Bồ-tát
Oai Ðức Tự Tại
thưa
hỏi
ÂM:
Ư
thị Oai Ðức Tự Tại Bồ-tát, tại đại chúng trung tức
tùng tòa khởi, đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, trường
quì xoa thủ nhi bạch Phật ngôn:
-
Ðại bi Thế Tôn quảng vị ngã đẳng phân biệt như thị
tùy thuận Giác tánh linh chư Bồ-tát giác tâm quang minh, thừa
Phật viên âm bất nhân tu tập nhi đắc thiện lợi. Thế Tôn,
thí như đại thành ngoại hữu tứ môn tùy phương lai giả,
phi chỉ nhất lộ. Nhất thiết Bồ-tát trang nghiêm Phật quốc,
cập thành Bồ-đề phi nhất phương tiện. Duy nguyện Thế
Tôn quảng vị ngã đẳng tuyên thuyết nhất thiết phương
tiện tiệm thứ tinh tu hành nhân tổng hữu kỉ chủng, linh
thử hội Bồ-tát cập mạt thế chúng sanh cầu Ðại thừa
giả, tốc đắc khai ngộ, du hí Như Lai đại tịch diệt hải.
Tác
thị ngữ dĩ, ngũ thể đầu địa như thị tam thỉnh chung
nhi phục thủy.
DỊCH:
Lúc
đó, Bồ-tát Oai Ðức Tự Tại ở trong đại chúng, liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật đi nhiễu bên
phải ba vòng, quì gối chắp tay bạch Phật rằng:
-
Ðức Thế Tôn đại bi, đã vì chúng con phân biệt rộng tùy
thuận Tánh giác như thế, khiến cho các Bồ-tát, nương nơi
viên âm của Phật mà tâm được sáng suốt, không nhân tu
hành mà được lợi ích lớn. Bạch Thế Tôn, ví như thành
lớn, ngoài có bốn cửa, người tùy theo mỗi phương mà vào,
chẳng phải chỉ một đường. Tất cả Bồ-tát trang nghiêm
cõi Phật và thành Bồ-đề chẳng phải chỉ có một phương
tiện. Cúi xin đức Thế Tôn rộng vì chúng con tuyên nói tất
cả phương tiện thứ lớp và người tu hành có bao nhiêu hạng
để cho Bồ-tát trong hội này và chúng sanh đời sau, người
cầu Ðại thừa mau được khai ngộ, dạo chơi trong biển đại
tịch diệt Như Lai.
Thưa
lời đây rồi, năm vóc gieo xuống đất, thưa hỏi như vậy
lặp lại ba lần.
GIẢNG:
Oai
Ðức Tự Tại là biểu trưng nơi mình, Ðức là chỉ cho bên
trong sung túc, Oai là hiện tướng bên ngoài khiến người nể
phục. Trong có đầy đủ diệu đức nên hiện ra ngoài có
những oai phong khiến người khác phải nể phục. Ở chương
này Bồ-tát Oai Ðức Tự Tại tự đã biết pháp tu viên mãn
rồi, nhưng vì thương chúng sanh đời sau căn cơ thấp kém
không thể nghe pháp đốn giáo liền nhập dễ dàng mà cần
phải có phương tiện thứ lớp mới tiến tu được, nên Ngài
thị hiện đứng ra thưa hỏi để đức Phật chỉ rõ cho chúng
sanh đời sau dễ tiến tu.
Ý
của Bồ-tát Oai Ðức Tự Tại hỏi rằng: Muốn thể nhập
tánh Viên giác có bao nhiêu thứ phương tiện và thứ lớp
như thế nào? Sau đó Ngài đưa ra một ví dụ là có một cái
thành lớn ở ngoài có bốn cửa, người tùy theo mỗi phương
mà vào, chẳng phải chỉ có một cửa một đường. Chẳng
hạn như thành phố Sài Gòn, người ở miền Ðông thì phải
đi con đường từ miền Ðông vào, người ở miền Tây thì
phải đi con đường từ miền Tây vào, người ở miền Trung
thì phải đi con đường từ miền Trung vào; mỗi người tùy
theo chỗ của mình ở mà có những con đường vào khác nhau,
chớ không phải cố định có một con đường vào thành phố.
Cũng như thế, muốn vào biển Viên giác cũng có nhiều phương
tiện để vào, bởi vì tất cả sự tu hành đều là phương
tiện. Phương tiện nào đưa đến giác ngộ, phương tiện
nào đưa đến giải thoát, đó là chủ yếu mà ngài Bồ-tát
Oai Ðức Tự Tại đứng ra thưa hỏi.
ÂM:
Nhĩ
thời Thế Tôn cáo Oai Ðức Tự Tại Bồ-tát ngôn:
-
Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử, nhữ đẳng nãi năng vị
chư Bồ-tát cập mạt thế chúng sanh vấn ư Như Lai như thị
phương tiện. Nhữ kim đế thính, đương vị nhữ thuyết.
Thời
Oai Ðức Tự Tại Bồ-tát phụng giáo hoan hỉ, cập chư đại
chúng mặc nhiên nhi thính.
-
Thiện nam tử, Vô thượng Diệu giác biến chư thập phương
xuất sanh Như Lai dữ nhất thiết pháp đồng thể bình đẳng,
ư chư tu hành thật vô hữu nhị phương tiện tùy thuận kỳ
số vô lượng, viên nhiếp sở qui tuần tánh sai biệt đương
hữu tam chủng.
DỊCH:
Khi
ấy, đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Oai Ðức Tự Tại rằng:
-
Lành thay, lành thay! Này thiện nam, các ông hay vì các Bồ-tát
và những chúng sanh đời sau, thưa hỏi Như Lai về những phương
tiện như thế. Ông hãy lắng nghe ta sẽ vì các ông nói.
Khi
ấy, Bồ-tát Oai Ðức Tự Tại vâng lời dạy vui vẻ cùng
đại chúng im lặng lắng nghe.
-
Này thiện nam, tánh Viên giác vô thượng nhiệm mầu trùm khắp
mười phương sanh ra Như Lai và tất cả pháp đồng thể bình
đẳng, đối với sự tu hành thật không có hai, song phương
tiện tùy thuận thì vô lượng, gom hết trở về theo tánh
sai biệt, có ba thứ.
GIẢNG:
Ðây
Phật chỉ rõ đường tu hành để nhập tánh Viên giác vô
thượng nhiệm mầu thì không có hai, nhưng căn cứ vào phương
tiện tùy thuận thì có vô lượng không thể kể hết, đứng
trên chỗ sai biệt tạm nói có ba là Chỉ, Quán và Thiền.
ÂM:
-
Thiện nam tử! Nhược chư Bồ-tát, ngộ tịnh Viên giác, dĩ
tịnh Giác tâm thủ tĩnh vi hạnh, do trừng chư niệm, giác
thức phiền động, tĩnh tuệ phát sanh, thân tâm khách trần
tùng thử vĩnh diệt. Tiện năng nội phát tịch tĩnh khinh an.
Do tịch tĩnh cố thập phương thế giới chư Như Lai tâm ư
trung hiển hiện, như kính trung tượng. Thử phương tiện giả
danh Xa-ma-tha.
DỊCH:
-
Này thiện nam, nếu Bồ-tát ngộ được tánh Viên giác thanh
tịnh, dùng Tâm giác thanh tịnh giữ cái lặng lẽ làm hạnh,
rồi y đó lắng các vọng niệm và biết thức phiền động,
thì trí tuệ lặng lẽ phát sanh, thân tâm khách trần từ đây
diệt hết. Nội (tâm) liền phát ra lặng lẽ khinh an. Do vì
lặng lẽ nên tâm của các đức Như Lai ở mười phương thế
giới hiển hiện rõ trong đó, như bóng hiện trong gương. Phương
tiện này gọi là Xa-ma-tha.
GIẢNG:
Xa-ma-tha
(amatha) chữ Phạn, Trung Hoa dịch là Chỉ. Phương tiện
đầu là tu Chỉ, phương tiện tu Chỉ trong kinh Viên Giác khác
hơn phương tiện tu Chỉ Quán của tông Thiên Thai.
Phật
dạy có ba giai đoạn:
1-
Giác ngộ mình có tánh tịnh Viên giác, tức là Tánh giác sẵn
tròn đầy bên trong.
2-
Phải biết thức tâm hay thức tình này là phiền động.
3-
Ðược cái tịch tĩnh khinh an nên tâm các đức Như Lai đều
ở trong đó hiện bày.
Ðầu
tiên Phật nói rằng các vị Bồ-tát ngộ được tánh Viên
giác thanh tịnh, nghĩa là ngộ được Pháp thân rồi thì dùng
Tâm giác thanh tịnh giữ cái lặng lẽ làm hạnh, tức là lóng
lặng hết các vọng niệm và biết thức dao động. Do tâm
lặng lẽ nên trí tuệ sáng suốt thanh tịnh phát sanh. Khi trí
tuệ thanh tịnh sáng suốt phát sanh thì những cái xao xuyến
phiền động của thân tâm ngang đây bặt dứt. Bấy giờ nội
tâm được tịch tĩnh khinh an. Do thân tâm tịch tĩnh khinh an
nên tâm của tất cả chư Phật hiện rõ trong đó, giống như
bóng hiện trong gương vậy. Tức là tâm của người tu thật
lặng lẽ cho nên thấy hình ảnh mười phương chư Phật đều
hiện. Phương pháp tu này gọi là Chỉ.
Chúng
ta thấy điều kiện tiên quyết đức Phật nêu ra là trước
phải ngộ được tánh tịnh Viên giác, điều kiện này không
khác điều kiện các vị Thiền sư nêu ra. Ðó là tu thiền
trước phải kiến tánh, thường gọi là kiến tánh khởi tu.
Cho nên phải nhận ra tánh bất sanh bất diệt, tánh bất sanh
bất diệt đó gọi là tánh Viên giác. Nhận ra được rồi
mới dùng các phương tiện dẹp các vọng trần, vọng tưởng.
Nhưng lóng các niệm này, chúng ta đừng hiểu lầm, nhiều
người nghe nói lóng hết các tâm niệm vọng tưởng xuống
nên ngồi đè cố kềm nó lại, đó là bệnh của thiền, vì
không biết cứ tưởng đè xuống đừng cho dấy lên, nhưng
càng đè càng tai hại. Ở đây phải khéo hiểu như các Thiền
sư dạy, tức biết vọng không theo. Cho nên trừng tâm
là dừng nó lại.
Chúng
ta tu thì có khi dùng Chỉ, có khi dùng Quán. Trong kinh Pháp Bảo
Ðàn, Lục Tổ nói Chỉ và Quán đồng thời, Chỉ là định
và Quán là tuệ, hai cái không rời nhau. Ngay khi vọng tưởng
khởi chúng ta biết và buông, đó là có Chỉ và Quán; biết
vọng tưởng là Quán, buông không theo và vọng tưởng lặng
xuống là Chỉ, ấy là định tuệ đồng tu chớ không chia
ra hai thứ. Chia ra hai thứ là khi nào luôn luôndùng
một cách. Như khi ngồi thiền, dùng phương tiện buộc tâm,
vọng tưởng không dấy lên, tâm lặng lẽ, đó gọi là Chỉ.
Còn nếu dùng trí xét tới xét lui thấy thân này do tứ đại
hòa hợp, rồi sẽ rã tan, gọi là Quán. Ðây chúng ta nói có
tính cách chia chẻ, chớ thật ra trong Chỉ đã có Quán, trong
Quán đã có Chỉ, pháp tu này Lục Tổ gọi là định tuệ
bình đẳng. Còn Chỉ Quán của tông Thiên Thai dạy tu về Sổ
tức (đếm hơi thở), rồi qua Tùy tức (theo hơi thở), rồi
Chỉ (dừng tâm ở mũi) để thấy hơi thở ra vô, hoặc dùng
đề mục để trụ tâm một chỗ ấy là Chỉ. Quán là ứng
dụng pháp quán chiếu.
Ðoạn
kinh này nói cảnh giới của hàng Bồ-tát vượt quá pháp Chỉ
Quán thường của chúng ta, cho nên nghe hơi khó hiểu.
ÂM:
-
Thiện nam tử, nhược chư Bồ-tát ngộ tịnh Viên giác, dĩ
tịnh Giác tâm tri giác tâm tánh cập dữ căn trần giai nhân
huyễn hóa, tức khởi chư huyễn, dĩ trừ huyễn giả, biến
hóa chư huyễn nhi khai huyễn chúng. Do khởi huyễn cố, tiện
năng nội phát đại bi khinh an. Nhất thiết Bồ-tát tùng thử
khởi hạnh, tiệm thứ tăng tiến. Bỉ quán huyễn giả phi
đồng huyễn cố phi đồng huyễn quán, giai thị huyễn cố,
huyễn tướng vĩnh ly. Thị chư Bồ-tát sở viên diệu hạnh,
như thổ trưởng miêu. Thử phương tiện giả danh Tam-ma-bát-đề.
DỊCH:
-
Này thiện nam tử, nếu các vị Bồ-tát ngộ được tánh Viên
giác thanh tịnh rồi, dùng Giác tâm thanh tịnh nhận biết tâm
tánh cùng với căn trần đều là huyễn hóa, liền khởi trí
huyễn để trừ pháp huyễn, biến hiện các hạnh huyễn mà
khai hóa chúng sanh như huyễn. Do khởi pháp quán huyễn nên
nội tâm phát đại bi khinh an. Tất cả Bồ-tát từ đây khởi
hạnh tu Quán, dần dần tăng tiến. Người quán huyễn không
đồng với cảnh huyễn, không đồng với pháp quán huyễn,
vì đều là huyễn nên tướng huyễn hằng lìa. Các vị Bồ-tát
này ở nơi hạnh viên diệu như đất làm cho mầm được tăng
trưởng, phương tiện ấy gọi là Tam-ma-bát-đề (Quán).
GIẢNG:
Tam-ma-bát-đe (vipayay) là
tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Quán. Ðoạn này nói các
vị Bồ-tát ngộ được tánh Viên giác thanh tịnh rồi, nhận
biết được Giác tâm căn trần đều là huyễn hóa. Nghĩa
là biết rõ nơi thân này và bao nhiêu ý thức vọng tưởng
đều huyễn hóa, cho tới ngoại cảnh chúng sanh cũng đều
là tướng huyễn hóa. Khi ấy mới khởi trí huyễn để trừ
huyễn, tức là niệm nào khởi lên cũng biết nó là huyễn
liền buông. Bồ-tát có hai cách, một là khởi quán để trừ
bệnh của chính mình, hai là khi thuần thục rồi lại dùng
phương tiện huyễn hóa để giáo hóa chúng sanh. Phương tiện
mình giáo hóa là huyễn thì chúng sanh được giáo hóa cũng
là huyễn. Ðó là cái quán của Bồ-tát.
Do
khởi trí huyễn cho nên phát lòng đại bi khinh an. Tại sao
khởi trí huyễn mà lại có tâm đại bi? Khi thấy rõ ràng
thân này là huyễn, cảnh là huyễn, Tâm giác tri khởi quán
cũng là huyễn và khi chúng ta nhìn thấy người khác cho thân
cảnh là thật, thì tự nhiên thấy thương, lòng thương nhẹ
nhàng trong sạch khác với lòng luyến ái tham dục cho nên gọi
là đại bi khinh an.
Khi
Bồ-tát ngộ được tánh Viên giác thanh tịnh rồi, các ngài
mới y nơi tánh Viên giác quán các pháp căn, trần, thức là
huyễn hóa không thật. Bấy giờ Bồ-tát khởi trí như huyễn
để diệt vô minh phiền não như huyễn, tu các hạnh như huyễn,
giáo hóa chúng sanh như huyễn. Khi các cảnh huyễn đã không,
trí quán huyễn cũng hết, tức là tâm cảnh hay năng sở không
còn, hằng xa lìa các tướng huyễn hóa thì tánh Viên giác
chân thật (phi huyễn) của Bồ-tát hiện ra. Chẳng khác nào
đất nuôi lớn mầm cây vậy. Như hạt giống ương dưới
đất, nhờ đất mà nẩy mầm, nhờ đất mà mầm tăng trưởng
chớ không lui sụt, phương tiện này gọi là Quán.
ÂM:
-
Thiện nam tử, nhược chư Bồ-tát ngộ tịnh Viên giác, dĩ
tịnh Giác tâm bất thủ huyễn hóa cập chư tĩnh tướng. Liễu
tri thân tâm giai vi quái ngại vô tri giác minh bất y chư ngại
vĩnh đắc siêu quá ngại vô ngại cảnh. Thọ dụng thế giới
cập dữ thân tâm, tướng tại trần vực, như khí trung hoàng
thanh xuất vu ngoại, phiền não Niết-bàn bất tương lưu ngại.
Tiện năng nội phát tịch diệt khinh an diệu giác tùy thuận
tịch diệt cảnh giới, tự tha thân tâm sở bất năng cập,
chúng sanh thọ mạng giai vi phù tưởng. Thử phương tiện giả
danh vi Thiền-na.
DỊCH:
-
Này thiện nam, nếu các vị Bồ-tát ngộ được tánh Viên
giác thanh tịnh, dùng Giác tâm thanh tịnh không thủ pháp quán
huyễn và tướng lặng lẽ. Rõ biết thân tâm đều là vật
ngăn ngại, còn cái vô tri giác minh thì không bị các pháp
làm chướng ngại, hằng siêu vượt các pháp chướng ngại
và không chướng ngại. Thọ dụng các tướng thế giới và
thân tâm ở cõi trần này, cũng như âm thanh từ đồ vật
thoát ra ngoài, phiền não Niết-bàn chẳng lưu ngại nhau, nội
tâm liền được lặng lẽ khinh an, diệu giác tùy thuận cảnh
giới tịch diệt tự tha, thân tâm không còn có thể kịp nữa.
Chúng sanh, thọ mạng đều là cái tưởng phù hư. Phương
tiện tu này gọi là Thiền-na.
GIẢNG:
Thiền-na
(Dhyna)là tiếng Phạn, thường nói là Thiền, cũng dịch
là Tĩnh lự. Ðoạn này Phật dạy, Bồ-tát ngộ được
tánh Viên giác thanh tịnh rồi, y nơi tánh Viên giác thanh tịnh
mà tu, không chấp giữ pháp Chỉ và pháp Quán, thấy rõ thân
tâm này là vật ngăn ngại, chỉ có "vô tri giác minh" không
bị các pháp làm chướng ngại, vì vô tri giác minh hằng
vượt trên các pháp tương đối chướng ngại và không chướng
ngại. Vô tri giác minh trong kinh Thủ Lăng Nghiêm gọi
là Vô phân biệt trí tức là cái trí biết không phân biệt.
Ở đây vô tri là không phân biệt, giác minh là
hằng giác hằng sáng. Thông thường chúng ta nhìn cành hoa liền
phân biệt cành hoa đẹp xấu, biết như vậy là thức chớ
không phải trí. Còn nếu nói theo tinh thần vô tri giác minh
của kinh này, hay Vô phân biệt trí của kinh Lăng Nghiêm, thì
thấy cành hoa biết cành hoa chớ không phân biệt cành hoa đẹp
hoặc xấu rồi khen chê. không phân biệt gọi là vô tri, biết
rõ cành hoa màu gì, loại hoa gì, đó là giác minh. Cái vô
tri giác minh là cái biết sáng suốt không phân biệt, không
bị các pháp thế gian làm chướng ngại, vì nó vượt trên
tất cả pháp tương đối của thế gian. Trong kinh, Phật dùng
thí dụ "khí trung hoàng", ngày trước các Hòa thượng giảng
đoạn này hay dùng thí dụ ở quê có cây đàn kìm, trong có
để miếng thiếc hay miếng đồng khua loong boong. Miếng đó
ở trong lòng cái bọng, tiếng khua của nó vang ra ngoài. Ở
đây cũng vậy, chúng ta biết thân là ngại, tâm là ngại khi
đang ở trong cảnh trần chúng ta vẫn vượt ra ngoài không
có chướng ngại. Thế nên Phật nói thân tâm của hành giả
vẫn ở tại cõi trần mà không bị phiền não trần lao làm
ngăn ngại, cũng không bị kẹt trong cảnh giới Niết-bàn tịch
tịnh. Vô tri giác minh đối với thân tâm của hành giả
ở trong cõi trần này giống như âm thanh của vật thoát ra
khỏi vật vậy. Thân tâm không còn có thể kịp nữa
vì thân tâm là phù hư, không có thật, còn Trí vô phân biệt
thì trùm khắp. Ðây là cảnh giới của những vị Bồ-tát
đã ngộ tánh Viên giác tu đến chỗ tịch diệt khinh an, có
cái công dụng thân tâm ở cõi này mà không bị kẹt bị vướng.
Tóm
lại phải nhận ngay nơi mình có Tánh giác, Tánh giác đó đối
với thân này, ý niệm vọng tưởng này, cảnh giới hiện
giờ này đều không chướng ngại được nó. Lúc đó thân
tâm này cũng như bọt nổi không có gì quan trọng. Nhận được
như vậy và sống mãi chỗ đó, được lặng lẽ khinh an thì
đó là cảnh giới Thiền-na.
ÂM:
-
Thiện nam tử, thử tam pháp môn giai thị Viên giác thân cận
tùy thuận. Thập phương Như Lai nhân thử thành Phật. Thập
phương Bồ-tát chủng chủng phương tiện nhất thiết đồng
dị giai y như thị tam chủng sự nghiệp, nhược đắc viên
chứng tức thành Viên giác.
DỊCH:
-
Này thiện nam, ba pháp môn này đều là thân cận tùy thuận
tánh Viên giác. Mười phương Như Lai nhân đây mà thành Phật.
Mười phương Bồ-tát tu mọi phương tiện đồng hay khác,
đều y ba sự nghiệp này, nếu được viên chứng tức thành
Viên giác.
GIẢNG:
Phật
kết thúc ba pháp môn Chỉ, Quán và Thiền là phương tiện
chung cho tất cả người tu hành. Phật và Bồ-tát cũng y nơi
đây mà tu. Căn cứ trên sự chứng ngộ thì Phật khác, Bồ-tát
khác, nhưng phương tiện tiến tu thì đồng. Các ngài đều
y theo ba pháp tu này mà được thành tựu đạo quả.
ÂM:
-
Thiện nam tử, giả sử hữu nhân tu ư Thánh đạo, giáo hóa
thành tựu bá thiên vạn ức A-la-hán, Bích-chi Phật quả, bất
như hữu nhân văn thử Viên giác vô ngại pháp môn, nhất sát-na
khoảnh tùy thuận tu tập.
DỊCH:
-
Này thiện nam, giả sử có người tu theo Thánh đạo, giáo
hóa trăm ngàn muôn ức người thành tựu quả A-la-hán, Bích-chi
Phật, không bằng người chỉ nghe pháp môn Viên giác vô ngại
này trong khoảng sát-na mà tùy thuận tu tập.
GIẢNG:
Phật
ca ngợi pháp môn Viên giác, giả sử có người giáo hóa một
trăm, một ngàn, hay trăm ngàn vị chứng A-la-hán và Bích-chi
Phật, công đức không bằng người nghe pháp môn Viên giác
này chỉ trong khoảng chốc lát mà tùy thuận tu tập. Tại
sao vậy? Vì nếu dạy người tu chứng quả A-la-hán hay là
chứng quả Duyên giác Bích-chi, chỉ phá được sự chướng
mà chưa phá được lý chướng. Còn người nghe pháp môn này
thâm nhập tu được thì vượt cả sự và lý chướng cho nên
quí hơn.
ÂM:
Nhĩ
thời Thế Tôn dục trùng tuyên thử nghĩa nhi thuyết kệ ngôn:
Oai
Ðức nhữ đương tri
Vô
thượng đại giác tâm
Bản
tế vô nhị tướng
Tùy
thuận chư phương tiện
Kỳ
số tức vô lượng
Như
Lai tổng khai thị
Tiện
hữu tam chủng loại
Tịch
tĩnh Xa-ma-tha
Như
kính chiếu chư tượng
Như
huyễn Tam-ma-đề
Như
miêu tiệm tăng trưởng
Thiền-na
duy tịch diệt
Như
bỉ khí trung hoàng
Tam
chủng diệu pháp môn
Giai
thị giác tùy thuận
Thập
phương chư Như Lai
Cập
chư đại Bồ-tát
Nhân
thử đắc thành đạo
Tam
sự viên chứng cố
Danh
cứu kính Niết-bàn.
DỊCH:
Khi
ấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên, nói kệ rằng:
Oai
Ðức ông nên biết
Tâm
đại giác vô thượng
Bản
tế không hai tướng
Tùy
thuận các phương tiện
Số
có đến vô lượng
Như
Lai tổng khai thị
Gồm
có ba chủng loại
Xa-ma-tha
vắng lặng
Như
gương chiếu các bóng
Tam-ma-đề
như huyễn
Như
mầm dần tăng trưởng
Thiền-na
chỉ lặng dứt
Như
tiếng trong đồ vật
Ba
thứ diệu pháp môn
Ðều
là tùy thuận giác
Mười
phương chư Như Lai
Và
các vị Bồ-tát
Nhân
đây được thành đạo
Ba
việc đều viên chứng
Gọi
cứu kính Niết-bàn.
GIẢNG:
Tóm
lại, ba pháp môn Chỉ, Quán và Thiền là pháp tu căn bản của
chư Phật. Phương tiện đưa đến quả vị Phật và Bồ-tát
mà các ngài ứng dụng tu, không ngoài ba pháp môn Chỉ, Quán
và Thiền. Chúng ta bây giờ lại phân chia nhiều thứ. Niệm
Phật, đúng ra là tu Chỉ vì dùng một niệm để dừng nhiều
niệm. Nhưng vì không hiểu nên nói niệm Phật là tu Tịnh
độ khác hơn tu Thiền. Thật ra các pháp môn Phật dạy tu
đều nhằm dừng vọng tưởng là Chỉ, còn thấy thân như
huyễn cảnh như huyễn là Quán; người tu biết rõ ý niệm
là vọng tưởng không theo, biết rõ cảnh như huyễn không
dính, tâm thanh tịnh đó là Thiền. Như vậy, Thiền trùm cả
Chỉ và Quán. Tuy ba mà một, tu theo Phật chỉ có con đường
này, chớ không có con đường nào khác hơn. Ðó là lối đi
chung của chư Phật và Bồ-tát. Nếu chúng ta cố chấp, khen
pháp môn này đúng, chê pháp môn kia sai, khen chê hay dở là
lầm chấp. Phật chỉ cho chúng ta tu rất đơn giản, dừng
hết vọng tưởng là Chỉ, thấy rõ thân tâm cảnh giới như
huyễn hóa là Quán, trong buông vọng tưởng ngoài không dính
cảnh là Thiền, tức là trở về Tánh giác.
Ðường
lối tu ở đây cũng vậy, tôi khuyên quí vị buông vọng tưởng
là Chỉ, thấy thân như huyễn, cảnh như huyễn là Quán, như
vậy luôn luôn ứng dụng Chỉ Quán và Chỉ Quán viên mãn là
Thiền. Ðó là phương tiện căn bản mà chư Phật chư Bồ-tát
đã tu. Chúng sanh đời sau ai muốn tu thì cũng ứng dụng theo
phương tiện này mới mong khỏi lầm lạc.