BÌNH-THƯỜNG
TÂM THỊ ĐẠO
Cư-Sĩ
Nhuận-Bảo
Đi
thăm viếng các Thiền-viện, hoặc đến các hiệu sách chuyên
bán sách vở kinh điển Phật học, chúng ta thường bắt gặp
một câu năm chữ :
“BÌNH
THƯỜNG TÂM THỊ ĐẠO”
Câu
chữ trên, hoặc được viết bằng Hán tự nét lớn, theo lối
chân-phương hoặc chữ thảo, hoặc viết bằng chữ Quốc-ngữ,
văn-hoa bóng-bẩy, như phượng múa rồng bay; đôi khi người
ta viết hẵn lên trên tường cũng là cách trang trí tao nhã,
hoặc viết trên giấy lồng khung kính năm chữ một cách trang-trọng,
dễ ưa nhìn.
Năm
chữ rất rõ-ràng, giản-dị, và cũng thật bình-thường, không
một chữ nào là khó hiểu cả, nhưng ý-nghĩa đích thực của
toàn câu chữ thì lại vô cùng thâm thuý; tinh thần câu nói
biểu hiện một tâm tu đạt đạo, tự tại, bình đẳng, đồng
thời thể hiện một pháp tu sâu mầu, vi diệu, tương ưng,
linh động trong mọi hoạt dụng của giòng sống ngay trước
mắt, nhưng vẫn an nhiên, bình ổn, thường, lạc, nga,õ tịnh,
vượt thoát mọi trói buộc ngay giữa cuộc đời này.
I.
Vậy thế nào, Tâm Bình thường là Đạo ?
Hiểu
một cách thông-thường, thì Đạo là con đường sáng, là
ngọn đèn soi, dẫn dắt chúng-sanh từ chỗ đã và đang mê
lầm, không tự chủ trong vọng nghiệp vô minh nhơn quả, đến
chỗ giác-ngộ chân-lý giải thoát, cứu cánh đoạn lìa phiền
não, tử sanh.
Còn
trong chỗ sâu xa hơn, thì, nói tới Đạo, tức cũng có nghĩa
là:
a)
-Hoặc tạm mượn lời để đề cập tới "Bản-Thể tuyệt
đối", uyên nguyên, phi sanh diệt, là khởi thuỷ của vạn
pháp chưa từng có lúc chung cùng, cũng là thể chơn thật của
Tâm, là Phật tâm, là hình hài vốn tự sẵn có xưa nay của
vạn loại hữu tình. Đã gọi là bản thể tuyệt đối (Lão-Tử
gọi bằng một tiếng Đạo, có khi gọi là Đạo-thường,
thường Đạo) thì tự nó thiệt chẳng phải là gì cả, không
có thể dùng gì để đem ra so sánh được, cũng như khái niệm,
tri thức, trí giải, ngôn ngữ của loài người chẳng thể
can hệ, chẳng thể với tới. Nếu có cố tình muốn đề
cập tới thì chỗ nói đó cũng chỉ là nói bên ngoài, ví
như gãi ngứa ngoài giày mà thôi. Cho nên để có chút ít hiểu
biết mường tượng về nó, người ta mới tạm mượn ý tưởng
và ngôn ngữ thô kệch để diễn tả nó theo khái niệm tương
đối (mà không phải đúng như thiệt là nó) như nói một
cách mơ hồ rằng, nó vốn dĩ chơn không, tịch lặng, không
hình tướng, không sắc màu, chẳng phải thiệt không mà cũng
chẳng phải thiệt có, như thiệt như hư, như không như
có, thật tướng không tướng, vô tướng vv…. và vv. Dẫu
có mô tả thế nào đi nữa thì vẫn không thiệt là nó.
Đồng
thời chúng ta cũng nên hiểu một cách sáng suốt rằng, dẫu
có chính miệng các bậc Thánh nói ra, nó (Đạo) là thế nào
đi nữa, thì đó cũng chỉ là những khái niệm trừu tượng
mà các Ngài tạm mượn tướng ngôn ngữ, chữ nghĩa, khái
niệm để tỏ bày chỗ tự thể nghiệm và thấy biết như
thật của mình mà thôi. Một khi chúng sanh y theo pháp Phật
hành trì và tự sáng tỏ chỗ mà các Ngài đã thật chứng
bổn thể của Đạo, thì cũng liền ngay đó, chúng sanh ấy
tự "một" đồng nhứt thể cùng các Ngài không khác. Bằng
chưa tự sáng tỏ thể tánh uyên nguyên luôn tự sẵn hàm tàng,
thì dẫu có mô tả, mường tượng, hình dung tới đâu cũng
đều không phải thật. Vì tự thể chơn thật là tuyệt đối,
không hai cũng không khác.
Muốn
rõ nó như thiệt thì chỉ có một cách duy nhất, là tự mình
phải "một" cùng nó, cũng là nương pháp Phật diệu mầu mà
tu hành một cách đúng-như-pháp để tự thân chứng nghiệm
cùng đạo tương ưng, không hai không khác. Có tự "một" được
với nó thì liền tự có chỗ thấy biết như thật những
khái niệm, ngôn từ, tri giải, luận bàn về nó trước kia
chỉ là những thứ đồ giả, là đồ chơi của con nít,
là phương tiện để dẫn dụ mà thôi, như lấy nước rửa
hòn bi chai, nước chẳng thể can hệ vào chỗ cốt lỏi của
thuỷ tinh, nghĩa là không gì dính dấp tới "thiệt nó".
Bằng
một khi đã tự "một" cùng nó, tự biết như thật chính nó
là cái biết sáng suốt cùng mình "Đang-là" không khác không
hai, thì cũng là lúc không một lời nào đề cập về nó mà
có thể gọi là chơn thật được.
Tạm
lấy một thí dụ. Ví như loài chuồn-chuồn, tới mùa sanh
sản thì thường bay là là trên mặt nước, rồi bất thần
nhấn cái mỏm đuôi xuống nước để đẻ trứng vào trong
nước. Tới ngày trứng nở, ấu trùng bơi từng đàn và sống
trong nước. Có thể lúc đó những ấu trùng này nói chuyện
với nhau :" Không biết phía bên trên của lớp mặt nước
mỏng dính kia là cái gì, chắc là một cảnh giới lạ lùng,
đẹp đẽ lắm. Lại cũng rất là ngộ nữa, vì trên
đó không có nước thế mà các loài vẫn có thể thở ra hít
vào, có thể sống được, đi lại chạy nhảy, bay lượn được.
Thật là ngộ hết sức. Aáy thế nhưng nghe nói, trong loài
của chúng ta cũng đã từng có nhiều kẻû ngoi lên được
phía trên lớp mặt nước kia và bay vào nơi không có nước.
Vậy bây giờ anh em chúng ta hãy cùng ước hẹn với nhau, nếu
sau này có ai lên được trên đó, thấy biết như thật cảnh
giới ấy ra sao, không có nước thì thở và sống bằng cách
nào, trên đó có đẹp đẽ hay không, thì hãy mau mau quay về
đây nói lại cho cả bọn chúng ta cùng biết với nhé".
Tất
cả đều tán thành, rằng hễ ai lên khỏi mặt nước và bay
được vào không gian thì phải mau mau quay về nói lại cho
mọi người cùng biết sự thật ở trên đó.
Một
thời gian sau, một số ấu trùng mạnh khoẻ, lại có được
cơ duyên tốt, bắt gặp một nhánh cây hoặc một cộng lá
nào đó trong nước, liền bám vào và bò được lên khỏi
mặt nước. Sau đó thì ấu trùng lột xác trở thành những
con bọ nước, chạy đi chạy lại trên mặt nước mà không
bị chìm; một thời gian ngắn sau đó, bọ nước mọc
cánh rồi hóa thành chuồn chuồn bay vào không gian. Chuồn chuồn
bay đi bay lại chỗ này chỗ kia thì vui mừng thích thú lắm
và không quên lời ước hẹn cũ, nó vội quay trở lại chỗ
cũ và dự định xuống nước để nói lại cho những anh em
của nó còn ở trong nước biết thế nào là cảnh giới như
thật ở phía trên mặt nước, rằng có thể bay lượn chỗ
này chỗ kia, có thể thở và sống được mà không cần nước.
Thế nhưng bây giờ thì nó chẳng thể chui xuống nước để
gặp lại anh em nó được, vì nó đã là chuồn chuồn mà chẳng
phải là ấu trùng sống trong nước như trước kia nữa. Nó
liền biết rằng, đành phải để anh em nó tự ngoi lên để
tự biết sự thật mà thôi.
Cho
nên, để biết như thật thế nào là Đạo, tức diệu nhập
bổn thể chơn thật tuyệt đối, thì chúng ta cũng chỉ có
một đường đi là theo cách những con ấu trùng chuồn chuồn,
hay những con lăng ngoăng của muỗi trong nước, tuần tự từng
công đoạn và thời gian tự lột xác mà bay đi. Nghĩa là tự
mình hành trì pháp Phật đúng như pháp khiến có thể tự
thể nhập "một" cùng đạo, thì khi ấy liền có chỗ thấy
biết như thật thế nào là Đạo mà ngôn ngữ, khái niệm,
hay tri thức của loài người chẳng thể với tới.
b)
-Hoặc đề cập tới "Tánh" uyên áo, linh diệu, huyền mầu
của bản thể tuyệt đối, (cũng gọi là Diệu-dụng của
Đạo), cũng là diệu tánh Phật chúng sanh, tức diệu hữu
tự chơn không, cũng là bản tánh chơn như, thường hằng,
sáng trong, tự tại, vô ngã mà khéo sanh muôn pháp.
Đạo,
Đạo thường (là danh từ Lão-Tử thường gọi chung Thể và
Tánh), nhà Phật gọi là Phật tâm, Phật tánh, chơn tâm, tự
tánh, vốn dĩ hàm tàng, nhứt như, bình đẳng, ẩn mật, sâu
mầu,huyền vi, kín nhiệm, tự tại, viên mãn, bất biến mà
thường tuỳ duyên, tuỳ duyên mà vẫn chơn thường bất biến.
Chỉ vì niệm khởi, vọng động mà từ một pháp duy nhất
(chơn như - tuyệt đối) duyên thành (duyên khởi) các pháp
sai biệt nối tiếp nhau chuỗi chuỗi lập thành sự sự, vật
vật, nên nói bất biến mà vẫn thường tuỳ duyên khởi sanh
vạn pháp. Vạn pháp trùng trùng, lớp lớp sanh khởi mà từng
mỗi pháp sanh ra không hề mất tự tánh chơn như vô ngã, linh
diệu, sâu mầu, nên nói tuỳ duyên mà bất biến.
Niệm,
niệm chính là diệu dụng huyền vi, mầu nhiệm, bí áo của
bổn tâm, của Phật tánh, của Đạo thường. Nhờ có Diệu
tánh này mà các pháp mới có sanh. Bổn thể uyên nguyên tuyệt
đối của Đạo mà không có bổn tánh diệu kỳ, linh hoạt,
bí áo này thì không có các pháp sanh khởi, và dẫu bổn lai
có tai cũng không thể nghe, có mắt cũng chẳng thể thấy,
có đầu cũng chẳng thể biết nghĩ, suy, tính toán hay hỏi
Phật, hỏi Đạo. Nếu không có diệu tánh này thì sẽ
hoàn toàn không có một pháp nào, và dẫu có sẵn pháp thì
các pháp cũng thành không ngơ, vô ký.
Ngẩng
đầu, cuối mặt, nheo mày, nhắm mắt, đi đứng, nằm ngồi,
hỏi Phật, hỏi Pháp đều là diệu dụng của bổn tâm, bổn
tánh, cũng là dụng sự của Đạo. Bổn thể chơn như, thường
hằng và Bổn tánh linh diệu, huyền mầu của nó, tạm gọi
là Thể và Dụng, cũng là tánh và tướng, cũng là bổn tâm
trong trạng thái tịnh và động nơi mỗi pháp, lúc nào cũng
tự "một" trong nhau, tuy hai mà một, hòa quyện bất phân ly,
khiến tự chỗ chơn như tịch lặng lại xảy biến động
sanh khởi vạn pháp nên mới có đứng ngồi, chạy nhảy, nói
năng, cười khóc. Bằng bổn thể tuyệt đối mà không hàm
chứa tánh linh diệu, huyền mầu, bí áo, linh hoạt này thì
vạn pháp không sanh, mà dẫu có "sẵn sanh" thì cũng đồng
như sỏi đá.
Đạo
(thường được hiểu gồm Bổn-Thể và Diệu Dụng) luôn luôn
hiện hữu trong mọi sinh hoạt của giòng sống nơi một chúng
sanh "đang-sống", thể và dụng luôn tự hoà quyện gắn bó
nhau như sóng với nước, là bất phân ly, nhưng cũng chẳng
phải thiệt một, chẳng phải hai, cũng chẳng phải khác. Nghĩa
là khi một chúng sanh y theo pháp Phật tu hành một cách chơn
chánh, đạt tới trạng thái tự một cùng bổn thể và diệu
dụng của Đạo, tức cũng là ngay đó tự khám phá Thể và
Dụng chung cùng, Tánh và Tướng viên thông, tức cùng đạo
không hai không khác, cũng là cùng Đạo tự "một", thì liền
sáng suốt không lầm nhơn quả, tự vượt lìa nhơn quả, như
chiêm bao chợt tỉnh, tuỳ duyên đến đi, tự tại vô ngại.
Thế
nào là tuỳ duyên đến đi, tự tại vô ngại? Là ngay
nơi thể tánh chơn như và diệu dụng sâu mầu bí áo của
Đạo, thâu vào không chỗ thiếu, vươn ra không chỗ thừa,
tuỳ hạnh nguyện cứu độ mà thị hiện làm thân tướng
nào, trong cảnh giới nào cũng thấy biết trọn đủ, sáng
suốt, không lầm, tự tại, rõ như thật bổn thể chơn thường
bất biến mà hay tuỳ duyên, nên không lầm nhơn quả, nhơn
quả chẳng thể trói buộc.
(Có
thể đặt tên cho bản thể uyên nguyên, tuyệt đối, linh
diệu, huyền mầu, bí áo kia thế nào cũng được miễn
là có cái để chỉ danh khiến con người có thể dùng làm
ngôi thứ ba, số ít để tạm gọi theo khái niệm của tri
thức phàm tình mà thôi, chứ khi gọi đến tên nó thì nó
chẳng còn thiệt là nó nữa, bỡi với nó thì tuyệt vô đối
đãi, phi khái niệm, bặc tri kiến, không một pháp dính dấp.
Bằng tự một được với nó thì cũng là lúc tự biết thiệt
mình là gì mà ngay đây không còn lời nào để có thể nói
ra được một cách chơn thật về nó, vì tự "Đang-là" trong
thực tại tuyệt đối, nhứt như vô ngã, cũng là cùng đạo
không khác không hai).
Với
những người tu Phật chơn chánh, phát tâm vì cầu giải thoát,
thì không ai là không ước mong được biết, được đến
với, được dẫn dắt, được đi trên con đường Đạo một
cách đúng hướng, chân-thật, nghiêm túc khiến có thể diệu
nhập Phật tâm, tức "một" cùng Đạo, thấy biết sáng suốt,
không lầm nhơn quả, cứu-cánh vô sanh, tịch tịnh .
Tuy
nhiên, thiệt lòng mà nói thì, có duyên đến với Phật đạo
trong hiện kiếp là một lẽ, còn tự khá biết quên thân vì
đại sự sống chết, biết tự tâm khắc phục khó khăn
gian khổ, chơn chánh hành trì Pháp Phật một cách tự tin,
dõng mãnh tự thắng được chính mình, không tự dối lòng,
không che dấu người, khiến có thể tự thân chứng nghiệm
tâm giải-thoát hiện tiền, lại là một lẽ khác. Và một
sự thật khá rõ ràng, không ai có thể chối cãi, là việc
phải tự thân hành-trì "đúng như pháp" một trong hằng vạn
phương tiện mà đức Thế-tôn đã tạm cho mượn sau khi có
duyên đến với Phật đạo, hầu có được một kết quả
mỹ mãn, thì lại muôn vàn khó khăn. Vì sao ? Vì trong cõi dục
(Dục-Giới) mà rời lìa được tâm tham dục là điều chẳng
phải dễ dàng vậy.
Thế
nên, nếu có người hỏi, việc làm nào trên thế gian này
có thể gọi là khó nhất, có lẽ chúng ta không ngần ngại
gì mà không trả lời rằng, chỉ có tu hành đúng như pháp
mới là khó nhất.
Việc
tu và hành sở dĩ nói khó, vì để sáng tỏ Phật tâm, tức
cũng là tự "một" với "Đạo" mầu, lại trọn sống một
cách chơn thật trong nó mà tiệm tu để tận trừ tham sân
si còn ẩn tàng sâu kín và vi tế, đến cứu cánh là trở
về bổn thể uyên nguyên chơn như tịch lặng, thì người
cầu học và hành trì đạo pháp, ngoài tín tâm và nỗ lực
không gì lay chuyển nổi, còn phải tuỳ thuộc vào nhiều yếu
tố khác nữa, cũng gọi là duyên lành, như căn trí thông tuệ,
phước đức sâu dày, thiện nghiệp đầy đủ, có thiện tri
thức là những bậc Thầy đắc pháp trực tiếp dẫn dắt
tâm linh … vv….Cho nên, từ chỗ tu học và hành trì Phật
pháp đúng như pháp, đến chỗ tỏ ngộ Phật đạo, không
lầm nhơn quả, tự sống một với Đạo, cùng đạo tương
ưng, tự tâm hiện tiền giải thoát cho đến lúc bỏ
thân máu thịt, nếu không muốn nói là vô cùng khó khăn gian
khổ, thì cũng chẳng phải là việc làm dễ dàng cho một đời
người.
Aáy
thế mà câu chữ kia “Bình Thường Tâm Thị Đạo” tạm
dịch là“ Tâm bình-thường là Đạo” hoặc nói nôm-na “Sống
được với cái tâm bình-thường, ấy là sống Đạo” nghe
sao mà dung dị, giản-đơn, nhưng cũng đầy mâu thuẫn với
cuộc sống xô bồ rối rắm trước mắt, nên ai cũng tự thấy
khó hiểu, khó tin quá.
Lại
nữa, tâm ra sao mới là tâm bình thường, còn tâm như thế
nào là tâm không bình thường ?
Đây
là một Thiền-ngữ, một câu nói lừng danh tự xa xưa, xiểng
dương một pháp tu vi diệu, tốc đắc, tốc thắng của Đại-thừa
Chánh pháp, cũng như pháp này đã được chư Tổ Thiền-tông
nhiều đời tự thể nghiệm ngay trong cuộc sống và kết quả
chơn thật đạt được là đương thể tự tại thanh tịnh,
hiện tiền thường lạc, an nhiên.
Thiền
ngữ trên thể hiện tự tâm giải thoát của người nói, và
cũng là một bài pháp trực chỉ, dạy thực hành công phu điều
phục vọng tâm và an trụ tâm mình, rất thiết thực và vô
cùng quí báu cho những người chơn chánh hành trì Phật đạo
trong mọi thời đại. Câu nói được xác định là của một
trong các vị Tổ Thiền-tông đắc-pháp đã được truyền
đăng, sách vở ghi chép hẵn hòi, chứ chẳng phải là một
câu nói thông-thường, vô thưởng vô phạt của một người
vô danh nào đâu!
Câu
nói ấy xuất phát từ lời đáp của Tổ Nam-Tuyền khi Triệu-Châu
tham vấn Ngài, hỏi thế nào là đạo, để liền ngay đó,
Triệu-Châu vừa nghe những lời khai thị, hốt nhiên tỉnh
ngộ, tự tâm tức thì bừng sáng, thông tỏ lý đạo, diệu
nhập Phật tâm.
“Một
hôm Triệu-Châu hỏi Tổ Nam-Tuyền:
-Thế
nào là Đạo ?
Nam-Tuyền
đáp: -Tâm bình thường là Đạo.
Hỏi
tiếp: - Có thể tiến đến được không ?
Nam-Tuyền
đáp : - Vừa nghĩ tiến, chợt trái.
Hỏi
tiếp: - Không nghĩ làm sao biết được Đạo ?
Nam-Tuyền
đáp: - Đạo chẳng thuộc biết hay không biết. Biết là vọng
giác, không biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì chẳng
nghi. Ví như hư không, thênh thang rổng rang đâu có thể nói
là phải hay quấy.
Ngay
nơi câu đáp này, Triệu-Châu tỏ ngộ lý Đạo.
(Thiền-Sư Trung-Hoa - HT. Thanh-Từ - Trang 341)
Qua
mẫu đối thoại trên, nếu cứ chấp lên tướng mạo của
ngôn từ, chữ nghĩa để thấy, nghe, hay, biết, tức "thấy
biết" bằng vọng tâm điên đảo, biết bằng tâm ý thức
phân biệt trói buộc với khái niệm nhị nguyên, thì ngài
Triệu-Châu kia cũng như bao nhiêu người khác trên đời này
sẽ không cách nào lọt vào cửa Nam-Tuyền. Mà không thâm nhập
được cữa Nam-tuyền thì không cách nào có thể thấy biết
như thật, tự trả lời như thật Đạo là gì, cũng như ngay
đó tự rõ luôn một cách chơn thật thế nào là Tâm Bình
thường, tại sao Tâm Bình-thường lại là Đạo, tức cùng
Đạo tự một, như nhứt dung thông.
Mẫu
đối thoại trên thể hiện một cách tiêu biểu Pháp Trực-Chỉ
(chỉ thẳng ngay tâm, thấy tánh thành Phật) của Tông Thiền,
là Đốn-Giáo của Huệ-Năng Lục-Tổ, tức cũng không ra ngoài
Chánh-Pháp Nhãn-Tạng vi diệu của đức Thế-tôn.
Ngài
Nam-Tuyền đã nương câu hỏi của Triệu-Châu, dẫn dắt Triệu-Châu
tới chỗ tự lìa tri thức phân biệt phàm tình của vọng
giác tới chỗ hoàn toàn bặc vọng niệm, để phát huy tánh
thấy biết chơn thật, không đổi, khiến ngay nơi chỗ mịt
mù không một niệm sanh khởi, hốt nhiên nhận ra tánh biết
sáng suốt, thường hằng, bất động cũng là cái tâm bình
thường vốn luôn tự sẵn có, tự tại, như như, là bản
thể uyên nguyên vô thỉ vô chung, là thể tánh chơn thường
của Đạo. Cũng có nghĩa là Tổ Nam-Tuyền đã dẫn dắt Triệu-Châu
từ chỗ đang thấy lầm, biết lầm bằng tâm ý thức phân
biệt do vọng duyên lập thành, trói buộc với khái niệm tương
đối (có không, thường đoạn) trong vọng nghiệp nhơn quả,
trở về lại chỗ thấy biết bằng tánh biết tuyệt đối,
sáng suốt, không lầm, không đổi, bất động, tự chủ, tự
tại cũng là bổn tâm chơn như, thường hằng, vô ngã, bất
biến, phi sanh diệt.
Đức
Thế-tôn phát minh ra hằng vạn pháp môn để dẫn dắt, nhưng
cứu cánh chỉ một nẻo đến, là diệu nhập Phật tâm, để
tự sáng suốt mà không lầm nhơn quả. Hễ chợt không lầm
nhơn quả thì mỗi mỗi tự biết việc mình phải làm, tự
tại đến đi.
Học
Phật, tu Phật cứu cánh sáng tỏ Phật tâm, tức trở về
lại bổn nguyên thanh tịnh. Muốn trở về lại bổn thể uyên
nguyên, tuyệt đối, chỗ không một pháp có thể lập (tạm
mượn từ gọi là chỗ chứ thật ra không một chỗ nào),
hành giả phải biết tự lìa sạch sẽ tâm ý thức phân biệt,
trói buộc với các pháp hư vọng có không, thường đoạn
trôi chảy, biến hiện trong nghiệp thức nhơn quả.
Đức
Phật đã từng dạy:
Ngã
thường thuyết không pháp. Viễn ly ư đoạn thường - " Ta
thường thuyết pháp chơn không. Xa lìa chấp đoạn, chấp thường".
(Lăng-Già kinh).
Nghĩa
là, Phật thuyết pháp chơn như, dẫn dắt chúng sanh thâm nhập
cảnh giới chơn như, tức bổn tánh chơn thuờng, tự tại,
như không như có, như hư như thiệt mà tri kiến, ngôn ngữ
của loài người chẳng thể với tới. Ngài dạy, hãy nên
xa lìa tất thảy mọi trói buộc đối với giá trị tương
đối của nhơn quả, như có không, phải trái, lành dữ, hơn
thua, cao thấp, thánh phàm, đúng sai, còn mất, vv… và vv…
Một khi tự tâm chúng sanh rổng rang, trong sáng, không một
niệm nào khởi sanh hệ lụy tới vọng nghiệp nhơn quả, thì
chỉ sát na diệu nhập bổn tánh chơn như, cũng là đồng một
với Đạo, là huyền đồng với Đạo thường, cũng là sáng
tỏ Phật tánh, là thể dụng chung cùng, tánh tướng dung thông,
là thấy biết rõ ràng, không lầm nhơn quả.
Đối
với pháp môn tối thắng "Trực chỉ nhơn tâm" của Tông-Thiền,
muốn an nhiên lọt vào cữa Tổ-sư, tức được Tổ ấn chứng
Phật tâm đã sáng tỏ, cũng là tỏ ngộ Phật tánh, thì hành
giả chỉ có một cách là khéo biết dùng trong nhất thời
(sát-na) cái "tâm không tâm" bặc vọng niệm, lìa tri kiến,
vô phân biệt, không một niệm sanh diệt vọng động, để
tức khắc vượt qua được cái cữa không cữa của Tông môn,
cũng tức tự một "Đang-là" chơn tâm, pháp tánh như-thị.
Cái
tâm không tâm ấy cũng tức là cái tâm bình thường, cái tâm
uyên nguyên, vốn tự sẵn có xưa nay chưa từng hư mất, sáng
trong, tự tại, thường hằng, bất biến, mà diệu dụng thì
đang trong trạng thái buông rơi cùng tột, ngĩa là vô thủ,
vô xả, vô ngã, vô tác ý, không một vọng niệm khởi sanh
hay khởi diệt hiện hữu trong đây, cũng là Phật tâm, Phật
tánh, cũng là Đạo thường hiện hữu. Gọi sao cũng được,
bỡi chỉ duy nhất một nó mà thôi.
Cái
tâm bình thường cũng là bản thể tuyệt đối, uyên nguyên,
thanh tịnh, sáng suốt, không đến không đi, nhưng lại ảo
diệu, sâu mầu, linh hoạt, tự tại, bất biến. Bất biến
nhưng hay tuỳ duyên khởi sanh vạn pháp. Nhà Phật gọi
là Phật tâm, là Chơn-tâm, là Tánh Phật chúng sanh, còn Lão-Tử
thì tạm đặt tên cho cả thể lẫn dụng của thể-tánh này
là "Đạo". Sở dĩ nói tạm đặt tên cho là vì với nó, trong
chỗ tột cùng chơn thật thì thanh tịnh chơn như, tuyệt
vô đối đãi. Nên chỉ có tự một với nó, cùng nó tuyệt
đối, không sở không năng, không hai không khác, tự tại viên
mãn, bất động, nhứt như thì mới được gọi là uyên nguyên
chơn thật, nên tự nó cũng chẳng có tên gọi. Bằng là hai,
là khác với nó, là cùng nó đối đãi, là đặt tên cho nó,
thì với chỗ biết nó đó (vọng thức) thì tự nó không còn
là nó chơn thật nữa, ngay đó cái biết (vọng) đối cùng
tánh biết chơn thật (Đạo) liền tự chia lìa, bị che chắn,
tự đi vào tối tăm, tự trói buộc vào vọng nghiệp vô minh
nhơn quả.
Thế
cho nên, Lão-Tử mới tạm đặt tên cho bản thể chơn thật,
sáng suốt, tuyệt đối, nhưng uyên áo, huyền mầu kia là Đạo,
và giải thích về Thể tánh và Diệu-dụng của Đạo
như sau:
"Đạo
khả đạo phi thường đạo. Danh khả danh phi thường danh.
Vô
danh thiên địa chi thuỷ. Hữu danh vạn vật chi mẫu.
Cố
thường vô dục dĩ quan kỳ diệu. Thường hũu dục dĩ quan
kỳ khiếu.
Thử
lưỡng giả đồng. Xuất nhi dị danh. Đồng vị chi huyền.
Tạm
dịch nôm na cho dễ hiểu:
"Đạo
mà có thể nói ra được (dùng miệng mồm, tri thức, khái
niệm để chỉ vẽ hay mô tả ra được) thì nó chẳng
còn là chơn đạo, chẳng còn là thường đạo tuyệt đối
nữa.
Tên
mà được gọi thành tên thì tánh chơn thật tuyệt vô đối
đãi của nó chẳng còn tuyệt đối nữa, vì đã là hai,
là khác rồi.
(Cái
chỗ) không tên có thể gọi (tướng thật không tướng, vô
tự tánh, chơn như vô ngã) là khởi nguyên của trời đất.
Có
tên có thể gọi, là mẹ của vạn vật.
Cho
nên, không vọng dục (móng khởi) thì (mới có thể) đạt
cùng "một" chỗ sâu mầu, ảo diệu (vô ngã chơn như năng
sanh vạn pháp). Bằng thường hay (móng khởi) vọng dục thì
liền bị che lấp tối tăm (chia lìa, cùng Đạo là hai, là
khác, là đi vào tăm tối vô minh).
Cả
hai trạng thái (vô dục, hữu dục; tánh và tướng) vốn tự
đồng một (thể tánh và diệu dụng tự một, bất phân ly).
Bỡi
vì có ra vào, đến đi, thâu giũi (hữu và vô, diệu và khiếu)
mà tên chung có khác nhau.
Chỗ
(có ra vào, tới lui, co giũi, tức bất biến mà hay tuỳ
duyên, tuỳ duyên mà vẫn bất biến) cùng đồng (trọn trong
thể tánh nhứt như mà ảo diệu) ấy gọi là huyền mầu,
ảo diệu vậy ".
Lão
tử đã tạm mượn lời chỉ ra giùm cho chúng ta có chút khái
niệm về thể tánh bổn lai, tuyệt đối (Đạo, Phật tâm,
chơn tâm) cũng là cái tâm bình thường, cũng là Thường-Đạo
thanh tịnh, không tên tuổi, là khởi nguyên của trời đất.
Khi không móng khởi vọng dục, thì liền tự "một" trọn
cùng nó (vì chúng sanh luôn tự hàm tàng, tự sẵn có nó) tức
"một" bổn thể tự tại, sáng suốt, tịch lặng, chơn như
vô ngã, sâu mầu, ảo diệu, viên mãn, thường hằng, nói không
thể tới.
Bằng
cũng một nó, tức thể tánh chơn thường tịch lặng luôn
tự hàm tàng kia, cũng tức cái tâm bình thường luôn tự sẵn
có này, nhưng nếu móng khởi vọng dục hay động niệm này,
nọ lăng xăng thì các pháp vọng (huyễn pháp) ngay đó xảy
sanh, cũng là lúc tự cùng Đạo, tự cùng bổn tánh tuyệt
đối chia lìa, là hai là khác, là có đối đãi, là bị tối
tăm che lấp, là tự trói buộc vào vọng nghiệp vô minh.
Nghĩa
là, thể tánh bổn lai luôn tự hàm tàng trong mỗi chúng sanh,
cũng là cái tâm bình thường, là Đạo, vốn dĩ uyên nguyên
tự tại, bất động, như như, không sanh không mất, nhưng
khéo sanh các pháp. Không khởi vọng niệm thì thể cùng tánh
linh động, dung thông, sáng trong, chơn thường, như nhứt, là
một. Bằng một niệm khởi vì chấp ngã, hay nói theo ngôn-ngữ
của Lão-tử là vọng dục móng khởi, thì nó liền không còn
là nó nữa, là tự đi vào chỗ lấp che, tăm tối, tức cùng
các pháp sanh diệt trói buộc.
Chúng
tôi đem câu nói của Lão-tử vào đây cốt để làm sáng tỏ
mục đích cần đề cập là cái tâm bình thường của người
sáng Đạo. Đức thánh Lão cũng có cái nhìn thấu suốt về
bổn thể và diệu tánh của Đạo, tuy không nói rõ tới lý
duyên khởi nhưng trong chỗ thầm kín thì ý vẫn không khác.
Dù
làm thân tướng trong các loài hữu tình, thì cái tánh bổn
lai vẫn không hề mất, vẫn luôn hàm tàng cách kín nhiệm,
linh hoạt mà huyền đồng, trong các tướng sanh diệt kia. Cho
nên Lão tử mới nói, chỉ vì có ra vào, co giũi, xuất nhập,
hữu vô (tức bất biến mà năng sanh các pháp) mà được gọi
tên khác nhau, chứ Thể và Dụng của Đạo vốn dĩ tự huyền
đồng trong "một", không hai, không khác, bất khả phân ly.
Hễ phân ly thì không còn linh hoạt nữa. Chỗ có ra vào, đến
đi nhưng không hề mất tánh tự tại, chơn thường, ảo diệu,
linh hoạt thì bất khả thuyết, bất khả tư nghị, chỉ tạm
gọi là huyền diệu vậy thôi, mà quan năng, thức trí chẳng
thể với tới. Nhận ra được chỗ này một cách chơn thật,
tức cùng nó "tự đồng", Đang-là, thì liền không lầm nhơn
quả, tự tại đến đi. Hàm linh hữu tình ai ai cũng tự hàm
tàng, tự sẵn đủ bổn thể chơn thường và diệu dụng tánh
Phật chúng sanh như vậy.
Cho
nên, vì hạnh nguyện cứu độ mà các Đại Bồ-tát đã hiện
tướng vào ra trong khắp các cảnh giới để tuỳ duyên giáo
hóa, làm tự lợi và lợi tha, tự giác giác tha mà không hề
xa lìa bổn tánh chơn thật, sáng suốt, tự tại, cũng tức
là thường biết bằng tánh biết tuyệt đối, sáng suốt,
bất động của Phật tâm, nên không lầm nhơn quả, nhơn quả
chẳng thể trói buộc. Việc ấy có khác chi tạm mượn các
thân tướng du hí thần thông trong các cõi để làm tất thảy
các hạnh lành mà vị tha cứu độ, thì cũng có nghĩa là trọn
sống trong bổn thể bình thường, tự tại của tâm, cũng
là Đạo, thể dụng nhứt như, tánh tướng viên dung,
không lầm nhơn quả, tuỳ duyên thuyết pháp độ sanh.
Còn
chúng sanh, vì tâm lúc nào cũng loạn động, móng khởi vọng
dục nên xa lìa tánh tự tại bổn lai sáng suốt, không thấy
biết bằng tánh biết tuyệt đối vốn tự sẵn có, luôn tự
hàm tàng, mà bị biết lầm, thấy lầm bằng cái thấy biết
do vọng duyên sanh khởi, cũng tức là tự kết buộc với vọng
nghiệp, tự dấn sâu vào vô minh nhơn quả vậy.
Một
vị Tổ của Tông Thiền đã mượn lời nói về nó, tức bản
thể tuyệt đối, cũng là cái tâm bình thường uyên nguyên
tự tại, cũng là Đạo-Thường của Lão-tử, cũng là
tánh Phật chúng sanh.
Hữu
vật tiên thiên địa
Vô
hình bổn tịch liêu,
Năng
vi vạn vật chủ,
Bất
vị tứ thời diêu.
Cái
vật không tên tuổi, tồn tại trước khi có trời đất, không
hình tướng, tánh vốn sáng trong lặng lẽ, bất động. Vượt
thoát không gian và thời gian, là chủ của vạn vật. Đó là
bổn thể chơn thật của tâm, của thường Đạo vậy.
Tóm
lại cái tâm bình thường được hiểu ở đây là cái tâm
uyên nguyên, thanh tịnh, bất động, như như, tự chủ, không
đến không đi, không nhiễm pháp trần, không trói buộc với
nhị nguyên, lúc nào cũng tự tại viên mãn, sáng suốt, không
lầm nhơn quả.
Tâm
bình thường đó tức là Đạo, là chơn tâm, cũng là Thể-tánh
và diệu dụng của Phật tâm không khác, gọi ra sao, đặt
tên ra sao cũng được, bỡi chỉ một nó.
Còn
ngược lại với cái tâm bình thường,là cái "tâm không bình
thường", tức cái tâm vọng, cái tâm lay chuyển theo động
niệm,(nói theo Lão-tử là vọng dục móng khởi) xa lìa chơn
tánh, không sáng suốt, không tự chủ tự tại, bị dẫn dắt
đi vào tăm tối, mê mờ, bị thấy lầm biết lầm theo vọng
nghiệp tử sanh, kết buộc với vô minh nhơn quả.
Mượn
pháp Phật để tu hành, khéo biết chuyển cái tâm mê mờ vọng
động kết buộc với vô minh sanh diệt, trở về lại bổn
nguyên chơn như thanh tịnh, tự tại, sáng suốt, không lầm
nhơn quả gọi là "Giác mê".
Cho
nên, ở đây, khi những lời khai thị chợt lìa miệng Tổ,
nếu hành giả là người căn trí linh lợi, khéo biết vận
dụng, khai thông tối đa tánh sáng của trực giác luôn tự
sẵn có để hoà nhập "một" cùng tánh sáng mà những lời
khai thị kia được chư Tổ tự thể hiện trong trạng thái
không tâm, "Đang-Là" trong hiện thực tuyệt đối, cũng là
tự thể hiện nhứt niệm "Đương-Niệm" sáng trong viên mãn
vô nhất vật, thì ngay đó, tự tâm hành giả hốt nhiên triệt
tiêu không lưu dấu tích để tự một cùng chỗ "Đang-là",
tức thường đạo phô bày, chơn tâm hiển hiện.
Trước
mắt, vạn pháp tự như trong thể tánh sáng trong, tròn đầy,
bất động, liền tự có chỗ thấy, nghe, hay, biết bằng một
tánh "Biết - Giác" chơn thật, tự tại, vô ngã, không đến
đi, không còn mất, thanh tịnh, viên mãn, không lầm nhơn quả,
vượt lìa nhơn quả. Nói không đến không đi là chỉ thể
tánh trọn sáng trong, bất biến, bao trùm, xuyên suốt, không
từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu, mà không đâu không
hiện hữu, cũng là tự tâm chơn thường, cũng là Phật tâm,
cũng là Pháp-thân Như-lai, là Pháp-tánh Như-thị.
Khéo
biết vận dụng trí tuệ vào pháp Phật nhiệm mầu mà như
pháp hành trì, thì sẽ tự chuyển hóa được cái tâm bất
bình thường, cái tâm vọng dộng, lăng xăng, biến hiện, cái
tâm tăm tối bị biết lầm vì vọng nghiệp vô minh dẫn dắt,
trở về lại bổn tâm bình thường, chơn như, vốn tự sẵn
có, sáng suốt tự tại, cũng là tánh biết tuyệt đối hiển
hiện; nhận ra chơn tâm, bổn tánh thì tự biết việc phải
làm, bèn sớm làm người vô sự, ứng xử trong nhơn quả bằng
cái tâm bình thường, bất động, như như, tự tại, trong
nhơn quả mà không lầm nhơn quả, không vướng mắc, hệ lụy
vào nhơn quả, tự tại đến đi.
Bằng
ngược lại, nếu không vận dụng được tối đa trực giác
để thấy, nghe, hay, biết vượt cách những lời dạy trực
chỉ của Tổ, mà lại cứ quen dùng quan năng thức ý để
thấy biết, cũng là thấy lầm biết lầm bằng tâm ý thức
phân biệt kết buộc trong vọng nghiệp vô minh, cũng tức là
dùng cái tâm không bình thường để ứng xử, thì khó bề
thâm nhập cữa này.
Nói
rõ hơn, phải biết khéo dùng cái tâm bất động, tự tại,
viên mãn để thấy, nghe, hay, biết cách chơn thật, mà chẳng
phải dùng cái tâm suy lý, phân biệt bằng thức ý, tình tưởng
hư vọng, hay dẫu bằng cái trí bác học còn kết buộc trong
nhơn quả sanh diệt.
Xem
kinh Phật hay nghe pháp cũng vậy, phải nên khéo biết dùng
cái tâm tịnh, cái tâm bất động, như như, vô phân biệt
để thấy, nghe, hay, biết thì mới mong hòa nhập "một" cùng
tâm kinh hay đồng một cùng tâm người nói pháp chơn không,
thì đó tức là diệu thính pháp vậy. Bằng tự thân chưa
làm được như thế thì hãy ráng nhìn vào chính mình mà tịnh
tâm trước đã. Tâm được an định rồi, nhiên hậu hãy xem
kinh hay đọc pháp giải thoát thì mới có ích.
Ngày
nay có rất nhiều người xem kinh, đọc pháp Phật mà như xem
tiểu thuyết hay đọc truyện ngắn không bằng. Chỉ liếc
mắt lướt nhanh qua một lần trên mặt chữ, rồi tự đánh
giá là mình đã hiểu được hay không hiểu được những
gì người khác muốn nói. Lời nào hợp với sự hiểu biết
bằng thế trí tương đối với trình độ tri thức "có chừng
mực" của mình thì khen hay, tự cho là mình có chỗ chứng
thấp, chứng cao như người nói pháp kia không khác. Bằng đọc
mà không thể tiếp thu được vì thiểu trí hay không hợp
với "ý" riêng theo trình độ hiểu biết có giới hạn của
mình, thì liền phủ nhận ngay những gì người khác nói, rồi
cho rằng người ta nói bậy, là khùng khùng điên điên, hay
nói pháp trái nghịch với Phật.
Những
người học Phật như thế chẳng phải là hiếm trong đời
này.
Đành
rằng Phật đạo có vạn nẻo đi, tuỳ căn cơ của mỗi người
mà tiếp nhận một pháp, nhưng không thể đem cái tâm nhỏ
nhoi, trói buộc và chút ít tri thức đã học hỏi được bằng
kinh nghiệm của thế trí mà chê bai, phỉ báng hay phê phán
các pháp lớn mà mình chưa từng có duyên kham nổi.
Những
người như thế đâu biết rằng, một bộ kinh Đại-thừa,
Tối thượng-thừa như Kim-Cang chẳng hạn, gồm ba mươi hai
phẩm, chỉ có một chỗ, một ý cần phải chỉ ra để cho
chúng sanh tự khám phá để ngộ nhập Phật tri kiến, mà đức
Phật đã phải lập đi lập lại nhiều lần trong suốt toàn
bộ kinh.
Nghĩa
là ý Ngài muốn chỉ bày cho chúng sanh cách hàng phục vọng
tâm và trụ tâm không chỗ trụ, mà cốt tuỷ được gói ghém
trong hai phẩm Đại-thừa Chánh-tông và Diệu-hạnh Vô trụ.
Bậc đại trí, căn cơ phước đức, có duyên lớn với Đại-thừa
chánh pháp chỉ cần nghe Phật thuyết một chỗ này là đã
khám phá ra Pháp-thân chơn thật của Như-lai, cũng là mặt
mũi vốn tự sẵn có xưa nay của chính mình hiển lộ.
Thế
nhưng bậc đại trí, đại phước đức trên thế gian này
như ngài Huệ-Năng chẳng hạn, có được mấy người để
có thể vừa nghe pháp lớn là chợt thông tỏ ngay? Cho nên
đức Phật mới tuần tự dẫn dắt cho mọi người, những
ai thuộc vào hàng Trung-Thượng lần lược trước sau, từ
thấp tới cao đi dần vào không tánh để nhận ra tự Phật.
Có
những bậc thượng căn thượng trí xưa nay, cả đời chỉ
ôm khư khư bên mình một bộ kinh Kim-Cang mà hành trì, đọc
tụng. Vùi đầu vùi óc, bỏ cả một đời người vào những
lời Phật thuyết trong bộ kinh này mà tư duy, nghiền ngẩm
còn chưa thâm nhập nổi Phật tri kiến, huống là ngày nay
có không ít người xem kinh Phật, đọc pháp Phật như đọc
truyện thì làm sao có thể bừng sáng được Phật tâm?
Đọc tụng, nghiền ngẫm, tư duy ba mươi hai phẩm trong bộ
Kim-Cang kinh, mà chỉ cần "biết như thật", sáng tỏ như thật
"thật nghĩa" một câu trong đó Phật nói gì, thì liền ngay
đó "Đang-là" Phật tâm không khác, nghĩa là diệu nhập Phật
tri kiến, là sáng tỏ tánh thấy biết chơn thật, tuyệt đối.
Đến chừng đó thì chẳng những ba mươi hai phẩm còn lại
của bổn kinh chẳng còn gì để cần phải đọc nữa, mà
vạn quyển trăm kinh Phật thuyết suốt bốn mươi chín năm
cũng đều vô giá trị đối với một chỗ "Biết-Giác"chơn
thật, mà mình vừa mới khám phá từ câu nói kia, tức cũng
là cái biết tuyệt đối, sáng suốt, không lầm, là chơn tâm,
Phật tánh hiển lộ.
Phật
đạo có hằng trăm ngàn, vạn nẻo để đi tới, tuỳ căn
cơ phước đức của từng chúng sanh mà có đường riêng,
nhưng cữa vào chỉ một, mà chợt "một biết" chơn thật,
sáng suốt thì "tất thảy biết" sáng suốt chơn thật, tức
đã khám phá ra lẽ thật thì liền tự đồng một đệ nhất
nghĩa đế, mà không còn gì để nói.
Bỡi
vậy, đức Phật thường ân cần nhắn nhủ, dặn dò, khích
lệ người đọc tụng những lời dạy chân thật của Ngài,
đại ý như :"Ví như có người dùng bảy thứ báu trong thiên
hạ là vàng, bạc, pha lê, xà cừ, mã não, san hô, phổ phách
chất đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới mà cúng dường
bố thí chư Phật, đem so với người đã thông đạt và đang
thọ trì như-pháp bốn câu kệ mà Phật đã thuyết trong kinh,
cũng như vì người khác mà diễn nói pháp Phật từ cốt tuỷ
bốn câu kệ đó. Thì phước đức của người trước
chẳng bằng một phần trăm, chẳng bằng một phần ngàn, chẳng
bằng một phần nhỏ nhất có thể đo lường được đối
với người sau".
Nghĩa
là sao ? Nghĩa là chỉ cần sáng tỏ, đồng một "đệ nhất
nghĩa" mà bốn câu kệ trong kinh được đức Phật tạm mượn
lời để chỉ bày, tức Đang-là pháp tánh, cũng là diệu nhập
Phật tâm thì phước đức mà người sau có được là
tánh phước đức vô vi giải thoát, còn những của báu kia
chỉ là phước tướng hữu vi sanh diệt. Đem phước tướng
hữu vi sanh diệt có hạn lượng mà so sánh với tánh phước
đức vô vi giải thoát vô hạn, vô biên, bất khả lượng
thì làm sao bằng được.
Thế
nên, trong một bộ kinh, chỉ cần thông đạt bốn câu kệ
một cách chơn thật, tức khám phá và đồng một đệ nhất
nghĩa mà Phật muốn chỉ bày (nhưng môi lưỡi chẳng thể
với tới), thì liền tất thảy thông, là tự một pháp tánh
như-thị mà không lời nào có thể biện bạch .
Phật
đạo bí áo sâu mầu, chẳng thể dùng thế trí phân biệt
hay ngày một ngày hai mà có thể "hiểu" Đạo, tức hoàn toàn
khác với cái hiểu biết bác học nhờ kinh nghiệm và học
tập bằng tâm ý thức sanh diệt trói buộc theo vọng nghiệp
nhơn quả. Nghĩa là trí bác học cần phải có đối tượng
để biết, còn muốn biết Đạo thì chỉ có một cách là
phải tự một cùng nó, là không năng không sở, cùng nó không
khác không hai, cũng là trí "Giác" tuyệt đối vậy.
Dẫu
là người thông thái bác lãm, không việc gì không biết đi
nữa, cũng vẫn bị trói buộc trong vọng nghiệp nhơn quả,
không tự chủ đến đi, không thể viễn ly tử sanh phiền
não, vì chỗ biết đó là vọng biết nhờ các quan năng và
tri thức sanh diệt do nhơn duyên vọng thành. Còn với người
sáng tỏ tánh biết tuyệt đối, thì không tai vẫn nghe, không
mắt vẫn thấy, hay nói rõ hơn thấy, nghe, hay, biết bằng
tánh thấy biết tuyệt đối, sáng suốt, bất động, thường
hằng, phi sanh diệt, nên không lầm nhơn quả, tự chủ tự
tại, nhơn quả chẳng thể trói buộc.
Cho
nên Tổ Nam-Tuyền mới nói : "Đạo chẳng thuộc biết hay không
biết. Biết là vọng thức, còn không biết là vô ký".
Không
thể dùng tâm ý thức, tức vọng thức hư huyễn trói buộc
với vô minh phân biệt, mà có thể biết được Đạo,
mà chỉ có ngay khi Triệu-Châu vừa chợt rời lìa tâm ý phân
biệt, bặc tri kiến, không một niệm khởi sanh, hay khởi diệt
để tự ngay đó đón nhận câu nói của ngài Nam-Tuyền trong
một góc độ vượt cách, phi khái niệm, thì, không quá sát
na tự tâm rộng mở như hư không, rổng rang vắng lặng, liền
có chỗ thấy, nghe, hay, biết bằng tánh biết sáng suốt, vạn
pháp trôi chảy trong thể tánh chơn thật, không lầm nhơn quả,
bất động, như như. Ngay đó, tự thân tiến lùi không chỗ
nương vin, đến cái “Ta” của tự ngã cũng dòm không thấy
nữa, trước mắt tự tại, vô ngã, chơn thừơng.
Có
thể miễn-cưỡng tạm ví trạng thái tâm thể lúc này như
mắt tâm vô hình, vô biên không ngằn mé, không đâu không
hiện hữu, bao la trùm khắp, ngắm nhìn qủa đất đang đứng
bé tẹo như hạt bụi, biến hiện mất còn không chỗ dính
dấp; ngay đó khái niệm về không gian và thời gian triệt
tiêu, vì trước mắt, cái biết chơn thật cũng chính thiệt
một ta, tức bản thể thanh tịnh, tuyệt vô đối đãi, không
đến không đi, không còn không mất, không sáng không tốâi,
phi sở phi năng, nói không thể tới. Và cũng chính ngay ấy,
liền tự rõ như thật thế nào là Đạo và rõ luôn một cách
chân thật thế nào tâm bình-thường là Đạo vốn tự sẵn
có xưa nay chưa từng rời lìa mình.
Bằng
nghe lời khai thị của Tổ Nam-Tuyền mà không tự vượt thoát
nổi bản ngã để thăng hoa cùng "một" với Đạo, thì còn
trói buộc với vô minh nhơn quả. Nghĩa là thay vì có
thể ngay trong "nhứt thời" tự một cùng chỗ mà Tổ Nam-Tuyền
tự "Đang-là", thì lại bị chướng ngại bỡi tồn tại cái
chủ thể hữu ngã "biết" dùng tri-thức phân biệt để thấy
biết, tức cũng là hai, là khác với Đạo, rồi mượn miệng
lưỡi, chữ nghĩa, tri kiến phàm tình để biện luận, lý
giải, hay diễn giảng lên chỗ bị chấp, thì càng diễn càng
xa Đạo. Đạo không thuộc "biết" bằng vọng thức sanh diệt
hay "không biết" vì vô ký hôn trầm tăm tối. Cả hai cái biết
và không biết này đều không chỗ can hệ, không chút dính
dấp tới Đạo. Cho nên nếu còn dùng tâm ý thức khởi niệm
tưởng "tiến" đến Đạo thì cũng là càng tự lìa xa Đạo,
càng muốn "biết" Đạo thì tự càng bị mất Đạo, càng ra
công tìm Đạo thì càng khó thấy Đạo, tánh Đạo càng bị
khuất lấp do chính cái thấy lầm, biết lầm của vọng thức
kết buộc trong vô minh che chắn. Dẫu có biết Đạo bằng
cách nào đi nữa khi mà Đạo còn là đối tượng để biết,
thì chỗ biết ấy cũng chỉ là khái niệm, chẳng phải là
chỗ biết như thật khi đã tự "một", Đang-là cùng Đạo
nhứt như, cũng là lúc không còn biết ai biết, có cái gì
để được biết, lấy gì để nói biết. Cho nên, đức Thế-tôn
mới nói răn, mới dè chừng để cho chúng sanh cõi này không
nhận lầm Pháp-thân chơn thật của Ngài: "suốt bốn mươi
chín năm thuyết pháp mà môi chưa hề động", tức là ý nghĩa
này vậy.
Đạo
thường thì nói không thể tới. Chỗ chơn thật tuyệt đối,
không một pháp có thể lập, tự tại, viên mãn, như thật
như hư, như không như có mà Ngài muốn phô bày, thì cũng ngay
ấy Ngài tự Đang-là, thì môi lưỡi nào có thể động mà
không bị kẹt?!
Đạo
không ở đâu xa mà ngay trước mắt. Người căn cơ hãy khéo
biết nhìn vào trong chính mình và chợt quên đi tự ngã, thì
chơn Ngã vô ngã, là chơn Tâm, cũng là cái Tâm bình thuờng,
là Đạo dễ thường hiển lộ lúc nào không hay.
Nói
"Đạo" tức là tạm mượn lời đề-cập tới bổn thể và
diệu dụng của chơn tâm, Phật tánh mà chính mình cùng Đạo
ngay ấy đang-là, là trạng thái chơn thật tuyệt đối của
thể tánh vạn pháp, là tánh thấy nghe hay biết chơn thật,
là tánh tướng viên dung, thể dụng huyền đồng, là tự tại
đến đi trong chỗ linh diệu sâu mầu của lý duyên khởi,
bất biến mà vẫn tuỳ duyên.
Diệu
nhập Phật tâm, cũng là tự sáng tỏ tánh bổn lai, tức thấy
biết bằng tánh biết sáng suốt, tuyệt đối, tự tại, không
lầm, thì liền nhận ra trong chỗ cùng tột, mà cũng chính
thiệt một ta, tánh cùng tướng, hữu vi và vô vi, tức thể
và dụng, tịnh và động luôn tự hòa quyện làm một, bất
phân ly khiến chúng sanh có thể nói, cười, chạy, nhảy, đi
đứng, leo trèo vv…mà nói không thể tới. Bổn thể tuyệt
đối và tánh của nó vốn dĩ hòa quyện, chung cùng, nhứt
như, vắng lặng, cho nên, hễ chợt nói ra (động) thì tự
cùng nó chia lìa, ngăn cách, phân ly, là hai là khác, là không
còn nhứt như, chẳng còn thiệt nó, như đề cập tới cái
xác chết mà chẳng phải nói về một con người linh hoạt
vậy.
Cho
nên, với Đạo thì không thể dùng trí-giải của vọng thức,
cũng là tâm ý thức hư huyễn mà có thể thâm nhập được,
mà chỉ có thể dùng một tâm không tâm, vô phân biệt, lìa
khái niệm, bặc tri kiến, phi đối đãi, tức dùng những gì
đồng với tánh nó thì mới có thể hòa “một” với Đạo
được.
Bổn
thể tuyệt đối (Đạo) vốn dĩ chơn như, không tướng, vô
hạn, vô biên nên không thể dùng cái hữu tướng, hữu biên,
hữu hạn mà có thể hòa một được. Cho nên, tất-cả
những lý-giải, phân tích, biện biệt bằng tâm ý thức, tức
các pháp tướng hư vọng, huyễn giả phàm tình đều chẳng
can-hệ, chẳng dính dấp một chút mảy may nào đến tánh sáng
tuyệt đối của Phật tâm, cũng là chơn tâm, tự tánh. Bằng
một khi nhờ pháp Phật tu tập mà tự thể nghiệm được
bổn tâm chơn thường, không tướng, vô hạn, vô biên để
"một" cùng Đạo, thì ngay ấy, như uống nước nóng lạnh
tự biết, như người câm ăn mật tủm tỉm cười thầm mà
không thể động môi, động lưỡi, mới là chỗ tột cùng
chơn thật, mới không bị tri thức, ngôn ngữ, chữ nghĩa,
tai mắt đánh lừa, không bị cùng đạo chia lìa, che lấp.
Như
vậy, qua mẫu đối thoại trên, chúng ta thấy ngài Nam-Tuyền
đã trực tiếp dẫn dắt Triệu-Châu tự cởi bỏ hết những
gì mà ông ta đã từng tích góp (thấy, nghe, hiểu, biết, suy
nghĩ bằng tâm ý thức hư vọng) để chỉ còn lại một cái
tâm trống rổng, thênh thang, sáng trong, vắng lặng, Đang-là
"một" với cái tâm bình thường vốn tự sẵn có xưa nay,
cũng tức là ngộ ra cái tâm bình thường vốn thiệt là Đạo
mà ngài Nam-Tuyền đã chỉ bày trước đó.
Nói
thế cũng chẳng khác Triệu-Châu đã dùng cái tâm bình thường
của Đạo để tự sáng Đạo, nghĩa là dùng cái tâm không
tâm, vô tác ý, không một niệm khởi sanh hay khởi diệt, rổng
rang, thênh thang để an nhiên diệu nhập vào cữa Nam-Tuyền.
Cho
nên, ngài Nam-Tuyền há chẳng từng dạy “Tâm chẳng phải
Phật, Trí chẳng phải Đạo” hay sao, mà chúng ta hay dùng
thế trí biện thông để mong cầu vào được cữa Đạo ?
Lại
nói thêm một chút để khỏi phải nhận lầm. Chữ "tâm" trong
câu nói của Tổ Nam-Tuyền "Tâm chẳng phải Phật" tức ám
chỉ cái tâm "hư" do nhơn duyên vọng lập, vọng biết, vọng
thấy, lầm biết, lầm thấy bằng thức ý sanh diệt do nhơn
duyên vọng thành, trói buộc với vọng nghiệp nhơn quả.
Bằng
nói "Tức Tâm tức Phật", hay "Phi Phật phi Tâm" là chỉ chỗ
cùng tột, tức chơn tánh tự tại, sáng suốt, thanh tịnh,
tuyệt đối, không tên tuổi, là thể của Đạo, bất khả
thuyết, bất khả tư nghì, nói không thể tới vậy.
Đoạn
công án trên thật hay vô cùng. Người nào lợi căn, ham thích
tu học, dám dõng mãnh buông tay để có thể rơi tự do vào
hố thẳm không đáy của tự tâm, hầu mong gặp lại mặt
mũi chơn thật vốn tự sẵn có xưa nay của chính mình, thì
cứ nên tự trong đó mà rình rập, khéo biết dùng công án
trên làm chìa khóa để tự mở tâm mình, thì cũng có lúc,
chỉ chợt sát na, cữa Đạo mở toang, tự hòa nhập Đạo
một cách tự tin và chân thật, mà trước đó cũng một sát
na thôi, đối diện là bức tường thành cao thẳm, xa vời,
trơn tru, kiên cố, không cữa nẻo mà tự thân không nghĩ làm
sao xoi cho thủng, hay húc đầu cho qua nổi.
Chợt
mở, thì nhìn lại chẳng có chi là thành trì cữa nẻo, ngay
đó trước mắt là Đạo; Đạo cũng thiệt một ta, mà ta cũng
chẳng hai cùng Đạo, tất thảy chỉ Một tuyệt đối, chơn
thường như nhứt, bình đẳng dung thông, tự tại viên mãn,
phi khái niệm, vô đối đãi, không một pháp có thể lập.
Bằng chợt có vọng niệm xảy sanh thì cũng ngay đó tự lìa,
là cùng Đạo là hai là khác, là tự trói buộc vào nhơn quả,
sanh diệt. Đến chỗ này chỉ tự thân chứng nghiệm, chẳng
còn gì để nói, bỡi ngôn ngữ, tri thức, khái niệm không
chỗ can hệ.
II.
Làm thế nào để có được cái Tâm Bình-thường.
"Sống
với cái tâm bình thường tức sống Đạo" là một pháp tu
tích cực của Tông-Thiền, khiến người căn cơ trí tuệ hành
trì pháp này một cách chơn chánh thì dễ thành tựu đại
công đức là kiến tánh. Đó chính là ý chỉ của người
xưa vậy.
Thiệt
ra pháp tu "Sống với cái tâm bình thường là sống Đạo"
chẳng phải đợi Tổ Nam-Tuyền hay chư Tổ Thiền-Tông sau
này nói ra mới biết, mà từ ngàn xưa, cách đây trên hai ngàn
năm trăm năm, đức Thế-tôn đã phát minh và dạy pháp này
cho đệ tử của Ngài là các hàng Bồ-tát trong Pháp-hội.
Ngài
bảo đại ý, hàng Bồ-tát hãy nên áp dụng cái tâm bình thường
vốn tự sẵn có vào ngay trong cuộc sống của chính mình,
để lúc nào cũng luôn gần gũi với Đạo, là "một" với
Đạo, nghĩa là Thể và Dụng chung cùng, Tánh và Tướng dung
thông, bất khả phân ly, không hai không khác, cũng là ngay đó
thể nghiệm thân tâm linh hoạt trong cuộc sống mà hiện tiền
tự tại giải thoát.
Nghĩa
là sao ? Nghĩa là sống, là làm, là không làm, là nói, là nín,
là động tay múa chân, là nằêm, ngồi, đi, đứng, uống,
ăn, ngủ, nghỉ, bố thí, thuyết pháp để cứu độ chúng
sanh vv…… tuỳ duyên trong mọi hoạt dụng hằng ngày mà không
móng khởi vọng niệm trói buộc, không níu kéo với tất thảy
trần lao phiền não, cũng tức là khiến cho tánh sáng láng
của đạo không bị che lấp, không tự chia lìa cùng Đạo.
Nghĩa là làm tất thảy việc nơi cảnh giới nhơn quả, ngay
trong hiện thực trước mắt, mà không hề rời lìa bổn tánh
sáng suốt, chơn thật, tự tại, tức không lầm nhơn quả,
nhơn quả chẳng thể trói buộc, cũng là tự tâm hiện tiền
giải thoát vậy.
Nói
rõ hơn, làm tất thảy việc mà thiệt không thấy có chỗ
làm. Làm mà không khởi vọng niệm trói buộc với nhị nguyên
phân biệt, không vướng mắc với trần cảnh, nghĩa là tuỳ
thuận nhơn duyên để được tự lợi và lợi tha, hay để
trả ơn chư Phật mà làm hay không làm, mà nói hay nín, bằng
cái tâm rổng rang, trong sáng, không đến không đi, không tâm,
vô tác ý, nghĩa là không nắm cũng không buông, không ngã cũng
không pháp, như như bất động.
Tự
tâm làm được một cách chơn thật như thế tức là sống
Thiền, sống Đạo, là Định, là nhập Không-Tam-muội, là
du hí thần thông, là sáng suốt không lầm nhơn quả, là tự
vượt lìa nhơn quả, bỡi lúc nào cũng trọn trong nhứt niệm
"Đang-là", cùng Đạo trong chỗ Thể-Dụng nhứt như, dung thông
tự tại, sáng suốt, viên mãn, cũng là Pháp thân thường trụ,
là Pháp tánh Như-thị, là thường lạc ngã tịnh.
Bằng
ngược lại với cái "tâm bình thường", là sống với cái
tâm không bình thường, xa lìa Đạo, tức cái tâm tối tăm,
hư huyễn do nhơn duyên vọng lập, lúc nào cũng lăng xăng vọng
động, trói buộc với trần lao phiền não, vướng mắc với
các pháp tướng sanh diệt, biến hiện mất còn từng mỗi
sát na, cũng là vọng biết, vọng thấy, cũng là biết lầm,
thấy lầm vì mê mờ theo vọng nghiệp vô minh nhơn quả. Tâm
không bình thường là cái tâm chấp ngã, chấp pháp, không
thoát khỏi sự ràng buộc của tứ tướng, sự hệ luỵ, níu
kéo của lợi và danh.
Tại
sao khẳng định đức Thế-tôn đã dạy cho các hàng Bồ-tát
trong Pháp-hội nên biết sống với cái tâm bình thường là
Đạo, để cứu cánh hiện tiền giải thoát?
Đó
chính là điểm kỳ đặc của đức Thế-tôn mà Đệ Nhất
Giải-Không Tu-bồ-đề đã khám phá ra, nhưng Tôn-giả chưa
thật sự rõ biết nên mới khải thỉnh Phật khai thị giùm
cho.
Do
thường ngày cùng sinh hoạt chung, cùng đi khất thực, cùng
về một chỗ thọ trai, ăn xong thì rửa bát, rửa tay chân,
rồi thay y. Đức Phật thì lên toà thuyết pháp, còn đại
chúng thì đến ngồi quây quần bên Phật để nghe pháp.
Công
việc thường này của từng mỗi người, và cả pháp hội
đại khái là như vậy, hầu như ai cũng giống ai, và cũng
chẳng có ai thắc mắc hay cần tìm hiểu một điều gì khác
lạ. Tuy nhiên, với Giải-Không Tu-Bồ-đề thì lại khác. Tôn-giả
đã loáng thoáng nhận ra được chỗ kỳ đặc của đức Phật
: từ trong tâm ra đến ngoài thân, Thế-tôn lúc nào cũng thư
thái, bình ổn, an lạc, thanh tịnh, tự tại, giải thoát; còn
với Tôn-giả và tất thảy đại chúng trong Pháp-hội thì
hoàn toàn không được như thế, nghĩa là thân tâm đại chúng
lúc nào cũng vọng động, lăng xăng, bất an, trói buộc.
Khám
phá ra điểm kỳ đặc đó, Tôn giả Tu bồ-đề đã mạnh
dạn thưa thỉnh với đức Phật, cầu Ngài chỉ cho ông ta
và đại chúng, làm thế nào để hàng phục được cái tâm
lăng xăng, vọng động lúc nào cũng vướng mắc, hệ-lụy
với phiền não trần lao, cũng như làm thế nào để an trụ
được tâm, khiến thân tâm lúc nào cũng thường, lạc, ngã,
tịnh, niệm nào cũng là nhứt niệm "Đương niệm" sáng suốt,
tự tại, vô ngã, giải thoát như Phật không khác.
Thiệt
là Tôn-giả Tu-bồ-đề đã gãi trúng chỗ ngứa của Phật.
Đã từ lâu, gần suốt hai mươi hai năm sau khi khởi chuyển
pháp luân, đức Phật mong mỏi có được cái ngày này, cái
ngày mà có người khám phá ra Pháp-thân chơn thật của Như-lai,
cầu Ngài thuyết pháp khiến Ngài có thể giải bày được
nỗi oan vì sự hiểu lầm của thế gian về Thật-tướng Không-tướng
của Ngài, cũng như chỉ bày ra cho chúng sanh tỏ ngộ tự tánh
Phật, cũng là hình hài chơn thật vốn tự sẵn có xưa nay
chưa từng sanh diệt của mỗi chúng sanh, cũng là ngộ nhập
Phật tri kiến, là "một" Pháp-giới thường trụ, để không
lầm nhơn quả.
Tỏ
ngộ Phật tánh rồi, lại phải khéo biết trọn sống chơn
thật trong nó để tu hành, làm tất thảy việc mà không rời
lìa tự tánh, thì trước mắt, đương niệm "Đang-là" pháp
tánh như thị, thanh tịnh giải thoát mà chẳng cần phải chờ
tới chết mới được tự tại. Đó là chỗ nhiệm mầu, cao
sâu, linh diệu, không thể nghĩ bàn của Phật đạo.
Qua
lời khải thỉnh của Tôn-giả Tu-bồ-đề, Đức Thế-tôn
đã ngợi khen ông không hết lời và cũng ngay đó Ngài tuyên
thuyết Kim-Cang Kinh, để khai thị cho người thế gian ngộ
nhập Phật tri kiến.
Trong
bài viết ngắn này, chúng tôi chỉ đề cập tới hai câu cốt
tuỷ của bộ kinh này, có liên quan trực tiếp đến cái "Tâm
Bình thường là Đạo" mà ngài Nam-Tuyền đã đề xuất, tức
hai câu trả lời "trực chỉ" ngắn gọn của đức Phật cho
Tôn-giả Tu-bồ-đề, mà không nói tới những ý khác trong
kinh. Mà thật ra, dẫu có mổ xẻ hết ba mươi hai phần trong
toàn bộ kinh này thì cốt tủy mà đức Phật muốn chỉ bày
cho thế gian cũng chỉ gói ghém trọn vẹn trong hai ý chính
là hàng phục vọng tâm và trụ tâm vô sở trụ mà thôi.
Qua
câu hỏi của Tôn-giả Tu-bồ-đề, đại ý rằng, hàng Bồ-tát
như đại-chúng trong pháp hội, đang phát tâm cầu Vô-thượng
Bồ-đề, thì nên trụ cái tâm như thế nào, nên hàng phục
cái vọng tâm ra sao (để có được thân tâm hiện tiền giải
thoát như Phật không khác) ?
Đức
Phật đã dạy, đại ý :
a). Các hàng Bồ-tát nên hàng phục vọng tâm bằng cách như
vầy:
Sở
hữu nhất thiết chúng sanh chi loại. Nhược noãn sanh, nhược
thai sanh, nhược thấp sanh nhược hóa sanh, nhược hữu sắc,
nhược vô sắc, nhược hữu tưởng nhược vô tưởng, nhược
phi hữu tưởng phi vô tưởng, ngã giai linh nhập Vô-dư Niết-bàn
nhi diệt độ chi. Như thị diệt độ vô lượng vô số vô
biên chúng sanh thật vô chúng sanh đắc diệt độ giã. Hà
dĩ cố ?Tu bồ-đề ! Nhược Bồ-tát hữu ngã tướng, nhơn
tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng tức phi bồ tác.
Có
cả thảy các loại chúng sanh: hoặc sanh trứng, sanh con, sanh
chỗ ẩm ướt, hoá sanh, hoặc có sắc, không sắc, có tư tưởng,
không tư tưởng, hoặc chẳng phải có tư tưởng chẳng phải
không tư tưởng, Ta đều khiến vào Vô-dư Niết-bàn mà diệt
độ. Diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh như thế,
nhưng thiệt không có chúng sanh nào được diệt độ cả.
Bỡi cớ sao? Này, Tu-bồ-đề ! Bồ tát mà còn có tướng Ngã,
tướng Nhơn, tướng Chúng-sanh, tướng Thọ-giả thì chẳng
phải là Bồ-tát.
b).
Các hàng Bồ-tát nên trụ tâm không chỗ trụ, tức trụ pháp
giới thường trụ.
Phục
thứ, Tu bồ-đề ! Bồ tát ư pháp ưng vô sở trụ hành ư
bố thí. Sở vị bất trụ sắc bố thí, bất trụ thinh, hương,
vị, xúc, pháp bố thí. Tu bồ-đề ! Bồ tát ưng như thị
bố thí, bất trụ ư tướng. Hà dĩ cố ? Nhược Bồ-tát bất
trụ tướng bố thí, kỳ phước đức bất khả tư lương.
??
?Lại
nữa! Này, Tu-bồ-đề ! Bồ-tát làm việc bố thí mà đúng
như pháp, thì không có chỗ trụ. Là chẳng trụ sắc mà bố
thí, chẳng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí.
Này, Tu-bồ-đề ! Bồ-tát hãy như thế mà bố thí, chẳng
nên trụ vào tướng. Bỡi cớ sao ? Nếu Bồ-tát chẳng trụ
tướng mà bố thí, thì phước đức chẳng thể suy lường".
Trước
khi đi vào nội dung các lời dạy của đức Phật, chúng ta
cần phải hiểu một cách sâu sắc ý nghĩa và công năng giải
thoát của hạnh lành Bố thí.
Vì
có hiểu thông suốt được tận gốc ngọn, thì mới có thể
thật hành những lời dạy của đức Phật một cách đúng
như pháp, không sợ đi lệch ra ngoài giòng đạo học.
Tri và hành đúng như pháp thì đại công đức của việc tu
học mới có thể được thành tựu. Đại công đức của
người tu Phật được đề cập ở đây là kiến tánh vậy.
Nghĩa là người tu Phật chơn chánh, chẳng kể tại gia hay
xuất gia, phải biết nương Giáo-pháp là những lời dạy chơn
thật của Như-lai mà học để sáng tỏ Chân lý giải thoát.
Một khi đã nhận ra được đâu là con đường đưa đến
sự giải thoát chân thật thì phải nên đúng như pháp mà
Hành trì một cách dõng mãnh, chơn chánh để thành tựu công
đức Kiến-tánh, là sáng tỏ Phật tâm, cũng là ngộ nhập
Phật tri kiến. Sáng tỏ tự tâm bổn tánh, thấy biết bằng
tánh biết chơn thật rồi, cũng là lúc bắt đầu cho một
giai đoạn tu học lên nữa để chứng Quả giải thoát, nghĩa
là phải biết sống chơn thật không rời lìa tự tánh, tự
gột tẩy tất thảy những ô uế tập nhiễm còn sót lại
của ba độc tham, sân, si, cũng là cách nuôi dưỡng thánh thai
hầu trở về lại bổn nguyên chơn thường tịch lặng, mà
không sa lại vào nhơn quả nữa.
Tuỳ
căn cơ, duyên phước cao thấp của từng người mà pháp Phật
thuyết có ba thừa giáo, cho nên "Bố thí" cũng được hiểu
theo nhiều nghĩa sâu cạn khác nhau.
Đối
với Giáo-pháp của đức Phật, thì Bố thí, ngoài ý nghĩa
thông thường là cho, giúp đỡ, san xẻ, chia sớt để gieo
trồng căn lành, tích góp phước đức của hàng Tiểu-thừa,
thì nghĩa đích thực mà chư Phật muốn tỏ bày khiến chúng
sanh có thể thành tựu đại công-đức của phép hành thí
vô tướng, giải thoát mọi trói buộc của nhơn quả, đó
là nghĩa "Buông", "Xả" cùng tột, là không một pháp dù thi
vi nhỏ nhặt tới đâu có thể dính dấp, là Định tâm, là
Nhập Không Tam-muội, Đắc vô sở đắc, là Trụ tâm Vô sở
trụ, là Thường trụ Pháp-giới. Đó là nghĩa đích thực
của đệ nhất hạnh trong sáu hạnh lành giải thoát, tức
hành thí vô tướng, cũng là phép thí tam luân không của hàng
Đại Thừa Bồ-tát.
Thấy
người cùng khổ cơ hàn, ta sẵn cơm áo liền lấy ra san xẻ
cho người, như chính mình đang bị đói lạnh, đang cần cơm
ăn áo mặc mà không một niệm khởi phân biệt là thân hay
sơ, không để ý thấy có người bố thí, có người nhận
thí hay có vật được cho nhận, hay vọng cầu bố thí để
được phước đức như thế này, thế nọ vv…vv.
Lúc
hành thí mà tâm rổng rang như hư không, tức chẳng chấp ngã,
chấp pháp, cũng là lìa tất thảy tướng mà làm tất thảy
thiện pháp, cũng là buông bỏ cùng tột, không một pháp có
thể can hệ, thì ngay đó bản thể chơn thật của tâm là
gì nếu chẳng phải gọi đó là đang trong trạng thái hiện
hữu sáng suốt, tự tại, tuyệt đối, là Định, là Nhập
Không Tam muội, là Trụ tâm vô sở trụ, là Thường trụ pháp
giới?
Thế
nào là buông bỏ cùng tột? Tức buông, xả mà không một niệm
chấp vào chỗ có buông đó, cũng là trạng thái tâm thể tự
nhiên như nhiên, không nắm cũng không buông, không một niệm
sanh thấy có chỗ nắm, buông hiện hữu.
Người
nhận bố thí cũng vậy. Hàng Đại-thừa giải thoát nhận
bố thí phải nhận làm sao để được tự lợi và lợi tha,
đúng như lời Phật dạy. Nghĩa là đang khi đói rét được
có người bố thí, thì người nhận thí phải biết tự "một"trong
nhứt niệm "Đương-niệm" sáng trong tự tại mà nhận thí,
thì chẳng những công đức người cho đã hẵn là vô lượng
vô biên bất khả tư nghì rồi, mà chính người nhận cũng
đang tự trang nghiêm cõi Phật của chính mình bỡi tâm vô
phân biệt, nhận thí trong phép giải thoát tam luân không, nhận
trong tình thương bao la, bình đẳng của Phật tâm, của
Đại-Đạo mà ngay đó mình tự "Đang- là". Người bố thí
và người nhận thí mà được như thế mới đáng gọi là
hàng Đại-thừa của Phật thật hành hạnh Bố thí ba-la mật
vậy.
Tạm
đưa ra một thí dụ cho dễ hiểu. Ví như có người nhà giàu,
một mình lái xe đi ngang qua một cánh rừng hoang vắng, rất
xa thành phố, vào một buổi trưa hè. Ông ta bắt gặp
ven đường một người đàn bà già cả, lụ khụ, vẻ mệt
mỏi đói khát, đang ngồi dựa một gốc cây để tránh nắng.
Đã đi qua khỏi rồi, nhưng vì là người có lòng nhơn ái
nên ông ta tự nghĩ :
"
Người đàn bà già cả đói khát kia, một mình ở nơi hoang
vắng không một bóng người, nếu mình không cho bà ta chút
gì để ăn, chắc bà ta chết mất. Thật tội nghiệp". Nghĩ
như vậy mà nỡ bỏ đi thì làm sao đành lòng, cho nên nhà
hào phú bèn quay xe trở lại, đến bên bà lão, hỏi han, giúp
đỡ.
Bà
lão nói, tôi không có con cái, chẳng người thân thích, lại
già cả không còn sức lực để đi làm, nên mới phải tìm
những vật thừa mà người ta bỏ để sống. Mấy hôm nay
không có gì để ăn nên rất đói.
Nhà
hào phú suy nghĩ trong thoáng chốc :"Từ đây ra khỏi rừng
khoảng một tiếng đồng hồ là có quán xá. Miếng sandwich
mà ta đem theo dự trù để ăn dọc đường, có thể giúp cho
bà lão khỏi đói trong hiện tại. Còn bữa trưa của mình
thì tính sau".
Nghĩ
đoạn ông ta đến chiếc xe lấy gói bánh đưa cho bà lão.
Bà lão thản nhiên đưa tay nhận gói bánh, không một lời
cám ơn, ngoài cái nhìn triều mến đặt lên ông như đối
với một người thân thiết.
Trong
khi đó người nhà giàu nghĩ bụng, chắc là bà lão sẽ rất
vui mừng khi được tặng bánh, và sẽ không ngớt cám ơn mình;
ông đang chờ bà ta cho mình những lời khen tặng và những
lời chúc phúc tốt đẹp nhất. Thế nhưng ông ta hoàn toàn
thất vọng, vì bà đã không nói gì với ông ta cả.
Bà
lão cầm miếng bánh mì mà tay run run vì quá đói, sửa soạn
đưa lên miệng để ăn, thì thật bất ngờ, một con chó đói,
ốm tong teo, sống lưng nhô ra như hình tam giác, xương sườn
phơi bày ra có thể đếm được, dưới lớp da mỏng lông
trơ trụi, từ trong bìa rừng đi ra. Nó lê cái thân tàn tạ
trên hai đôi chân khẳn-kheo, yếu đuối gần như đi không
nổi, đến ngồi đối diện trước mặt bà lão, nhìn miếng
bánh bà đang cầm mà miệng nó chảy nước miếng ròng ròng.
Trông thấy con chó đói đang dòm mình như van xin và nhìn chiếc
bánh một cách thèm thuồng, bà lão bèn bẻ đôi chiếc bánh
và đưa cho con chó một nửa.
Tới
đây thì người nhà giàu không còn chịu đựng được nữa
rồi. Ông ta đứng phắc dậy, phùng mang trợn mắt, nói như
quát vào mặt bà lão :"Tôi nghĩ tình đồng loại, thương bà
đói khát, cho bánh bà ăn. Chẳng những bà không một lời
cám ơn thì chớ, lại còn đem cho con chó một nửa. Bà thật
là kẻ vô ơn và khinh người quá đáng".
Mặc
cho người nhà giàu la rầy lớn tiếng, bà lão vừa nghe ông
ta nói, vừa ăn bánh một cách ngon lành, nét mặt bình thản,
như không có chuyện gì xảy ra, ngoài việc đang thưởng thức
cái mùi vị thơm ngon của miếng bánh mì cùng sự no nê khoan
khoái của cái bụng đã bị đói nhiều ngày.
Đợi
cho vị ân nhân nói xong, bà thủng thỉnh trả lời :
" Đương
khi ông cho bánh, tôi không nói gì, chỉ nhìn ông và nhận
bánh, tức ngay đó tâm ông đang rộng mở như hư không, đón
nhận tất cả, đầy đủ và trọn vẹn công đức vô lượng,
vô biên, bất khả tư nghì của sự bố thí bằng Phật tâm
chơn thật, bình đẳng, vô ngã mà ông đã tự thể hiện,
mà không một lời cám ơn nào, hay bất cứ một lời tốt
đẹp nào trên thế gian này có thể sánh bằng. Cho nên dẫu
tôi có nói cám ơn thêm bằng lời, thì chẳng những không
ích gì cho công đức tự trang nghiêm cõi Phật bằng tất thảy
thiện pháp của ông đã làm, mà chính chúng chứ chẳng phải
là gì khác, tức những lời cám ơn trói buộc trong vọng nghiệp
nhơn quả kia, sẽ làm lu mờ, chướng ngại cho công đức vô
vi, vô lượng,vô biên mà ông vừa tự gặt hái được bằng
Phật tâm thanh tịnh, vô ngã, bình đẳng.
Còn
việc ông thắc mắc tại sao tôi lại chia đôi cái bánh cho
con chó, thưa ông, với tánh đói của hữu tình sinh hoạt,
thì con chó đang đói và tôi đang đói, trạng thái đói của
hai sinh vật này nào có khác gì nhau đâu, đều gọi là đói
cả và cũng đều cần ngay cái ăn cho hết đói, khỏi chết
oan uổng vì đói !".
Nghe
tới đây, vị hào phú như đang mê chợt tỉnh. Nhờ một lời
chân thật của bà lão mà ông đã nhận ra được thế nào
là hành thí vô tướng giải thoát rốt ráo, thế nào là tận
cùng pháp giới chỉ còn lại một tình thương bao la tự nhiên
như nhiên của Phật tâm, của Đạo, cũng như ngay đây
ông đã tự khám phá ra hình hài chơn thật của mình cùng
Đạo-thường tuỳ duyên mà bất biến, không khác không hai.
Mẫu
chuyện nhỏ vừa nêu có thể là chuyện thật mà cũng có thể
là chuyện bịa. Thế nhưng chúng ta cũng đừng chấp vào chỗ
thật hay không thật của câu chuyện, vì dẫu có được gọi
là chuyện thật hay là giả đi nữa, thì tướng thật, giả
đó cũng đều là các pháp hư vọng cả. Chỉ nên khéo nhận
ra một điều là, chỗ phương tiện chỉ bày của bà lão là
chân lý giải thoát, giúp chúng ta có chút cơ sở để thâm
tỏ diệu pháp hành thí vô tướng, là pháp "buông" giải thoát
rốt ráo của hàng Đại-thừa Bồ-tát, để đi vào không tánh.
Trở
lại với những lời dạy của đức Phật, ở câu đáp (a)
đức Thế-tôn đã trả lời trực tiếp vào câu hỏi của
Tôn-giả Tu-bồ-đề, đại ý :
"Sở
dĩ các ông trong đại chúng không có được chỗ kỳ đặc,
bình ổn, an lạc, tự tại, giải thoát như Phật, chỉ vì
thân, tâm của các ông lúc nào cũng lăng xăng, vọng động,
vướng mắc vào các pháp tướng sanh diệt, không tự yên nghỉ.
Bên
ngoài thì các căn luôn bị cuốn hút, trói buộc, hệ lụy
vào các pháp sanh diệt của trần cảnh, còn bên trong thì vọng
thức, tình tưởng khởi lên trùng trùng, biến hiện chập
chùng không lúc nào ngưng dứt. Các ông đã tự rời lìa, đã
tự bỏ quên, đã tự đánh mất cái bổn tánh chơn thật,
uyên nguyên, sáng suốt, rổng rang, thanh tịnh, thường hằng,
tự tại, bất động của mình, cũng là chơn tâm, Phật tánh,
để tự trong mê mờ duyên thành vọng niệm, chấp lầm vào
cái thân hư, cái tâm vọng trói buộc với vô minh nhơn quả,
thì làm sao có được chỗ an trụ thường, lạc, ngã, tịnh
như Phật được.
Cho
nên, muốn được bình ổn, an lạc, tự tại, giải thoát,
hãy nên khiến vạn loại chúng sanh diệt độ vào Vô-dư Niết-bàn,
tức cũng là khiến vạn loại trần lao, phiền não, cũng là
các pháp tướng trói buộc của thế gian, cũng là tất thảy
vọng thức, tình tưởng, ngã nhơn, bỉ thử, thị phi, thiện
ác, thánh phàm, hơn thua, được mất, cao thấp, khổ vui ….nói
chung là mọi thứ hệ-lụy với nhị nguyên nhơn quả, hãy
nên đưa hết chúng vào chỗ buông cùng tột, chơn như tịch
lặng, không một pháp có thể được, cũng là thật nghĩa
của vô dư Niết-bàn.
Điều
đó có nghĩa là hãy khéo sống với trạng thái vô tâm, tự
nhiên như nhiên, không lấy không bỏ, không được không mất,
không có không không, không phải không trái, không cao không
hạ, không thánh không phàm, không hơn không thiệt….trước
mắt tự như, chơn thường vắng lặng, tuỳ duyên tự tại,
đến đi vô ngại, cũng là trọn sống trong tự tánh thanh tịnh
Như-lai, cũng là đương niệm hiện tiền giải thoát, tức
trọn sống trong cái tâm bình thường, uyên nguyên, tự chủ,
vô thủ, vô xả, vô ngã, vô tác ý, không một pháp có thể
lập khiến tự tánh không bị che mờ, khuất lấp".
Tất
thảy vạn loại chúng sanh gọi chung, đều là tướng trần
lao phiền não. Trong chỗ cùng tột, thật tướng các pháp vốn
thiệt không tướng, tánh thật các pháp vốn không tự tánh,
nên liền biết như thật tất thảy pháp đều là huyễn hóa,
hư vọng, như hoa đóm trong không. Chỉ vì chợt vọng niệm
mà ngay đó bốn tướng Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ giả hiện
khởi trói buộc với nhơn quả vô minh. Bằng không một niệm
khởi sanh, không một niệm khởi diệt, ngay lúc này tâm thể
là gì nếu không là nhứt niệm "Đương niệm, Đang-là" quang
minh, tự tại, viên mãn, nhứt như, vô ngã, tịch tịnh. Cũng
có nghĩa là vạn pháp trôi chảy, biến hiện mất còn trước
mắt một tâm không tâm, vô ngã, có khác nào như bụi bay trong
ánh sáng, như chim bay trong hư không. Bụi bặm biến hiện,
mất còn, thấp cao, lên xuống nhưng có làm chướng ngại ánh
sáng đâu. Chim bay từng đàn trong không gian nhưng có làm cho
không
gian lay động, hay để lại dấu tích trong hư không đâu. Nói
vô tâm như hư không, cũng chính là đang diệt độ vô lượng
vô số vô biên chúng sanh mà thiệt không một chúng sanh nào
được diệt độ cả, nghĩa là tất thảy chẳng dính dấp,
hệ lụy, níu kéo tới cái tâm như, tự tại, sáng trong, tròn
đầy, bất động.
Cho
nên đức Phật mới dạy, tất thảy vạn loại chúng sanh,
tức trần lao, phiền não ứng hiện trên tất thảy các pháp
tướng sanh diệt, đều hãy nên đưa hết vào Vô dư Niết
bàn mà diệt độ, nhưng thật ra chẳng có một pháp tướng
nào được diệt độ cả, mà chỉ có tự tâm diệt độ,
tịch tĩnh, Niết-bàn, thì vạn pháp tự như trước mắt, không
chi dính dấp, trói buộc, tức là giải thoát vậy.
Đây
là Phật dạy đại chúng khéo biết quán sát tự tâm bổn
tánh vốn thiệt chơn như vô ngã, khéo biết tự an định tâm
mình, biết tự sống trọn trong cái tâm bình thường, uyên
nguyên, thanh tịnh, mà không khởi vọng niệm trói buộc với
trần lao phiền não, cũng là phiền não trần lao không chỗ
dính dấp, cũng là tự tâm an định, bình ổn, giải thoát
vậy. Vì tâm thể đã được sáng trong, tự tại, như như,
viên mãn thì tất thảy chúng sanh, cũng tức là phiền não,
trần lao không chỗ can hệ, không thể trói buộc, đó là lẽ
thật.
Ở
lời đáp (b), đại ý Phật dạy, do khởi niệm chấp ngã trói
buộc với vọng nghiệp vô minh nhơn quả, nên chơn tánh mới
liền bị che mờ khuất lấp. Do chơn tánh bị che mờ khuất
lấp, nên chúng sanh trong vọng nghiệp vô minh nhơn quả mới
lầm thấy, lầm biết, cho rằng thật có tướng ta, là một
tự thể độc lập, hữu ngã, có sự tương quan với các cá
thể khác trong cái thế giới thiệt có đến đi, còn mất
này. Do vọng chấp có tướng ngã, mà các tướng đối đãi
hư vọng khác liền hiện hữu, thì cũng ngay đó tất thảy
các tướng trần lao phiền não khác liền có chỗ trói buộc.
Bỡi
vậy đức Phật mới dạy, một Bồ-tát mà còn có nghĩ tưởng
có tướng Ta, cũng là chấp ngã, thì các tướng khác liền
hiện hữu. Một Bồ-tát mà còn có đủ bốn tướng hiện
hữu, thì còn bị trần lao, phiền não trói buộc. Một hữu
tình còn bị trần lao, phiền não trói buộc, còn bị mê lầm
nhơn quả thì làm sao có thể gọi kẻ đó là một Bồ
tát (Bồ-đề tát-đõa), tức bậc đã thật sự giác ngộ
chân lý giải thoát, không lầm nhơn quả, đồng thời có thể
giác ngộ các hữu tình khác nhận ra tánh Phật chúng sanh của
chính mình để tự không lầm nhơn quả !?
Với
hàng Đại-thừa vì cầu giải thoát, Phật dạy hãy nên làm
việc bố thí rốt ráo của bậc Đại Bồ-tát (thể hiện
tâm buông cùng tột, viễn ly thường đoạn, viễn ly cả tâm
viễn ly) mà không trụ vào tất thảy tướng, cũng là hành
thí vô tướng, hành thí tam luân không, là tự thể hiện không
tâm vô ngã trong cuộc sống trước mắt, là không dính mắc
với trần lao phiền não, cũng là sống với cái tâm bình thường
của Đạo, như như, tự tại, giải thoát vậy.
Tự
thể hiện không tâm vô ngã, cũng là buông bỏ rốt ráo, cũng
tức là sống thật với cái tâm bình thường uyên nguyên,
tự tại của chính mình, cũng tức là không rời lìa tự tánh
mà sống, thì trước mắt các pháp đến đi, biến hiện, mất
còn nào có dính dấp tới ai đâu. Tâm như hư không, tự tại,
vô ngã, không một pháp có thể lập, thì lấy cái gì để
có thể can hệ, níu kéo, ràng buộc, trói cột "không tâm".
Lại
nói thêm một chút về Nhơn-Quả. Theo nghĩa hẹp thì nhơn quả
có nghĩa là, hạt nào thì sanh cây nấy, cây nào thì ra quả
nấy, quả nào thì sanh hạt nấy. Hoặc như soi gương thấy
hình, hình bên ngoài ra sao thì ảnh trong gương cũng vậy; làm
thiện thì tích thiện, làm ác thì gặp ác, là lẽ trả
vay trong cuộc đời và nhiều đời nếu chưa trả hết.
Người
đã biết lẽ nhơn quả như thế, thì không ai là không muốn
hành thiện. Muốn trong hiện đời được thêm vui bớt khổ,
muốn ở vị lai khỏi bị đoạ lạc vào các đường dữ như
địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, muốn không phải bị làm thân
phận kẻ hèn mọn, làm tôi tớ phục dịch cho người,
lục căn bất túc, khùng khùng điên điên hoặc muốn không
phải bị ê chề phiền não vì gặp nhiều nghịch cảnh đắng
cay thì ngay lúc này đây, lúc còn đang hít thở, lúc còn đang
tự do làm theo ý mình, lúc có đủ mọi điều kiện để hành
thiện, thì phải nên hành thiện cho thiệt nhiều. Làm thiện
nhiều thì hưởng phước nhiều, làm ác nhiều thì gặt họa
nhiều, đó là luật tắc bất biến của giá trị nhơn quả.
Một
chén cơm, một đồng bạc, một việc làm có ý nghĩa theo khái
niệm thiện hay ác, đưa ra hay thâu vào, cho hay nhận đều
có giá trị tư