Về đề
kinh, ở chương 12, Bồ-tát Hiền Thiện Thủ hỏi Phật tên
kinh này. Phật trả lời đến năm tên:
1. Ðại Phương
Quảng Viên Giác Ðà-la-ni.
2.
Tu-đa-la Liễu Nghĩa.
3.
Bí Mật Vương Tam-muội.
4.
Như Lai Quyết Ðịnh Cảnh Giới.
5. Như Lai
Tàng Tự Tánh Sai Biệt.
Năm tên này
được rút gọn lại là Ðại Phương Quảng Viên Giác Tu-đa-la
Liễu Nghĩa.
ÐẠI PHƯƠNG
QUẢNG VIÊN GIÁC
Theo ngài
Khuê Phong Tông Mật thì mỗi chúng sanh có thể chân thật
rộng lớn trùm khắp pháp giới, nên gọi là Ðại. Thể
chân thật ấy hay gìn giữ tất cả quỹ tắc, và hay sanh khởi
ra muôn pháp, nên gọi là Phương. The chân thật
ấy có đầy đủ diệu dụng không thể nghĩ lường, nên gọi
là Quảng.
Theo ngài
Thái Hư thì Ðại là chỉ cho cái thể tuyệt đối,
vượt ngoài các pháp đối đãi. Ðại không có nghĩa
là lớn đối với tiểu là nhỏ. Phương chỉ cho phương
sở, Thể tuyệt đối ấy rộng lớn không ngằn mé, vượt
khỏi không gian và thời gian. Quảng là rộng lớn không
thể nghĩ lường.
Ðại Phương
Quảng chỉ cho nghĩa của Viên giác. Viên là tròn, giác
là giác ngộ; giác ngộ một cách viên mãn gọi là Viên giác.
Viên giác chỉ cho cảnh giới Phật. Kinh Phật giản trạch:
Phàm phu thì bất giác, ngoại đạo thì tà giác, Nhị thừa
thì chánh giác, Bồ-tát thì phần giác, Phật thì Viên giác.
Chỉ có Phật mới giác ngộ viên mãn. Phàm phu vì bất giác
nên không thấy được tánh Phật. Ngoại đạo thì tà giác,
tuy biết nhưng biết lệch lạc sai lầm. Hàng Nhị thừa tuy
được chánh giác nhưng giác chưa rộng lớn. Bồ-tát tuy thấy
tánh Phật nhưng thấy từng phần nên gọi là phần giác. Hành
giả dụng tâm tu hành, công phu viên mãn, tánh Phật hiển hiện
tròn đầy gọi là Viên giác. Như vậy Ðại Phương Quảng
Viên Giác là tánh Viên giác tròn đầy rộng lớn không ngằn
mé, trùm khắp pháp giới, vượt ngoài không gian và thời gian,
là nguồn gốc sanh ra muôn pháp, diệu dụng không thể nghĩ
lường.
TU-ÐA-LA
LIỄU NGHĨA
Tu-đa-la
(Sùtra) nguyên là chữ Phạn, Trung Hoa dịch là Kinh. Phàm những
lời Phật dạy được kết tập lại có hệ thống gọi là
Kinh. Kinh có kinh liễu nghĩa và kinh bất liễu nghĩa. Trong kinh
Ðại Bảo Tích có những đoạn Phật nói với ngài Xá-lợi-phất:
- Nói những
việc thế gian là bất liễu nghĩa, nói về thắng nghĩa là
liễu nghĩa.
- Nói mà
tạo nghiệp phiền não là bất liễu nghĩa, nói để nghiệp
phiền não sạch là liễu nghĩa.
- Nói mà
chán lìa sanh tử tìm cầu Niết-bàn là bất liễu nghĩa, nói
sanh tử Niết-bàn không hai là liễu nghĩa.
- Nói về
các thứ văn cú sai biệt là bất liễu nghĩa, nói pháp sâu
xa khó thấy khó giác là liễu nghĩa.
Qua bốn đoạn
Phật giản trạch về liễu nghĩa và bất liễu nghĩa, thì
kinh Viên Giác thuộc về kinh liễu nghĩa, vì kinh Viên Giác
nói tột lý cứu kính không qua một phương tiện nào.
Về hình
thức, kinh Viên Giác có chỗ gom thành một quyển, có chỗ
chia ra hai quyển, gồm mười hai chương mục, mỗi chương có
một vị Bồ-tát đại diện đứng ra thưa hỏi và được
Phật trả lời hướng dẫn tu rất rõ ràng.