Có
thể nói một cách thoả đáng là Lạt Ma giáo (Lamaism) ở Tây
Tạng, Mông Cổ và Thiền tông Việt Nam đều cùng khởi phát
từ đại sư Long Thọ (Nagarjuna)
1.
Long Thọ, theo nghiên cứu của các nhà Phật học quốc tế,
là một trong những luận sư Phật học quan trọng nhất, sống
vào cuối thế kỉ II đầu thế kỉ III ở Nam ấn Độ. Ông
là vị tổ thứ 14 của Thiền tông ấn Độ, là người sáng
lập ra Trung Đạo tông (Madhyamaka). Tác phẩm quan trọng nhất
của ông là Trung Luận Bản tạng (Madhyamaka karika). Ông cũng
là tác giả của Đại Bát Nhã Ba La Mật luận (Hahaprajnaparamita
sastra). Thành tựu lớn lao của Đại sư là đã hệ thống
hoá và trình bày sâu sắc giáo nghĩa trong tập Bát Nhã Ba La
Mật kinh (Hahaprajnaparamita sutra), trong đó ông phát triển một
đường lối biện chứng đặc biệt dựa trên cách suy luận
dồn đến chỗ dường như là phi lí về các thế đối lập.
Mọi
vật sở dĩ tồn tại là do có cái đối lập với nó. Nếu
không có cái đối lập với nó thì vật sẽ không tồn tại
thực sự. Không có sinh tất không có diệt, không có thường
tất không có đoạn, không có một tất không có nhiều, không
có đến tất không có đi. Đó là luận điểm “Tám không”
nổi tiếng của Long Thọ.
Song
sự thật là sự vật vẫn tồn tại trước mắt ta, xung quanh
ta. Đó chỉ là sự thật biểu kiến ở cấp độ quy ước,
còn sự thật đích thực thì lại nằm trong bản chất đích
thực của sự vật. Nói “quy ước” là vì có tính đối
đãi với nhau giữa các đối lập mới tồn tại. Nói “bản
chất đích thực” vì nó là thường trụ, không biến đổi,
không chuyển hoá, độc lập với mọi bản chất khác; bản
chất đó là Không (Sunyata). Cõi Không đó là Tâm, cái tâm
tịch tĩnh, không xao động; đó cũng chính là Niết Bàn (Nirvana)
của nhà Phật. Niết Bàn, cũng theo Long Thọ, không phải là
cái gì có thể với tới được mà chính là nằm trong sự
thức ngộ bản chất đích thực của hiện tượng, nằm trong
Chân Như (Tathata) chứ không nằm trong biểu hiện đa dạng
của hiện tượng. Đó cũng chính là cơ sở giáo lí của Thiền
tông (Phật tại Tâm).
Trung
Luận tông (Madhyamaka) chính là một trong ba cột trụ giáo nghĩa
của Lạt Ma giáo. Hai cột trụ kia là Duy Thức tông (Vijnanavada)
và Kim Cương thừa (Vajrayana).
Bài
viết cho Hội thảo khoa học “50 năm quan hệ Mông Cổ –
Việt Nam” ngày 28-29/6/2004. Được sự đồng ý của tác giả,
Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo xin giới thiệu cùng bạn đọc.
Duy
Thức tông do đại sư Vô Trước (Asangha), sống vào thế kỉ
IV ở Bắc ấn Độ, xướng lập, phát triển từ Trung Luận
tông. Cũng xuất phát từ tiền đề thế giới hiện tượng
là không có bản chất đích thực, Vô Trước luận giải nó
(thế giới hiện tượng) tồn tại là do các quá trình nhận
thức chứ không phải vì nó là vật thể. Do đó, thế giới
ngoại cảnh chỉ là “thuần tuý tâm thức” (Duy Thức). Có
được sự nhận thức đó là vì trong tâm thức mỗi người
có một thức gọi là A Lại Da thức (Alaya vijnana), còn gọi
là Như Lai Tạng thức hay Tạng thức, là tối thượng trong
tám thức của con người (Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, ý,
Ma Na, A Lại Da) bao gồm cả bảy thức kia. A Lại Da thức thường
được ví như dòng nước chảy, luôn luôn biến đổi trong
tâm thức con người, từ kiếp này sang kiếp khác, và luôn
bị các thức kia che lấp. Con người khi thức ngộ được
A Lại Da thức là ngộ được tính Không, còn gọi là Chân
Như, là đắc Bồ Đề (Bodhi).
Lạt
Ma giáo là sự hợp nhất giới luật của Nhất Thiết Hữu
Bộ tông (Sarvastivada: mọi pháp - quá khứ, hiện tại, tương
lai - đều đang cùng tồn tại) và nghi thức tác pháp của
Kim Cương thừa. Bước quyết định trong nghi thức này là
Lễ Quán Đỉnh (Abhiseka) do một vị sư cả (Guru) ban phép cho
người đệ tử được nhập thiền định tâm vào một vị
Phật cụ thể bằng cách đọc thần chú (Mantra), suy niệm
đồ hình (Mandala) và thực thi ấn quyết (Mudra) để đạt
đến độ thăng hoa loại bỏ ý niệm nhị nguyên (Duality) đặng
nhập vào Chân Như, vào cõi Không. Trạng thái đó được biểu
tượng bằng Vajra (Kim cương bất hoại). Để làm chủ được
các nghi thức tác pháp của Kim Cương thừa thì điều tiên
quyết là phải thấu hiểu giáo nghĩa của Bát Nhã Ba La Mật
(Prajnaparamita) của Long Thọ và Vô Trước. Giáo nghĩa Bát Nhã
Ba La Mật được gọi là “Nhân thừa”, và giáo nghĩa
Kim Cương thừa được gọi là “Quả thừa”.
Tuy
Lạt Ma giáo đã được Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) đặt nền
móng từ thế kỉ VIII, song đến thế kỉ XII, dưới triều
Nguyên Thế Tổ (1260-1293), tông phái này mới được đại
sư Phagpa (1235-1280) thuộc phái Sakyapa truyền sang Mông Cổ;
rồi sau đó được đại sư Tsongkhapa (1357-1419), nhà đại
cải cách, người xướng lập phái Gelugpa (Hoàng Mạo phái,
Phái Mũ vàng) hoằng dương và phát triển đến tận ngày nay.
Giáo lí của Tsongkhapa dựa trên Tam Luận tông (Madhyamaka) và
kinh Bát Nhã Ba La Mật của Long Thọ, và bộ Luận (Abhidharma)
của Nhất Thiết Hữu Bộ tông, chú trọng giới Luật (Vinaya).
Ông là người đã phục dựng lên hình tượng quan trọng của
Phật Di Lặc.
Nói
hơi dài dòng về Lạt Ma giáo là để muốn tìm thấy sự tương
đồng và cả sự khác biệt giữa Lạt Ma giáo và Thiền tông
Việt Nam.
2.
Phật giáo truyền vào Việt Nam từ những thế kỉ đầu Công
nguyên, trực tiếp từ Nam ấn Độ, theo hệ Thiền của Long
Thọ. Sử liệu nước ta còn ghi lại rằng thiền sư Khương
Tăng Hội, người nước Khương Cư (Sogdiane), sang Giao Châu
(Bắc Việt Nam) vào đầu thế kỉ III, xuất gia tại đây và
đã dịch bộ Bát Thiên Tụng Bát Nhã kinh (Ashtasahasrika), là
bộ kinh cổ nhất trong văn hệ Bát Nhã. Chính dựa trên các
bộ kinh Bát Nhã mà Long Thọ đã đề xướng thuyết Trung luận
nổi tiếng, có ảnh hưởng sâu rộng đến Phật giáo Việt
Nam, nhất là các thời Lý - Trần (từ thế kỉ XI đến thế
kỉ XIV). Vào giữa thế kỉ III, thiền sư Kalaruci, người xứ
Kuchan (Trung á) sang Giao Châu dịch Pháp Hoa Tam Muội kinh (Saddharma
samadhi). Tam muội có nghĩa là đại định, cảnh thiền bậc
cao. Đến thế kỉ V, các thiền sư người Giao Châu như Huệ
Thắng, Đạo Thiền, những người uyên thâm về Thiền học,
đã giảng Thiền không chỉ ở Giao Châu mà ở cả Trung Hoa
(Giang Tô, Kim Lăng) theo lời thỉnh của vua nhà Tề, có được
uy tín rất lớn. Các thiền sư Việt Nam thời này đều theo
Thiền phái Nam ấn Độ của Long Thọ. Vị trí của Long Thọ
rất được tôn trọng trong Thiền phái Việt Nam. Cho đến
thế kỉ XVIII, ở chùa Tây Phương (Hà Tây) trong số 18 tượng
thờ vị tổ Thiền, chỉ duy nhất tượng Long Thọ là được
thể hiện ngồi trên toà sen, bảo toạ của các Đức Phật.
Ngay
cả thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci), người Nam ấn Độ,
sống vào thế kỉ VI, đệ tử thứ tư của Bồ Đề Đạt
Ma (Bodhidharma) tổ thứ 28 Thiền tông ấn Độ và là tổ thứ
nhất của Thiền tông Đông Bộ (Trung Hoa), khi đến Giao Châu
lập ra Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi cũng giảng Thiền Nam ấn
Độ, diễn đạt trung thành tư tưởng “Tám không” trong
Tam Luận tông của Long Thọ. Trong bài kệ của thiền sư có
câu: “…Không thiếu không dư, không đi không đến, không
được không mất, chẳng một chẳng khác, chẳng thường chẳng
đoạn, vốn không chỗ sanh, cũng không chỗ diệt,…”.
Như
vậy, từ thế kỉ III đến thế kỉ VI, Thiền tông Việt Nam
mang đậm giáo nghĩa Tam Luận tông của Long Thọ, mà đặc
biệt là tư tưởng Bát Nhã Ba La Mật của Long Thọ và Vô
Trước. Các thiền sư thuộc Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi không
chỉ uyên thâm về Phật pháp mà nhiều vị rất có uy tín
với triều đình và biểu thị rõ ý thức độc lập tự chủ
của đất nước. Các thiền sư Pháp Thuận, Ma Ha (thế kỉ
X), Sùng Phạm (thế kỉ XII),… đều làm cố vấn cho nhà vua
không chỉ việc đạo mà cả việc đời, việc ngoại giao.
Dòng Tì Ni Đa Lưu Chi còn kéo dài mãi đến thế kỉ XIX. Đặc
biệt, các thiền sư dòng Tì Ni Đa Lưu Chi thường có hình
thức tu tập “Tổng Trì Tam Muội” (Dharani samadhi), một hình
thức tu tập phổ biến của Mật giáo (Tantrism), dùng thần
chú kết hợp với ấn quyết trong trạng thái đại định
để giữ được thân, khẩu, ý. ở Hoa Lư (Ninh Bình), một
cột kinh Phật bằng đá vào thế kỉ X có khắc bài thần
chú Phật Đỉnh Tối Thắng Đà La Ni (Usnisavijaya dharani), là
một thần chú phổ biến của Mật giáo, đã được phát hiện.
Ngoài
Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi, ở Việt Nam còn có Thiền phái
Vô Ngôn Thông trải dài từ thế kỉ IX đến thế kỉ XV. Dòng
thiền này có nguồn gốc từ Thiền của Huệ Năng ở Nam Trung
Quốc, tức Thiền Nam tông, đề xướng lập trường đốn
ngộ thể hiện trong 4 câu kệ: “Giáo ngoại biệt truyền.
Bất lập văn tự. Trực chỉ nhân tâm. Kiến tính thành Phật”.
Tuy
nhiên, trong quá trình phát triển, Thiền phái này cũng chịu
ảnh hưởng của Duy Thức tông với luận điểm A Lại Da thức.
Các vị thiền sư dòng Vô Ngôn Thông có uy tín lớn trong nhân
dân. Nhiều vị được triều đình ban chức Tăng thống (cấp
bậc cao nhất trong hệ thống Tăng đoàn). Có vị được mời
làm quốc sư, cố vấn cho nhà vua về Phật sự và chính sự.
Dưới thời Lý (1010-1225), Thiền tông rất phát triển. Bên
cạnh hai thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông, còn
có Thiền phái Thảo Đường, do thiền sư Thảo Đường người
Chăm sáng lập, kéo dài từ năm 1069 đến năm 1210, có khuynh
hướng Mật giáo dung hoà với Nho giáo, và ảnh hưởng mạnh
trong giới vua chúa quý tộc, như các vua Lý Thánh Tông (1032-1072),
Lý Anh Tông (1136-1175), Lý Cao Tông (1173-1210); các vị tham chính,
thái phó, tuy rằng họ không xuất gia.
Ba
thiền phái nói trên tồn tại gần như song song và có ảnh
hưởng qua lại với nhau dẫn đến sự dung hợp giữa Thiền
Long Thọ và Thiền Huệ Năng (tổ thứ sáu của Thiền Bồ
Đề Đạt Ma), và dung hợp giữa Thiền tông và Mật giáo.
Thiền
tông còn tác động mãi trong tâm thức người Việt đến tận
ngày nay, song đậm đà tính dân tộc nhất trong Phật giáo
Việt Nam là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử (Trúc Lâm, rừng trúc
nơi Phật yên trụ để truyền bá đạo pháp; Yên Tử, một
ngọn núi ở tỉnh Quảng Ninh) do vua Trần Nhân Tông (1258-1308)
sáng lập khi 41 tuổi, nhường ngôi cho hoàng thái tử, xuất
gia vào núi Yên Tử. Thiền phái này còn phát huy ảnh hưởng
đến đầu thế kỉ XVII. Có thể thấy rõ những đặc điểm
của Thiền phái này như sau:
- Dung
hợp Đốn giáo và Tiệm giáo. Đốn giáo là chủ trương của
Huệ Năng: Định (Samadhi) và Tuệ (Prajna) diễn ra đồng thời,
trong Định có Tuệ, trong Tuệ có Định. Tiệm giáo là gần
với Thần Tú (cùng thế hệ với Huệ Năng): tu Định trước,
Tuệ sau.
- Dung
hợp Thiền - Tịnh - Mật. Thiền tông lấy tự lực làm phương
thức tu tập. Tịnh Độ tông lấy Phật A Di Đà làm chủ thể
và niệm chú A Di Đà Phật để cầu lên được cõi Tây Phương
Cực Lạc (Sukhavati) - tha lực; cũng thờ Dược Sư Lưu Ly Quang
Phật (Bhaisajyaguru), còn gọi là Đông Phật, để cầu tiêu
giải các tai nạn, bệnh tật. Mật giáo được thấy ở Lễ
Quán Đỉnh, thực hành các pháp thuật, lễ cầu siêu (một
hình thức của Bardo thodol Lạt Ma giáo), dịch Bạch Tán Cái
Thần Chú kinh (Mahasitatapatra dharani), chú giải Kim Cương Tam
Muội kinh (Vajra samadhi sutra)… Đặc điểm này không chỉ thấy
rõ ở Thiền tông Việt Nam mà quán xuyến trong toàn bộ lịch
sử Phật giáo Việt Nam.
- Tính
chất nhập thế: Lấy đạo đức Phật giáo (thập thiện)
làm nền tảng cho đạo đức xã hội.
- Dung
hợp Phật - Nho - Lão: “Chưa rõ thì chia làm ba phái, hiểu
rồi thì cùng ngộ một tâm” (Trần Thái Tông). Đặc điểm
này là cơ sở đời sống văn hoá của người dân Việt.
Từ
thế kỉ XV trở đi, Phật giáo nói chung và Thiền tông nói
riêng mất vị trí độc tôn trong đời sống xã hội và cả
trong giới quý tộc, nhường ngôi cho Nho giáo. Bây giờ, chính
các Nho gia lại là người biện giải Phật giáo, ví như Nguyễn
Trãi, vua Lê Thánh Tông, Nguyễn Du, Ngô Thời Nhậm… Trong lúc
đó, trong dân gian lại xuất hiện những tác phẩm văn học
Phật giáo để đời, như truyện Quan Âm Thị Kính, Quan Âm
Nam Hải. Quan Âm Thị Kính lấy chủ đề là Oan và Nhẫn để
làm việc phải, còn Quan Âm Nam Hải lấy chủ đề Nhân và
Hiếu để đấu tranh cho lẽ phải. Hai tác phẩm này có ảnh
hưởng sâu rộng trong dân chúng cho đến tận ngày nay. Quan
Âm Thị Kính được dàn dựng trên các loại hình sân khấu
cổ truyền, đặc biệt là chèo, với nghệ thuật diễn xuất
điêu luyện, tinh tế của các nghệ sĩ, đã làm cho tâm Phật
thấm đẫm thêm trong lòng người xem. Truyện Quan Âm Nam Hải
thường được “kể hạnh” trong các hội chùa miền Bắc.
Trong
các thế kỉ sau, ở Việt Nam không xuất hiện những thiền
phái “độc lập” như trước, mà chỉ có những tông phái
ra đời từ Thiền Nam tông (Trung Hoa), nổi bật nhất là tông
Lâm Tế và tông Tào Động. Tư tưởng cơ bản của Lâm Tế
là “Sinh Phật bất nhị”, chúng sinh và Phật không phải
hai, mà cùng một gốc, một tánh, đó là Chân Như. Luận điểm
đó là cơ bản trong kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka sutra) do Long Thọ
soạn. Tông Lâm Tế được truyền bá khắp cả Trung, Nam, Bắc
Việt Nam, và trải dài từ cuối thế kỉ XVI đến giữa thế
kỉ XIX nối tiếp truyền thống Trúc Lâm Yên Tử. Một số
chùa dòng Lâm Tế vẫn còn hương khói đến tận ngày nay như
chùa Liên Phái (Hà Nội), chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Nguyệt
Quang (Hải Phòng), chùa Từ Đàm, chùa Thuyền Tôn (Huế),…
Tông Tào Động cũng phát triển rộng rãi khắp cả Trung, Nam,
Bắc, trải dài từ giữa thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ
XIX. Một số chùa thuộc tông phái này vẫn còn lại đến
ngày nay như chùa Hoè Nhai, chùa Hàm Long, chùa Trấn Quốc (Hà
Nội), chùa Bích Động (Ninh Bình), chùa Thiên Mụ, chùa Trúc
Lâm (Huế),… Về giáo nghĩa, giữa Lâm Tế và Tào Động không
khác gì mấy, cũng đều gốc từ Huệ Năng (sơ tổ Thiền
Nam tông). Có phân biệt được gì chăng thì ở cách tác pháp.
Lâm Tế chú mục vào công án, Tào Động chú tâm vào toạ
thiền, tĩnh lự, tâm không xao động.
Thiền
tông chủ trương “Phật tại Tâm”. Mọi chúng sinh đều
có Phật tính trong mình. Con người chẳng qua bị lục căn,
lục trần, lục dục che mất Phật tính cho nên cứ phải đoạ
vào kiếp khổ luân hồi. Khổ là do bản thân mình tạo ra,
cho nên muốn diệt được khổ thì chỉ có bản thân mình
tự giải thoát cho mình thôi. Đó là nội hàm của Tứ Diệu
Đế và Bát Chính Đạo, lời thuyết pháp đầu tiên của Đức
Phật ngay sau khi đắc Bồ Đề. Đó là tính tự lực. Đó
cũng chính là nội hàm của Thiền tông. Tính tự lực đã
trở thành một trong những đặc trưng cơ bản của tính cách
người dân Việt xưa và nay. Không đâu như ở Việt Nam, trong
tiến trình lịch sử, người dân phải đương đầu với nhiều
cuộc ngoại xâm như vậy. Sau 1.000 năm Bắc thuộc, rồi khi
dựng cờ độc lập dân tộc từ thế kỉ X, họ lại phải
liên tục chống quân xâm lược từ những nước lớn đến,
như phong kiến phương Bắc cho đến Pháp, Mỹ sau này. Người
dân Việt vào những buổi đó còn biết dựa vào ai nếu như
không dựa vào chính mình, đem hết tâm lực của mình ra để
đánh đuổi quân xâm lăng giành lấy chiến thắng vẻ vang
cho đất nước. Thiền tông đã bắt rễ, đâm chồi, nảy
lộc từ lòng gắn bó thiêng liêng với đất nước của người
dân Việt nên có một đời sống âm ỉ mà bền lâu là như
vậy.
Thiền
tông dạy con người lấy tinh thần Vô Trước (không mê, không
chấp) mà chứng ngộ. Trong lịch sử, người dân Việt đã
vận dụng phương châm đó để giữ vững bản sắc của mình.
Hiếm có quốc gia dân tộc nào như Việt Nam, nơi du nhập hầu
hết các tôn giáo lớn trên thế giới: Phật giáo, Nho giáo,
Đạo giáo, Công giáo, Tin Lành,… và cũng chịu sự tác động
mạnh của các nền văn minh lớn trên thế giới: Trung Quốc,
ấn Độ, Châu Âu, Mỹ. Song có một sự thật hiển nhiên là
người Việt, văn hoá Việt Nam chưa bao giờ và không hề bị
đồng hoá bởi những luồng văn hoá, tôn giáo ngoại lai mà
chỉ ứng dụng đắc lợi những yếu tố và những hệ thống
của các luồng đó vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam để
phát triển xã hội. Việt Nam đứng được đến ngày hôm
nay như một thực thể cũng là nhờ có tính thích ứng cao,
có nghĩa là biết làm phù hợp với hoàn cảnh mới nhờ những
biến đổi, những điều chỉnh nhất định, hay nói một cách
khác là tiếp thu có chọn lọc cái mới để tự đổi mới.
Đó cũng chính là tinh thần Vô Trước, loại bỏ cái vô minh
(Avidya) mà Phật giáo, nhất là Thiền tông, đã có tác động
đến tâm thức con người Việt.
3.
Nhìn chung lại, có thể biết khá rõ mối tương đồng giữa
Lạt Ma giáo và Thiền tông Việt Nam đều cũng khởi phát từ
đại sư Long Thọ và đại sư Vô Trước với tư tưởng Bát
Nhã Ba La Mật và A Lại Da thức. Song trong lịch sử, mỗi bên
lại có một hướng phát triển riêng. Lạt Ma giáo thiên về
nghi thức tác pháp Kim Cương thừa và đã tạo ra những vị
Lạt Ma thông tuệ “bảo ngọc của tri kiến”, những vị
thánh sống Đạt Lai Lạt Ma, những phương thức tu chứng thông
qua huyền thuật độc đáo với việc quán tưởng đồ hình,
tụng đọc thần chú và thực hiện ấn quyết, có ảnh hưởng
rộng khắp trong thế giới Phật giáo Đại thừa. Còn người
dân Việt Nam dựa trên tâm thức tự lực, tự độ mà Thiền
tông đã tác động vào tính cách của họ để giữ gìn bảo
vệ độc lập đất nước, lấy tinh thần không mê, không
chấp để phát huy tính thích ứng mà xây dựng cuộc sống
xã hội của mình.
Tuy
nhiên, trong tâm linh vô thức của người Việt vẫn thấy những
biểu hiện của Mật giáo, chủ yếu trong các chùa chiền.
Ví như trong Lục Quan Âm của Mật giáo thì có thể thấy trong
nhiều chùa đến 3 cách thể hiện: Thánh Quan Âm, Thập nhất
diện (11 mặt) Quan Âm, Quan Âm Chuẩn Đề. Hay như tay bắt
ấn Vô Thượng Bồ Đề (Uttarabodhi) trên một số tượng Quan
Âm là thể hiện Kim cương bất hoại, một ấn đặc trưng
của Đại Nhật Như Lai. Hay như các toà “cốt kinh”, một
pháp cụ đặc trưng của Mật giáo. Hay như Lễ Cầu siêu là
khá gần gũi với tác pháp ghi trong Tử thư của Liên Hoa Sinh,
nhất là ở Huế khi vị chủ lễ sử dụng linh chử (Ghanta,
lễ cụ gồm một đầu là chuông, một đầu là chuỳ kim cương).
Hay như việc bài trí Phật điện ở chùa Việt cũng phảng
phất đồ hình mandala… Và còn những biểu hiện khác nữa.
Dù
có cái chung và cái riêng thì Lạt Ma giáo và Thiền tông Việt
Nam đều có một mục tiêu tối thượng là làm sống động
cái thiện căn trong mỗi con người./.
Cao
Xuân Phổ
PGS.,
Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.
Tạp
chí Nghiên cứu Tôn giáo (Số 5(29)/2004)