Bồ-tát
Biện Âm
thưa
hỏi
ÂM:
Ư
thị Biện Âm Bồ-tát tại đại chúng trung, tức tùng tòa
khởi, đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp trường quì
xoa thủ nhi bạch Phật ngôn:
-
Ðại bi Thế Tôn như thị pháp môn thậm vi hi hữu. Thế Tôn
thử chư phương tiện nhất thiết Bồ-tát ư Viên giác môn
hữu kỉ tu tập. Nguyện vị đại chúng cập mạt thế chúng
sanh phương tiện khai thị linh ngộ thật tướng.
Tác
thị ngữ dĩ ngũ thể đầu địa, như thị tam thỉnh chung
nhi phục thủy.
DỊCH:
Khi
ấy Bồ-tát Biện Âm ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải
ba vòng, quì gối chấp tay bạch Phật rằng:
-
Ðức Thế Tôn đại bi, pháp môn như vậy thật là ít có.
Bạch Thế Tôn, các phương tiện này, tất cả Bồ-tát đối
với môn Viên giác có bao nhiêu pháp tu tập? Xin vì đại chúng
và chúng sanh đời sau phương tiện chỉ bày, khiến cho ngộ
được Thật tướng.
Thưa
lời đây rồi năm vóc gieo xuống đất, thưa thỉnh như vậy
lặp lại ba lần.
GIẢNG:
Chương
này Bồ-tát Biện Âm đứng ra thưa hỏi. Biện là biện biệt
rành rẽ, Âm là tiếng, tức là phân biệt rành rẽ âm thanh.
Theo nghĩa ở đây là ý nghĩa chia chẻ tỉ mỉ để người
sau tùy căn cơ trình độ ai hợp pháp nào dùng pháp đó mà
tu.
Ở
trước ngài Oai Ðức Tự Tại thưa hỏi Phật về phương tiện
tu hành, Phật chỉ ba pháp môn là phương tiện. Ở đây Bồ-tát
Biện Âm nêu lên câu hỏi như Phật dạy ở trước, pháp môn
đó rất là ít có tức là pháp môn Chỉ, Quán, Thiền, với
ba phương tiện đó muốn bước vào cửa Viên giác thì có
bao nhiêu pháp tu tập, xin Phật chỉ dạy chi tiết rõ ràng.
ÂM:
Nhĩ
thời Thế Tôn cáo Biện Âm Bồ-tát ngôn:
-
Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử, nhữ đẳng nãi năng vị
chư đại chúng cập mạt thế chúng sanh, vấn ư Như Lai như
thị tu tập. Nhữ kim đế thính đương vị nhữ thuyết.
Thời
Biện Âm Bồ-tát phụng giáo hoan hỉ cập chư đại chúng mặc
nhiên nhi thính.
-
Thiện nam tử, nhất thiết Như Lai Viên giác thanh tịnh, bản
vô tu tập cập tu tập giả. Nhất thiết Bồ-tát cập mạt
thế chúng sanh, y ư vị giác, huyễn lực tu tập. Nhĩ thời
tiện hữu nhị thập ngũ chủng thanh tịnh định luân.
DỊCH:
Lúc
đó, đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Biện Âm rằng:
-
Lành thay, lành thay! Này thiện nam, các ông vì đại chúng và
chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai về sự tu tập. Nay ông
hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông nói.
Khi
ấy Bồ-tát Biện Âm vâng lời dạy vui vẻ cùng đại chúng
yên lặng lắng nghe.
-
Này thiện nam, tất cả Viên giác thanh tịnh Như Lai vốn không
tu tập và người tu tập. Tất cả Bồ-tát và chúng sanh đời
sau y nơi chưa giác dùng sức huyễn mà tu tập. Khi ấy mới
có hai mươi lăm thứ thanh tịnh định luân.
GIẢNG:
Trước
khi dạy các phương tiện khác, đức Phật lặp lại chủ yếu
là tánh Viên giác không có pháp để tu tập và người tu tập,
vì nguyên nó là cái thể không sanh diệt nên không do tu tập
mà được, tánh Viên giác chính là mình cho nên nói không có
người tu tập. Tất cả Bồ-tát và chúng sanh đời sau y nơi
chưa giác dùng sức huyễn mà tu tập. Khi ấy mới có hai mươi
lăm thứ thanh tịnh định luân.
Hai
mươi lăm thứ thanh tịnh định luân là những pháp tu Chỉ,
Quán và Thiền hoặc là đơn hoặc là ghép: tu Chỉ hay tu Quán
riêng từng môn gọi là đơn, tu một lượt hai môn hoặc ba
môn gọi là ghép, đổi tới đổi lui thành ra hai mươi lăm
luân. Nhưng thật ra chỉ có ba môn căn bản là Chỉ, Quán và
Thiền.
ÂM:
-
Nhược chư Bồ-tát duy thủ cực tĩnh, do tĩnh lực cố vĩnh
đoạn phiền não, cứu kính thành tựu, bất khởi ư tòa, tiện
nhập Niết-bàn. Thử Bồ-tát giả, danh đơn tu Xa-ma-tha.
DỊCH:
-
Nếu chư Bồ-tát chỉ giữ tâm vắng lặng do sức vắng lặng
mà đoạn các phiền não, thành tựu rốt ráo, không rời khỏi
chỗ ngồi liền vào Niết-bàn. Vị Bồ-tát này gọi là riêng
tu pháp Chỉ.
GIẢNG:
Bồ-tát
hằng giữ tâm ở trạng thái thật tịch tĩnh, nên phiền não
không sanh khởi, nhờ thế mà được thành tựu đạo quả
rốt ráo, lúc đó ở ngay chỗ ngồi mà vào Niết-bàn. Vị
Bồ-tát này riêng tu pháp Chỉ.
ÂM:
-
Nhược chư Bồ-tát duy quán như huyễn, dĩ Phật lực cố biến
hóa thế giới chủng chủng tác dụng, bị hành Bồ-tát thanh
tịnh diệu hạnh, ư Ðà-la-ni bất thất tịch niệm cập chư
tĩnh tuệ. Thử Bồ-tát giả, danh đơn tu Tam-ma-bát-đề.
DỊCH:
-
Nếu Bồ-tát chỉ tu pháp quán như huyễn, dùng Phật lực biến
hóa ra thế giới, khởi các diệu dụng, thực hành đầy đủ
công hạnh thanh tịnh của Bồ-tát, đối với Ðà-la-ni không
mất niệm tịch tĩnh và tuệ lặng lẽ. Vị Bồ-tát này gọi
là riêng tu pháp Quán.
GIẢNG:
Bồ-tát
khi dụng quán là y theo lời Phật dạy trong kinh để vận dụng
tâm quán, tùy bệnh mà chiếu phá nên nói rằng có các thứ
biến hóa, các thứ tác dụng. Nghĩa là do sức Phật chỉ dạy
rồi nương theo đó quán chiếu. Thí dụ áp dụng quán bằng
trí Bát-nhã thì tùy quán riêng từng uẩn hoặc quán chung năm
uẩn, quán một trần hoặc quán sáu trần. có khi chung lại
có khi chia ra biến hóa vô cùng. Bởi do khéo chuyển biến tu
hành, lần lần diệu hạnh thanh tịnh của Bồ-tát được
đầy đủ. Ðầy đủ rồi tổng nhiếp tất cả. Như vậy
Bồ-tát này chuyên quán huyễn, nương nhờ sức biến hóa của
chư Phật ứng dụng trong sự tu hành, thấy rõ các pháp như
huyễn cho nên không mất niệm tịch tĩnh. Ðà-la-ni là tổng
trì, nghĩa là đối với các pháp đều thấy nó như huyễn,
do đó có tuệ, được lặng lẽ, nên nói Bồ-tát này riêng
tu pháp Quán.
ÂM:
-
Nhược chư Bồ-tát duy diệt chư huyễn bất thủ tác dụng,
độc đoạn phiền não, phiền não đoạn tận, tiện chứng
thật tướng. Thử Bồ-tát giả danh đơn tu Thiền-na.
DỊCH:
-
Nếu Bồ-tát chỉ diệt các pháp huyễn mà không chấp thủ
tác dụng, riêng đoạn phiền não, phiền não đoạn hết liền
chứng được Thật tướng. Vị Bồ-tát này gọi là riêng
tu pháp Thiền-na.
GIẢNG:
Bồ-tát
chuyên tu đoạn diệt các tướng huyễn hóa, và không chấp
thủ pháp tu, chỉ một bề lo đoạn trừ phiền não. Bởi vì
các tướng thân tâm và ngoại cảnh đều là huyễn hóa cho
nên không mắc kẹt. Ðây là dùng trí thấy rõ nó là hư dối
nên không kẹt, không cần quán hay chỉ. Khi phiền não sạch
rồi thì chứng được Tướng chân thật nên gọi Bồ-tát
này riêng tu pháp Thiền-na.
ÂM:
-
Nhược chư Bồ-tát tiên thủ chí tĩnh, dĩ tĩnh tuệ tâm chiếu
chư huyễn giả, tiện ư thị trung khởi Bồ-tát hạnh. Thử
Bồ-tát giả danh tiên tu Xa-ma-tha, hậu tu Tam-ma-bát-đề.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ tĩnh tuệ cố, chứng chí tĩnh tánh,
tiện đoạn phiền não, vĩnh xuất sanh tử. Thử Bồ-tát giả,
danh tiên tu Xa-ma-tha, hậu tu Thiền-na.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch tĩnh tuệ phục hiện huyễn lực
chủng chủng biến hóa độ chư chúng sanh, hậu đoạn phiền
não nhi nhập tịch diệt. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Xa-ma-tha
trung tu Tam-ma-bát-đề, hậu tu Thiền-na.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ chí tĩnh lực, đoạn phiền não dĩ,
hậu khởi Bồ-tát thanh tịnh diệu hạnh độ chư chúng sanh.
Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Xa-ma-tha, trung tu Thiền-na, hậu
tu Tam-ma-bát-đề.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ chí tĩnh lực, tâm đoạn phiền não,
phục độ chúng sanh kiến lập thế giới. Thử Bồ-tát giả,
danh tiên tu Xa-ma-tha, tề tu Tam-ma-bát-đề Thiền-na.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ chí tĩnh lực tư phát biến hóa, hậu
đoạn phiền não. Thử Bồ-tát giả, danh tề tu Xa-ma-tha Tam-ma-bát-đề,
hậu tu Thiền-na.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ chí tĩnh lực dụng tư tịch diệt,
hậu khởi tác dụng, biến hóa thế giới. Thử Bồ-tát giả
danh tề tu Xa-ma-tha Thiền-na, hậu tu Tam-ma-bát-đề.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ biến hóa lực, chủng chủng tùy thuận
nhi thủ chí tĩnh. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Tam-ma-bát-đề,
hậu tu Xa-ma-tha.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ biến hóa lực, chủng chủng cảnh giới
nhi thủ tịch diệt. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Tam-ma-bát-đề,
hậu tu Thiền-na.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ biến hóa lực nhi tác Phật sự an trụ
tịch tĩnh, nhi đoạn phiền não. Thử Bồ-tát giả, danh tiên
tu Tam-ma-bát-đề, trung tu Xa-ma-tha, hậu tu Thiền-na.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ biến hóa lực vô ngại tác dụng, đoạn
phiền não cố, an trụ chí tĩnh. Thử Bồ-tát giả, danh tiên
tu Tam-ma-bát-đề, trung tu Thiền-na, hậu tu Xa-ma-tha.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ biến hóa lực phương tiện tác dụng,
chí tĩnh tịch diệt nhị câu tùy thuận. Thử Bồ-tát giả,
danh tiên tu Tam-ma-bát-đề, tề tu Xa-ma-tha Thiền-na.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ biến hóa lực, chủng chủng khởi dụng
tư ư chí tĩnh, hậu đoạn phiền não. Thử Bồ-tát giả, danh
tề tu Tam-ma-bát-đề Xa-ma-tha, hậu tu Thiền-na.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ biến hóa lực tư ư tịch diệt, hậu
trụ thanh tịnh vô tác tĩnh lự. Thử Bồ-tát giả, danh tề
tu Tam-ma-bát-đề Thiền-na, hậu tu Xa-ma-tha.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch diệt lực nhi khởi chí tĩnh trụ
ư thanh tịnh. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Thiền-na, hậu
tu Xa-ma-tha.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch diệt lực nhi khởi tác dụng
ư nhất thiết cảnh tịch dụng tùy thuận. Thử Bồ-tát giả,
danh tiên tu Thiền-na, hậu tu Tam-ma-bát-đề.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch diệt lực chủng chủng Tự tánh
an ư tĩnh lự nhi khởi biến hóa. Thử Bồ-tát giả, danh tiên
tu Thiền-na, trung tu Xa-ma-tha, hậu tu Tam-ma-bát-đề.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch diệt lực vô tác tự tánh khởi
ư tác dụng thanh tịnh cảnh giới qui ư tĩnh lự. Thử Bồ-tát
giả, danh tiên tu Thiền-na, trung tu Tam-ma-bát-đề, hậu tu Xa-ma-tha.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch diệt lực chủng chủng thanh tịnh
nhi trụ tĩnh lự, khởi ư biến hóa. Thử Bồ-tát giả, danh
tiên tu Thiền-na, tề tu Xa-ma-tha Tam-ma-bát-đề.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch diệt lực, tư ư chí tĩnh nhi
khởi biến hóa. Thử Bồ-tát giả, danh tề tu Thiền-na Xa-ma-tha,
hậu tu Tam-ma-bát-đề.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch diệt lực tư ư biến hóa nhi
khởi chí tĩnh thanh minh cảnh tuệ. Thử Bồ-tát giả, danh
tề tu Thiền-na Tam-ma-bát-đề, hậu tu Xa-ma-tha.
-
Nhược chư Bồ-tát dĩ Viên giác tuệ, viên hợp nhất thiết
ư chư tánh tướng vô ly Giác tánh. Thử Bồ-tát giả, danh
vi viên tu tam chủng Tự tánh thanh tịnh tùy thuận.
-
Thiện nam tử, thị danh Bồ-tát nhị thập ngũ luân. Nhất
thiết Bồ-tát tu hạnh như thị. Nhược chư Bồ-tát cập mạt
thế chúng sanh, y thử luân giả đương trì phạm hạnh tịch
tĩnh tư duy cầu ai sám hối, kinh tam thất nhật, ư nhị thập
ngũ luân, các an tiêu ký, chí tâm cầu ai tùy thủ kết thủ,
y kết khai thị tiện tri đốn tiệm. Nhất niệm nghi hối tức
bất thành tựu.
DỊCH:
-
Nếu chư Bồ-tát trước giữ tâm thật lặng lẽ, do tâm lặng
lẽ nên trí tuệ chiếu soi các pháp như huyễn, liền khởi
hạnh Bồ-tát. Gọi vị Bồ-tát này trước tu Chỉ sau tu Quán.
-
Nếu Bồ-tát dùng trí tuệ yên tĩnh, chứng được Thể tánh
thật lặng lẽ, liền đoạn các phiền não, thoát khỏi sanh
tử. Gọi vị Bồ-tát này trước tu Chỉ sau tu Thiền.
-
Nếu Bồ-tát dùng trí tuệ lặng lẽ lại hiện ra mọi sức
biến hóa độ chúng sanh, sau mới đoạn phiền não, rồi vào
chỗ tịch diệt. Gọi Bồ-tát này trước tu Chỉ, giữa tu
Quán sau tu Thiền.
-
Nếu các vị Bồ-tát dùng sức thật lặng lẽ đoạn các phiền
não, sau khởi các diệu hạnh thanh tịnh để độ chúng sanh.
Gọi Bồ-tát này trước tu Chỉ, giữa tu Thiền, sau tu Quán.
-
Nếu những vị Bồ-tát dùng sức thật lặng lẽ tâm đoạn
phiền não, sau lại dựng lập thế giới độ chúng sanh. Gọi
Bồ-tát này trước tu Chỉ đồng thời tu Quán và Thiền.
-
Nếu những vị Bồ-tát dùng sức thật lặng lẽ giúp phát
khởi biến hóa, sau đoạn phiền não. Gọi vị Bồ-tát này
đồng tu Chỉ và Quán, sau mới tu Thiền.
-
Nếu những vị Bồ-tát dùng lực dụng thật lặng lẽ để
giúp cho sự tịch diệt, sau khởi ra tác dụng, biến hóa thế
giới. Gọi Bồ-tát này đồng thời tu Chỉ và Thiền, sau mới
tu Quán.
-
Nếu các vị Bồ-tát dùng sức biến hóa ra các thứ tùy thuận
chúng sanh mà vẫn giữ (tâm) thật lặng lẽ. Gọi Bồ-tát
này trước tu Quán, sau tu Chỉ.
-
Nếu những vị Bồ-tát dùng sức biến hóa các thứ cảnh
giới mà vẫn giữ tịch diệt. Gọi Bồ-tát này trước tu
Quán, sau tu Thiền.
-
Nếu các vị Bồ-tát dùng sức biến hóa làm các Phật sự,
an trụ trong lặng lẽ mà đoạn phiền não. Gọi Bồ-tát này
trước tu Quán, giữa tu Chỉ và sau tu Thiền.
-
Nếu các vị Bồ-tát dùng sức biến hóa làm các việc vô
ngại, đoạn các phiền não rồi an trụ chỗ thật lặng lẽ.
Gọi Bồ-tát này trước tu Quán, giữa tu Thiền và sau tu Chỉ.
-
Nếu các vị Bồ-tát dùng sức biến hóa làm các phương tiện
tác dụng rất lặng lẽ tịch diệt, cả hai đều tùy thuận.
Gọi Bồ-tát này trước tu Quán, đồng thời tu Chỉ và Thiền.
-
Nếu những Bồ-tát dùng sức biến hóa khởi các công dụng
giúp cho tâm thật lặng lẽ, sau mới đoạn phiền não. Gọi
Bồ-tát này đồng tu Quán và Chỉ, sau mới tu Thiền.
-
Nếu các Bồ-tát dùng sức biến hóa giúp cho tịch diệt, rồi
sau trụ chỗ thanh tịnh mà không khởi tĩnh lự. Gọi Bồ-tát
này đồng tu Quán và Thiền, sau mới tu Chỉ.
-
Nếu các vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt mà khởi hạnh thật
lặng lẽ, rồi an trụ nơi thanh tịnh. Gọi Bồ-tát này trước
tu Thiền, sau mới tu Chỉ.
-
Nếu những vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt mà khởi tác
dụng, ở trong tất cả cảnh lặng lẽ khởi dụng tùy thuận.
Gọi Bồ-tát này trước tu Thiền, sau mới tu Quán.
-
Nếu các Bồ-tát dùng sức thật lặng lẽ, các thứ Tự tánh,
an trụ nơi tĩnh lự mà khởi pháp biến hóa. Gọi Bồ-tát
này trước tu Thiền, giữa tu Chỉ, rồi sau mới tu Quán.
-
Nếu những vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt của Tự tánh
vô tác, ở cảnh giới thanh tịnh khởi tác dụng, rồi trở
về chỗ tĩnh lự. Gọi Bồ-tát này trước tu Thiền, giữa
tu Quán, sau mới tu Chỉ.
-
Nếu những vị Bồ-tát dùng các thứ thanh tịnh của sức
tịch diệt mà trụ ở chỗ tĩnh lự, rồi khởi biến hóa.
Gọi Bồ-tát này trước tu Thiền đồng thời tu Chỉ và Quán.
-
Nếu những vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt giúp cho thật
lặng lẽ rồi khởi biến hóa. Gọi Bồ-tát này đồng thời
tu Thiền và Chỉ, sau đó mới tu Quán.
-
Nếu những vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt giúp cho biến
hóa mà khởi trí tuệ lặng lẽ trong sáng. Gọi Bồ-tát này
đồng thời tu Thiền và Quán, sau đó tu Chỉ.
-
Nếu các vị Bồ-tát dùng tuệ Viên giác, viên hợp tất cả
nơi các tánh tướng không lìa Tánh giác. Gọi Bồ-tát này
viên tu ba thứ Tự tánh thanh tịnh tùy thuận.
-
Này thiện nam, như thế gọi là hai mươi lăm luân của Bồ-tát.
Tất cả Bồ-tát nên như thế mà tu hành. Nếu các Bồ-tát
và chúng sanh đời sau y theo những luân ấy, gìn giữ phạm
hạnh, lặng lẽ tư duy thành tâm sám hối, trải qua hai mươi
mốt ngày, nơi hai mươi lăm luân này, mỗi cái ghi ra để trên
bàn chí tâm nguyện cầu, rồi tay bốc lên một cái, tùy theo
cái đó mở ra, liền biết (căn cơ) mình thuộc đốn hay tiệm.
Nếu còn một niệm nghi hối thì chẳng thành tựu.
GIẢNG:
Tất
cả chúng ta muốn được giác ngộ giải thoát, không tu pháp
nào khác hơn là ba môn Chỉ, Quán và Thiền. Ðó là ba pháp
tu then chốt. Tùy theo căn cơ sai biệt của mỗi người mà
ứng dụng, người thì ứng dụng Quán trước, người thì
ứng dụng Chỉ trước, người thì ứng dụng Thiền trước.
Tùy theo khả năng và để thích nghi với hoàn cảnh của mình,
mà linh động ứng dụng ba pháp tu ấy trước hay sau.
Như
có người tu Chỉ muốn được lặng lẽ thôi, nên không quán,
lại có người thấy lặng lẽ buồn, quán các pháp như huyễn
vui hơn. Do đó nên đức Phật mới chia ra hai mươi lăm luân
này. Chúng ta tu ứng dụng Chỉ hay Quán đều tốt, miễn tâm
chúng ta an định là được rồi. Chớ không nói buông hết
niệm là đúng hay Quán mới đúng. Ví dụ tâm chúng ta vừa
dấy niệm nhớ người nhớ cảnh, chúng ta
liền buông không
theo thì vọng niệm tự lặng mất tạm gọi là Chỉ. Nhưng
lại có người không chịu tu như vậy, họ nói kinh Bát-nhã
Phật dạy quán chiếu ngũ uẩn không thật, sáu trần huyễn
hóa, nên đi đâu lúc nào cũng quán như vậy. Do quán như thế,
nên không dính mắc với cảnh, tâm tự an định. Người buông
vọng niệm thì tâm cũng an định, người quán các pháp như
huyễn tâm cũng an định. Dù Chỉ, Quán hay Thiền mà tâm yên
lặng thanh tịnh là được. Vì tu phải dứt hết vọng niệm
thì Thể chân thật mới hiện tiền. Tuy tu ba môn nhưng trở
về có một chỗ là lặng vọng tưởng và Tánh giác hiện
tiền. Nhưng vì căn cơ của mỗi người khác nhau, nên Phật
mới phân chia ra cho dễ thích ứng.
Có
người tu Chỉ cứ đăm đăm nhìn xuống để buông vọng tưởng
nên mặt buồn xo, bèn đổi sang Quán nhìn mây nhìn trời thấy
tất cả đều là huyễn hóa cười chơi cho vui. Như vậy là
trước tu Chỉ sau tu Quán, quán một thời gian vọng tưởng
hết, đến chỗ tịch diệt đó là Thiền.
Tùy
căn cơ ứng dụng hoặc chuyên tu một pháp tới nơi tới chốn,
hoặc gồm cả hai pháp hoặc kiêm luôn ba pháp; hoặc tu pháp
này trước pháp kia sau, hay pháp kia trước pháp này sau, đổi
tới đổi lui thế nào miễn ổn định sự tu hành là tốt.
Cốt yếu là sự tu hành được ổn định và tinh tấn đúng
pháp. Phật dạy tùy theo căn cơ của chúng sanh mà ứng dụng
tu chớ không cố định. Ví dụ như người ít phiền não tu
theo pháp tri vọng, hễ dấy niệm liền buông, thực hành một
thời gian thì thanh tịnh. Còn người phiền não nhiều, loạn
tưởng lăng xăng không bao giờ an ổn, nên phải dùng quán
mà công kích, quán thân này duyên hợp tạm có, quán cảnh
là huyễn hóa thấy mọi sự việc xảy ra với mình không thật.
Quán một thời gian phiền não mỏng dần thì tâm mới thanh
tịnh. Người tu phải biết linh động chớ không nên cố chấp
một là một, hai là hai, nếu không biết linh động tu không
tiến.
Phật
nói hai mươi lăm luân này, sợ chúng sanh mờ mịt không biết
làm sao tu, không biết căn cơ hợp với pháp nào, nên tiếp
theo Phật dạy cho phương tiện để chọn pháp tu. Kinh dạy
lấy giấy ghi hết hai mươi lăm luân, mỗi luân vào một miếng
giấy vo tròn, đặt vào trong dĩa đem để trên bàn Phật rồi
trì giới thanh tịnh, thành tâm sám hối xong bốc lấy một
thăm. Trúng pháp nào thì chết sống với pháp đó mà tu, chớ
không nghi ngờ gì nữa hết; coi như Phật dạy mình tu theo
luân đó. Như vậy là tu tiến, nếu dấy niệm nghi thì tu không
tiến. Có phải Phật tới chứng minh cho chúng ta bốc thăm
không? Thật ra hai mươi lăm luân mà nắm lấy một luân chết
sống để tu, không nghi ngờ không thối chuyển thì có kết
quả. Phật muốn cho chúng ta đầy đủ đức tin nên dạy phương
tiện như thế.
Cũng
như ở đây nhiều người đồng thời tới học đạo, tôi
dạy có nhiều cách khác nhau, có người tôi dạy biết vọng
tưởng rồi buông, có người tôi dạy đếm hơi thở, có người
tôi dạy quán ngũ uẩn giai không. Tại sao vậy? Vì tùy theo
căn cơ và hoàn cảnh, chẳng hạn người đang ở trong hoàn
cảnh bận bịu, bảo họ buông vọng tưởng, họ buông không
được thì làm sao tu? Nên phải dạy họ quán để phá vỡ
các phiền não đang bao vây họ. Còn người căn cơ quá thấp,
đem giáo lý Thượng thừa nói với họ, họ không lãnh hội
được, nên phải dạy họ dùng phương tiện đếm hơi thở
để dừng tạp niệm. Phương tiện rất nhiều mà cứu kính
chỉ có một, chúng ta hiểu rồi thì hết nghi ngờ.
ÂM:
Nhĩ
thời Thế Tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Biện
Âm nhữ đương tri
Nhất
thiết chư Bồ-tát
Vô
ngại thanh tịnh tuệ
Giai
y Thiền định sanh
Sở
vị Xa-ma-tha
Tam-ma-đề,
Thiền-na
Tam
pháp đốn tiệm tu
Hữu
nhị thập ngũ luân
Thập
phương chư Như Lai
Tam
thế tu hành giả
Vô
bất nhân thử pháp
Nhi
đắc thành Bồ-đề
Duy
trừ đốn giác nhân
Tinh
pháp bất tùy thuận
Nhất
thiết chư Bồ-tát
Cập
mạt thế chúng sanh
Thường
đương trì thử luân
Tùy
thuận cần tu tập
Y
Phật đại bi lực
Bất
cửu chứng Niết-bàn.
DỊCH:
Khi
ấy Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này, nói kệ rằng:
Biện
Âm, ông nên biết
Tất
cả các Bồ-tát
Tuệ
thanh tịnh vô ngại,
Ðều
y Thiền định sanh
Gọi
là Xa-ma-tha
Tam-ma-đề,
Thiền-na
Ba
pháp đốn tiệm tu
Chia
hai mươi lăm luân
Mười
phương các Như Lai
Ba
đời người tu hành
Ai
chẳng nhân pháp này
Mà
được thành Bồ-đề
Chỉ
trừ người đốn giác
Cùng
pháp chẳng tùy thuận
Tất
cả các Bồ-tát
Và
chúng sanh đời sau
Thường
gìn giữ luân này
Tùy
thuận siêng tu hành
Nương
đại bi của Phật
Không
lâu chứng Niết-bàn.
GIẢNG:
Chỉ,
Quán và Thiền là ba pháp cội nguồn của chư Phật thành Phật.
Chúng ta hiện nay muốn y theo Phật mà tu, muốn được giác
ngộ như Phật cũng theo ba pháp đó mà tu. Chỉ có khác là
căn cơ có đốn có tiệm. Người đốn dùng một pháp có thể
đi tới nơi, người tiệm thì dùng hai, ba pháp. Người đốn
là căn cơ lanh lợi, nghe một pháp liền ứng dụng cùng tột
được. Còn tiệm là căn cơ không lanh lợi, ý chí yếu đuối
dùng một pháp Chỉ không thành công phải nhờ pháp Quán phụ.
Bài
trùng tụng này tôi chỉ thêm vài điểm quan trọng cho quí
vị hiểu. Nói Trí tuệ thanh tịnh vô ngại của Bồ-tát đều
y nơi Thiền định mà sanh. Vậy Thiền định gồm chung cả
Chỉ, Quán và Thiền. Không người nào tu được trí tuệ mà
không từ Thiền định sanh. Vì nếu vọng tưởng không lặng
thì không bao giờ có trí tuệ. Không khi nào không gian sáng
khi mây còn đen dày dù mặt trăng vẫn có trên hư không, bầu
trời chỉ sáng khi nào mây tan hết. Cũng vậy, trí tuệ thanh
tịnh vô ngại phát sáng khi vọng tưởng lặng hết. Vọng
tưởng còn lăng xăng mà muốn giác ngộ, đó là cái muốn
rỗng. Thế nên Phật dạy chúng ta muốn được trí tuệ thanh
tịnh thì phải y theo ba pháp Chỉ, Quán và Thiền mà ứng dụng
tu. Sở dĩ Ngài nói mười phương chư Phật ba đời và những
người tu hành không ai chẳng nhân pháp này mà thành đạo
Bồ-đề là để biết rằng ngoài ba pháp này không có pháp
nào khác tu cho viên mãn giác ngộ.