Bồ-tát
Phổ Giác
thưa
hỏi
ÂM:
Ư
thị Phổ Giác Bồ-tát tại đại chúng trung, tức tùng tòa
khởi, đảnh lễ Phật túc hữu nhiễu tam táp, trường quì
xoa thủ nhi bạch Phật ngôn:
-
Ðại bi Thế Tôn, khoái thuyết thiền bệnh, linh chư đại
chúng đắc vị tằng hữu, tâm ý đãng nhiên, hoạch đại
an ẩn. Thế Tôn, mạt thế chúng sanh khứ Phật tiệm viễn,
Hiền Thánh ẩn phục tà pháp tăng xí, sử chư chúng sanh, cầu
hà đẳng nhân, y hà đẳng pháp, hành hà đẳng hạnh, trừ
khử hà bệnh, vân hà phát tâm, linh bỉ quần manh bất đọa
tà kiến. Tác thị ngữ dĩ, ngũ thể đầu địa, như thị
tam thỉnh chung nhi phục thủy.
DỊCH:
Khi
ấy, Bồ-tát Phổ Giác ở trong đại chúng, liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên
phải ba vòng, quì gối chấp tay bạch Phật rằng:
-
Ðức Thế Tôn đại bi, khéo nói thiền bệnh khiến cho đại
chúng được điều chưa từng có, tâm ý rỗng rang được
an ổn lớn. Bạch Thế Tôn, những chúng sanh đời mạt pháp,
cách Phật dần xa, Thánh Hiền ẩn khuất, tà pháp tăng mạnh,
vậy chúng sanh cầu những người nào, y những pháp gì, hành
những hạnh gì, trừ những bệnh gì, làm thế nào phát tâm,
khiến những kẻ mù tối chẳng rơi vào tà kiến?
Thưa
lời đây rồi, năm vóc gieo xuống đất thưa thỉnh như thế
lặp lại ba lần.
GIẢNG:
Phổ
giác là biết cùng khắp, Bồ-tát Phổ Giác muốn cho tất cả
mọi người đều thấy rõ, biết rõ mọi phương tiện, mọi
đường lối tu hành để không còn bị chướng ngại. Ða số
người lúc dụng công tu thường hay gặp chướng ngại, sở
dĩ bị chướng ngại là do bệnh chấp ngã, chấp pháp. Cho
nên Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng thưa hỏi cầu Phật
chỉ cho cách điều phục. Tuy điều phục được nghiệp chướng
song vô minh vi tế vẫn còn che tánh Viên giác, vì vậy tánh
Viên giác không chiếu soi cùng khắp, nên Bồ-tát Phổ Giác
đứng ra thưa hỏi Phật năm điều:
1.
Chúng sanh phải cầu ai làm minh sư để chỉ dạy tu hành?
2.
Y theo pháp nào để tu?
3.
Phải tu hạnh gì?
4.
Phải trừ những bệnh gì?
5.
Làm sao phát tâm, để tu hành khiến cho tánh Viên giác chiếu
soi cùng khắp.
ÂM:
Nhĩ
thời Thế Tôn cáo Phổ Giác Bồ-tát ngôn:
-
Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử, nhữ đẳng nãi năng tư
vấn Như Lai như thị tu hành, năng thí mạt thế nhất thiết
chúng sanh vô úy đạo nhãn, linh bỉ chúng sanh đắc thành Thánh
đạo, nhữ kim đế thính, đương vị nhữ thuyết.
Thời
Phổ Giác Bồ-tát phụng giáo hoan hỉ, cập chư đại chúng
mặc nhiên nhi thính.
-
Thiện nam tử, mạt thế chúng sanh tương phát đại tâm cầu
thiện tri thức, dục tu hành giả, đương cầu nhất thiết
chánh tri kiến nhân, tâm bất trụ tướng, bất trước Thanh
văn Duyên giác cảnh giới, tuy hiện trần lao tâm hằng thanh
tịnh, thị hữu chư quá tán thán phạm hạnh, bất linh chúng
sanh nhập bất luật nghi, cầu như thị nhân, tức đắc thành
tựu A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.
DỊCH:
Khi
ấy Thế Tôn bảo Bồ-tát Phổ Giác rằng:
-
Lành thay, lành thay! Này thiện nam, các ông mới hay thưa hỏi
Như Lai đường lối tu hành như thế, hay bố thí cho tất cả
chúng sanh đời sau vô úy đạo nhãn khiến cho chúng sanh kia
được thành Thánh đạo. Nay ông hãy lắng nghe ta sẽ vì ông
nói.
Bấy
giờ Bồ-tát Phổ Giác vâng lời dạy, hoan hỉ cùng đại chúng
yên lặng lắng nghe.
-
Này thiện nam, những chúng sanh đời sau sắp phát đại tâm
cầu thiện tri thức để tu hành, phải cầu tất cả người
có chánh tri kiến, tâm không trụ tướng, chẳng chấp cảnh
giới Thanh văn Duyên giác, tuy hiện trong trần lao mà tâm hằng
thanh tịnh, dù có thị hiện những lỗi lầm mà vẫn tán thán
hạnh thanh tịnh, không khiến chúng sanh vào chỗ trái với
luật nghi. Cầu được người như thế tức được thành tựu
pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
GIẢNG:
Ðức
Phật dạy chúng sanh tu, trước là phải phát tâm Ðại thừa
sau là cầu thiện tri thức. Thiện tri thức là người có chánh
tri kiến, không rơi vào các tà ngụy như mê tín cúng vái quỉ
thần, không trụ phước báo phàm phu cõi người và cõi trời.
Hai là không kẹt vào các quả vị Thanh văn Duyên giác.
Ba là vị thiện hữu tri thức này tuy hiện thân ở trong cảnh
trần lao ô nhiễm mà tâm hằng thanh tịnh, người đó mới
xứng đáng là thiện tri thức. Bốn là họ hay bày ra có lỗi
mà lúc đó vẫn tán dương hạnh thanh bạch. Trong giới tu hành,
có những vị cũng còn một hai lỗi lầm, nhưng lúc nào họ
cũng khuyên người chung quanh giữ hạnh thanh tịnh, không cho
làm các nghiệp chẳng lành. Chúng ta gần người như vậy thì
được lợi ích và sẽ thành tựu đạo Vô thượng Bồ-đề.
Người
không mắc kẹt trong tà kiến, không ở trong cảnh giới Thanh
văn Duyên giác, tuy ở trong trần lao mà tâm hằng thanh tịnh,
đó là Bồ-tát rồi. Giả sử chúng ta tìm không được người
như vậy, mà có những vị ở trong trần lao còn một hai lỗi
lầm, chúng ta có nên gần gũi hay không? Nên gần, nhưng chúng
ta phải nhận xét cho kỹ về vị đó. Ví dụ thỉnh thoảng
vị thiện tri thức đó gặp việc trái ý, bực bội rồi cũng
la cũng sân. Khi lỡ sân rồi họ nói: "Người tu không được
quyền sân, sân là tánh xấu, đây là tôi dở mà tôi bỏ chưa
được, quí vị đừng bắt chước cái dở của tôi, không
tốt cho sự tu hành", thì khả dĩ được. Còn nếu vị đó
nói: "Sân để làm lợi ích cho người ta, đâu có tội gì!"
người nói như thế chúng ta không nên gần. Tách bạch như
vậy để quí vị nhận xét kỹ kẻo lầm. Những người biết
tỉnh giác, tuy có lỗi là vì thói quen lâu đời bỏ chưa được,
nhưng họ vẫn thú nhận đó là điều dở của họ và bảo
người khác đừng bắt chước theo, vì những điểm dở ấy
họ muốn bỏ nhưng sức tu còn yếu làm chưa được. Người
như vậy tuy chưa thật hoàn toàn tốt, nhưng đó là mẫu người
tốt. Còn nếu người làm dở mà cứ bao che cái dở của họ,
cứ bào chữa tôi làm như vậy không có lỗi, làm như vậy
là hạnh Bồ-tát, đó là hạng người chúng ta nên tránh xa.
Trong
kinh có kể một đoạn về tiền thân của Phật khi còn là
Bồ-tát. Có một tên cướp giả làm người chèo thuyền đưa
một số người qua sông, trên thuyền lúc đó cũng có mặt
Ngài. Tên cướp muốn hành hung số người trên thuyền. Bồ-tát
liền khởi nghĩ: "Nếu không giết chú chèo đò thì chú sẽ
giết hết những người trên thuyền này." Ngài bèn ra tay giết
chú chèo đò để cứu những chúng sanh kia. Khi hành sự, Bồ-tát
nghĩ rằng: "Việc làm này tuy có trái với luật nhưng vì muốn
cứu người nên một mình cam chịu tội, dù có bị đọa địa
ngục ta vẫn vui." Như vậy mới đúng là người tu chân chánh,
còn nói: "Tôi làm đây là để cứu chúng sanh, không tội lỗi
gì hết", là phá luật nghi. Quí vị phải nhận xét cho kỹ,
đời này có nhiều người hay vỗ ngực nói càn lắm. Sát
sanh là giới đầu tiên của người tu Phật, mà nói giết
người không tội là vô lý. Sở dĩ dám giết người là vì
lòng từ muốn cứu nhiều người mà phải chịu tội lấy
một mình. Hiểu như vậy, quí vị mới biết người hành đạo
chỗ nào đúng, chỗ nào sai. Chớ đừng nghe trong kinh nói như
vậy rồi nghĩ: "À, khi các ngài hiện những việc trái luật
nghi như vậy mình cũng đừng cố chấp." Như vậy người tu
muốn uống rượu ăn thịt cũng được sao? Nếu uống rượu
ăn thịt mà vị đó tự nói lên: "đây là việc làm trái luật
nghi, đó là thói hư tôi chưa bỏ được, xin quí vị đừng
bắt chước", người như vậy còn khả dĩ gần được, chớ
đã phạm luật nghi mà còn nói càn: "ôi chỗ nào cũng là đạo
tràng, quán rượu thanh lâu cũng là đạo tràng", người đó
không nên gần. Hiểu rõ rồi, quí vị mới đoán định được
ai là thiện tri thức, ai không phải thiện tri thức, để khỏi
rơi vào trường hợp khi phát tâm chân chánh mà lại gặp những
người tà ngụy không tiến tu được.
Cầu
thầy phải cầu người có chánh tri kiến. Bởi vì sanh trong
thời mạt pháp, Pháp nhược ma cường tức là chánh pháp thì
yếu mà tà pháp lại mạnh, tà pháp mạnh cho nên đi đâu cũng
nghe nói pháp tà mãi thành nhiễm. Muốn cầu thầy học đạo
phải khéo lựa chọn vị thầy hướng dẫn tốt để đường
tu chúng ta khỏi bị lạc, tu đúng chánh pháp để đạt đạo
quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
ÂM:
-
Mạt thế chúng sanh kiến như thị nhân ưng đương cúng dường
bất tích thân mạng. Bỉ thiện tri thức, tứ oai nghi trung
thường hiện thanh tịnh, nãi chí thị hiện chủng chủng quá
hoạn tâm vô kiêu mạn, huống phục đoàn tài, thê tử quyến
thuộc. Nhược thiện nam tử, ư bỉ thiện hữu bất khởi
ác niệm, tức năng cứu kính thành tựu Chánh giác, tâm hoa
phát minh, chiếu thập phương sát.
DỊCH:
-
Những chúng sanh đời sau gặp người như thế phải nên cúng
dường chẳng tiếc thân mạng. Thiện tri thức ấy trong bốn
oai nghi thường hiện thanh tịnh, cho đến thị hiện các thứ
tội lỗi, tâm không kiêu mạn, huống nữa tài sản vợ con
quyến thuộc. Nếu thiện nam tử, đối với vị thiện hữu
kia không khởi niệm ác tức hay cứu kính thành tựu Chánh
giác, tâm hoa phát sáng, chiếu soi cả mười phương cõi nước.
GIẢNG:
Chỗ
này Phật nói để cho chúng ta hiểu thêm một chút nữa. Người
học đạo nếu không sáng dễ lầm. Hai trường hợp lầm,
một là người chánh mà chúng ta tưởng là tà, hai là người
tà mà tưởng là chánh.
Trường
hợp thứ nhất, có những thiện tri thức hiện nghịch hạnh
làm những chuyện thế gian, để đồng sự với chúng sanh
mà giáo hóa họ hoặc để thử thách đồ đệ, nếu chúng
ta không hiểu thì mất niềm tin. Như trường hợp ngài Thiện
Chiêu, Ngài là một vị Thiền sư nổi tiếng trong tông Lâm
Tế, người xưa nể phục gọi Ngài là Sư tử Phần Dương.
Trong pháp hội của Ngài có cả thảy năm trăm người. Một
hôm đến ngày kỵ mẫu thân, Ngài bảo vị Tri sự: "Bữa nay
ông mua cá thịt với một chai rượu về tôi cúng bà thân
tôi." Vị Tri sự không dám cãi, đi mua rượu thịt về. Ngài
cúng xong xuôi, dọn ra bàn và mời chúng: "Quí vị cùng tôi
ăn một bữa lấy thảo." Chúng đều giật mình, không ai dám
dự. Ngài ngồi ăn tự nhiên và nói: "Thôi, chúng không dự
thì tôi dự." Chúng nghe danh Ngài tìm tới học, bây giờ thấy
Ngài ăn thịt uống rượu một cách tự nhiên ai nấy đều
mất hết niềm tin. Qua hôm sau họ xin xuất chúng đi hết,
chỉ còn lại có mấy người, trong số đó có ngài Từ Minh.
Sau khi họ đi, Ngài cười và nói: "Ta chỉ tốn mâm cơm và
chai rượu mà tống hết bốn trăm mấy chục người để khỏi
tốn hao của thập phương bá tánh." Vì những người đó họ
chỉ chấp danh tướng mà không thấy tánh thật nên Ngài thử
xem họ có đủ lòng tin đối với Ngài không. Họ chỉ nghe
danh chớ chưa thật hiểu và tin Ngài, nên thấy những tướng
bên ngoài như vậy liền bỏ đi. Ngài Từ Minh và mấy vị
ở lại hiểu Ngài nên không bỏ đi. Sau này ngài Từ Minh trở
thành một vị cự phách trong tông Lâm Tế. Dưới Ngài, Dương
Kỳ và Hoàng Long là Khai tổ của hai phái thiền ở đời Tống
rất hưng thạnh. Như vậy đối với thiện tri thức chúng
ta nhìn một cách cạn cợt nông nổi thì dễ bị lầm. Tại
chúng Tăng không xét kỹ, chớ người thấy đạo như ngài
Phần Dương chẳng lẽ lại làm chuyện như vậy? Chẳng qua
Ngài thử chúng, xem chúng có vững niềm tin Ngài là người
thấy đạo và đã đủ sức hướng dẫn họ tu hành đến
nơi đến chốn chưa? Thế mà họ không hiểu, cho Ngài phá
giới nên bỏ đi. Ðó là lỗi không hiểu ông thầy nên mất
lợi ích cho mình.
Trường
hợp thứ hai, có những vị cứ dẫn câu "Dù cho có quyến
thuộc, thê tử." để tự do có quyến thuộc thê tử. Như
vậy chúng ta cũng phải tin những vị đó sao? Chỗ này thật
tế nhị vô cùng.
Ðối
với vị thiện tri thức chúng ta nên nhận cho đúng, luôn luôn
quí kính, và ở bên cạnh học hỏi tiến tu thì lần lần
sẽ hết bệnh và thành tựu quả Phật. Lúc ấy tâm hoa phát
sáng chiếu soi cả mười phương cõi nước.
ÂM:
-
Thiện nam tử, bỉ thiện tri thức sở chứng diệu pháp ưng
ly tứ bệnh. Vân hà tứ bệnh?
-
Nhất giả Tác bệnh. Nhược phục hữu nhân tác như thị ngôn,
ngã ư bản tâm tác chủng chủng hạnh, dục cầu Viên giác.
Bỉ Viên giác tánh phi tác đắc cố, thuyết danh vi bệnh.
DỊCH:
-
Này thiện nam, vị thiện tri thức kia đã chứng diệu pháp
nên lìa bốn bệnh. Thế nào là bốn bệnh?
-
Một là bệnh Tác. Nếu có người nói như thế này: "Bản
tâm của tôi làm các thứ hạnh" để cầu Viên giác. Song,
tánh Viên giác kia chẳng phải do làm mà được, ấy gọi là
bệnh.
GIẢNG:
Có
nhiều người tu quan niệm rằng: Muốn được giác ngộ phải
luyện cái này tập cái kia, như luyện chuyển luân xa, họ
ngồi tưởng có một luồng điện chạy vòng vòng trong thân,
thực tập mãi như thế thì sẽ thành đạo. Ðó là một điều
lầm lẫn lớn trong sự tu hành nên gọi là bệnh. Thành đạo
là hằng sống với tánh Viên giác; tánh Viên giác thì tròn
sáng sẵn có không do tạo tác, nếu còn tạo tác là còn sanh
diệt không sống được với tánh Viên giác. Có những người
tu theo đạo Phật cho rằng, phải luôn luôn quán chiếu mới
được Viên giác, hoặc phải cất chùa mới có công đức,
cất được một trăm ngôi chùa là thành Phật. Ðó cũng là
lầm. Nếu quán mà được Viên giác sao ngài Pháp Dung ở Ngưu
Ðầu còn phải cầu Tứ tổ Ðạo Tín dạy cho chỗ tâm yếu?
Nếu cất nhiều chùa được thành Phật thì các ông vua ngày
xưa thành Phật hết rồi. Như vua Lương Võ Ðế ngày xưa cất
chùa độ Tăng biết bao nhiêu, sao không hội được chỗ cứu
kính nơi Tổ Bồ-đề-đạt-ma? Tạo tác là tướng sanh diệt
chớ không phải cứu kính của sự giác ngộ. Nếu chấp nhận
do dụng công bằng hình thức mà được Viên giác thì đó
là hiểu lầm, nên gọi là bệnh.
ÂM:
-
Nhị giả Nhậm bệnh. Nhược phục hữu nhân tác như thị
ngôn: Ngã đẳng kim giả, bất đoạn sanh tử, bất cầu Niết-bàn,
Niết-bàn sanh tử vô khởi diệt niệm, nhậm bỉ nhất thiết
tùy chư pháp tánh, dục cầu Viên giác. Bỉ Viên giác tánh,
phi nhậm hữu cố, thuyết danh vi bệnh.
DỊCH:
-
Hai là bệnh Nhậm. Nếu có người nói thế này: "Nay chúng
ta không đoạn sanh tử chẳng cầu Niết-bàn, Niết-bàn sanh
tử không niệm khởi diệt, mặc cho tất cả kia tùy các pháp
tánh" để cầu Viên giác. Song, tánh Viên giác kia chẳng phải
mặc tình mà có, nên nói là bệnh.
GIẢNG:
Ở
trên nói bệnh Tác tức là làm để được Viên giác,
bây giờ tới bệnh Nhậm là mặc kệ không làm gì hết,
cứ tự nhiên mặc tình đói ăn mệt ngủ cũng được tánh
Viên giác. Gần đây có một số tu sĩ mắc phải bệnh này.
Họ nói càn: "Ối! Ðói ăn mệt ngủ, cố gắng tu hành làm
chi cho nhọc xác, kềm chế làm chi mặc ra sao thì ra." Ðó là
nói theo bệnh lười biếng. Ðành rằng chúng ta có sẵn tánh
Viên giác, nhưng đang bị vô minh che phủ thì phải nỗ lực
tu hành để xé toạc màn vô minh, mới sống được với tánh
Viên giác. Chúng ta còn mê mà để mặc tình thì ngàn đời
vẫn đi trong mê muội, không thể nào tỉnh sáng!
Thí
dụ như có một tấm gương sáng để bụi phủ quá lâu. Bây
giờ có người cầm tấm gương ra họ thấy tối mò, họ không
biết là gương. Có người trí nói với họ: "Ðây là tấm
gương sáng." Nghe nói tấm gương sáng, tự nó sáng không phải
làm mà được, rồi họ để mặc không lau chùi. Nếu không
lau chùi thì nó tối suốt đời. Tuy tấm gương không ai làm
cho nó sáng được, nhưng phải lau hết bụi thì ánh sáng mới
tỏ rõ. Như vậy mình lau bụi chớ không phải làm cho gương
sáng. Cho nên nói làm cho gương sáng là bệnh, mà để mặc
tình nó cũng là bệnh nữa. Chúng ta phải hiểu rõ chỗ này
thì sự tu hành mới khỏi lầm lẫn.
Hai
bệnh tác va nhậm đối nhau.
Bệnh tác thì thúc liễm quá, dùng hình thức để tu nên lầm
vì tướng mà không thấy được tánh. Còn bệnh nhậm
thì chấp tánh, nghe nói Bản tánh không phải làm mà
ra, không phải tu mà được, nên mặc tình phóng túng. Hai cái
này đều không phù hợp với Viên giác.
ÂM:
-
Tam giả Chỉ bệnh. Nhược phục hữu nhân tác như thị ngôn:
Ngã kim tự tâm vĩnh tức chư niệm, đắc nhất thiết tánh
tịch nhiên bình đẳng, dục cầu Viên giác. Bỉ Viên giác
tánh phi chỉ hợp cố, thuyết danh vi bệnh.
DỊCH:
-
Ba là bệnh Chỉ. Nếu có người nói thế này: "Nay ta tự tâm
hằng dứt các niệm, được tất cả tánh lặng lẽ bình đẳng"
để cầu Viên giác. Song, tánh Viên giác kia chẳng phải do
dừng chỉ mà có, nên nói là bệnh.
GIẢNG:
Chỗ
này mới thật là khó, chúng ta tu được dạy phải dừng lặng
vọng tưởng, sao kinh này nói lặng là bệnh? Dừng hết vọng
tưởng chỉ còn có lặng lẽ bình đẳng thì hợp đạo quá,
tại sao ở đây nói là bệnh? Vì Viên giác là Tánh giác hằng
sáng chớ không phải do đè, dừng lại tức là đè nó xuống
thì rơi vào bệnh vô ký. Ở đây đức Phật dạy chúng ta
khi lặng hết những tạp niệm lăng xăng, vẫn biết mình có
Tánh giác tròn sáng. Ngồi thiền lúc vọng tưởng lặng hết,
tai chúng ta vẫn nghe tiếng đồng hồ tích tắc, tiếng xe chạy
ngoài đường, tiếng gà gáy. Chúng ta vẫn nghe biết chớ không
phải không ngơ không biết gì. Bệnh này rất tế nhị, chúng
ta phải dè dặt.
ÂM:
-
Tứ giả Diệt bệnh. Nhược phục hữu nhân tác như thị ngôn:
Ngã kim vĩnh đoạn nhất thiết phiền não, thân tâm tất cánh
không, vô sở hữu, hà huống căn trần hư vọng cảnh giới,
nhất thiết vĩnh tịch, dục cầu Viên giác. Bỉ Viên giác
tánh, phi tịch tướng cố thuyết danh vi bệnh.
DỊCH:
-
Bốn là bệnh Diệt. Nếu có người nói như thế này: "Nay
ta nên đoạn hẳn tất cả phiền não, thân tâm hoàn toàn không,
không sở hữu, huống là cảnh giới hư vọng của căn trần,
tất cả đều vắng lặng" để cầu Viên giác. Song, tánh Viên
giác kia chẳng phải tướng tịch diệt, nên nói là bệnh.
GIẢNG:
Chỗ
này càng khó hơn. Bởi vì đến giai đoạn này thì người
tu đã đoạn sạch phiền não, họ cho là tất cả phiền não
đoạn hết, nên thân tâm rốt ráo là không, huống nữa là
căn trần, những cái đó đều là không có. Thấy tất cả
đều lặng lẽ là đúng một phần, vì tánh Viên giác không
phải cái hoàn toàn lặng lẽ ấy. Giác thì phải biết, mà
biết thì đâu phải chỉ lặng hoàn toàn mà không biết. Như
chuyện "Bà già đốt am", khi ông thầy đã tu đến chỗ gặp
duyên xúc cảnh đọc câu thơ "Khô mộc ỷ hàn nham, Tam xuân
vô noãn khí" (Cây khô tựa trên núi lạnh, Ba mùa xuân qua
rồi mà không có chút hơi ấm), nghĩa là ông bây giờ như
cây khô lạnh trên núi, không có dấy khởi một niệm nào
nữa. Như vậy theo chúng ta là quá hay rồi, khi tất cả động
tác của người xúc chạm đến mình mà mình vẫn lặng lẽ
không dấy niệm là hay tột bậc, nhưng mà đó là bệnh thứ
tư ở đây nói. Nên bà già đó đã đốt am đuổi thầy đi
và nói "Uổng công nuôi thầy". Như vậy để thấy khô lặng
chưa phải là rồi, mà còn phải thấy được tánh Viên giác
tròn đầy của chính mình nữa. Chúng ta thấy trình độ của
bà già đó không phải là ít. Chỗ này thật khó, chúng ta
tu phải khéo nếu không thì rơi vào đoạn diệt. Người tu
mà lệch một tí là sai.
Hai
bệnh chỉ và diệt lỗi tại chưa nhận ra
tánh Viên giác cho nên thành bệnh.
ÂM:
-
Ly tứ bệnh giả, tắc tri thanh tịnh. Tác thị quán giả danh
vi chánh quán, nhược tha quán giả danh vi tà quán.
DỊCH:
-
Lìa bốn bệnh đó, thì biết đã thanh tịnh. Khởi quán như
thế là chánh quán, nếu quán khác đi gọi là tà quán.
GIẢNG:
Ðoạn
này Phật kết luận, người lìa bốn bệnh Tác, Nhậm, Chỉ,
Diệt mới hợp với tánh Viên giác; vì tánh Viên giác là Thể
thanh tịnh tròn sáng, không sanh không diệt, không nhơ không
sạch, vô vi vô lậu. Nếu chấp tướng Tác, Nhậm, Chỉ, Diệt
để cầu thì không hợp với tánh Viên giác.
Tôi
xin nhắc lại tất cả bốn bệnh cho quí vị thấy rõ hơn
từng bệnh.
Bệnh
Tác là dùng công năng huân tập hay tạo tác để mong được
đạo, như thế không phải, vì công năng huân tập tạo tác
là sanh diệt, cho nên dùng nó để mong được tánh Viên giác
là không được, bệnh này dễ hiểu.
Hai
là Nhậm, để mặc tình ra sao cũng được; chúng ta đang bị
vô minh che mà tha hồ để nó ra sao cũng được thì suốt kiếp
cứ mê hoài, bệnh này cũng dễ hiểu.
Ba
là Chỉ, tức là đè cho nó yên xuống, nghĩa là dừng vọng
tưởng. Tánh giác thì hằng tri hằng giác, mà đè nó lặng
đâu phải là giác, vì giác thì luôn luôn linh động sáng suốt
nên gọi là "liễu liễu thường tri".
Bốn
là Diệt, tất cả phiền não đều dứt, thân tâm thấy rỗng
không, cảnh giới cũng thấy rỗng không, rồi cho cái rỗng
không là đạo, đó cũng là lệch. Vì đạo là giác mà cho
thân tâm rỗng không, không có gì đâu phải là giác. Trong
nhà Thiền thường nói vô tâm. Vô tâm là không tâm sanh diệt
phiền não, chớ không phải là không có cái tâm chân thật
thanh tịnh sáng suốt. Khi chúng ta hết phiền não, hết những
niệm chạy theo cảnh theo duyên, thì tánh hằng giác, hằng
linh động hiển hiện, chớ cho rằng hết những cái đó là
rỗng không, không có gì thì không đúng.
Chúng
ta tu mà lệch một tí là xa đạo. Thật ra bốn cái này không
phải là bệnh, mà do chấp nên thành bệnh, ban đầu tu phải
nhờ nó, nhưng đến giai đoạn nào đó thì phải buông. Khi
chúng ta tu mượn Chỉ, Tác hay Diệt để trừ các phiền não,
phiền não hết thì nhận ra Tánh giác. Nếu hết phiền não
mà nhận chỗ không phiền não lặng lẽ là cứu kính thì là
lầm.
ÂM:
-
Thiện nam tử, mạt thế chúng sanh dục tu hành giả, ưng đương
tận mệnh cúng dường thiện hữu sự thiện tri thức. Bỉ
thiện tri thức dục lai thân cận ưng đoạn kiêu mạn. Nhược
phục viễn ly ưng đoạn sân hận.
DỊCH:
-
Này thiện nam, chúng sanh đời sau muốn tu hành phải trọn
đời cúng dường thờ phụng thiện hữu tri thức. Thiện tri
thức kia muốn đến thân cận phải đoạn tâm kiêu mạn, nếu
lại xa lìa phải đoạn sân hận.
GIẢNG:
Ðây
là những bệnh của học trò, tuy thành tâm thờ thầy đúng
pháp, song gần thầy được thầy dạy dỗ thì sanh tâm ngã
mạn, cho rằng: Thầy thương tôi, thầy luôn luôn lo lắng cho
tôi. Trái lại thầy có những Phật sự phải đi chỗ khác,
thì họ buồn trách: Thầy bỏ không lo cho tôi nữa, từ đây
tôi biết nương tựa ai? Rồi
phiền não. Ðó là bệnh. Quí vị xét xem có những bệnh như
vậy không? Nếu có thì phải bỏ mới đúng tinh thần của
người học đạo.
ÂM:
-
Hiện nghịch thuận cảnh, do như hư không, liễu tri thân tâm
tất cánh bình đẳng, dữ chư chúng sanh đồng thể vô dị.
Như thị tu hành phương nhập Viên giác.
DỊCH:
-
(Nếu thiện tri thức) có hiện ra cảnh nghịch thuận vẫn
như hư không, rõ biết thân tâm rốt ráo đều bình đẳng,
cùng với chúng sanh đồng thể không khác. Tu hành như thế
mới vào được tánh Viên giác.
GIẢNG:
Cảnh
thuận nghịch là như thế này. Cảnh thuận: Có Phật tử muốn
thỉnh thầy về nhà cúng dường bữa trưa, thầy ưng thuận
tới thọ trai, thì đừng vì cảnh thuận đó mà quá mến thầy.
Cảnh nghịch: Giả sử chúng ta có duyên sự cần thỉnh thầy
tới để trợ giúp. Thầy từ chối. Không vì lý do thầy từ
chối mà giận thầy. Ðó mới là Phật tử chân chánh. Tuy
nói vậy nhưng cũng hơi khó làm. Hoặc là khi vị thiện tri
thức khởi thuận hạnh khuyên lơn vỗ về bảo ráng tu thì
chúng ta bằng lòng, cho rằng thầy tôi hiền lành từ bi. Nhưng
bất thần hôm nào vị thiện tri thức la rầy thì chúng ta
cho là ông thầy sân quá, không gần nữa. Ðâu biết rằng
vị thầy muốn hiện nghịch hạnh coi chúng ta có chịu nổi
hay không? Như trường hợp ngài Từ Minh đến học đạo với
ngài Phần Dương Thiện Chiêu, ngài Từ Minh trước là một
nho sĩ, đến nhập chúng đã hai năm mà chưa được dạy bảo.
Mỗi khi Sư vào thưa hỏi, chỉ bị Phần Dương mắng chửi
thậm tệ, hoặc nghe chê bai những vị khác, nếu có dạy bảo
toàn dùng những lời thế tục thô bỉ. Một hôm Sư trách:
"Từ ngày đến pháp tịch này đã qua mất hai năm mà chẳng
được dạy bảo, chỉ làm tăng trưởng niệm thế tục trần
lao, năm tháng qua nhanh việc mình chẳng sáng, mất cái lợi
của kẻ xuất gia." Sư nói chưa dứt, Phần Dương nhìn thẳng
vào Sư mắng: "Ðây là ác tri thức dám chê trách ta." Phần
Dương nổi nóng cầm gậy đuổi đánh. Sư toan la cầu cứu,
Phần Dương liền bụm miệng Sư. Sư chợt đại ngộ, nói:
"Mới biết đạo của Lâm Tế vượt ngoài thường tình."
Thật
là lạ lùng! Chúng ta phải hiểu có những trường hợp thầy
hiện nghịch hạnh như vậy. Bởi vì người học trò khi khuyên
lơn an ủi thì vui vẻ lo tu, họ chỉ tu trong cảnh êm ái nhẹ
nhàng mới tiến, nhưng khi gặp những nghịch cảnh họ không
chịu nổi. Thầy muốn cho đồ đệ tiến hơn nên phải hiện
ra nghịch hạnh. Ở trong nghịch cảnh mà trò tiến được
mới là thứ thật. Vì vậy, ở đây đức Phật dạy rõ, giả
sử người tu có gặp nghịch hạnh thuận hạnh gì cũng xem
như không, không dính gì với mình, khen cũng vậy mà mắng
chửi cũng vậy, đều biết rõ thân tâm mình rốt ráo bình
đẳng, cùng với các chúng sanh đồng thể không khác. Người
mà được như vậy mới vào tánh Viên giác. Phật sợ chúng
sanh sau này gặp cảnh thuận thì tu được còn gặp cảnh nghịch
thì không tu, cho nên Ngài dạy trước để gặp trường hợp
nào cũng phải biết rõ ràng khỏi thoái thất Bồ-đề tâm.
ÂM:
-
Thiện nam tử, mạt thế chúng sanh bất đắc thành đạo, do
hữu vô thủy tự tha tắng ái nhất thiết chủng tử, cố
vị
giải thoát.
DỊCH:
-
Này thiện nam, chúng sanh đời sau không được thành đạo,
do có tất cả chủng tử yêu ghét, mình người từ vô thủy
nên chưa giải thoát.
GIẢNG:
Ðức
Phật nói cái gốc không thành đạo là chủng tử đối đãi
yêu-ghét, ta-người từ vô thủy đến giờ. Quí vị kiểm
lại xem còn có chủng tử đó hay không, nếu còn là chưa thành
đạo, khi nào chủng tử đó hết, không muốn thành đạo cũng
thành. Chúng ta quen thói cực đoan, nếu không yêu thì ghét,
không ghét thì yêu, chúng ta ít khi xử sự bình đẳng với
mọi người. Ðó là do tất cả chủng tử yêu ghét quá nhiều
trong tàng thức cột trói chúng ta, cho nên không được giải
thoát.
ÂM:
-
Nhược phục hữu nhân quán bỉ oan gia như kỷ phụ mẫu, tâm
vô hữu nhị, tức trừ chư bệnh. Ư chư pháp trung tự tha
tắng ái diệc phục như thị.
DỊCH:
-
Nếu lại có người xem kẻ oan gia kia như cha mẹ mình, tâm
không có hai, tức trừ các bệnh. Ðối với các pháp tự tha,
tắng ái cũng lại như thế.
GIẢNG:
Ai
xem người chửi mình, hại mình như cha mẹ mình, thì người
đó trừ được các bệnh. Bây giờ quí vị ráng tập cho được
như vậy. Chúng ta cung kính cha mẹ bao nhiêu thì cung kính người
chửi mắng mình cũng bấy nhiêu, chắc chắn là hết bệnh.
Vì có yêu mới có ghét, mà người mình ghét thấy như cha
mẹ tức là hết ghét, hết ghét đâu còn yêu nữa. Như vậy
mới trừ hết các bệnh. Trừ bệnh này là phương pháp tối
quan trọng, nếu chúng ta không dùng trí quán mạnh thì không
bao giờ tập được tâm này. Ðiều đó dễ làm hay khó làm?
Nếu khó thì khó giải thoát, khó làm mà làm được thì chắc
chắn giải thoát. Như vậy, những công thức để giải thoát
Phật đưa ra quá rõ ràng, cứ thực hành đúng công thức thì
sẽ ra đúng đáp số. Sự tu hành cũng vậy, muốn giải thoát
thì phải thực hành theo lời Phật dạy, chớ muốn cầu giải
thoát, mà từ chối không thực hành điều Phật dạy thì không
bao giờ giải thoát nổi. Bây giờ chưa được thì ráng mai
mốt phải thực hành cho được, chớ không thể từ chối
nói rằng: "Tôi căn cơ thấp lắm, Phật dạy cao quá tôi làm
không nổi." Nếu từ chối như vậy là từ chối sự giải
thoát. Quí vị xét kỹ xem có người nào đáng thương đáng
ghét không? Nếu còn thấy có người đáng thương đáng ghét
thì biết rõ chúng ta là kẻ phàm phu. Nếu chúng ta xem mọi
người bình đẳng thì chắc chắn giải thoát. Như trong kinh
Pháp Hoa phẩm Ðề-bà-đạt-đa, Phật nói: "Ðề-bà-đạt-đa
là thiện hữu tri thức bậc nhất của ta, nhờ Ðề-bà-đạt-đa
mà ta mau thành Phật." Trong khi Ðề-bà-đạt-đa bao nhiêu đời
đã hành hạ Ngài. Như vậy Ngài không thấy đó là chướng
ngại là đày đọa khổ sở, mà lại thấy đó là phương
tiện để Ngài tiến đạo. Nếu chúng ta thấy người hành
hạ đày đọa mình là người bạn lành bậc nhất làm cho
mình tiến đạo thì người cúng dường ủng hộ mình cũng
là thiện tri thức bậc nhất giúp mình đủ phương tiện tiến
đạo. Thấy cả hai là thiện hữu tri thức thì tâm bình đẳng.
Tu Ðại thừa Phật giáo là cốt phát tâm đại bi, tâm đại
bi là thương tất cả chúng sanh. Phát tâm bình đẳng là khi
nào thấy kẻ oán người thân đều bình đẳng. Phải ráng
tập hai cái đều bình đẳng thì tu hành hết bị chướng,
gặp gì cũng là duyên tốt để tiến. Chưa được vậy thì
như chiếc thuyền không có người chèo, gặp gió thuận thì
trôi lên, gặp gió nghịch thì đùa xuống. Chúng ta phải làm
sao thuận nghịch đều tiến thì mới là người tu không bệnh.
ÂM:
-
Thiện nam tử, mạt thế chúng sanh dục cầu Viên giác, ưng
đương phát tâm tác như thị ngôn: Tận ư hư không nhất thiết
chúng sanh ngã giai linh nhập cứu kính Viên giác, ư Viên giác
trung vô thủ giác giả, trừ bỉ ngã nhân nhất thiết chư
tướng. Như thị phát tâm bất đọa tà kiến.
DỊCH:
-
Này thiện nam, các chúng sanh đời sau muốn cầu Viên giác
nên phải phát tâm nói như thế này: "Tất cả chúng sanh tận
hư không, con đều khiến vào hết trong Viên giác rốt
ráo. Ở trong Viên giác không chấp thủ cái giác, trừ tất
cả tướng ngã nhân." Phát tâm như vậy không rơi vào tà kiến.
GIẢNG:
Phật
dạy khi phát tâm thì nguyện tất cả chúng sanh tột cả hư
không, nay con đều đem họ vào tánh Viên giác rốt ráo. Ở
trong tánh Viên giác không chấp thủ cái giác, trừ sạch tất
cả những tướng nhân ngã. Phát tâm như thế là không rơi
vào tà kiến. Ở đây có ai phát tâm được như vậy chưa?
Hay phát tâm tu hành để độ cha mẹ dòng họ? Chúng ta tu là
nguyện cho tất cả chúng sanh đều thể nhập Viên giác chớ
không phải chỉ nguyện riêng cho mình hay cho gia quyến mình.
Nếu chỉ nguyện riêng cho chúng ta hay gia quyến là nhân ngã
còn, mà nhân ngã còn thì không bao giờ vào được tánh Viên
giác.
ÂM:
Nhĩ
thời Thế Tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:
Phổ
Giác nhữ đương tri
Mạt
thế chư chúng sanh
Dục
cầu thiện tri thức
Ưng
đương cầu chánh kiến
Tâm
viễn Nhị thừa giả
Pháp
trung trừ tứ bệnh
Vị
Tác Chỉ Nhậm Diệt
Thân
cận vô kiêu mạn
Viễn
ly vô sân hận
Kiến
chủng chủng cảnh giới
Tâm
đương sanh hi hữu
Hoàn
như Phật xuất thế
Bất
phạm phi luật nghi
Giới
căn vĩnh thanh tịnh
Ðộ
nhất thiết chúng sanh
Cứu
kính nhập Viên giác
Vô
bỉ ngã nhân tướng
Ðương
y chánh trí tuệ
Tiện
đắc siêu tà kiến
Chứng
giác Bát Niết-bàn.
DỊCH:
Bấy
giờ đức Phật muốn lặp lại nghĩa này, nói kệ rằng:
Phổ
Giác ông nên biết
Những
chúng sanh đời sau
Muốn
cầu thiện tri thức
Nên
cầu người chánh kiến
Tâm
xa lìa Nhị thừa
Trong
pháp trừ bốn bệnh
Là
Tác, Chỉ, Nhậm, Diệt
Thân
cận không kiêu mạn
Xa
lìa không sân hận
Thấy
các thứ cảnh giới
Tâm
phải sanh hi hữu
Xem
như Phật ra đời
Không
phạm điều trái luật
Giới
căn hằng thanh tịnh
Ðộ
tất cả chúng sanh
Rốt
ráo vào Viên giác
Không
có tướng ngã nhân
Nên
y chánh trí tuệ
Liền
được khỏi tà kiến
Chứng
giác Bát Niết-bàn.
GIẢNG:
Trong
bài trùng tụng này, đức Phật lặp lại để giải rõ sự
tu hành của chúng ta như ngài Phổ Giác hỏi ở trước.
Làm
sao cầu thiện tri thức? Chọn thầy chọn bạn, phải lựa
người không tà kiến.
Phải
trừ những pháp gì? Ðừng gần gũi pháp Nhị thừa và trong
khi tu phải trừ bốn bệnh tác, chỉ, nhậm,
diệt.
Khi
gần gũi thiện tri thức phải làm sao? Khi thân cận thiện
tri thức thì chớ khinh lờn kiêu mạn, khi thiện tri thức đi
xa thì chớ sân hận. Thiện tri thức có hiện bất cứ thuận
hạnh hay nghịch hạnh thì nên khởi tâm hi hữu xem như Phật
ra đời, không nên xem thường.
Phát
tâm tu thế nào? Phải luôn luôn giữ đúng luật nghi. Dứt
tâm nhân ngã, độ tất cả chúng sanh vào Viên giác, luôn luôn
y theo trí tuệ chân chánh, người được như vậy mới vượt
ra khỏi tà kiến.
Chúng
ta là những kẻ học đạo muốn hết bệnh và sự tu hành
không lầm lẫn, không rơi vào tà kiến thì những điều đức
Phật dạy chúng ta phải nhớ. Trong bốn bệnh đó phải là
người chuyên môn mới thấy rõ. Những lối cư xử với thiện
tri thức như: gần mà không kiêu mạn, xa mà không sân hận,
đó là chuyện dễ biết dễ thấy, còn khó làm thay, huống
là coi kẻ thù như cha mẹ thật không phải đơn giản dễ
dàng. Song, nếu ai làm được mới thật là người giải thoát.
Vì đạo giải thoát là không còn thấy hai bên yêu ghét, nếu
còn kẻ thù là còn ghét, còn ghét tức là còn yêu. Chúng ta
bặt hết yêu ghét thì vào đạo không khó vậy.