KỶ NIỆM 745
NĂM KHÁNH ĐẢN
ĐỨC ĐIỀU
NGỰ GIÁC HOÀNG
(Im
Lặng Sấm Sét)
(Kính
dâng kỷ niệm 745 năm ngày Khánh Đản của Đức Điều Ngự
Giác Hoàng. Một bậc Thánh Quân, một biểu tượng của sự
hài hòa tôn giáo và dân tộc, 1258-2003)
Trúc
Lâm Lê An Bình
Đức
Điều Ngự Giác Hoàng tức Hoàng Đế Trần Nhân Tông (*) là
con lớn của Thượng hoàng Trần Thánh Tông. Ngài húy là Khâm,
đản sanh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258), niên hiệu Nguyên
Phong thứ 8 (1258). Năm Mậu Dần (1278) ngày 12 tháng 2 được
truyền ngôi vua, đổi niên hiệu là Thiệu Bảo. Khi đản sanh
ngài có được tinh anh của bậc thánh nhân, đạo mạo thuần
túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi
sáng, hai vị hoàng phi đều cho là lạ, gọi là «Kim Tiền
Đồng Tử» (sách Tam Tổ Thực Lực ghi Kim Phật).
Ngài
đã hai lần lãnh đạo quân dân Đại Việt và cùng với các
danh tướng như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Nhân Huệ
Vương Trần Khánh Dư, Bảo Nghĩa Hầu Trần Bình Trọng, Hoài
Văn Hầu Trần Quốc Toản, Tướng quân Nguyễn Khoái v.v…xóa
tan mộng xâm lăng nước ta của quân Mông-cổ do Hốt-Tất-Liệt
cầm đầu.
Sau
khi tạo nên những chiến thắng lẫy lừng lịch sử cổ kim,
cũng như giữ gìn được toàn vẹn lãnh thổ và độc lập
quốc gia, Hoàng đế Trần đã nhẹ nhàng thoái vị nhường
ngôi vua cho thế tử Trần Anh Tông thay cha trị nước(*). Sau
đó, dũ sạch hồng trần xuất gia và trở thành thiền sư
Điều Ngự Giác Hoàng, đồng thời là sơ tổ của phái thiền
Trúc Lâm Yên Tử. Một phái thiền hoàn toàn do người nước
Đại Việt chủ xướng và hành trì. Ngài biểu hiện sự thẩm
thấu tâm linh trong tuyệt phẩm Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo
Ca, quyển này có đoạn viết như sau:
Niệm
lòng vằng vặc
Giác
tính quang quang ;
Chẳng
còn bỉ thử
Tranh
nhân chấp ngã
Trần
duyên rũ hết
Thị
phi chẳng hề
Chúng
ta hãy thử nhìn ra bờ biển sẽ thấy từng đợt sóng từng
đợt sóng lớn có nhỏ có liên tục liên tục theo gió thổi
mà bềnh bồng trôi tắp vào bờ không ngưng nghĩ. Đó là một
thí dụ cho thấy bên ngoài sự vật lưu chuyển như thế nào
thì trong tâm của chúng ta nó chuyển động như thế ấy. Hết
dòng tư tưởng này đến ngọn sóng vọng tưởng khác cuồn
cuộn tràn lên lớp sau dồn lớp trước mãi mãi không ngừng.
Do đó ngay từ khi còn hơi thở, mỗi người không ít nhiều
cảm nhận mình đang ở trong vòng luân hồi sanh tử trong từng
giây phút một, chứ không đợi tới khi nhắm mắt lìa trần,
tùy theo nghiệp duyên mà đi vay mượn một hình hài khác. Cứ
thế, xoay vần hết kiếp này đến kiếp khác. Vì vậy để
cảnh giác chúng sanh về nguy cơ này, ngài Điều Ngự Giác
Hoàng đã nói: «…chớ cho sống chết là chuyện chơi».
Ý
thức được điều đó nên mọi người Phật tử đều gắng
sức thực hành pháp môn nào mà cảm thấy thích hợp với
căn cơ của mình. Dù là thiền tông, tịnh độ hay duy thức
hoặc hành trì thần chú, nhưng trăm sông vẫn tuôn về biển.
Biển đó là biển giác. Trên đường tu học, điều đầu
tiên mà người Phật tử cần thực hiện đó là giữ gìn
giới luật cho vẹn toàn. Nền tảng giới luật được thực
hiện để kềm chế các niệm lòng cho chúng bớt phát khởi,
dần dần khi nó đã thuần thục ta đi đến chỗ kiểm soát
không cho nó phát khởi ngoài sự kiểm soát của ta. Niệm lòng
(hay tâm niệm) muốn nói ở đây là buồn, vui, sung sướng,
đau khổ, giận hờn v.v…Có người sẽ thắc mắc, như thế
tu theo Phật giáo con người trở thành gỗ đá hết hay sao
? Người tu học theo PG là nhằm để kiểm soát tư tưởng,
hành động cũng như lời nói của mình không cho chúng phóng
túng, từ đó ta sẽ tạo được khung cảnh hạnh phúc thật
sự ở chung quanh. Chỉ có những người sống và thực hành
một cách đúng nghĩa mới cảm nhận được điều chúng tôi
vừa trình bày. Cũng ví như muốn no bụng thì phải ăn bánh
ăn cơm thật, còn ăn bánh vẽ làm thế nào no cho được?
Niệm
lòng (tham, sân, si) thực sự lắng đọng cũng ví như ly nước
đã hoàn toàn lắng xuống tất cả cát bụi sau khi đã để
yên một thời gian. Ngắn hay dài còn tùy theo ly nước đục
nhiều hay ít. Khi bụi lắng xuống ta sẽ được một ly nước
trong. Không phải là trong bình thường mà là rất trong. Cũng
vậy, ngài Điều Ngự cho ta thấy một người sau khi tiêu diệt
hết phần phiền não thì cái tâm (hay lòng) của họ sáng vô
cùng. Cũng như đêm trăng tròn ngày 15 âm lịch nếu trời không
có mây, ta sẽ thấy được cái sáng vằng vặc mà tác giả
muốn ẩn dụ cái tâm sáng không còn bị phiền não quấy rầy.
Khởi
đi từ cái tâm sáng vằng vặc do không bị phiền não câu
thúc, nên tánh giác hiển lộ. Tánh giác mà ngài đề cập
tới nó hàm chứa rất nhiều nghị lực biên trong. Chữ quang
quang xin được hiểu là nghị lực, sự quả quyết. Sự quả
quyết và nghị lực là chất xúc tác khiến cho người tu tập
đi đến tận cùng của sự giác ngộ, do đó sẽ không còn
thấy sự khác biệt giữa ta và người. Ta xem mọi người
cùng giống như nhau, tôn trọng nhau và không gây đau khổ cho
nhau. Vì ta tôn trọng người tức là tự mình tôn trọng mình,
không gây đau khổ cho người tức là không làm cho ta khổ
đau. Tác động này nó sẽ ảnh hưởng đầu tiên là tập
hợp nhỏ như gia đình, sau đó ra đến địa phương cư ngụ,
lớn hơn một chút là thành phố, tiếp thêm là kết nối giữa
những thành phố với nhau không phân biệt lớn nhỏ. Đi xa
hơn là ở phạm vi quốc gia cũng như giữa các nước với
nhau trên hành tinh. Đó là người Phật tử đã kiến lập
được nhân gian Tịnh độ. Do Tịnh độ nhân gian được kiến
lập nên sự phân biệt ta hay người, hay tranh chấp đúng sai
giữa người và ta sẽ không còn chỗ đứng. Sở dĩ có sự
tranh chấp ta người vì ta cho ta là đúng rồi bảo là người
sai. Đúng hay sai cũng nằm trong vọng tường, khi vọng tưởng
đã không còn thì đúng sai cũng theo đó mà tan. Thế rồi sự
ràng buộc trong trần thế (trần duyên) do đó mà buông xuôi
hết, ngay cả chuyện chê khen được thua xem nhẹ tợ sợi
tơ. Nói đến đây sẽ có người thắc mắc, thế thì PG chủ
trương buông bỏ tất cả mọi chuyện trên đời này hay sao,
như thế có mâu thuẩn hay khi đạo Phật thường đề cập
tới Tứ Ân cần phải báo đền? Như thế có tiêu cực hay
không?
Thực
ra PG không tiêu cực như vậy, qua trích đoạn trên, ngài Điều
Ngự giác Hoàng khuyên mọi người chúng ta nên buông bỏ tức
là không buông bỏ mà là buông bỏ. Buông bỏ là nên buông
bỏ phiền não vọng tưởng; không buông bỏ là theo đuổi
đến cùng để đạt tới mục tiêu giác tính quang quang; mà
là buông bỏ tức buông bỏ chấp nhân chấp ngã.
Do
quan niệm mở rộng như thế, ngài Điều Ngự Giác Hoàng đã
không còn là một vị thiền sư của Phật Giáo, cuộc đời
và hành trạng của ngài là biểu tượng chung cho sự hài hòa
tôn giáo và sắc tộc của một thời thịnh trị cách đây
745 năm.
Với
Im Lặng Sấm Sét, Hoàng đế Trần Nhân Tông đã lãnh đạo
thành công quân dân Đại Việt đánh bại cuộc xâm lăng của
quân tàu Mông-cổ (1285-1288). Trong Đắc Thú Lâm Tuyền Thành
Đạo Ca, ngài Điều Ngự Giác Hoàng (Hoàng đế Trần) nói:
«Niệm lòng vằng vặc, giác tánh quang quang» nó biểu lộ
cả một quá trình tập trung tâm lực, và tập trung tâm lực
tới mức tối cao. Im Lặng Sấm Sét cũng nằm trong ý nghĩa
đó. Quá trình tập trung tâm lực đó được bắt đầu từ
lúc ngài còn chưa được kế vị và được biểu lộ rõ rệt
nhất trong các cuộc xây dựng đất nước và kháng Nguyên
sau đó.
Nam
Mô Lịch Đại Tổ Sư Bồ Tát
Nam
Mô Trúc Lâm Yên Tử Điều Ngự Giác Hoàng Tổ Sư tác đại
chứng minh
Trúc
Lâm Lê An Bình(Quốc lịch 4882 Phật lịch 2546 ngày 11 tháng
11 năm Quý Mùi, tức 4/12/ dương lịch 2003)
Tham
khảo:
-
Toàn Tập Trần Nhân Tông, Giáo sư Tiến Sĩ Lê Mạnh Thát.
