Bồ-tát
Kim Cang Tạng
thưa
hỏi
ÂM:
Ư
thị Kim Cang Tạng Bồ-tát tại đại chúng trung, tức tùng
tòa khởi, đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, trường
quì xoa thủ nhi bạch Phật ngôn:
-
Ðại bi Thế Tôn, thiện vị nhất thiết chư Bồ-tát chúng
tuyên dương Như Lai Viên giác thanh tịnh Ðại đà-la-ni nhân
địa pháp hạnh tiệm thứ phương tiện, dữ chư chúng sanh
khai phát mông muội. Tại hội pháp chúng thừa Phật từ hối,
huyễn ế lãng nhiên, tuệ mục thanh tịnh. Thế Tôn, nhược
chư chúng sanh bản lai thành Phật hà cố phục hữu nhất thiết
vô minh. Nhược chư vô minh chúng sanh bản hữu, hà nhân duyên
cố Như Lai phục thuyết bản lai thành Phật. Thập phương
dị sanh bản thành Phật đạo, hậu khởi vô minh? Nhất thiết
Như Lai, hà thời phục sanh nhất thiết phiền não? Duy nguyện
bất xả vô giá đại từ vị chư Bồ-tát khai bí mật tạng,
cập vị mạt thế nhất thiết chúng sanh đắc văn như thị
tu-đa-la giáo liễu nghĩa pháp môn, vĩnh đoạn nghi hối.
Tác
thị ngữ dĩ, ngũ thể đầu địa, như thị tam thỉnh chung
nhi phục thỉ.
DỊCH:
Khi
ấy Bồ-tát Kim Cang Tạng ở trong đại chúng, liền từ chỗ
ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên
phải ba vòng, quì thẳng chấp tay bạch Phật rằng:
-Ðức
Thế Tôn đại bi, khéo vì tất cả Bồ-tát nói rõ tánh Viên
giác thanh tịnh Ðại đà-la-ni Như Lai, rồi dạy nhân địa
và phương tiện thứ lớp tu hành, vì chúng sanh khai phát chỗ
tối tăm. Chúng trong hội này nhờ sự chỉ dạy của Phật
nên những cái huyễn hóa che đậy được sáng, mắt tuệ được
thanh tịnh.
-
Bạch Thế Tôn, nếu chúng sanh vốn đã thành Phật vì sao lại
có tất cả vô minh? Nếu chúng sanh sẵn có vô minh, do nhân
duyên gì Như Lai lại nói xưa nay đã thành Phật? Mười phương
chúng sanh đã thành Phật đạo sao lại khởi vô minh? Vậy
tất cả Như Lai chừng nào khởi sanh phiền não lại? Cúi mong
đức Thế Tôn không bỏ lòng đại từ vì các vị Bồ-tát
mở bày cái kho bí mật này và vì tất cả chúng sanh đời
sau được nghe kinh pháp liễu nghĩa như thế mà hằng đoạn
được nghi ngờ.
Thưa
lời đây rồi, năm vóc gieo xuống đất, thưa thỉnh như thế
ba lần, rồi trở lui.
GIẢNG:
Kim
cương là một loại đá quí, có đặc tính cứng và sắc hay
phá hoại các vật, mà các vật không phá hoại được nó.
Ðoạn này Bồ-tát Kim Cang Tạng đứng ra thưa hỏi chỗ sâu
kín khó khăn, là biểu trưng cho trí tuệ sáng suốt mới phá
trừ nổi những mê lầm vi tế.
Bồ-tát
Kim Cang Tạng nghi còn vô minh mới gọi là chúng sanh, hết vô
minh thì gọi là Phật, thế mà Như Lai lại nói từ xưa đến
nay chúng sanh vốn đã thành Phật.
-Nếu
chúng sanh vốn đã thành Phật thì không còn vô minh. Nếu không
còn vô minh thì không gọi là chúng sanh. Tại sao Phật còn
gọi chúng sanh?
-
Nếu chúng sanh sẵn có vô minh, thì không thể nói xưa nay đã
thành Phật. Tại sao Phật nói xưa nay đã thành Phật?
-Mười
phương chúng sanh đã thành Phật, sao lại khởi vô minh? Chư
Phật hiện nay chừng nào khởi vô minh trở lại? Nếu cố
gắng tu thành Phật rồi, lâu lâu khởi vô minh trở lại, như
vậy cứ tu tới tu lui hoài, biết bao giờ mới hết tu?
ÂM:
Nhĩ
thời Thế Tôn cáo Kim Cang Tạng Bồ-tát ngôn:
-
Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử, nhữ đẳng nãi năng vị
chư Bồ-tát cập mạt thế chúng sanh vấn ư Như Lai thậm thâm
bí mật cứu kính phương tiện, thị chư Bồ-tát tối thượng
giáo hối liễu nghĩa Ðại thừa, năng sử thập phương tu
học Bồ-tát cập chư mạt thế nhất thiết chúng sanh đắc
quyết định tín vĩnh đoạn nghi hối. Nhữ kim đế thính,
đương vị nhữ thuyết.
Thời
Kim Cang Tạng Bồ-tát phụng giáo hoan hỉ, cập chư đại chúng
mặc nhiên nhi thính.
DỊCH:
Khi
ấy, đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Kim Cang Tạng rằng:
-
Lành thay, lành thay! Này thiện nam, các ông hay vì các vị Bồ-tát
và chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai về phương tiện rốt
ráo thậm thâm bí mật để dạy bảo các hàng Bồ-tát nghĩa
lý Ðại thừa liễu nghĩa tối thượng, hay khiến cho mười
phương Bồ-tát tu học và tất cả chúng sanh đời sau được
lòng tin chắc chắn, hằng đoạn dứt các nghi ngờ. Nay ông
hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông nói.
Khi
ấy Bồ-tát Kim Cang Tạng hoan hỉ vâng lời dạy cùng Ðại
chúng lặng lẽ lắng nghe.
GIẢNG:
Lời
hỏi trên tại sao Phật khen là thậm thâm bí mật cứu kính
phương tiện. Bởi vì không ai trong chúng ta khi bàn tới
chỗ này mà khỏi nghi ngờ không biết vô minh có từ bao giờ,
khi dẹp hết rồi nó có trở lại không. Vì vậy khi biết
rõ vô minh là thế nào, bản giác là thế nào, biết rành rẽ
thì sự tu hành chúng ta mới tin chắc được, gọi là được
lòng tin quyết định.
ÂM:
-
Thiện nam tử, nhất thiết thế giới thủy chung sanh diệt
tiền hậu hữu vô, tụ tán khởi chỉ, niệm niệm tương tục
tuần hoàn vãng phục chủng chủng thủ xả, giai thị luân
hồi, vị xuất luân hồi nhi biện Viên giác, bỉ Viên giác
tánh tức đồng lưu chuyển. Nhược miễn luân hồi vô hữu
thị xứ.
DỊCH:
-
Này thiện nam, tất cả thế giới trước sau sanh diệt, trước
sau có không, tụ tán khởi dừng, niệm niệm tiếp nối tuần
hoàn qua lại, mọi thứ thủ xả đều là luân hồi. Chưa ra
khỏi luân hồi mà muốn biện tánh Viên giác, thì tánh Viên
giác đồng với lưu chuyển, nếu ra khỏi luân hồi thì không
có lẽ đó.
GIẢNG:
Ðức
Phật chỉ cái lầm lẫn đầu tiên của chúng ta. Tất cả
thế giới hiện hữu ở cõi đời này trước sau sanh diệt,
trước sau có không, tụ tán dừng chỉ, niệm niệm tiếp nối.
từng phút từng giây chuyển biến xoay vần qua lại, gọi là
luân hồi. Luân hồi là vòng sanh diệt tiếp nối liên miên.
Chúng ta chưa ra khỏi vòng sanh diệt tiếp nối ấy, mà muốn
biết rõ tánh Viên giác thì tánh Viên giác cũng đồng với
lưu chuyển và muốn khỏi luân hồi mà chưa hết mê thì không
bao giờ khỏi. Muốn biết tánh Viên giác đó đừng đem tâm
luân hồi mà suy nghĩ về Viên giác. Trong kinh Pháp Hoa, Phật
nói "Giả sử có trăm ngàn muôn triệu ức người trí tuệ
như Xá-lợi-phất gom lại để suy nghĩ về trí tuệ Phật,
cũng không được một phần trăm một phần ngàn nữa". Nghĩa
là nếu đem trí tuệ mà suy nghĩ -suy nghĩ là cái sanh diệt
luân hồi- để biện tánh Viên giác của Phật -là cái không
động, không luân hồi sanh diệt- làm sao mà được. Ðó là
cái lỗi lầm lớn của chúng sanh, đang ở trong vòng lưu chuyển
mà muốn biết cái ngoài vòng lưu chuyển thì làm sao biết
được? Cũng thế, nếu còn ở trong mê mà muốn nói chuyện
giác ngộ thì không bao giờ nói được, cũng như người đang
ở trong mộng mà muốn nói chuyện thức thì không nói được.
Muốn nói chuyện thức là phải thức mới nói được.
ÂM:
-
Thí như động mục năng diêu trạm thủy hựu như định nhãn
do hồi chuyển hỏa, vân sử nguyệt vận, chu hành ngạn di
diệc phục như thị.
DỊCH:
-
Ví như con mắt chớp thấy mặt nước dao động, lại như
mắt nhìn sững thấy vòng lửa quay, mây bay trăng chạy, thuyền
đi bờ dời cũng y như thế.
GIẢNG:
Phật
dùng sự việc thông thường hằng ngày như mặt nước hồ
đang phẳng lặng, nếu mắt chúng ta chớp chớp thì thấy mặt
nước gợn sóng. Do mắt chớp mà thấy mặt nước phẳng lặng
thành ra dao động. Dụ này để nói rõ còn trong luân hồi
muốn bàn về Viên giác thì Viên giác thành luân hồi như con
mắt đang chớp muốn thấy cái tịnh thì thấy không được.
Hoặc như mấy đứa bé đốt nhang chơi, cầm cây nhang quay
tròn tròn, lúc nó quay nhanh, mắt chúng ta nhìn chăm chăm vào
đầu cây nhang cháy, không thấy đầu cây nhang mà chỉ thấy
vòng lửa tròn. Vậy có vòng lửa tròn thật không? Không. Do
cây nhang quay quá nhanh, mắt nhìn theo không kịp nên chúng ta
thấy như có một vòng lửa tròn. Hay buổi tối có trăng, chúng
ta nhìn lên bầu trời thấy có những áng mây bay, mặt trăng
chạy ngược. Hoặc chúng ta ngồi trên chiếc thuyền đang chạy
trên sông, chúng ta không thấy thuyền đi mà cứ thấy hai bờ
sông chạy ngược lại.
Ðó
là bốn ví dụ để chỉ rõ, dùng tâm cấu nhiễm mê vọng
của chúng sanh mà nghĩ ngợi quan sát đến cảnh giới của
Phật thì cảnh giới của Phật trở thành cấu nhiễm vọng
động. Giống như người đeo kiếng màu, nếu kiếng màu đen
thì thấy tất cả sự vật bên ngoài màu đen, nếu kiếng
màu xanh thì thấy tất cả sự vật bên ngoài màu xanh. Muốn
hết thấy cảnh vật đen hay xanh thì phải gỡ kiếng ra, chừng
đó mới thấy sự vật đúng như thật. Còn mang kiếng màu
mà muốn thấy màu sắc bên ngoài đúng như thật của nó thì
không thể được, vì màu sắc thật bên ngoài đã bị kiếng
màu làm khác đi rồi.
ÂM:
-
Thiện nam tử, chư toàn vị tức, bỉ vật tiên trụ, thượng
bất khả đắc, hà huống luân chuyển, sanh tử cấu tâm, tằng
vị thanh tịnh, quán Phật Viên giác, nhi bất toàn phục. Thị
cố nhữ đẳng, tiện sanh tam hoặc.
DỊCH:
-
Này thiện nam, cái xoay vần chưa dứt, muốn nó dừng trụ
còn không thể được, hà huống dùng tâm cấu nhiễm sanh tử
luân hồi chưa từng thanh tịnh mà quan sát tánh Viên giác của
Phật thì sao khỏi lẩn quẩn? Thế nên các ông mới sanh ra
ba điều nghi ngờ đó.
GIẢNG:
Ðây
là phần chỉ rõ cho ngài Kim Cang Tạng thấy lý do sanh nghi.
Nói rằng vòng lửa chưa dừng thì cây nhang chưa dừng, vòng
lửa còn mà muốn cây nhang dừng trước có được không? Còn
vòng tròn là cây nhang còn quay, bao giờ hết vòng tròn cây
nhang mới dừng. Cho nên nói rằng còn vòng tròn mà muốn cây
nhang dừng trước còn không thể được, huống là mang cái
tâm cấu nhiễm sanh tử lưu chuyển chưa từng trong sạch để
xem Phật Viên giác của mình, làm sao không thấy xoay vần?
Niệm tâm cấu nhiễm là những niệm tâm vọng tưởng sanh
diệt. Khi vòng lẩn quẩn chưa dứt các sự vật ở trong vòng
lẩn quẩn, chúng ta bảo nó dừng lại còn không được, huống
gì tâm ô nhiễm sanh tử luân hồi của chúng ta chưa từng
thanh tịnh, mà muốn xem biết tánh Viên giác thanh tịnh của
Phật thì (tánh Viên giác) làm sao chẳng xoay vần? Thế nên
các vị Bồ-tát nghi ngờ ba điều vừa nêu trên.
ÂM:
-
Thiện nam tử, thí như huyễn ế, vọng kiến không hoa, huyễn
ế nhược trừ, bất khả thuyết ngôn, thử ế dĩ diệt, hà
thời cánh khởi nhất thiết chư ế? Hà dĩ cố? Ế hoa nhị
pháp tương đãi cố.
DỊCH:
-
Này thiện nam, thí như bệnh mắt, huyễn thấy hoa đốm trong
hư không, bệnh mắt nếu hết thì không thể nói bệnh mắt
đã diệt, bao giờ sanh tất cả bệnh mắt lại? Vì cớ sao?
Vì bệnh mắt và hoa đốm hai pháp không đối đãi.
GIẢNG:
Ðây
trả lời câu hỏi khi hết vô minh rồi chừng nào khởi trở
lại. Ví dụ mắt chúng ta bệnh, nhìn lên bầu trời vào buổi
trưa nắng thấy có hoa đốm lăng xăng. Khi chúng ta dùng thuốc
nhỏ cho mắt lành rồi, có người hỏi bệnh nhặm mắt của
anh chừng nào trở lại? Chúng ta không trả lời được. Hết
nhặm rồi thì thôi, chớ biết chừng nào trở lại? Ðó là
đức Phật trả lời câu hỏi: "Phật thành Phật chừng nào
lại khởi vô minh?" Thành Phật là hết mê lầm, và không bao
giờ khởi mê lầm nữa. Bệnh mắt và hoa đốm là hai cái
không thật thì làm sao nói chừng nào có chừng nào không.
Cũng vậy, vô minh không thật thì đâu thể nói chừng nào
sanh chừng nào diệt.
ÂM:
-
Diệc như không hoa, diệt ư không thời, bất khả thuyết ngôn
hư không hà thời cánh khởi không hoa. Hà dĩ cố? Không bản
vô hoa, phi khởi diệt cố.
DỊCH:
-
Cũng như hoa đốm khi diệt trong hư không, không thể nói khi
nào sanh lại hoa đốm nữa. Vì cớ sao? Vì hư không vốn không
có hoa đốm nên chẳng khởi diệt.
GIẢNG:
Hư
không đâu có sanh ra hoa đốm, vì mắt bị bệnh nên thấy
có hoa đốm khởi diệt. Nếu mắt hết bệnh thì hoa đốm
theo đó mà hết. Cũng thế, nếu vô minh hết thì hiện tượng
sanh diệt cũng hết, không thể nói chừng nào hoa đốm khởi.
ÂM:
-
Sanh tử Niết-bàn đồng ư khởi diệt, Diệu giác viên chiếu
ly ư hoa ế. Thiện nam tử, đương tri hư không phi thị tạm
hữu diệc phi tạm vô, huống phục Như Lai Viên giác tùy thuận
nhi vi hư không bình đẳng bản tánh.
DỊCH:
-
Sanh tử Niết-bàn đồng với khởi diệt, tánh Viên giác mầu
nhiệm chiếu soi này lìa cả hoa đốm và mắt bệnh. Này thiện
nam, nên biết hư không chẳng phải tạm có cũng chẳng phải
tạm không, huống chi tánh Viên giác Như Lai vốn bình đẳng
tùy thuận như hư không.
GIẢNG:
Phật
chỉ cho chúng ta biết Niết-bàn và sanh tử là hai cái đối
đãi, bởi đối đãi nên đồng có sanh có diệt. Còn Diệu
giác viên chiếu không phải pháp đối đãi, nó ra ngoài cái
đối đãi, hiểu rõ thì thấy lý bất nhị rõ ràng. Cho nên
Phật nói hư không còn không thể tạm có tạm không huống
là tánh Viên giác. Hư không không tạm có cũng không phải
tạm không, tạm có tạm không là hoa đốm. Khi nào mắt bệnh
thì thấy có hoa đốm, khi mắt không bệnh thì thấy không
hoa đốm, thấy có hoa đốm thấy không hoa đốm là do mắt
bệnh, chớ hư không lúc nào cũng bình đẳng bất động. Tánh
Viên giác Như Lai ví như hư không bình đẳng, không tạm có
cũng không tạm không; khi vô minh hết thì tánh Viên giác hiển
bày chớ không phải sanh, khi vô minh che phủ thì tánh Viên
giác ẩn chớ không phải tánh Viên giác diệt, khởi diệt
là do vô minh chớ không phải do tánh Viên giác.
ÂM:
-
Thiện nam tử, như tiêu kim khoáng, kim phi tiêu hữu, ký dĩ
thành kim, bất trùng vi khoáng. Kinh vô cùng thời, kim tánh bất
hoại bất ưng thuyết ngôn, bổn phi thành tựu. Như Lai Viên
giác diệc phục như thị.
DỊCH:
-
Này thiện nam, như lọc quặng vàng, chất vàng không phải
do lọc mà có. Khi đã thành vàng ròng rồi thì chẳng trở
lại thành khoáng. Trải qua thời gian không cùng, tánh vàng
không hề biến hoại, chẳng nên nói vốn chẳng thành tựu.
Tánh Viên giác Như Lai cũng y như thế.
GIẢNG:
Ðây
là lần thứ hai Phật trả lời câu hỏi "Phật thành Phật
rồi bao giờ trở lại vô minh". Qua thí dụ này chúng ta thấy
tuy vàng sẵn có trong quặng, không phải do lọc mà thành nhưng
cái lọc đó không phải không thành tựu. Vàng sẵn có nhưng
có trong cái lẫn lộn, do lọc mới thành vàng ròng. Khi thành
vàng ròng rồi không trở lại thành khoáng được. Như vậy
lọc là công phu để thành vàng ròng, cho nên thành tựu. Phật
giác ngộ tánh Viên giác tròn đầy, Ngài thấy tất cả chúng
sanh đều sẵn có tánh Viên giác nên nói tất cả chúng sanh
đã thành Phật, là căn cứ trên tánh Viên giác mà nói, nhưng
do vô minh che nên tánh Viên giác bị khuất đi. Bây giờ tu
là để gạn lọc vô minh, vô minh hết thì tánh Viên giác hiển
bày là thành Phật, chớ không thể nói bao giờ lại khởi
phiền não. Vì sao? Vì thành Phật là vĩnh viễn sống với
tánh Viên giác thì đâu có mê lầm mà khởi phiền não. Khi
đã thành vàng ròng thì trải qua thời gian vô cùng vàng ròng
vẫn là vàng ròng. Tánh Viên giác cũng vậy, khi hết vô minh
rồi thì tánh Viên giác không bao giờ trở lại vô minh.
ÂM:
-
Thiện nam tử, nhất thiết Như Lai, Diệu viên giác tâm, bản
vô Bồ-đề cập dữ Niết-bàn, diệc vô thành Phật cập bất
thành Phật, vô vọng luân hồi cập phi luân hồi.
DỊCH:
-
Này thiện nam, tâm Diệu viên giác của tất cả Như Lai vốn
không có Bồ-đề và Niết-bàn, cũng không có thành Phật và
chẳng thành Phật, không có vọng luân hồi và phi luân hồi.
GIẢNG:
Ðức
Phật xác nhận lại một lần nữa trong tánh Diệu viên giác
của Như Lai không có Bồ-đề, không có Niết-bàn. Nếu trong
đó dứt tất cả thì chúng ta cầu làm chi? Sở dĩ chúng ta
ngày đêm cầu vì còn thấy đây là sanh tử kia là Niết-bàn,
đây là phiền não kia là Bồ-đề. Cho nên bỏ phiền não cầu
Bồ-đề, bỏ sanh tử cầu Niết-bàn là còn thấy hai, còn
thấy hai là còn thấy trên dụng công tu tập. Trong lúc vàng
còn lẫn các chất chì thiếc thì phải lọc, cũng như còn
thấy phiền não thì phải tu. Tánh Viên giác mầu nhiệm của
chư Phật vốn không có hai bên, không giả tướng danh tự
chỉ thuần một Tánh giác hiển lộ. Ví dụ vàng ròng được
lọc ra chúng ta gọi nó là vàng ròng, chớ lẽ thật nó không
có tên. Tại chúng ta thấy màu nó vàng nên đặt tên là vàng.
Cái thể thật nó không có tên, mà do vọng tưởng chúng ta
đặt tên cho nó. Tánh Viên giác cũng vậy, không có tên Bồ-đề,
Niết-bàn, nhưng vì đối với sanh tử thì gọi là Niết-bàn,
đối với mê thì gọi là giác ngộ. Gọi như vậy là do tâm
phân biệt đối đãi của chúng ta đặt tên để gọi, chớ
bản chất nó không có tên, nên Lục Tổ cũng đã nói "nó
không đầu không đuôi không tên không họ".
ÂM:
-
Thiện nam tử, đản chư Thanh văn sở viên cảnh giới, thân
tâm ngữ ngôn giai tất đoạn diệt, chung bất năng chí bỉ
chi thân chứng, sở hiện Niết-bàn. Hà huống năng dĩ hữu
tư duy tâm trắc độ Như Lai Viên giác cảnh giới.
DỊCH:
-
Này thiện nam, chỉ cảnh giới Niết-bàn của Thanh văn, thân
tâm ngôn ngữ đoạn diệt trọn không thể đến được chỗ
thân chứng kia, huống là dùng tâm suy tư tạp nhạp mà đo
lường cảnh giới Viên giác Như Lai.
GIẢNG:
Ðức
Phật đưa ra một ví dụ để so sánh, cảnh giới Niết-bàn
của Thanh văn là cảnh giới tâm thanh tịnh, thân không lay
động như tro nguội, nên nói thân tâm đoạn diệt. Cảnh giới
Niết-bàn này hàng chúng sanh không thể dùng ngôn ngữ tâm
phân biệt mà suy tư luận bàn, huống chi cảnh giới Niết-bàn
của Phật làm sao dùng tâm suy nghĩ mà so lường được? Ðó
là Phật chỉ rõ, còn vọng tưởng thì không bao giờ thấy.
ÂM:
-
Như thủ huỳnh hỏa thiêu Tu-di sơn chung bất năng trước,
dĩ luân hồi tâm, sanh luân hồi kiến nhập ư Như Lai đại
tịch diệt hải, chung bất năng chí, thị cố ngã thuyết nhất
thiết Bồ-tát cập mạt thế chúng sanh tiên đoạn vô thủy
luân hồi căn bản.
DỊCH:
-
Như lấy lửa của đom đóm mà đốt núi Tu-di, trọn không
thể được. Dùng tâm luân hồi sanh kiến giải luân hồi mà
muốn vào biển đại tịch diệt Như Lai, trọn không thể đến
được. Thế nên ta nói tất cả Bồ-tát và chúng sanh đời
sau trước phải đoạn cội gốc luân hồi vô thủy.
GIẢNG:
Ðức
Phật nói, nếu dùng tâm luân hồi và kiến giải luân hồi
mà luận bàn về tánh Viên giác Như Lai thì chẳng khác nào
dùng chút lửa đom đóm để đốt núi Tu-di, núi không bao giờ
cháy. Cũng vậy, chúng ta dùng tâm sanh diệt suy nghĩ mà muốn
vào biển đại tịch diệt của Như Lai thì không bao giờ được.
Muốn vào biển đại tịch diệt của Như Lai thì phải lặng
hết tâm suy nghĩ. Có nhiều người lầm cho rằng muốn hiểu
Chân như Bồ-đề thì phải ngồi nghiền ngẫm suy nghĩ ngày
nào đó sẽ hiểu. Không thể được! Vì dùng tâm phân biệt
để mong thấy cái không phân biệt thì làm sao thấy được?
Lại có nhiều người còn lầm hơn nữa, cho rằng học Phật
pháp không khó, cứ ráng ngồi nghiền ngẫm mãi sẽ được
Niết-bàn. Lẽ thật thì không như thế, muốn được Niết-bàn
phải tu cho tâm được an định rồi tánh Viên giác mới hiển
bày. Chừng đó không muốn được Niết-bàn mà nó tự đầy
đủ. Trọng tâm tu là ở chỗ đó, dừng tâm sanh diệt luân
hồi lại, mới thấy cái không sanh diệt không luân hồi, đó
là chỗ thiết yếu. Vì vậy mà Phật nói các vị Bồ-tát
và chúng sanh đời sau, trước phải đoạn cội gốc luân hồi
từ vô thủy là vô minh thấy thân tâm thật. Dứt sạch vô
minh thì mới nhận được tánh Viên giác chân thật.
ÂM:
-
Thiện nam tử, hữu tác tư duy, tùng hữu tâm khởi, giai thị
lục trần, vọng tưởng duyên khí, phi thật Tâm thể dĩ như
không hoa, dụng thử tư duy biện ư Phật cảnh, do như không
hoa, phục kết không quả triển chuyển vọng tưởng, vô hữu
thị xứ.
DỊCH:
-
Này thiện nam, khởi suy nghĩ là từ tâm vọng mà khởi, (tất
cả suy nghĩ) đều do sáu trần vọng tưởng duyên khí. Giống
như hoa đốm trong hư không chẳng phải là Tâm thể chân thật.
Dùng suy nghĩ mà biện cảnh giới Phật giống như mong hoa đốm
trong hư không kết thành quả, chỉ càng thêm vọng tưởng,
hoàn toàn không thể được.
GIẢNG:
Ðức
Phật lại cảnh cáo chúng ta, Ngài nói người khởi suy nghĩ
cho cái suy nghĩ là tâm, tâm đó chỉ là vọng tưởng do duyên
theo sáu trần mà có, không có thật thể nên ví nó như hoa
đốm giữa hư không. Dùng tâm không thật mà suy nghĩ về cảnh
giới Phật thì không thể được, chẳng khác nào thấy hoa
đốm lăng xăng trong hư không mà mong nó có quả, chắc chắn
không bao giờ được. Vì hoa đốm vốn không thật làm sao
có quả? Cũng vậy, tâm vọng tưởng nguyên không thật thì
làm gì thấy được Tánh giác là cái chân thật. Cho nên chạy
theo vọng tưởng mà muốn thấy được cái chân thật trọn
không có lẽ phải vậy.
Trong
đạo có hai hạng người học Phật, một là học giả, hai
là hành giả. Học giả là người dùng tâm suy nghĩ để nghiên
cứu nghiền ngẫm giáo lý của Phật, còn hành giả là học
phương pháp của Phật dạy để ứng dụng tu thể nhập được
lý đạo. Hai hạng người đó khác nhau, một bên dùng trí
suy tư để mong hiểu Phật, một bên dùng pháp Phật dạy để
định tâm mình, mong ngộ lẽ thật. Hai hạng người đó đối
với kinh Viên giác người nào trúng? Người ứng dụng tu hành.
Thế mà có nhiều người nghe nói ông đó có bằng Tiến sĩ
Phật học thì cũng khen tấm tắc: Chà ông đó cao quá! Hay
quá! Nhưng mà hay thật chưa? Giá trị thật không phải ở
cấp bằng mà ở chỗ có dừng được tâm điên đảo của
mình hay không? Trong giới tu hành hiện nay hay vấp phải cái
lỗi đó, lấy cái học làm trên. Nếu lấy cái học làm trên
thì sự thật chứng không có. Không sự chứng ngộ thì làm
sao thể nhập chân lý? Làm sao mồi được ngọn đuốc tuệ
của Phật để soi đường cho chúng sanh đang đi trong đêm
tối? Không có những bậc tu chứng thì lấy ai tiếp nối duy
trì Phật pháp? Sau khi Phật niết-bàn, cuộc kết tập kinh
điển lần thứ nhất toàn là những bậc đắc quả A-la-hán
dự. Lúc đó ngài A-nan chưa đắc quả bị ngài Ðại Ca-diếp
từ chối không cho vào, mặc dầu Ngài biết nếu không có
ngài A-nan thì không ai trùng tuyên lại Tạng kinh được.
Lại
có những vị vô chùa cạo tóc rồi ôm sách tới trường,
học năm mười năm ra giảng đạo, lên Thượng tọa rồi tới
già chết. Như vậy, chừng nào thấy được lẽ thật? Chủ
yếu của người học đạo là học cho biết để thực hành,
chớ không phải lấy kiến giải làm sở đắc, nếu lấy kiến
giải làm sở đắc, thì ngàn đời không thấy được chân
lý! Hậu vận Phật giáo sẽ ra sao nếu trong giới tu sĩ không
có những người thật chứng ngộ? Có nhiều quyển sách của
các học giả viết về đạo Phật, lý luận làm cho người
đọc thêm rối, đưa người đọc lạc vào rừng ngôn ngữ
không biết lối ra. Muốn hiểu đạo lý, muốn giải thoát
sanh tử thì học rồi phải thực hành, mới mong thấy được
manh mối của sự giải thoát, đó là Giải hạnh tương
ưng. Hòa thượng Pháp chủ Khánh Anh có để lại hai câu
bất hủ trên giảng đường chùa Xá-lợi: "Tu mà không học
là tu mù, học mà không tu là đãy đựng sách." Ðó là một
lẽ thật chúng ta cần xét kỹ.
Như
chúng tôi ngày xưa học ở Phật học viện mười năm rồi
đi giảng ở nhiều nơi, nói thì hay lắm, danh từ nào giải
thích cũng được, nhưng khi ứng dụng tu thì lúng túng, không
biết làm sao tu cho đúng. Người có cấp bằng cao chưa phải
là người tu cao, mà người tu cao là không có gì lạ hết.
Thân không thật, tâm vọng không thật thì có cái gì? Vậy
người tu theo đạo Phật là tu càng cao thì cái ngã càng thấp;
cái ngã càng cao thì sự tu hành chưa tới đâu.
ÂM:
-
Thiện nam tử, hư vọng phù tâm, đa chư xảo kiến, bất năng
thành tựu Viên giác phương tiện, như thị phân biệt, phi
vi chánh vấn.
DỊCH:
-
Này thiện nam, tâm nổi trôi hư vọng, sanh nhiều kiến chấp
xảo ngụy, nên không thể thành tựu được phương tiện Viên
giác. Phân biệt như thế thì chẳng phải là câu hỏi chân
chánh.
GIẢNG:
Ðoạn
này nếu chúng ta không hiểu, thấy như đức Phật mâu thuẫn,
vì ở trước Ngài khen Bồ-tát Kim Cang Tạng khéo vì các Bồ-tát,
các chúng sanh đời mạt pháp mà hỏi cái bí mật thậm thâm
Như Lai, nhưng đến đây đức Phật lại quở phân biệt như
vậy không phải là hỏi chân chánh! Tại sao trước Phật khen
sau lại chê? Trước Phật khen là vì câu hỏi của Bồ-tát
Kim Cang Tạng giải nghi cho người tu sau này. Phật quở ngài
Kim Cang Tạng cũng chính là xác nhận chúng ta biết rằng không
bao giờ dùng tâm suy nghĩ rối loạn mà tìm thấy được Viên
giác chân chánh. Vì vậy mà đức Phật chỉ cho chúng ta thấy
cái tâm hư vọng phù phiếm nó nhiều xảo ngụy dối trá khéo
lắm. Nó sanh ra cái này, chấp cái kia đủ chuyện, mới cho
cái đó là phải lát nữa lại cho là quấy. Cho nên nói rằng
nó nhiều xảo kiến. Nếu cứ dùng tâm xảo ngụy đó để
hỏi cái này hỏi cái kia là không hợp đạo, mà phải lặng
tâm phù trầm hư dối đó thì mới thành tựu phương tiện
Viên giác.
ÂM:
Nhĩ
thời Thế Tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi
thuyết kệ ngôn:
Kim
Cang Tạng đương tri
Như
Lai tịch diệt tánh
Vị
tằng hữu chung thủy
Nhược
dĩ luân hồi tâm
Tư
duy tức toàn phục
Ðản
chí luân hồi tế
Bất
năng nhập Phật hải
Thí
như tiêu kim khoáng
Kim
phi tiêu cố hữu
Tuy
phục bản lai kim
Chung
dĩ tiêu thành tựu
Nhất
thành chân kim thể
Bất
phục trùng vi khoáng
Sanh
tử dữ Niết-bàn
Phàm
phu cập chư Phật
Ðồng
vi không hoa tướng
Tư
duy do huyễn hóa
Hà
huống cật hư vọng
Nhược
năng liễu thử tâm
Nhiên
hậu cầu Viên giác.
DỊCH:
Khi
ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên, nói kệ rằng:
Kim
Cang Tạng nên biết
Như
Lai tánh vắng lặng,
Chưa
từng có sau trước.
Nếu
dùng tâm luân hồi,
Suy
nghĩ càng lẩn quẩn.
Chỉ
đến mé luân hồi,
Không
vào được biển Phật.
Ví
như lọc quặng vàng,
Vàng
chẳng do lọc được
Tuy
trước vàng sẵn có,
Sau
do lọc mới thành.
Khi
đã thành vàng ròng,
Chẳng
trở lại làm khoáng
Sanh
tử và Niết-bàn,
Phàm
phu cùng chư Phật.
Như
hoa đốm trong không.
Suy
nghĩ đều huyễn hóa
Huống
là hỏi hư vọng
Nếu
hay rõ tâm này,
Nhiên
hậu cầu Viên giác.
GIẢNG:
Ðức
Phật dạy tánh Như Lai lặng lẽ chưa từng có trước sau,
vì trước sau là thời gian, mà thời gian thì không thật. Nếu
dùng tâm luân hồi để suy nghĩ tánh Viên giác thì tánh lặng
lẽ ấy cũng trở thành xoay vần, nên không thể nhập được
tánh Viên giác. Ở đây Phật chỉ luân hồi là chỉ thẳng
tâm sanh diệt. Ðem tâm sanh diệt mà nghĩ về tánh Viên giác
thì không đúng. Ví dụ lọc vàng, vàng chẳng phải do lọc
mà có, vì vàng đã có sẵn trong quặng từ xưa rồi, nhưng
không luyện lọc không dùng được.
Cũng
vậy, nói phải tu mới thành Phật thì không phải, vì Phật
có sẵn trong mỗi chúng sanh, bởi vô minh che phủ nên tu để
dẹp vô minh. Khi vô minh hết thì Phật hiện tiền, chớ đâu
phải do tu mới được thành Phật. Tu là hành động là phương
tiện, nếu tu mà được tánh Viên giác thì tánh Viên giác
ấy cũng là hành động cũng là phương tiện sao? Tuy nhiên
đức Phật nói quặng cũng phải lọc bỏ khoáng mới được
vàng ròng. Cũng vậy, tuy không phải tu mới được thành Phật,
nhưng từ xưa Phật cũng phải tu mới hết vô minh, Phật tánh
mới hiện. Nói như vậy để chúng ta khỏi lầm phải tu mới
có tánh Viên giác, mà tánh Viên giác sẵn có, nói tu là một
lối nói.
Nếu
nói không do tu mà được thành Phật thì một số người không
chịu tu. Cho nên Phật mới nói Phật cũng phải tu mới thành.
Vàng quặng khi đã thành vàng ròng rồi thì không trở lại
làm khoáng nữa. Cũng vậy, khi đã thành Phật rồi thì không
trở lại làm chúng sanh. Quí vị nhớ lại câu ngài Hoài Nhượng
đáp với Lục Tổ: "Tu chứng chẳng phải không nhiễm ô chẳng
thể được." Tu chứng chẳng phải không bởi vì tuy biết
nó là có mà không tu nó không hiện, nên tu chứng chẳng
phải không, nhưng nhiễm ô chẳng thể được. Vàng là
vàng, không vì lẫn chất tạp mà biến chất. Nó không thể
nhiễm ô được. Chính những câu nói đơn giản của các Tổ,
nhìn lại kinh không bao giờ khác. Nhận ra được tánh đó
rồi bao nhiêu vị Tổ bao nhiêu người tu nói không khác nhau.
Ðó là thấy được nên nói không khác. Tánh Viên giác
vẫn là Viên giác, không vì lăn lộn trong luân hồi mà tánh
Viên giác biến thành luân hồi. Ðó là chỗ thiết yếu chúng
ta phải nhận ra để trên đường tu chúng ta vững lòng tin.
Khi ấy thì sanh tử cùng Niết-bàn, phàm phu cùng chư Phật
là tướng giả dối như hoa đốm trong hư không. Tại sao vậy?
Vì khi thành Phật thì mới thấy những danh từ đối đãi
mê và giác, sanh tử và Niết-bàn đều không thật. Phật lại
nói thêm suy nghĩ là huyễn hóa, huống là nêu lên câu hỏi
hư vọng như trên. Người nào sáng tỏ được lý này mới
mong thể nhập được tánh Viên giác.