Bồ-tát
Hiền Thiện Thủ
thưa
hỏi
ÂM:
Ư
thị Hiền Thiện Thủ Bồ-tát tại đại chúng trung tức tùng
tòa khởi đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, trường
quì xoa thủ nhi bạch Phật ngôn:
-
Ðại bi Thế Tôn quảng vị ngã đẳng cập mạt thế chúng
sanh khai ngộ như thị bất tư nghì sự. Thế Tôn, thử Ðại
thừa giáo danh tự hà đẳng? Vân hà phụng trì? Chúng sanh
tu tập đắc hà công đức? Vân hà sử ngã hộ trì kinh nhân?
Lưu bố thử giáo chí ư hà địa?
Tác
thị ngữ dĩ, ngũ thể đầu địa, như thị tam thỉnh, chung
nhi phục thủy.
DỊCH:
Lúc
đó Bồ-tát Hiền Thiện Thủ ở trong đại chúng liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu
bên phải ba vòng, quì gối chấp tay bạch Phật rằng:
-
Ðức Thế Tôn đại bi, vì chúng con và chúng sanh đời sau
khai ngộ rộng rãi những việc không thể nghĩ bàn như thế.
Bạch Thế Tôn, kinh Ðại thừa này tên là gì? Làm sao phụng
trì? Chúng sanh tu tập được những công đức gì? Chúng con
làm sao bảo hộ người trì kinh? Nên lưu bố kinh giáo này
đến nơi nào?
Thưa
lời đây rồi năm vóc gieo xuống đất, thưa hỏi như thế
lặp lại ba lần.
GIẢNG:
Ðây
là chương rốt sau, trong chương này ngài Hiền Thiện Thủ
đứng ra thưa hỏi. Thu là trước, là người đứng
đầu trong hàng Hiền thiện. Tại sao Ngài lại hỏi ở đoạn
chót này? Thường phần chót các kinh là phần lưu thông, lưu
thông có nghĩa là truyền bá. Người đem chánh pháp truyền
bá sau này gọi là người lành bậc nhất, người hiền bậc
nhất nên gọi là Hiền Thiện Thủ. Ngài đặt năm câu hỏi:
1.
Kinh này tên gì?
2.
Làm sao phụng trì?
3.
Người tu tập kinh này có công đức gì?
4.
Chúng con làm sao bảo hộ người trì kinh?
5.
Kinh này nên lưu bố đến chỗ nào?
ÂM:
Nhĩ
thời Thế Tôn cáo Hiền Thiện Thủ Bồ-tát ngôn:
-
Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử, nhữ đẳng nãi năng vị
chư Bồ-tát cập mạt thế chúng sanh, vấn ư Như Lai như thị
kinh giáo công đức danh tự. Nhữ kim đế thính, đương vị
nhữ thuyết.
Thời
Hiền Thiện Thủ Bồ-tát phụng giáo hoan hỉ cập chư đại
chúng mặc nhiên nhi thính.
DỊCH:
Khi
ấy Thế Tôn bảo Bồ-tát Hiền Thiện Thủ rằng:
-
Lành thay, lành thay! Này thiện nam, các ông mới hay vì Bồ-tát
và chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai, những danh tự công
đức của kinh như thế, nay ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông
nói.
Khi
ấy Bồ-tát Hiền Thiện Thủ vâng lời dạy, cùng đại chúng
yên lặng lắng nghe.
GIẢNG:
Phật
tán thán Bồ-tát Hiền Thiện Thủ và bảo phải chăm chú nghe
lời Phật dạy.
ÂM:
-
Thiện nam tử, thị kinh bá thiên vạn ức hằng hà sa chư Phật
sở thuyết, tam thế Như Lai chi sở thủ hộ, thập phương
Bồ-tát chi sở qui y, thập nhị bộ kinh thanh tịnh nhãn mục.
Thị kinh danh Ðại Phương Quảng Viên Giác Ðà-la-ni, diệc
danh Tu-đa-la Liễu Nghĩa, diệc danh Bí Mật Vương Tam-muội,
diệc danh Như Lai Quyết Ðịnh Cảnh Giới, diệc danh Như Lai
Tạng Tự Tánh Sai Biệt, nhữ đương phụng trì.
DỊCH:
-
Này thiện nam, kinh này do trăm ngàn muôn ức hằng hà sa chư
Phật nói ra, là chỗ bảo hộ của ba đời chư Phật, là chỗ
qui y của mười phương Bồ-tát, là con mắt thanh tịnh của
mười hai bộ kinh. Kinh này tên là Ðại Phương Quảng Viên
Giác Ðà-la-ni, cũng tên Tu-đa-la Liễu Nghĩa, cũng tên Bí Mật
Vương Tam-muội, cũng tên Như Lai Quyết Ðịnh Cảnh Giới,
cũng tên Như Lai Tàng Tự Tánh Sai Biệt, ông nên phụng trì.
GIẢNG:
Kinh
Viên Giác không phải một mình Phật Thích-ca nói mà các đức
Phật trong mười phương nhiều như cát sông Hằng cũng đều
nói kinh này. Vì kinh này có tầm quan trọng như thế nên các
đức Như Lai trong ba đời thường gìn giữ bảo hộ, và chư
Bồ-tát trong mười phương cũng đều qui y. Kinh này là con
mắt thanh tịnh của mười hai bộ kinh.
Kinh
này có nhiều tên:
-
Ðại Phương Quảng Viên Giác Ðà-la-ni: Ðại Phương
Quảng là chỉ cho tầm rộng lớn vượt qua thời gian và không
gian của tánh Viên giác. Ðà-la-ni là tổng trì hay là bao trùm,
tức là tánh Viên giác bao trùm cả thời gian và không gian.
-
Tu-đa-la Liễu Nghĩa: Tu-đa-la là tiếng Phạn, Trung
Hoa dịch là kinh. Kinh này thuộc về kinh liễu nghĩa. Kinh Phật
có chia ra kinh liễu nghĩa và kinh bất liễu nghĩa. Kinh liễu
nghĩa là kinh nói cùng tột rốt ráo; kinh bất liễu nghĩa là
kinh nói tùy theo căn cơ của người, vì Phật dùng phương
tiện thích hợp để cho họ hiểu mà tu tập từ từ, nên
Phật không nói đến lý tột cùng.
-
Bí Mật Vương Tam-muội: Bí mật là sâu kín, khó
thấu tột, Vương là vua, Tam-muội là chánh định. Bí Mật
Vương Tam-muội là Vua trong các chánh định, Ðây là cái chánh
định hằng có nơi mọi chúng sanh mà chúng sanh không thấy
không biết nên nói là bí mật.
-
Như Lai Quyết Ðịnh Cảnh Giới là cảnh giới
quyết định của Như Lai, cảnh giới Viên giác chỉ có đức
Như Lai mới quyết định chứng nhập được. Từ Bồ-tát
Ðẳng giác trở xuống còn ở trong vòng cầu chứng nhập nên
chưa quyết định được.
-
Như Lai Tàng Tự Tánh Sai Biệt: Như Lai Tàng là
Như Lai còn tiềm ẩn trong tâm của chúng sanh, tức là tánh
Viên giác còn bị triền phược vậy. Tự tánh sai biệt là
Tự tánh Viên giác tùy duyên ứng hiện các pháp sai khác.
Ở
đây đề tên Kinh Viên Giác là rút gọn, nếu nói đủ
là nói nhiều tên như trên.
ÂM:
-
Thiện nam tử, thị kinh duy hiển Như Lai cảnh giới, duy Phật
Như Lai năng tận tuyên thuyết, nhược chư Bồ-tát cập mạt
thế chúng sanh y thử tu hành, tiệm thứ tăng tiến chí ư Phật
địa. Thiện nam tử, thị kinh danh vi đốn giáo Ðại thừa,
đốn cơ chúng sanh tùng thử khai ngộ, diệc nhiếp tiệm tu
nhất thiết quần phẩm. Thí như đại hải bất nhượng tiểu
lưu nãi chí văn manh cập a-tu-la ẩm kỳ thủy giả giai đắc
sung mãn.
DỊCH:
-
Này thiện nam, Kinh này chỉ hiển bày cảnh giới Như Lai nên
chỉ có Như Lai mới hay tuyên nói. Nếu các Bồ-tát và chúng
sanh đời sau y đây tu hành thì dần dần tăng tiến đến địa
vị Phật. Này thiện nam! Kinh này tên là Ðại thừa đốn
giáo, chúng sanh căn cơ đốn từ đây được khai ngộ, kinh
này cũng nhiếp tất cả chúng sanh tiệm tu. Thí như biển lớn
không bỏ sót các dòng nước nhỏ, cho đến ruồi muỗi và
a-tu-la uống nước biển đều được no đủ.
GIẢNG:
Kinh
này nói về cảnh giới Viên giác nên chỉ có Phật mới thấu
triệt, còn từ Bồ-tát trở xuống chỉ y theo đây tu mà thôi.
Trong
kinh nói thần a-tu-la đưa tay che được mặt trời ắt hẳn
thân phải to lắm. Thế mà a-tu-la uống nước biển đến no
mà biển vẫn không cạn, còn loài có thân nhỏ xíu như ruồi
nhặng uống nước biển cũng no. Ðiều này để nói lên biển
cả thênh thang không phân biệt lớn nhỏ, loài nào uống nước
biển cũng được lợi ích no đủ. Cũng vậy, người căn cơ
bậc thượng đối với kinh này mà thâm nhập được thì thể
nhập tánh Viên giác. Người tiểu trí độn căn mà hiểu được
tu được, cũng thể nhập tánh Viên giác. Như vậy kinh không
dành cho riêng ai.
ÂM:
-
Thiện nam tử, giả sử hữu nhân, thuần dĩ thất bảo tích
mãn tam thiên đại thiên thế giới, dĩ dụng bố thí bất
như hữu nhân văn thử kinh danh cập nhất cú nghĩa. Thiện
nam tử, giả sử hữu nhân, giáo bách hằng hà sa chúng sanh
đắc A-la-hán quả, bất như hữu nhân tuyên thuyết thử kinh
phân biệt bán kệ.
DỊCH:
-
Này thiện nam, giả sử có người thuần dùng bảy báu đầy
cả tam thiên đại thiên thế giới đem bố thí, không bằng
người nghe tên kinh này và hiểu nghĩa lý một câu. Này thiện
nam, giả sử có người giáo hóa trăm ngàn hằng hà sa số
chúng sanh đắc quả A-la-hán, không bằng người tuyên nói
rành rẽ nửa bài kệ của kinh này.
GIẢNG:
Phật
nói người dùng bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế
giới đem bố thí, phước đức không bằng người nghe tên
kinh này và hiểu nghĩa lý một câu. Tại sao thế? Vì bố thí
bảy báu tuy có phước nhiều, nhưng là phước hữu lậu, hưởng
một thời gian giới hạn rồi sẽ hết. Còn nghe tên kinh này
và hiểu nghĩa lý một câu, tuy ít nhưng đã gieo được hạt
giống vô lậu, sớm muộn gì cũng tu và cũng đạt được
quả vô lậu, vì vậy mà quí hơn phước hữu lậu.
Người
giáo hóa vô số chúng sanh tu đắc quả A-la-hán, công đức
không bằng người tuyên nói rành rẽ nửa bài kệ của kinh
này. Tại sao vậy? Vì khi một người nghe nửa bài kệ của
kinh này, đủ lòng tin tu tới chỗ cứu kính là thể nhập
tánh Viên giác tức là thành Phật, có vô số diệu dụng làm
lợi ích cho chúng sanh không thể tính kể. Còn trăm ngàn người
tu chứng quả Thanh văn, các ngài dứt thọ tưởng ngang đó
nhập Diệt tận định, không ra giáo hóa làm lợi ích cho chúng
sanh, nên nói người giáo hóa vô số chúng sanh đắc quả A-la-hán,
không bằng người tuyên nói rành rẽ nửa bài kệ của kinh
này. Ngày nay chúng ta không hiểu nghĩa lý, chấp trên văn tự,
đem kinh ra giảng giải rồi tự cho là mình có phước đức
nhiều, đó là một lầm lẫn lớn. Học là phải hiểu cho
tới nơi tới chốn thì khi thực hành mới được lợi ích.
ÂM:
-
Thiện nam tử, nhược phục hữu nhân văn thử kinh danh tín
tâm bất hoặc, đương tri thị nhân phi ư nhất Phật nhị
Phật chủng chư phước tuệ, như thị nãi chí tận hằng hà
sa nhất thiết Phật sở, chủng chư thiện căn văn thử kinh
giáo. Nhữ thiện nam tử, đương hộ mạt thế thị tu hành
giả, vô linh ác ma cập chư ngoại đạo não kỳ thân tâm,
linh sanh thối khuất.
DỊCH:
-
Này thiện nam, nếu có người nghe tên kinh này lòng tin không
nghi, nên biết người ấy chẳng phải ở nơi một đức Phật
hai đức Phật gieo trồng phước tuệ như thế cho đến ở
nơi hằng hà sa tất cả đức Phật trồng các căn lành nghe
kinh giáo này. Này thiện nam, nên hộ trì những người ở
đời sau tu hành, chớ để những loài ác ma và ngoại đạo
làm não hại thân tâm họ khiến cho họ sanh tâm lui sụt.
GIẢNG:
Phật
nói người nghe kinh này tâm không sanh nghi hoặc, người đó
không phải mới gieo trồng căn lành ở một đời đức Phật,
hai đời đức Phật mà gieo trồng căn lành ở vô số đức
Phật rồi. Những người đó đã từng nghe kinh này nên bây
giờ nghe không nghi. Và Phật bảo các vị Bồ-tát hộ trì
cho người đời sau thọ trì tu hành theo kinh này để họ tiến
tu, không cho tà ma làm não loạn người ấy khiến họ thoái
lui.
ÂM:
Nhĩ
thời hội trung hữu Hỏa Thủ Kim cang, Tồi Toái Kim cang, Ni-lam-bà
Kim cang đẳng, bát vạn Kim cang tinh kỳ quyến thuộc, tức
tùng tòa khởi đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, nhi
bạch Phật ngôn:
-
Thế Tôn, nhược hậu mạt thế nhất thiết chúng sanh hữu
năng trì thử quyết định Ðại thừa, ngã đương thủ hộ,
như hộ nhãn mục nãi chí đạo tràng sở tu hành xứ, ngã
đẳng Kim cang tự lĩnh đồ chúng thần tịch thủ hộ, linh
bất thối chuyển. Kỳ gia nãi chí vĩnh vô tai chướng, dịch
bệnh tiêu diệt, tài bảo phong túc, thường bất phạp thiểu.
DỊCH:
Khi
ấy trong hội có Hỏa Thủ Kim cang, Tồi Toái Kim cang, Ni-lam-bà
Kim cang. Tám vạn Kim cang cùng với quyến thuộc liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên
phải ba vòng, bạch Phật rằng:
-
Bạch Thế Tôn, nếu tất cả chúng sanh đời sau có thể thọ
trì Ðại thừa quyết định này, chúng con sẽ bảo hộ người
đó như giữ tròng con mắt của mình vậy; cho đến nơi đạo
tràng của người này tu hành, hàng Kim cang chúng con tự lãnh
đồ chúng ngày đêm bảo vệ, khiến cho chẳng thoái chuyển;
cho đến nhà của họ hằng không có tai chướng, bệnh dịch
đều tiêu trừ, những tài bảo đều đầy đủ thường không
thiếu thốn.
GIẢNG:
Nếu
chúng ta tu đúng theo tinh thần kinh Viên Giác thì các thần
Kim cang bảo hộ cho chúng ta không bệnh tật, không tai ách,
không để cho chúng ta thiếu thốn. Nhưng vì Phật dạy một
đàng chúng ta làm một nẻo, hoặc dạy mười chỉ làm có
một hay không tới một. Người tu hay có cái bệnh là tu thì
không chịu tu mà cứ cầu thần ủng hộ. Các ngài nguyện
là nguyện ủng hộ người tu chớ không ủng hộ người chỉ
cầu suông. Không chịu tu mà cứ cầu hoài làm sao các ngài
ủng hộ được. Hiểu như vậy mới thấy mình tu không cần
cầu các ngài cũng ủng hộ, còn không chịu tu mà cứ cầu,
các ngài có ủng hộ không?Nếu
chúng ta tu đến chỗ không còn thấy người nào đáng ghét
và người nào đáng thương, thương ghét bình đẳng thì chắc
chắc các ngài luôn luôn ủng hộ như ủng hộ tròng con mắt.
Chúng ta thương thì đưa cao trên núi, ghét thì hạ thấp dưới
vực thẳm. Làm sao các ngài ủng hộ được? Ủng hộ để
chúng ta làm chuyện bất công sao? Lòng chúng ta còn thương
còn ghét thì ủng hộ cho chúng ta khoẻ có tiền của để
chúng ta làm theo chuyện thương ghét của mình hay sao? Vì không
đúng lời Phật dạy nên không được ủng hộ, chúng ta mới
bị cảnh này cảnh kia nhiễu loạn, nếu chúng ta tu đúng như
lời Phật dạy thì không đến nỗi nào.
Chỉ
một việc Phật bảo xem kẻ thù như cha mẹ mà chúng ta làm
cũng không xong, có khi quên rồi cũng nổi giận đùng đùng.
Chúng ta không biết lỗi mình, cứ trách sao các ngài nguyện
hộ vệ người tu mà không hộ vệ để cho phải bị những
chướng nạn. Cũng như chúng ta muốn giúp người học để
thành tài, nhưng họ lười biếng quá cứ bỏ học đi chơi,
chúng ta không ủng hộ họ nữa. Người ấy trách tại sao
chúng ta hứa ủng hộ cho họ học đến nơi đến chốn bây
giờ bỏ nửa chừng. Trường hợp ấy nên trách ai? Tại sao
không tự trách mà lại trách người?
ÂM:
Nhĩ
thời Ðại Phạm vương nhị thập bát Thiên vương, tinh Tu-di
sơn vương, Hộ Quốc thiên vương đẳng tức tùng tòa khởi,
đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, nhi bạch Phật ngôn:
-
Thế Tôn, ngã diệc thủ hộ thị trì kinh giả thường linh
an ẩn, tâm bất thối chuyển.
DỊCH:
Khi
ấy Ðại Phạm vương và hai mươi tám vị Thiên vương, cùng
với Tu-di sơn vương, Hộ Quốc thiên vương. liền từ chỗ
ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên
phải ba vòng, bạch Phật rằng:
-
Bạch Thế Tôn, con cũng hộ trì người trì kinh khiến họ
được an ổn tâm không thoái chuyển.
GIẢNG:
Chẳng
những các thần Kim Cang phát tâm bảo hộ người trì kinh mà
chư thiên cũng nguyện ủng hộ nữa.
ÂM:
Nhĩ
thời hữu Ðại Lực quỉ vương danh Kiết-bàn-trà dữ thập
vạn Quỉ vương, tức tùng tòa khởi, đảnh lễ Phật túc,
hữu nhiễu tam táp, nhi bạch Phật ngôn:
-
Thế Tôn, ngã diệc thủ hộ thị trì kinh nhân triêu tịch
thị vệ linh bất thoái khuất, kỳ nhân sở cư nhất do-tuần
nội, nhược hữu quỉ thần xâm kỳ cảnh giới, ngã đương
sử kỳ toái như vi trần.
DỊCH:
Khi
ấy có Ðại Lực quỉ vương tên là Kiết-bàn-trà cùng với
mười muôn Quỉ vương, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ
dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải ba vòng, bạch Phật rằng:
-
Bạch Thế Tôn, chúng con cũng nguyện sớm chiều bảo hộ hầu
hạ người trì kinh này, khiến cho chẳng thoái chuyển. Người
trì kinh ở chỗ nào trong khoảng một do-tuần, nếu có quỉ
thần xâm phạm vào cảnh giới ấy con sẽ đập nát bọn đó
như hạt bụi.
GIẢNG:
Nếu
có quỉ thần nào bén mảng đến chỗ người trì kinh thì
Ðại Lực quỉ vương sẽ đập nát như hạt bụi. Như vậy
là quá bảo đảm, người tu mà có thần Kim cang, chư thiên
cho tới các Quỉ vương cũng bảo hộ thì không ai phá phách
được, nhưng với điều kiện vị đó tu đúng, nếu tu sai
hoặc lười biếng thì gặp nạn, phải chịu lấy chớ đừng
trách các ngài không bảo hộ.
ÂM:
Phật
thuyết thử kinh dĩ, nhất thiết Bồ-tát, thiên, long, quỉ
thần, bát bộ quyến thuộc, cập chư Thiên vương, Phạm vương
đẳng, nhất thiết đại chúng văn Phật sở thuyết giai đại
hoan hỉ tín thọ phụng hành.
DỊCH:
Phật
nói kinh này xong, tất cả Bồ-tát, thiên, long, quỉ thần,
bát bộ quyến thuộc và các Thiên vương, Phạm vương. tất
cả đại chúng nghe Phật dạy rồi đều rất vui vẻ tin nhận
vâng làm.
GIẢNG:
Nghe
rồi phải tin nhận vâng làm, đó mới là thiết yếu.
Chúng
ta đã học xong bộ kinh Viên Giác, học thì xong mà người
tu thì từng phần giác cũng chưa được. Chúng ta thiếu phước
duyên nên ra đời không gặp Phật trực tiếp để Ngài chỉ
dạy tu hành tiến cho mau. Nhưng xét lại, chúng ta cũng còn
chút phước duyên, tuy cách Phật đã hơn hai ngàn năm mà còn
được pháp Phật để học, và nhận ra những điều Phật
nói đúng với lẽ thật để ứng dụng tu. Phước duyên đó
không phải mới có đây mà đã có từ lâu xa rồi. Ngày nay,
nhất là những người được đầu tròn áo vuông ngồi ở
trong đạo tràng nghe kinh học đạo, sống trong luật lệ nhà
chùa là do chủng duyên chủng phước từ nhiều đời nhiều
kiếp. Nhiều đời nhiều kiếp đã có chủng duyên chủng phước,
chẳng lẽ ngang đây lơ là để cho chủng duyên chủng phước
thúi mục sao? Chúng ta phải ráng săn sóc phơi phong cho kỹ,
đừng để hư hao bởi lý do này hoặc lý do khác. Như vậy
mới xứng đáng. Vì trong kinh Phật có nói: Những người ngày
nay nghe kinh Viên Giác mà hiểu được không nghi, là do chẳng
những một kiếp mà đã vô lượng kiếp gặp Phật gieo trồng
căn lành phước tuệ rồi, chớ đâu phải chuyện ngẫu nhiên.
Chúng ta tự nhận rằng mình đã có căn lành, mà căn là cái
gốc, gốc cây chắc chắn thì cây sẽ lên tược đơm hoa kết
quả. Chỉ có những người có gốc sẵn mà không chịu săn
sóc, để cho sâu bọ hoặc để cho người khác chặt phá đó
là cái lỗi không biết gìn giữ. Ðã có gốc lành thì cố
gắng phát triển. Căn cứ theo lời Phật dạy mỗi người
phải nỗ lực tiến tu.
*
Ở
đây tôi tóm lại cho dễ nhớ.
Toàn
bộ kinh Viên Giác gồm có mười hai chương. Mỗi chương có
một vị Bồ-tát đại diện đứng ra thưa hỏi.
Chương
đầu Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đứng ra hỏi Phật về công
hạnh tu hành ban đầu của Phật, tu thế nào được viên mãn
thành Phật? Ðó là chủ yếu của toàn bộ kinh. Ðức Phật
trả lời: Tu là sống lại với Tánh giác tròn đầy chớ không
có gì khác. Nhưng muốn trở lại với Tánh giác tròn đầy
thì trước phải biết rõ vô minh. Vì vô minh nên chấp tứ
đại là thân mình thật, chấp vọng tưởng là tâm mình thật.
Kế đó Phật dạy chúng ta quán từng phần thân để thấy
rõ thân không thật. Nhìn kỹ tâm thức, thấy tâm thức chỉ
là bóng dáng sáu trần chợt hiện chợt mất, nó không thật.
Buông được hai cái lầm chấp về thân tâm thì sẽ sống
được với Tánh giác.
Sau
đó các Bồ-tát tuần tự hỏi về phương pháp tu. Phật dạy
tu Chỉ, Quán, Thiền, hoặc tu đơn hoặc tu ghép. Chúng ta thấy
toàn bộ kinh Phật dạy không ngoài ba pháp tu, ba pháp tu đó
là căn bản giúp cho chúng ta sống với Tánh giác:
1-
Chỉ: Dừng tâm lóng lặng.
2-
Quán: Có hai cách, quán hạnh của chư Phật Bồ-tát hoặc quán
các pháp như huyễn hóa, thấy rõ các pháp như vậy.
3-
Thiền
Chúng
ta thấy rõ muốn làm Phật thì không gì khác hơn là tu Chỉ,
Quán và Thiền. Tuy nói ba chớ thật là Thiền trùm hết, Thiền
gồm cả định và tuệ. Ðịnh là Chỉ. Tuệ là Quán. Vậy
tu Thiền là cội gốc mà đức Phật chỉ cho chúng ta trở
về với Tánh giác, muốn sống trọn vẹn với Tánh giác, không
có cách nào khác hơn.
Ðến
chương Phổ Giác Phật chỉ rõ trong khi tu có những bệnh:
-
Bệnh tác: Cho rằng dụng công nhiều, làm các công hạnh
nhiều là được thành Phật. Ðó là bệnh.
-
Bệnh nhậm: Nghe Phật nói chúng ta đều có Phật tánh
nên họ mặc tình không tu hành gì hết. Ðó là bệnh.
-
Bệnh chỉ: là đè cho vọng tưởng lặng xuống cho đó
là đạo.
-
Bệnh diệt: là diệt hết phiền não cho tâm rỗng không,
cho cái rỗng không khô lạnh đó là cứu kính của đạo.
Những
bệnh đó làm chúng ta mắc kẹt, tu không đến Viên giác được.
Nếu bỏ bốn bệnh đó mới tu đến cứu kính viên mãn.
Cuối
cùng Bồ-tát Hiền Thiện Thủ đứng ra thưa hỏi. Ðó là khi
chúng ta tu viên mãn công đức không thể nghĩ lường. Cho nên
đây hỏi công đức của kinh, công đức của người trì kinh,
các vị ủng hộ kinh v.v.
Người
học đạo muốn được giác ngộ phải y đó mà tu thì sớm
muộn gì cũng tới, ngoại trừ chúng ta không chịu tu hoặc
chúng ta tu cách khác. Người học đạo phải hiểu rõ, thành
đạo không phải ở chỗ học suông, kiến giải rộng, mà
ở chỗ học hiểu để tu, học mà không hành thì không tới
đâu hết.