường khi chúng ta nghe giải nghĩa hai chữ
tập khí là thói quen, nhưng bây giờ tôi mới phát minh nghĩa
của nó là chỗ nhóm họp hơi. Những ý niệm suy nghĩ của
chúng ta đều do một ít hơi từ rún đưa lên cuộn lại rồi
phát ra lời. Nghĩ về người thì nói về người, nghĩ về
vật thì nói về vật, ở trong thì chúng ta cho đó là tư tưởng,
phát ra ngoài cho là ngôn ngữ. Thật ra tất cả tư tưởng
đều là ngôn ngữ. Quí vị xét xem có phải vậy không? Ðiều
này chúng ta phải ngồi lại nhìn kỹ mới thấy được. Khi
chúng ta ngồi lặng yên, chợt có ý niệm dấy lên, thì một
luồng hơi từ rún đưa lên rồi phát ra lời, yếu thì đủ
mình nghe gọi là tư tưởng, mạnh thì nói cho mọi người
cùng nghe gọi là ngôn ngữ. Vì vậy nên đức Phật mới nói
khí tích tụ ở trong, giống như tướng năng duyên và hình
bóng mà mình thấy ở ngoài rơi vào tâm thức, hai cái đó
duyên với nhau giả gọi là tâm. Chúng ta đã chấp cái giả
làm thân làm tâm rồi, làm sao biết được cái thật là tánh
Viên giác. Cho nên suốt kiếp đi trong luân hồi.
Nếu
thân tứ đại phân tán tức là thân tứ đại chết, sáu căn
hoại và hình ảnh (sáu trần) bên ngoài không có, thì lúc
đó chúng ta cũng không tìm ra cái tâm hay duyên. Như vậy cái
tâm hay duyên là cái hư giả do sáu căn và sáu trần hợp lại
mà có. Rõ ràng thân tâm (vọng tâm) đều không thật.
Phật
bảo chúng ta phải chánh tư duy, quán sát kỹ điều này cho
thấy rõ lẽ thật, đó là chỗ tu hành.
ÂM:
-
Thiện nam tử, bỉ chi chúng sanh huyễn thân diệt cố, huyễn
tâm diệc diệt. Huyễn tâm diệt cố, huyễn trần diệc diệt.
Huyễn trần diệt cố, huyễn diệt diệc diệt. Huyễn diệt
diệt cố phi huyễn bất diệt. Thí như ma kính, cấu tận minh
hiện. Thiện nam tử, đương tri thân tâm giai vi huyễn cấu,
cấu tướng vĩnh diệt thập phương thanh tịnh.
DỊCH:
-
Này thiện nam, huyễn thân của các chúng sanh kia diệt, nên
huyễn tâm cũng diệt, vì huyễn tâm diệt nên huyễn trần
cũng diệt, vì huyễn trần diệt nên cái huyễn diệt cũng
diệt, cái huyễn diệt diệt nhưng cái phi huyễn (tánh Viên
giác) không diệt. Thí như lau gương, bụi nhơ hết thì ánh
sáng hiện. Này thiện nam, nên biết thân tâm đều là huyễn
hóa nhơ bẩn, tướng nhơ bẩn đó hằng diệt thì (tánh Viên
giác) thanh tịnh khắp mười phương.
GIẢNG:
Ðoạn
này Phật chỉ thật là tường tận. Thân chúng ta do tứ đại
giả hợp tạm có, biết nó như huyễn thì vọng tưởng duyên
theo cái như huyễn đó cũng không thật. Như vậy huyễn thân
và huyễn tâm đều diệt. Huyễn tâm diệt nên huyễn trần
cũng theo đó mà diệt, trong kinh thường nói "Tâm sanh thì các
pháp sanh, tâm diệt thì các pháp diệt". Vì huyễn trần diệt
nên cái huyễn diệt cũng diệt, cái nghĩ diệt thân tâm trần
cảnh, cái nghĩ diệt đó cũng diệt. Những cái huyễn đã
diệt hết rồi lúc đó mới là phi huyễn, lúc đó tâm bình
đẳng như như gọi là bất sanh bất diệt. Cho nên nói phi
huyễn chẳng diệt. Như vậy quí vị thấy rõ ý nghĩa tu hành
của chúng ta, y cứ theo lời Phật dạy không chạy theo các
huyễn là lìa huyễn, các huyễn đã lìa thì tâm lìa huyễn
cũng phải bỏ luôn mới là thanh tịnh.
Ðức
Phật đưa ra ví dụ lau gương cho chúng ta dễ hiểu. Mặt gương
dụ cho Tánh giác, khăn lau dụ cho niệm diệt huyễn, bụi dụ
cho vô minh chấp thân tâm thật. Khi mặt gương bị bụi đóng
chúng ta dùng khăn lau lau sạch bụi, nhưng chúng ta lại để
cái khăn lau trên mặt gương thì mặt gương không sáng trọn
vẹn. Khi lau hết bụi, cái khăn lau cũng phải dẹp luôn, lúc
đó không còn bụi không còn khăn lau thì mặt gương mới sáng
hoàn toàn. Cũng thế, khi thân huyễn tâm huyễn diệt rồi,
ý niệm diệt huyễn cũng diệt luôn thì cái phi huyễn (Tánh
giác) mới hiển hiện. Phật ví dụ thêm:
ÂM:
-
Thiện nam tử, thí như thanh tịnh ma-ni bửu châu ánh ư ngũ
sắc tùy phương các hiện, chư ngu si giả kiến bỉ ma-ni thật
hữu ngũ sắc. Thiện nam tử, Viên giác tịnh tánh, hiện ư
thân tâm tùy loại các ứng, bỉ ngu si giả thuyết tịnh Viên
giác thật hữu như thị, thân tâm tự tướng diệc phục như
thị. Do thử bất năng viễn ư huyễn hóa. Thị cố ngã thuyết
thân tâm huyễn cấu, đối ly huyễn cấu thuyết danh Bồ-tát.
Cấu tận đối trừ tức vô đối cấu cập thuyết danh giả.
DỊCH:
-
Này thiện nam, ví như hạt châu ma-ni trong trẻo, tùy theo mỗi
phương chiếu hiện ra năm màu. Những người ngu thấy hạt
châu ma-ni có năm sắc thật. Này thiện nam, tánh Viên giác
thanh tịnh tùy theo thân tâm mỗi chủng loại mà ứng hiện.
Kẻ ngu nói tánh Viên giác thanh tịnh thật có như vậy, tự
tướng thân tâm cũng lại như thế. Vì thế mà không xa lìa
các thứ huyễn hóa, cho nên ta nói thân tâm là huyễn cấu
(chúng sanh). Ngược lại lìa huyễn cấu gọi là Bồ-tát. Khi
huyễn cấu hết thì pháp đối trị huyễn cấu cũng trừ,
thì không còn pháp đối trị huyễn cấu và cái tên gọi huyễn
cấu.
GIẢNG:
Ví
dụ như có một hạt châu trong trẻo ở ngoài có năm mặt,
mỗi mặt chúng ta để một tấm giấy màu khác nhau. Tùy theo
người đứng ở phía tấm giấy có màu gì thì thấy hạt
châu màu đó. Như người đứng ở phía tấm giấy màu đỏ
thì thấy hạt châu màu đỏ, rồi họ cho rằng hạt châu màu
đỏ thật. Những người đứng ở các phía kia cũng vậy.
Nhưng sự thật thì hạt châu không có màu gì hết, nó chỉ
là trong trẻo, tùy ở bên ngoài có màu gì thì nó chiếu ra
màu ấy thôi.
Hạt
châu ma-ni dụ cho tánh Viên giác. Thân tâm chúng ta dụ như
cái bóng xanh, vàng, trắng, đỏ trong hạt châu đó thôi. Ðó
là chỗ lâu nay chúng ta kẹt. Nghe Phật nói thân huyễn, tâm
huyễn chúng ta cũng nói theo thân huyễn tâm huyễn. Nhưng đối
với cái gì mà nói nó là huyễn chứ? Phật nói huyễn là
có lý do. Vì Ngài thấy tánh Viên giác chân thật, cho nên thân
tâm là huyễn. Cũng như nhìn trên hạt châu, những cái bóng
hiện xanh, vàng, đỏ. thì bóng đó là huyễn, hạt châu không
phải huyễn. Bây giờ chỉ có người không thấy hạt châu
mà chỉ thấy bóng thôi, thì sao? Cái bóng đó là huyễn hay
không huyễn? Bởi vậy chúng ta nói huyễn mà không huyễn gì
hết, tại vì chỉ thấy bóng mà không thấy hạt châu. Các
ngài vì thấy rõ nên nói không nghi ngờ còn chúng ta chỉ nói
lý nên nghi ngờ.
Cũng
vậy, tánh Viên giác tùy theo nghiệp của chúng sanh mà hiện
ở các cõi trời cõi người, rồi chúng ta tưởng tánh Viên
giác là trời là người, đó là mê. Thế nên, chúng sanh đi
trong lục đạo mà tánh Viên giác không thay đổi, như cái
bóng ở ngoài hạt châu, bóng đó không thật mà người mê
tưởng là thật. Cái thật là cái trong trẻo của hạt châu.
Cũng vậy, vì chúng ta si mê nên cho tánh Viên giác là thân
tâm của các loài chúng sanh. Thân tâm của các loài chúng sanh
là cái bóng của Tánh giác, thế nên nói nghiệp là cái bóng
không thật. Nghiệp hết, vô minh hết, nhưng Tánh giác không
mất. Phật nói người không thể xa lìa thân tâm nhơ huyễn
chỉ một bề chấp chặt cho nó là ta thì tạm gọi kẻ đó
là chúng sanh, còn người nào biết dẹp cái nhơ huyễn của
thân tâm thì tạm gọi là Bồ-tát. Người biết dẹp nhơ tức
là người biết lau bụi trên mặt gương, gọi đó là người
sáng, biết làm cho gương sáng. Người biết thắp sáng trí
tuệ nơi mình là người giác hay là Bồ-tát. Khi cái nhơ hết
thì pháp đối trị nhơ cấu cũng trừ, bấy giờ không còn
pháp đối trị nhơ cấu và cái tên gọi nhơ cấu nữa. Bụi
hết thì cái đối trị bụi là khăn lau cũng phải dẹp, cuối
cùng là không còn bụi không còn khăn lau, chỉ là mặt gương
trong sáng. Khi chúng ta tu buông dần kiến chấp hư vọng về
thân tâm thì gọi là tu hạnh Bồ-tát. Khi buông hết những
kiến chấp hư vọng về thân tâm rồi, niệm buông cũng phải
dẹp luôn, thì Tánh giác chân thật hiển bày.
ÂM:
-
Thiện nam tử, thử Bồ-tát cập mạt thế chúng sanh chứng
đắc chư huyễn, diệt ảnh tượng cố. Nhĩ thời tiện đắc
vô phương thanh tịnh vô biên hư không.
DỊCH:
-
Này thiện nam, Bồ-tát này và chúng sanh đời sau chứng được
các huyễn, diệt các ảnh tượng. Khi ấy liền được thanh
tịnh vô biên khắp hư không.
GIẢNG:
Ðức
Phật dạy cho chúng ta thấy rõ sau khi buông được tất cả
bóng dáng hư giả của thân tâm, thì tánh Viên giác thanh tịnh
hiển hiện khắp cả mười phương, lúc bấy giờ tạm gọi
là thành Phật.
ÂM:
-
Giác sở hiển phát, giác viên minh cố hiển tâm thanh tịnh,
tâm thanh tịnh cố kiến trần thanh tịnh, kiến thanh tịnh
cố nhãn căn thanh tịnh, thức thanh tịnh cố văn trần thanh
tịnh, văn thanh tịnh cố nhĩ căn thanh tịnh, căn thanh tịnh
cố nhĩ thức thanh tịnh, thức thanh tịnh cố giác trần thanh
tịnh. Như thị nãi chí tị thiệt thân ý diệc phục như thị.
DỊCH:
-
Vì tánh Viên giác sáng suốt đã hiện ra nên tâm thanh tịnh,
do tâm thanh tịnh nên kiến trần thanh tịnh, do kiến thanh tịnh
nên nhãn căn thanh tịnh, do căn thanh tịnh nên nhãn thức thanh
tịnh, do thức thanh tịnh nên văn trần thanh tịnh, do văn thanh
tịnh nên nhĩ căn thanh tịnh, do căn thanh tịnh nên nhĩ thức
thanh tịnh, do thức thanh tịnh nên giác trần thanh tịnh. Như
thế cho đến tị, thiệt, thân, ý cũng lại như vậy.
GIẢNG:
Ðức
Phật tuần tự chỉ cho chúng ta thấy, khi Tâm thể thanh tịnh
thì sáu căn sáu trần sáu thức đều được thanh tịnh. Chúng
ta nghiệm kỹ thì sẽ thấy được ý nghĩa của đoạn này.
Nếu nơi tâm chúng ta không có một vọng niệm nào dấy khởi,
chỉ một tâm bình đẳng như như, thì nhìn cảnh nào chúng
ta cũng thấy thanh tịnh. Còn nếu tâm chúng ta dẫy đầy tham
sân si, khi nhìn cảnh thì chúng ta khởi niệm tham sân si, do
khởi niệm tham sân si cho nên cảnh đó trở thành cảnh Ta-bà
khổ phiền não dẫy đầy. Bởi phiền não nên sáu căn cũng
nhiễm ô, do sáu căn nhiễm ô nên sáu thức cũng trở thành
ô nhiễm. Ðể thấy rõ hễ căn thanh tịnh thì trần thức
cũng thanh tịnh.
ÂM:
-
Thiện nam tử, căn thanh tịnh cố sắc trần thanh tịnh, sắc
trần thanh tịnh cố thanh trần thanh tịnh, hương, vị, xúc,
pháp diệc phục như thị. Thiện nam tử, lục trần thanh tịnh
cố địa đại thanh tịnh, địa thanh tịnh cố thủy đại
thanh tịnh, hỏa đại phong đại diệc phục như thị. Thiện
nam tử, tứ đại thanh tịnh cố thập nhị xứ, thập bát
giới, nhị thập ngũ hữu thanh tịnh.
DỊCH:
-
Này thiện nam, do căn thanh tịnh nên sắc trần thanh tịnh,
vì sắc thanh tịnh nên thanh trần thanh tịnh; hương, vị, xúc,
pháp cũng như vậy. Này thiện nam, do lục trần thanh tịnh
nên địa đại thanh tịnh, địa đại thanh tịnh thì thủy
đại thanh tịnh, hỏa đại phong đại cũng vậy. Này thiện
nam, do tứ đại thanh tịnh nên mười hai xứ, mười tám giới,
hai mươi lăm cõi thanh tịnh.
GIẢNG:
Khi
tâm chúng ta thanh tịnh rồi thì căn trần thức thanh tịnh,
nên tứ đại của thân này cũng trở thành thanh tịnh. Cho
đến mười hai xứ, mười tám giới, hai mươi lăm cõi đều
thanh tịnh. Khi chúng ta tu, tâm thanh tịnh rồi thì ở chợ
cũng được, ở rừng cũng được, ở đâu chúng ta cũng thấy
thanh tịnh hết. Tâm thanh tịnh là chủ yếu để các pháp
được thanh tịnh, nếu người tâm không thanh tịnh thì ở
đâu cũng thấy bất an. Kinh Duy-ma-cật có câu: "Tùy kỳ tâm
tịnh tức Phật độ tịnh." Tùy theo tâm mình thanh tịnh thì
cõi Phật được thanh tịnh. Vậy chủ yếu của sự tu hành
là phải lo tịnh tâm. Tôi hay ví dụ như có một cái hồ chứa
nước trong, chúng ta làm những vòi nước, khi mở ra hứng
toàn nước trong. Ngược lại nếu hồ chứa nước đục, mở
vòi nào cũng ra nước đục. Như vậy cốt là bên trong chứa
nước đục hay trong, còn những vòi mở ra thì ở trong có
cái gì nó ra cái nấy. Cho nên tâm thanh tịnh thì sáu căn theo
đó thanh tịnh là vậy. Tâm còn ô uế muốn sáu căn thanh tịnh
sao được.
ÂM:
-
Bỉ thanh tịnh cố Thập lực, Tứ vô sở úy, Tứ vô ngại
trí, Phật Thập bát bất cộng pháp, Tam thập thất trợ đạo
phẩm thanh tịnh, như thị nãi chí bát vạn tứ thiên đà-la-ni
môn nhất thiết thanh tịnh.
DỊCH:
-
Vì các pháp (thế gian) kia thanh tịnh cho nên (các pháp xuất
thế gian như) Thập lực, Tứ vô sở úy, Tứ vô ngại trí,
Thập bát bất cộng pháp của Phật, Ba mươi bảy phẩm trợ
đạo đều thanh tịnh, như vậy cho đến tám muôn bốn ngàn
đà-la-ni môn đều thanh tịnh.
GIẢNG:
Trước
Phật đã nói thế gian, bây giờ nói pháp xuất thế gian, nếu
pháp thế gian thanh tịnh thì pháp xuất thế gian cũng thanh
tịnh. Tâm không thanh tịnh thì pháp thế gian không thanh tịnh,
pháp thế gian không thanh tịnh thì nói pháp của Phật cũng
không thanh tịnh. Tôi nói để Phật tử và Tăng Ni rõ, giả
sử như lòng tôi ô nhiễm nếu tôi hiểu Phật pháp và tôi
đem Phật pháp ra giảng dạy cho quí vị thì Phật pháp cũng
trở thành ô nhiễm. Ví dụ như tôi tham tài, nói pháp một
hồi tôi cũng đề cập tiền tài trong đó. Bởi vì lòng tôi
có chứa tham lam thì nói một hồi nó cũng lộ ra. Nếu tâm
chúng ta thanh tịnh dù nói pháp thế gian hay nói Phật pháp
cũng đều thanh tịnh.
ÂM:
-
Thiện nam tử, nhất thiết thật tướng thanh tịnh cố nhất
thân thanh tịnh, nhất thân thanh tịnh cố đa thân thanh tịnh,
đa thân thanh tịnh cố như thị nãi chí thập phương chúng
sanh Viên giác thanh tịnh. Thiện nam tử, nhất thế giới thanh
tịnh cố đa thế giới thanh tịnh, đa thế giới thanh tịnh
cố như thị nãi chí tận ư hư không viên khỏa tam thế, nhất
thiết bình đẳng thanh tịnh bất động. Thiện nam tử, hư
không như thị bình đẳng bất động, đương tri giác tánh
bình đẳng bất động, tứ đại bất động cố, đương tri
giác tánh bình đẳng bất động, như thị nãi chí bát vạn
tứ thiên đà-la-ni môn bình đẳng bất động, đương tri giác
tánh bình đẳng bất động.
DỊCH:
-
Này thiện nam, tất cả thật tướng tánh thanh tịnh cho nên
một thân thanh tịnh, do một thân thanh tịnh cho nên nhiều
thân thanh tịnh, do nhiều thân thanh tịnh như thế cho đến
mười phương chúng sanh Viên giác thanh tịnh. Này thiện nam,
vì một thế giới thanh tịnh cho nên nhiều thế giới thanh
tịnh, vì nhiều thế giới thanh tịnh, như thế cho đến cùng
tận hư không trùm khắp ba đời tất cả đều thanh tịnh
bình đẳng bất động. Này thiện nam, hư không bình đẳng
bất động, như thế, nên biết Tánh giác bình đẳng bất
động, vì bốn đại bình đẳng bất động, nên biết tánh
Viên giác bình đẳng bất động, như thế cho đến tám muôn
bốn ngàn pháp môn đà-la-ni đều bình đẳng bất động nên
biết tánh Viên giác bình đẳng bất động.
GIẢNG:
Ðức
Phật chỉ cho chúng ta thấy từ một người thanh tịnh lần
đến nhiều người được thanh tịnh, từ nhiều người thanh
tịnh cho nên mười phương thế giới chúng sanh đều thanh
tịnh v.v... Thanh tịnh từ phạm vi nhỏ dần dần lan ra phạm
vi lớn. Chủ yếu của đạo Phật là tu từ Tự tâm của cá
nhân. Tự tâm cá nhân thanh tịnh rồi sẽ lan dần ra người
ngoài. Nhiều người hiểu lầm trước lo cho tất cả mọi
người được tốt, đi giáo dục người này người kia dạy
họ phải tốt, nhưng mình chưa thật tốt mà muốn cho mọi
người chung quanh tốt không thể được. Muốn cho mọi người
tốt, trước hết chúng ta phải tốt, rồi gia đình chúng ta
tốt, tới làng xã chúng ta tốt, đến cả nước chúng ta cũng
tốt thì thế giới mới tốt. Như vậy, chủ yếu muốn xây
dựng một xã hội tốt đẹp là trước hết phải xây dựng
cá nhân. Trong kinh Pháp Bảo Ðàn, Lục Tổ dạy người tu phải
phản quan tự kỷ, phải nhìn lại mình. Nếu tâm mình chưa
thanh tịnh mà cứ thấy người này sai người kia dở, lo xây
dựng, chỉ chuốc thêm phiền não chớ không ích gì. Tâm mình
chưa thanh tịnh nên nói họ không nghe. Muốn cho người tốt
mà người cứ chứng nào tật nấy thì mình giận mình phiền
não. Ngoại trừ khi chúng ta có bổn phận nhắc nhở người
khác thì phải luôn kiểm lại tâm mình coi còn những điều
dở nào? Và khi nhắc nên nói như thế này: Tôi có bổn phận
phải nhắc nhở huynh đệ tiến tu chớ tôi còn những điều
dở như vậy v.v...
Muốn
xây dựng người thì trước phải nhìn lại mình, mới nghe
qua như là ích kỷ nhưng đó là căn bản. Nếu cứ lo bên ngoài
mà không nhìn lại mình đó là điều tai hại rất lớn cho
người tu.
Có
người nói, một người thanh tịnh thì tất cả mọi người
đều thanh tịnh, vậy chỉ cần một người tu mọi người
khác khỏi tu. Phải vậy không? Khi tâm mình được vô phân
biệt, tức thanh tịnh, thì mọi người mình thấy đều thanh
tịnh. Cũng như Phật nói Phật thấy chúng sanh đều thành
Phật, mà không thành là tại chúng ta quên ông Phật của chúng
ta nên không thành. Ðó là cái thấy của người đã được
đạo. Nếu chúng ta không khéo nhận thì khi nghe kinh nói một
người thanh tịnh khắp pháp giới chúng sanh đều thanh tịnh
thì chúng ta khỏi cần lo tu làm chi, chờ người khác tu thành
Phật rồi mình thanh tịnh theo. Thật là lầm lẫn.
ÂM:
-
Thiện nam tử, giác tánh biến mãn thanh tịnh bất động, viên
vô tế cố, đương tri lục căn biến mãn pháp giới, căn biến
mãn cố đương tri lục trần biến mãn pháp giới, trần biến
mãn cố đương tri tứ đại biến mãn pháp giới như thị
nãi chí đà-la-ni môn biến mãn pháp giới.
DỊCH:
-
Này thiện nam, tánh Viên giác thanh tịnh bất động viên mãn
khắp cả không ngằn mé, nên biết sáu căn cũng đầy khắp
pháp giới, vì sáu căn đầy khắp pháp giới nên biết sáu
trần cũng đầy khắp pháp giới, vì sáu trần đầy khắp
pháp giới nên biết bốn đại cũng đầy khắp pháp giới,
như vậy cho đến pháp môn đà-la-ni cũng đầy khắp pháp giới.
GIẢNG:
Ðức
Phật chỉ cho chúng ta thấy rõ ràng, khi chúng ta nhận được
tánh Viên giác thênh thang trùm khắp pháp giới ở nơi mình
thì căn trần cũng đều trùm khắp pháp giới. Tại sao? Sở
dĩ chúng ta thấy thân chúng ta hạn cuộc bề cao một thước
năm hay một thước sáu, trọng lượng khoảng bốn mươi lăm
hay năm mươi ký là vì tâm chúng ta còn phân biệt vướng mắc
ngoại trần. Khi chúng ta nhận được tánh Viên giác trùm cả
pháp giới nơi mình và chúng ta sống được trọn vẹn với
tánh Viên giác ấy thì thân tâm phải tương ứng với nhau.
Vì tâm còn hạn cuộc nên thấy thân cũng hạn cuộc, tâm thênh
thang thì thấy thân cũng thênh thang, gốc do tâm. Trước đức
Phật đã nói tâm thanh tịnh thì tất cả đều thanh tịnh.
Bây giờ Phật cũng nói tâm trùm khắp pháp giới thì thân
cũng trùm khắp pháp giới.
ÂM:
-
Thiện nam tử, do bỉ Diệu giác tánh biến mãn cố căn tánh
trần tánh vô hoại vô tạp. Căn trần vô hoại cố như thị
nãi chí đà-la-ni môn vô hoại vô tạp như bá thiên đăng quang
chiếu nhất thất, kỳ quang biến mãn vô hoại vô tạp.
DỊCH:
-
Này thiện nam, do tánh Diệu giác kia đầy khắp pháp giới
nên Thể tánh của căn trần không hoại không tạp. Vì căn
trần không hoại, như thế cho đến pháp môn đà-la-ni cũng
không hoại không tạp. Như trăm ngàn ngọn đèn cùng chiếu
sáng trong một căn nhà, tuy ánh sáng mỗi ngọn đèn đầy khắp
nhà mà không tạp lộn hay hoại diệt lẫn nhau.
GIẢNG:
Chỗ
này là chỗ mà đa số người nghi, một người tu thành Phật,
tánh Viên giác trùm khắp pháp giới, người khác tu thành Phật
tánh Viên giác cũng trùm khắp pháp giới, vậy chỗ đâu mà
chứa?
Phật dùng ví dụ, trong một cái nhà tối, chúng ta đốt một
ngọn đèn, ánh sáng của ngọn đèn ấy sáng khắp nhà này;
bây giờ đốt thêm một ngọn đèn nữa thì ánh sáng của
ngọn đèn thứ hai không bị giới hạn. Rồi đốt thêm ngọn
đèn thứ ba nữa thì căn nhà càng sáng thêm, đốt nhiều ngọn
đèn chừng nào thì căn nhà càng sáng chừng nấy, chớ ánh
sáng của những ngọn đèn thắp sau không có lẫn lộn hay
lấn diệt ngọn đèn thứ nhất. Không thể nói ánh sáng của
ngọn đèn thứ nhất sáng khắp nhà rồi, ánh sáng ngọn đèn
thứ hai thắp lên hết chỗ chứa, mà trái lại càng nhiều
ngọn đèn thì gian nhà càng sáng chớ không có ranh giới tạp
nhạp và lấn diệt lẫn nhau.
Cũng
thế, một chúng sanh thanh tịnh cả thế giới cũng thanh tịnh,
nhưng chưa được thanh tịnh lắm, nếu tất cả chúng sanh
đều thanh tịnh thì cả thế giới này hoàn toàn thanh tịnh.
Mỗi ngọn đèn tuy có ánh sáng riêng, nhưng khi để chung thì
không có ranh giới, mà ánh sáng của ngọn đèn nào là của
ngọn đèn ấy. Lấy ngọn đèn này ra chỗ khác thì ánh sáng
ấy cũng tới chỗ khác và khi một trăm ngọn đèn để chung
trong một cái nhà thì ánh sáng như một nên nói là đồng.
Cũng
vậy, tâm Chân như của tất cả chúng sanh đều đồng một
thể, vì không có ranh giới nên nói chư Phật đạo đồng,
chỗ chứng thì như nhau mà mỗi Phật đều riêng nên nói hằng
hà sa số chư Phật.
ÂM:
-
Thiện nam tử, giác thành tựu cố, đương tri Bồ-tát bất
dữ pháp phược, bất cầu pháp thoát, bất yểm sanh tử bất
ái Niết-bàn, bất kính trì giới bất tắng hủy cấm, bất
trọng cửu tập bất khinh sơ học. Hà dĩ cố? Nhất thiết
giác cố. Thí như nhãn quang hiểu liễu tiền cảnh. Kỳ quang
viên mãn đắc vô tắng ái. Hà dĩ cố? Quang thể vô nhị,
vô tắng ái cố.
DỊCH:
-
Này thiện nam, vì Bồ-tát thành tựu tánh Viên giác nên không
bị pháp ràng buộc, chẳng cầu pháp giải thoát, chẳng chán
sanh tử, chẳng ưa Niết-bàn, chẳng kính người trì giới,
chẳng ghét người phá giới, chẳng trọng người tu lâu, chẳng
khinh người mới học. Vì cớ sao? Vì tất cả (đều là) tánh
Viên giác. Ví như mắt sáng thấy rõ cảnh ở trước. Tánh
sáng đó đầy khắp tất cả không yêu không ghét. Vì cớ
sao? Vì thể sáng không hai nên không yêu không ghét vậy.
GIẢNG:
Phật
dạy chỗ này để cho chúng ta thấy thêm một tầng nữa, khi
thành tựu tánh Viên giác thì không còn bị pháp trói buộc,
không cầu pháp giải thoát, không chán sanh tử cũng không ưa
Niết-bàn v.v... Nghĩa là không còn kẹt hai bên, tâm luôn luôn
bất động nên gọi là hằng thanh tịnh. Ví dụ như con mắt
của chúng ta nhìn thấy cành hoa trên bàn, vì con mắt sáng
cho nên thấy hình dáng của bình hoa rõ ràng, vàng ra vàng,
đỏ ra đỏ... Nhưng tánh thấy của con mắt không có khen chê
yêu ghét. Sở dĩ có khen chê yêu ghét là do sau khi nhìn rồi
dấy niệm phân biệt đẹp xấu, đó là cái gốc trói buộc
của trần cảnh. Nếu chúng ta nhìn mà không có niệm phân
biệt thì không yêu ghét, là sống được với tánh Viên giác
thanh tịnh bình đẳng. Ðó là chủ yếu của sự tu hành. Chúng
ta chưa biết tu thì nhìn người nhìn vật với cái nhìn hai
bên, hoặc là người đó tốt hoặc là người đó xấu; tốt
thì quí trọng xấu thì khinh khi, do đó niệm phiền não dấy
khởi. Ở thế gian người nào phân biệt giỏi, khen chê nhiều
thì cho người đó là khôn ngoan lanh lẹ. Nhưng trong đạo người
đó là người sống với vọng thức nhiều, sống với vọng
thức nhiều thì trầm luân sâu. Như vậy muốn biết mình còn
trầm luân hay giải thoát là tự biết chớ không cần hỏi
ai.
ÂM:
-
Thiện nam tử, thử Bồ-tát cập mạt thế chúng sanh tu tập
thử tâm đắc thành tựu giả, ư thử vô tu, diệc vô thành
tựu Viên giác phổ chiếu tịch diệt vô nhị. Ư trung bá thiên
vạn ức a-tăng-kỳ bất khả thuyết hằng hà sa chư Phật
thế giới, do như không hoa loạn khởi loạn diệt, bất tức
bất ly, vô phược vô thoát, thủy tri chúng sanh bản lai thành
Phật, sanh tử Niết-bàn do như tạc mộng. Thiện nam tử, như
tạc mộng cố đương tri sanh tử cập dữ Niết-bàn vô khởi
vô diệt, vô lai vô khứ. Kỳ sở chứng giả vô đắc vô thất,
vô thủ vô xả. Kỳ năng chứng giả vô tác vô chỉ, vô nhậm
vô diệt. Ư thử chứng trung vô năng vô sở, tất cánh vô
chứng, diệc vô chứng giả nhất thiết pháp tánh bình đẳng
bất hoại.
DỊCH:
-
Này thiện nam, Bồ-tát hiện tại và chúng sanh đời sau tu
tập tâm (Viên giác) này được thành tựu, thật ra cũng không
tu không thành tựu, vì tánh Viên giác lặng lẽ chiếu khắp
không hai. Trong đó trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ thế giới
chư Phật nhiều như cát sông Hằng không thể đếm, giống
như hoa đốm trong hư không loạn khởi loạn diệt, chẳng tức
chẳng ly, không trói buộc không giải thoát. Mới biết chúng
sanh xưa nay đã thành Phật, sanh tử Niết-bàn in như giấc
mộng đêm qua. Này thiện nam, vì như giấc mộng đêm qua nên
biết sanh tử và Niết-bàn không sanh không diệt, không đến
không đi. Chỗ chứng không được không mất, không thủ không
xả. Người năng chứng không tác không chỉ, không nhậm không
diệt. Trong cái chứng ấy không năng không sở, rốt ráo không
pháp chứng cũng không có người chứng, vì tánh tất cả pháp
bình đẳng không hoại.
GIẢNG:
Phật dạy các Bồ-tát hiện tại và chúng sanh đời sau tuy
thấy có tu tập và được tánh Viên giác thanh tịnh. Nhưng
kỳ thật thì không tu cũng không thành tựu. Vì sao? Vì còn
có thành tựu là còn có "tôi tu" và "cái tôi được", tức
là còn năng còn sở, nếu năng sở còn thì chưa đến chỗ
giải thoát hoàn toàn. Vì tánh Viên giác lặng lẽ chiếu khắp
không hai, không hai thì đâu có năng sở, đâu có tôi tu và
đâu có quả để tôi chứng. Vì vậy trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ
thế giới của chư Phật, chúng ta xem như hoa đốm trong hư
không, loạn khởi loạn diệt không có thật. Thế giới của
chư Phật còn không thật, huống nữa là thế giới của phàm
phu làm sao mà có thật? Do thấy được như vậy nên không
mắc kẹt ở tức và ly, không bị các pháp trói buộc, không
mắc kẹt trong pháp giải thoát. Chừng đó mới biết chúng
sanh từ thuở nào đến giờ đã thành Phật và sanh tử cùng
Niết-bàn giống như giấc mộng đêm qua. Vì sao? Vì sanh tử
và Niết-bàn là hai tướng đối đãi giả lập, biết sanh
tử là hư dối thì Niết-bàn cũng hư dối luôn, nên không
sợ sanh tử, cũng không cầu Niết-bàn. Sở dĩ thấy hai cái
này không quan trọng vì đã nhận ra Tánh giác của mình, nếu
chưa nhận ra thì sanh tử sự đại. Chúng ta phải biết rõ
để đừng lầm ý kinh.
Phật
lại nói tiếp sanh tử cùng Niết-bàn không khởi không diệt,
không đến không đi. Sở chứng (quả vị) cũng không được
không mất, không thủ không xả. Người năng chứng cũng không
tạo tác và đình chỉ, không mặc tình và cũng không tiêu
diệt. Trong cái chứng này không năng không sở, rốt ráo không
có pháp chứng và người chứng, vì tánh tất cả pháp bình
đẳng không hoại. Ðó mới là chỗ cứu kính của người
chứng Viên giác.
ÂM:
-
Thiện nam tử, bỉ chư Bồ-tát như thị tu hành, như thị tiệm
thứ, như thị tư duy, như thị trụ trì, như thị phương tiện,
như thị khai ngộ, cầu như thị pháp diệc bất mê muộn.
DỊCH:
-
Này thiện nam, các vị Bồ-tát kia phải tu hành như thế, thứ
lớp như thế, suy nghĩ như thế, trụ trì như thế, phương
tiện như thế, khai ngộ như thế, cầu pháp như thế, mới
không có mê muội.
GIẢNG:
Ðây
là lời kết thúc của đức Phật, nếu Bồ-tát mới phát
tâm, chúng sanh đời sau tu hành như lời Phật dạy trên thì
sẽ tới chỗ cứu kính và không còn mê muội.
ÂM:
Nhĩ
thời Thế Tôn dục trùng tuyên thử nghĩa nhi thuyết kệ ngôn:
Phổ
Nhãn nhữ đương tri
Nhất
thiết chư chúng sanh
Thân
tâm giai như huyễn
Thân
tướng thuộc tứ đại
Tâm
tánh qui lục trần
Tứ
đại thể các ly
Thùy
vi hòa hợp giả
Như
thị tiệm tu hành
Nhất
thiết tất thanh tịnh
Bất
động biến pháp giới
Vô
tác chỉ nhậm diệt
Diệc
vô năng chứng giả
Nhất
thiết Phật thế giới
Do
như hư không hoa
Tam
thế tất bình đẳng
Tất
cánh vô lai khứ
Sơ
phát tâm Bồ-tát
Cập
mạt thế chúng sanh
Dục
cầu nhập Phật đạo
Ưng
như thị tu tập.
DỊCH:
Khi
ấy đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên, nói kệ rằng:
Phổ
Nhãn ông nên biết
Tất
cả các chúng sanh
Thân
tâm đều như huyễn
Thân
tướng thuộc tứ đại
Tâm
tánh thuộc sáu trần
Tứ
đại mỗi thứ rời,
Cái
gì là hòa hợp?
Thứ
lớp tu như thế,
Thảy
đều được thanh tịnh.
Khắp
pháp giới không động,
Không
tác, chỉ, nhậm, diệt,
Cũng
không người hay chứng,
Tất
cả thế giới Phật,
Ví
như hoa trong không,
Ba
đời đều bình đẳng,
Cứu
kính không đến đi.
Bồ-tát
mới phát tâm
Và
chúng sanh đời sau
Muốn
cầu vào Phật đạo
Nên
tu tập như thế.
GIẢNG:
Ðức
Phật dạy chúng ta phải thấy thân này như huyễn, vì thân
này do tứ đại hòa hợp, nên rời tứ đại tìm thân không
có. Tâm này chẳng qua là cái duyên theo bóng dáng sáu trần
không thật. Thấy được như vậy thì từ từ tất cả đều
thanh tịnh. Khi tâm thanh tịnh mới thấy khắp cả pháp giới
đều không động, lúc đó chúng ta mới khỏi các bệnh: bệnh
tác là tạo tác, bệnh chỉ là kềm, bệnh nhậm là mặc kệ,
bệnh diệt tức là cố lắng vọng tưởng xuống và cũng không
thấy có người năng chứng. Khi rõ thân như huyễn rồi thì
thấy thế giới của chư Phật cũng như hoa đốm trong hư không,
thấy ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai cũng đều bình
đẳng. Chủ yếu của Phật dạy trong chương này là khi thấy
rõ thân tâm không thật thì tâm mới bất động. Ðối với
không gian là mười phương thế giới và thời gian là ba đời
đều không thật thì tâm hằng thanh tịnh. Nếu tu được như
vậy tức là đi đúng đường của Phật dạy.
Chương
trước đức Phật dạy tổng quát, thấy thân thật tâm thật
đó là vô minh, bây giờ thấy rõ thân tâm không thật là tập
sống với tánh Viên giác, khi sống được hoàn toàn thì gọi
là thành tựu tánh Viên giác. Chương này Bồ-tát Phổ Nhãn
xin đức Phật dạy nên dùng phương tiện gì để tiến tu.
Phật dạy ngồi yên một chỗ hoặc ngồi trong thất hoặc
ở trong tùng lâm, quán lại thân này. Cái nào cứng thuộc
về đất, cái nào ướt thuộc về nước, cái nào động thuộc
về gió, cái nào nóng thuộc về lửa, phân loại rồi quán
tưởng từng nhóm, quán như vậy hỏi cái gì là thân. Ðến
tâm cũng vậy, do ý căn duyên theo bóng dáng sáu trần, hoặc
là nghe tiếng hoặc là thấy sắc. Bóng của tiếng của sắc
lưu lại, ý căn duyên theo cái bóng lưu lại đó mà suy nghĩ
gọi là tâm. Vậy tâm duyên cảnh là cái hư giả không thật,
thấy thân tâm đều giả dối là chúng ta phá được vô minh.
Hết vô minh mới sống trọn vẹn với tánh Viên giác thanh
tịnh, do đó căn trần thức đều thanh tịnh, mười phương
thế giới đều thanh tịnh. Tu thứ lớp là như vậy, đừng
thấy cảnh huyễn, mà trước hết phải thấy thân tâm này
huyễn vì hết lầm thân tâm thì hết lầm cảnh giới. Ðức
Phật ví dụ rất chính xác, nếu trong bốn phương mà chúng
ta lầm một phương thì ba phương kia đều lầm theo. Cũng vậy,
ngay thân tâm này mà lầm thì tất cả đều lầm, cho nên muốn
phá cái lầm chung đó trước phải phá cái lầm thân tâm.
Hầu
hết chúng ta bây giờ không chịu quán thân tâm mà chỉ lo
quán người khác. Cả ngày chỉ thấy anh này sai chị kia dở,
do đó mà quên cái sai của mình, mới nhìn thấy như Bồ-tát
con nhưng mất mình lúc nào không biết. Cho nên Phật Tổ đều
dạy khi tu chưa xong thì phải quán mình cho thật kỹ mới khỏi
lầm, khỏi lầm thì phá được vô minh, lần lần tâm được
thanh tịnh. Ðó là gốc của sự tu hành.