LẦM
VÀ CHẤP
Cư
Sĩ Chơn Chánh
Lầm
và Chấp là hai anh em song sinh của tâm vô minh, cùng hiện tướng
ra, khắn khít như hình với bóng. Bỡi mê lầm nên sanh tâm
chấp, do chấp nên càng bị mê mờ, lầm lạc trong vô minh.
Lầm
là vì si mê của nghiệp thức mà tập theo vô minh, nên chơn
tánh bị vô minh che lấp, không tự nhận biết thế nào là
thật tánh thật tướng của vạn pháp, liền nhận các giả
pháp, hư vọng làm thật; do lầm nhận các pháp huyễn giả
làm thật có, nên mới sanh tâm chấp ngã, chấp pháp để nắm
níu, trói buộc với chúng, cũng là tô bồi, vun đắp ngày
càng lớn vô minh cho tự thân, để rồi theo nghiệp thức dẫn
dắt mà biến hiện, sanh diệt, không dừng nghỉ .
Lầm
là do sanh tâm không khế hợp được với lý đạo, vì chỗ
sanh tâm này có chỗ trụ, bị ràng buộc, trói cột với sanh
diệt pháp. Chấp là vì lầm cột buộc với vô minh nên càng
ngày càng xa lìa chơn tánh.
"Lời
giới thiệu" trên tập sách "Vấn đề ẩm thực trong đạo
Phật", tự nó cho thấy tác giả là TT Giác-Chánh đã bị
lầm, tưởng rằng mình đã đắc đạo, đã đến đi tự tại
như một bậc Thánh trong cõi này, nên sẵn sàng phá chấp (hay
phá giới, TT G.C cũng không tự biết !) mà "không chê chay
cũng chẳng đòi mặn" "nhưng không chấp nhận thành kiến
ăn chay" vì ảnh hưởng theo "tinh thần Bát-nhã !".
Lời giới thiệu đầy cột buộc với vô minh và đi ngược
lại với lòng từ bi của Giáo-lý Phật, đã được một số
huynh đệ thân cận trước đây chỉ ra giúp một cách rõ ràng
không sai chạy.
Nay
lại có người khởi tâm chấp, tuy không nói ra TT Giác-Chánh
đích thị là một ông ông Thánh sống của họ, nói gì cũng
không sai, làm gì cũng đúng nên liền đem kinh điển và chút
kiến thức hẹp hòi, cạn cợt ra mà làm chứng, để bênh
vực cho Thầy . Không biết nhóm Phù-sa trước khi làm cái việc
bênh vực này, đã có thưa thỉnh trước với Thầy Giác-Chánh
chưa, và Thầy có đồng ý bài lý luận này hay không; nếu
chưa thưa thỉnh mà đã làm, thì thật là bậy bạ hết sức,
bỡi chẳng những không bênh vực cho Thầy được chút nào,
mà còn dồn Thầy vào ngõ hẹp không lối thoát, cũng như tự
đưa mình cột buộc theo tà kiến. Ðây chính là trò hại Thầy
không sai vậy.
Ðáng
lý không có bài viết này. Nhưng chúng tôi tự nghĩ, có những
người khởi đầu tu hành rất thuần khiết, như pháp hành
trì, nhưng lần lần do tâm tự mãn, lại gặp những người
bên cạnh tâng bốc mình lên thấu trời xanh, liền tưởng
mình là một ông Thánh sống, nói gì làm gì cũng trúng, vì
mỗi lời nói ra, những người bên cạnh cứ coi như là Thánh
phán. Từ đó, ma tâm khởi dậy, nói và làm theo ma sự, xúi
người theo ma nghiệp mà không tự biết, như trường hợp
của sư Chơn-Quang đã từng mắc phải.
Do
bài "Giới thiệu" của TT. Giác-Chánh đầy ngã mạn, có thể
coi như cái dợm bước đầu tiên giữa ngã ba đường của
ma, Phật nên chúng tôi trước đây có bài viết phê bình nhẹ
nhàng cho thái độ này, để mong ông dừng bước mà suy nghĩ
lại. Không ngờ nay lại có người tâng bốc, bênh vực cho
thái độ ấy nên chúng tôi lại phải chỉ ra giùm cho họ
thấy sự tác hại của những lời tâng bốc của người bên
cạnh. Bỡi những người này lầm tưởng làm như thế là
để bênh vực cho ngôn hạnh của Thầy, hóa ra lại là làm
hại cho đường tu tĩnh của Thầy, vì làm cho tâm cống cao,
ngã mạn thêm tăng trưởng. Ngoài những lý do đó ra, chúng
tôi không có ý chỉ trích cá nhân, vì chúng tôi cũng chưa
hề biết Thầy, cũng như là lần đầu tiên biết TT. Gíac-Chánh
qua lời giới thiệu sách của ông ta.
Ðọc
bài viết "Dĩ Kinh Chứng Kinh" của nhóm Phù-Sa, chúng
tôi có mấy nhận xét.
Do
đề bài mà nhóm Phù-Sa đặt ra, là lấy kinh này làm chứng
cho kinh kia, cũng là đem tướng mà đối tướng, nên chúng
tôi xin không bàn tới đúng sai, phải trái ở đây. Vì dù
có nói tới vạn năm đi nữa cũng chẳng ích chi, bỡi việc
làm đem kinh đối kinh, tự chúng không ra ngoài trói buộc của
sở tri chứơng, cũng là không vượt thoát nổi nhị nguyên
nhơn quả.
Bỡi
cớ sao mà chúng tôi không đề cập tới nó? Bỡi Phật nói
pháp là tùy duyên mà nói. Mà đã nói là tuỳ nhân duyên nói
pháp để giác ngộ người, thì không có một pháp nhất định
nào có thể thuyết, có thể nói là đúng hay không đúng, mà
chỉ tùy duyên, tùy thời, tuỳ hoàn cảnh, tùy căn cơ của
từng đối tượng, mà Phật nói pháp.
Lại
nữa, lời của Phật nói ra luôn luôn từ Trung-Ðạo mà tuôn
chảy, không chỗ vướng mắc, nói rồi liền phủ nhận chúng,
rằng nói mà thật chỗ không nói, pháp mà thật chẳng phải
pháp, đó mới là chỗ nói chơn thật cũa Phật tâm, là diệu
thuyết; còn người thật liễu nghĩa những lời Phật dạy,
nghe pháp mà thật không chỗ nghe, mà thường nghe mới là người
diệu thính pháp vậy ; còn ở đây chúng ta hoàn toàn chưa
thâm nhập Trung-Ðạo, lại lạm dụng tri thức, biện luận
để đem những ký tự của ngôn ngữ này ra so sánh với những
ký tự của ngôn ngữ kia thì làm sao trúng được, làm sao
có thể nói là khế hợp với Phật tâm được. Bỡi thế,
đem kinh này làm chứng cho kinh kia cũng chỉ là việc làm so
sánh những lời Phật dạy trong chỗ tùy duyên, lấy chữ đối
chữ, lấy tướng so tướng, lấy vật đối vật, tràng giang
đại hải, cốt để làm giàu cho cái túi chứa tri thức sanh
diệt thì được, chứ cứ chạy theo nó mà tìm lẽ thật của
Phật tâm, thì biết đến bao giờ việc làm này mới có thể
đưa hành giả tới được chỗ đồng một cùng tâm ý của
Tổ, Phật ? Mà việc khẩn thiết trước mắt, đáng bàn của
mọi người cần tham gia ở đây chính là làm sao liễu nghĩa
những lời Phật dạy, để nương đó tu hành, nghĩa là phải
thâm nhập "một" cùng Trung-Ðạo, thì mọi việc tức khắc
được giải quyết rốt ráo, cũng là tự vượt lìa nhị nguyên
đang cột kéo chúng ta vậy. Bằng còn có chỗ tự dối mình
để phô ra cái biết, cái phải, cái đúng hay che đậy cái
không biết, cái không phải, không đúng, không tự chơn thật
với chính tự Phật ( vì còn trói buộc với tự ngã ), thì
sự tu hành của chính tự thân mỗi người, biết đến bao
giờ mới thành tựu được đây ?
Bỡi
cớ sao ? Tất cả ngôn ngữ được biểu hiện trên thế gian
đều ở trong tương đối. Cho nên, nếu chúng ta dùng biện
luận, lý giải để mà chấp nhận nên ăn chay mới là đúng,
thì chúng ta liền rơi vào chấp thiện, mà nói ngược lại
thì chúng ta lại rơi vào chấp ác, mà thiện ác đều không
dính dấp tới tự tánh, mà ngộ tánh cũng là cái đích mà
chúng ta đang nhắm tới trên suốt quãng đời tu hành trước
mặt của chúng ta vậy.
Chính
vì lẽ ấy mà ở đây chúng tôi không bàn sâu tới việc việc
đúng sai, phải trái của dĩ kinh chứng kinh, mà chúng tôi chỉ
bàn tới mỗi một chỗ, là chúng ta đã thật sự liễu nghĩa
việc ngài Huệ-Năng ăn chay mà luộc rau trong nồi thịt chưa,
cũng như có hiểu được cách rốt ráo, vượt cách, lời của
ngài Tuệ-Trung Thượng sĩ hay chưa, mà nhóm Phù-sa đưa vào
đây để bênh vực cho bài giới thiệu sách của Thượng-toạ
Giác-Chánh, mà một thời gian trước đây chúng tôi và một
số đạo hữu khác có đề cập tới.
Ngài
Huệ-Năng và việc ăn chay .
Trong
bài viết của nhóm Phù-sa, có đưa ra một đoạn trong kinh
Pháp-Bảo-đàn, Phẩm Tự-tự, để biện minh cho TT. Giác-Chánh
đã viết trong lời giới thiệu sách, là không quá cố-chấp
tập quán ăn chay.
Ðoạn
kinh được trích ra như sau :
"Huệ-Năng
sau đến Tào khê, bị một số người hung ác đố kỵ , đi
tìm để hãm hại.
(Vâng
lời Thầy – Ngũ Tổ Hoằng-Nhẫn) Huệ-Năng hiểu rõ thời
cơ, ẩn thân lánh nạn, ở với một nhóm thợ săn, tại Tứ-hội,
suốt mười sáu năm trường, thường vì nhóm thợ săn mà
tùy duyên thuyết pháp.
Nhóm
thợ săn thường bảo Huệ-Năng giữ miệng lưới; tuy nhiên,
khi thấy thú vật mắc lưới, Huệ-Năng mở lưới thả hết.
Mỗi khi đến giờ ăn, Huệ-Năng lấy rau nấu kèm trong nồi
luột thịt để dùng qua bữa, nếu có ai thấy lạ hỏi, thì
trả lời : "Ta chỉ thích ăn rau luộc trong nước thịt mà
thôi".
Bài
viết của nhóm Phù-sa cũng kèm theo bài "Phụ chú của Hòa-thượng
Thích Nhật-Long" :
"15
năm ẩn trong bọn thợ săn, Tổ tuỳ phương tiện thuyết pháp
dạy cho người cải một ít ác theo một ít thiện, chứ chưa
đủ cơ duyên lập Tông.
Lén
mở thả thú là lòng từ nặng hơn chữ tín. Sợ người biết
truy tầm nên phương tiện luộc rau trong nồi thịt mà ăn,
thế mà có người hỏi lại nói khéo, vì ưa ăn thịt thấm
trong rau, chớ không nói ăn chay theo đạo Phật. Ðời sau có
người không hiểu, lại nói Tổ không cần ăn chay.
Học
theo Tổ đến đoạn nầy, chúng ta mới thấy vấn đề ăn
chay : Nhiều người lầm ăn chay theo tư tưởng của thuyết
nào đó, dạy ăn chay để luyện tâm (!) cho nhẹbiết bay, biết
biến hóa chi đó ! Cho nên họ ăn chay rất kỹ, kỹ là sao
? – Họ sợ hôi tanh thịt cá. Vì thế bắt đầu ăn chay một
ít ngày gì đó, họ kỹ lưỡng và khó khăn làm sao ! Rầy
con mắng cháu : Không lo sắm nồi sạch, chén mới, đũa tinh
cho họ ăn mau thành. Aên chay mà lầm như vậy cho nên có nhiều
người ăn chay rất nhiều ngày, ăn chay trường nữa, nhưng
họ dám hà lạm, gian manh, sát hại cho có lợi lấy tiền sắm
đồ ăn chay. Aên chay mà việc làm cũng vẫn vô nhân, vô nghĩa,
chửi rủa, mắng nhiếc, sát hại thì bảo sao người ta chẳng
mỉa mai :
"Si
mê nghiệp chướng không chừa,
Bo
bo mà giữ tương dưa ích gì ?".
Theo
ý Tổ, ăn chay là vì lòng từ bi : Thương người, thương
vật, không nỡ vì miếng ăn mà lường gạt gian manh, tham lam
lường gạt của người, không nỡ nhẫn tâm sát hại sanh
mạng hay ấn ý xúi giục người sát hại cho mình ăn. Tổ
ăn chay không phải sợ hay chê hôi tanh thịt cá, cũng không
để luyện xác thân, mà ăn chay vì lòng từ bi bao la cao cả
thương người thương vật".
Nhóm
Phù sa sau khi trích dẫn kinh Pháp-Bảo-đàn và lời phụ chú
của Hoà thượng Nhật-Long, liền kê ngay ý kiến chủ quan
của mình vào :
"ÐẤY
LÀ TỔ-SƯ GIÒNG THIỀN TÀO-KHÊ TRUNG-QUỐC CŨNG KHÔNG QUÁ CỐ
CHẤP TẬP QUÁN ĂN CHAY".
Lời
giải thích của Hòa-thượng Nhật-Long đối với đoạn kinh
văn trên, nói về việc Lục-Tổ Huệ-Năng biết tùy duyên,
không câu chấp, là hợp lý, hợp đạo chứ không có gì sai
trái cả. Bằng ngược lại, cứ bo bo chấp thủ việc ăn chay
bất kể trong trường hợp nào, cũng đều là chấp, mặc dù
là chấp thiện. Hoặc là ăn chay theo hình thức như Hòa-Thượng
ấy kể ra, cũng không phải là tốt vậy, vì miệng ăn chay
mà lòng còn chứa tâm sát, còn nhiều tham muốn "lợi mình
hại người" thì việc dùng chay ấy nào có ích gì ?.
Tuy
nhiên, việc đưa một đoạn kinh trong Pháp-Bảo-đàn vào đây,
rồi bảo một cách võ đoán rằng "Ðấy là Tổ-sư giòng
Thiền Tào-Khê Trung-Quốc cũng không quá cố chấp tập quán
ăn chay" là hoàn toàn ấu trĩ, thiếu chính xác, và không
thể chấp nhận cho lập luận để bênh vực cho lời nói và
việc làm của TT. Giác-Chánh, rằng "riêng tôi thì không
chê đồ chay, nhưng không chấp nhận thành kiến ăn chay, có
lẽ ảnh hưởng tinh thần Bát-nhã" được (Lời TT. Giác-Chánh).
Bỡi
vì trong mười sáu năm Lục-Tổ phải lẩn trốn bọn người
xấu ác muốn tìm cách giết Ngài để cứơp Y-Bát là tín
vật của Tổ sư Thiền-Tông đời thứ sáu, nên trong chỗ
"ngộ biến" mà cực chẳng đã Tổ phải "tùng quyền", phải
đành luộc rau trong nồi thịt mà độ nhật, kẻo sợ người
phát hiện ra nhân thân mà giết chết Ngài, đó là tuỳ duyên
(Xứ-Thời) mà hành đạo vậy. Chứ có phải trong chỗ bình
an như mọi người chúng ta đang sống và tự do tu hành đâu,
mà các ông gán cho là Tổ cố chấp, với không cố chấp việc
ăn chay. Như các ông Phù-sa bây giờ đang tu hành bình thường,
và tự do, thân xác các ông có bị đe doạ đâu, có ai bắt
buộc các ông phải ăn mạng đâu, mà phải ăn chay một cách
khiên cưỡng, hay phải làm cái việc quyền biến như Lục
Tổ, hoặc là "không chê đồ chay, không chờ đồ mặn" như
TT. Giác-Chánh đã làm .
Các
ông dẫn lời diễn giảng của Hòa-thượng Nhật-Long mà không
để ý tới điểm trọng yếu mà HT nầy muốn nhấn mạnh
: "Tổ ăn chay không phải sợ hay chê hôi tanh thịt cá, cũng
không phải để luyện xác thân, MÀ ĂN CHAY VÌ LÒNG TỪ BI
BAO LA, CAO CẢ THƯƠNG NGƯỜI, THƯƠNG VẬT.
Thương
người ở đây chính là sợ giùm cho người khác tạo
nghiệp tội, vì mình mà họ phải bị phạm tội sát sanh (vì
mình thích ăn mạng, người ta phải giết sinh vật khác cho
mình ăn); thương vật ở đây chính là vì lòng
từ bi bao la, coi mạng sống của các sinh vật khác như mạng
sống của chính bản thân mình không khác, vì tất thảy đều
có Phật tánh như mình.
Cho
nên, trường hợp của Lục Tổ Huệ-Năng ở đây, ăn rau luộc
trong nồi nấu thịt, chỉ là vì ngộ biến mà phải tùng quyền,
chứ chẳng phải tự ý Ngài muốn phá giới hay phạm sát,
chứ chẳng phải "không quá cố chấp tập quán ăn chay"
như các ông nghĩ và áp đặt cho Tổ vậy đâu, cũng chẳng
phải là "Phá chấp" gì cả, như ý của Thượng toạ
Giác-Chánh muốn nói về chính bản thân ông ta.
Câu
nói biểu hiện cho hành động của TT chỉ là vị ngã mà phá
giới thì đúng hơn, chứ chẳng phải phá chấp gì hết. Bằng
thật sự phá chấp triệt để như Tuệ-Trung Thượng-Sĩ, hay
các Thiền-sư đắt đạo, tự tại an nhiên, phi tội phi phúc,
thõng tay vào chợ, lại là một việc khác, chúng ta sẽ bàn
ở phần sau.
Hơn
nữa, trong Pháp-Bảo-đàn kinh, tuy là một bổn kinh dạy người
pháp đốn-giáo, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật,
nhưng gần như phẩm nào Lục-Tổ cũng nhắc đi nhắc lại
người tu Phật phải nên hành thập thiện, mà trong đó Giới-sát
là đứng đầu cần nên đoạn lìa.
Hoặc
thí như có người hỏi Ngài về việc niệm Phật cầu vãng
sanh Tây-Phương, Ngài dạy trong phẩm Quyết-Nghi:
" Tiên
trừ thập ác, tức hành thập vạn. Hậu trừ bát tà, nãi
quá bát thiên. Niệm niệm kiến tánh, thường hành bình trực,
đáo như đàn chỉ, tiện đổ Di-đà - Trước trừ mười điều
ác, tức vượt được mười muôn dặm. . Sau trừ tám điều
taø, tức vượt được tám ngàn dặm. . Niệm niệm đến tỏ
tự tánh, tâm thường bình trực, thì như khảy móng tay, liền
thấy Phật Di-Ðà".
Tuệ-Trung
Thượng-Sĩ và việc ăn chay.
Ðể
bênh vực cho câu nói và việc làm của Thượng-Toạ Giác-Chánh,
là "không chê đồ chay, nhưng không chấp nhận thành kiến
ăn chay", cũng là phá chấp theo tinh thần Bát-nhã,
nhóm Phù-Sa đã đưa Ngài Tuệ-Trung Thượng-Sĩ vào làm chứng.
Trước tiên bằng câu tán-thán của Ðệ-Nhất Tổ Ðầu-đà
Trúc-Lâm Việt-nam đối với Tuệ-Trung Thượng sĩ, sau đó
là dùng một bài kệ của ngài Tuệ-Trung để làm bằng cho
lời biện bạch của mình.
Nhưng
ở đây, ý nghĩa bài tán tụng, cũng như bài kệ lại hoàn
toàn trái nghịch lại với ý tưởng của các ông trong nhóm
Phù-sa, trong việc bênh vực Thầy Giác-Chánh mà các ông không
hề hay biết; bỡi sự có mặt của chúng ở đây lại đánh
đổ quan niệm sai lầm của chính các ông vậy.
a.
Câu tán của Ðệ Nhất Tổ Trúc-Lâm dành cho Thầy mình là
Tuệ-Trung Thượng-Sĩ có câu "Hỗn tục hòa quang, dữ vật
vị thường xúc ngổ - Sống chung đời tục, hòa ánh sáng
với bụi bặm; với mọi vật chưa từng xúc phạm hay làm
nghịch (với đạo)".
Vế
đầu bốn chữ khen ngợi một cách chân tình Thầy mình là
ngài Tuệ-Trung Thượng-Sĩ, một cư sĩ tại gia tu Phật, thoát
trần đắc đạo thì đã quá rõ ràng, cùng một ý tưởng
với Lão-Tử đã dạy người trong Ðạo-Ðức kinh không khác
"Hoà kỳ quang, đồng kỳ trần - Hoà ánh sáng cùng với
bụi bặm" . Tuy sống lẫn cùng với thế tục mà không
nhiễm ô, tâm thể trong suốt như ánh sáng, tự như, không
chút dính dấp với hồng trần, tức là đã kiến tánh, đã
đắc đạo, đã thoát trần.
Ðã
thế, Ðệ nhất Tổ Trúc-Lâm còn cho như vậy là chưa hết
ý, chưa thể hiện hết con người thật của Thầy mình, mà
thêm vào một câu nữa "Với vạn vật chưa từng xúc phạm
tới, hay làm nghịch với lẽ đạo".
Vế
thứ hai này đã làm cho chúng ta nhận ra được một cách rõ
ràng con người thật trước mắt bằng xương, bằng thịt
mà đạo hạnh tuyệt vời, từ bi vô lượng của ngài Tuệ-Trung;
thế thì có thể nói là Thượng-Sĩ cố chấp hay không cố
chấp thành kiến ăn chay được chăng, khi mà Ngài đã thể
hiện từ tâm với tất thảy chúng sanh như vậy. Mà đã thể
hiện từ tâm, không từng xúc phạm tới vạn vật, cả vật
hữu tình lẫn vô tình, cũng như không sống nghịch với lẽ
đạo thì làm sao có thể kết luận một cách võ đoán là
Ngài cố chấp hay không cố chấp thành kiến ăn chay?
Các
ông trong nhóm Phù-sa cần phải thật tu nhiều hơn nữa, chứ
chớ nên góp nhặt chút kiến thức trong kinh điển mà tự
cho là mình kiến đạo, không chịu thật hành tâm tu, thân
tu thì làm sao có thể sáng tánh ra mà "một" được với chỗ
này. Bằng cứ kết buộc trong chữ nghĩa, lý sự, chỉ biết
dụng thế trí mà y theo mặt chữ để hiểu đạo, thì trăm
đời ngàn kiếp cũng chỉ làm ma tri thức mà thôi, không sao
giải thoát được. Ðó chính là sở tri chướng vậy.
b.
Các ông Phù-sa đưa một đoạn trong bài kệ "Trì Giới kiêm
Nhẫn-nhục" của Tuệ-Trung Thượng-sĩ ra làm chứng, mà
không đưa toàn thể bài kệ để có thể nói lên hết ý của
Ngài muốn nói, cũng như thật ra các ông chưa liểu nghĩa bài
tán Trì-Nhẫn Ba-la-Mật này, nghĩa là chưa tự một được
trong tâm thể sáng trong, vô nhất vật, mà các Ngài tự trong
chỗ đó "đang-là" vậy. Bỡi liễu được nghĩa này, thì mọi
thắc mắc, cột buộc trong các ông ắt sẽ tiêu tán thành
như hư không, mọi việc tức khắc sẽ được giải quyết
ngay, không còn một vấn đề nào cần phải bàn ở đây nữa.
Toàn
văn bài kệ "Trì Giới kiêm Nhẫn nhục" như sau :
"Vô
thường chư pháp hành
Tâm
nghi tội tiện sanh
Bản
lai vô nhất vật
Phi
chủng diệc phi manh.
Nhật
nhật đối cảnh thời
Cảnh
cảnh tùng tâm xuất
Tâm
cảnh bổn lai vô
Xứ
xứ Ba-la-mật.
Khiết
thảo dữ khiết nhục
Chủng
sanh các sở thực
Xuân
lai bách thảo sanh
Hà
xứ kiến tội phúc.
Trì
giới kiêm Nhẫn nhục,
Chiêu
tội bất chiêu phúc
Dục
tri vô tội phúc:
Phi
Trì giới, Nhẫn nhục.
Như
nhân thượng thọ thì,
An
trung tự cầu nguy
Như
nhân bất thượng thọ
Phong
nguyệt hà sở vi ?
***
Các
pháp đều vô thường
Tâm
nghi tội liền sanh
Xưa
nay không một vật
Mầm
móng ở đâu sanh ?
Ngày
ngày khi đối cảnh
Cảnh
cảnh từ tâm sanh
Cảnh
tâm không thật có
Mọi
xứ đều Phật-địa.
Aên
cỏ với ăn thịt
Chúng
sanh hợp từng loài
Xuân
đến cây cỏ sanh
Ở
đâu có tội phước ?
Trì-giới
và Nhẫn-nhục
Chuốc
tội, chẳng chuốc phúc.
Muốn
biết không Tội, Phước:
Không
Trì-giới, Nhẫn nhục.
Như
có người leo cây
Ðang
yên bỗng tìm nguy
Bằng
không leo lên cây
Trăng
gió làm chi được ?
Trong
bài kệ trên, tóat ra một tinh thần phá chấp triệt để.
Tuy nhiên, nếu chịu để ý một chút, thì mới thấy rõ chỗ
dùng từ ngữ của Ngài Tuệ-Trung, mà không bị lầm .
Ðành
rằng, với bậc giải thoát như Ngài, thì trước mắt đâu
đâu cũng là Phật-địa cả (Xứ xứ Ba-la-mật), cho nên, với
những người đắc đạo như Ngài, không câu nệ Trì-Giới
hay Nhẫn nhục gì cả, thậm chí sáu Ba-la-mật đều không,
vì là Ngài đã kiến tánh, đã thành tựu công đức, đã tự
Không, Vô-tướng, Vô-tác, hiu nhiên giải thoát.
Việc
Ngài không còn trì giới, không còn phải nhẫn nhục gì nữa
cả, thể hiện trong thật tại tuyệt đối của Ngài Tuệ-Trung,
hoàn toàn khế hợp với lý đạo, đến Bát-nhã cũng không
còn có gì là Bát-nhã nữa, mà Bát-nhã chỉ là gỉa danh của
tánh quang chơn tâm, của Phật tâm chơn thường rỗng lặng,
tịch lặng mà thường sáng soi, chiếu diệu . Bỡi thế, tới
chỗ này, Phật mới thuyết "Bát-nhã Ba-la-Mật, tức chẳng
phải Bát nhã Ba-la-Mật, chỉ tạm gọi là Bát-Nhã Ba-la-mật
mà thôi" (Kim-Cang kinh).
Thế
mà ở đây, các ông Phù-sa và cả Thượng toạ Giác chánh,
thân lẫn tâm đã được như Thượng-sĩ chưa mà đòi phá
chấp, hay cố chấp với không cố chấp thành kiến ăn chay
?
Ðó
chính là các ông chỉ biết đưa lời của người khác ra làm
chứng, mà không chính tự thân tâm mình đứng ra làm chứng
được vậy, nghĩa là thấy Phật ngoài tâm mà thôi. Bỡi cớ
sao ? Vì chưa tự vượt thoát mà dùng lý lẽ vượt thoát của
người khác, của ngoài thân vậy mà biện sự của các Ngài,
thì làm sao mà trúng cho đượ ! Ðây là cái bệnh "cam tích"
tri kiến và ngã mạn vậy.
Các
ông có biết rằng, trong bài kệ mà các ông nêu ra đó có
câu , Khiết thảo dữ khiết thực, Chủng sanh các sở thực
- ăn thịt và ăn cỏ, chúng sanh loài nào có thức ăn riêng
của loài đó. Nghĩa là thiên nhiên đã phú cho loài nào
thì có thức ăn thích hợp với từng loài đó. Như loài trâu,
bò, có bộ răng để chuyên gặm cỏ. Loài cọp, beo, lang sói
có bộ răng thích hợp để ăn thịt sống các loài động
vật . Loài khỉ vượn, cũng giống như loài người có bộ
răng chỉ chuyên dùng để ăn trái củ, hoa quả là chính. Nhưng
do loài người thông minh hơn các loài khác, theo thời gian học
hỏi, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống mà
cả thân lẫn tâm biến chuyển và tiến hóa vượt bực, cộng
với ba độc vì chấp ngã, vì vô minh mà tàn độc giết hại
các loài khác để làm thức ăn, chứ với ý của ngài Tuệ-Trung,
chủng sanh các sở thực - mỗi loài có từng thức ăn riêng,
thì rõ ràng là Ngài đang thật hành Lục-độ , và đang Trì-giới
không ai bằng vậy. Thế thì tại sao ông không chịu hiểu
theo ý của Tổ mà lại hiểu một cách đơn giản, máy móc
là không cần biết trai hay mạng mà ăn tất ?
Phải
hiểu rằng, với Ngài Tuệ-Trung, cũng như các Thiền-sư đắc
pháp khác, các Ngài đã vượt thoát trói buộc của nhơn quả;
nên chúng ta phải hiểu là, lời của các Ngài tuôn ra từ
cảnh giới giải thoát. Còn chúng ta đang lặn hụp trong nhơn
quả, niệm niệm từng sát na không dừng nghỉ, mà một niệm
sanh là một nghiệp sanh, là cảnh giới của nghiệp thiện,
nghiệp ác liền xuất hiện và ẩn tàng trong nghiệp thức.
Thế thì đem chữ nghĩa là những ký tự kết buộc trong nhị
nguyên ra mà bàn tâm ý của các Ngài thì làm sao trúng được,
mà các ông Phù-sa cột buộc với chúng?
c.
Trong đây, các ông Phù-sa đưa ra lời "bình" của các ông,
các bà Minh-Chi, Lý-kim-Hoa, Hà-thúc-Minh, vv và vv… trong ủy-ban
khoa học xã hội Việt-Nam đối với tác phẩm của Tuệ-Trung
Thượng-Sĩ ra làm chứng, để bênh vực cho quan niệm sống
"nên chay hay mặn" của một Tỳ kheo tu Phật (Thượng-Toạ
Giác-Chánh) là một điều quá sức, hết sức sai lầm và lệch
lạc, nếu không muốn nói là các ông Phù-sa quá ấu trĩ, chỉ
mới tập tò học đạo.
Các
ông, các bà trên kia có phải là những Tổ sư Thiền tông
hay không (đang nói về Tuệ-Trung) mà các ông Phù-sa góp nhặt
những ý kiến còn kết buộc trong nhị nguyên của họ để
đưa vào áp dụng trong việc tu hành ?
Các
ông, các bà ấy có phải là những người mà các ông biết
rõ như thật là những người y theo giáo pháp Phật mà tu,
đã kiến tánh, đã đắc pháp, đã "một" với tâm ý Tổ,
Phật chưa, hay họ chỉ là những nhà nghiên cứu, những học
giả, những văn gia chỉ dùng lý luận và tri thức để biện
sự, mà tâm ý của họ hoàn toàn không chút dính dấp tới
tánh Không mà Tuệ-Trung Thượng-Sĩ trong ấy "đang-là" ?
Một
lời chân thật cùng các ông Phù-sa . Nên lo tu hành đi, cả
thân lẫn tâm, chớ nên viết lách nữa. Chừng nào gỡ trói
được cả hai bên của chính mình thì hẵn viết, để cứu
độ. Còn hiện tại, thân tâm thể hiện trong bài viết còn
đầy trói buộc, luôn luôn chạy theo chữ nghĩa, kinh điển
thì làm sao có thể giúp người phá bỏ cột buộc? Ðã thế
mà các ông không tự biết, lại còn đứng ra biện sự một
cách sai lầm lệch lạc như đã thể hiện cả nội dung lẫn
hình thức trong bài dĩ kinh chứng kinh, khiến cho những người
không biết, những người sơ cơ lỡ lầm nghe theo các ông
mà "phá giới" thiệt, thì đến khi tro tàn, lửa tắt, chẳng
những chỉ riêng các ông phải chết chìm với nghiệp tội
phải đeo mang (vì lầm lý mà phá giới, phạm sát) và với
đúng sai của nhị nguyên cột buộc (sở tri chướng) mà còn
dắt người khác cùng trôi nổi như các ông, thì tội lỗi
càng thêm chồng chất, có hối cũng chẳng kịp.
Source:
Lotus Production