Đức Phật
Nói Pháp Gì Khi Mới Chào Đời?
Thượng
Tọa Thích Pháp Tánh
Ngược
dòng thời gian cách đây 2627 năm kể từ ngày Đức Phật thị
hiện thế gian, lần đầu tiên khi 7 bước chân Đức Phật
đặt xuống thế giới này, Ngài liền dõng dạc tuyên bố:
"Thiên
thượng thiên hạ duy Ngã độc tôn
Nhứt
thiết chúng sanh sinh, lão, bệnh,tử"
Lời
dạy đó, sự kiện đó như thế nào? Nhân ngày Phật Đản,
chúng ta hãy quay lại giòng lịch sử để nhớ về hình ảnh
Đức Phật thị hiện ra đời, một hình ảnh hiện thực mà
suốt tận cổ kim lịch sử loài người, không có thánh nhân
nào thể hiện được một, trong 3 phương diện: Từ Bi, Trí
Tuệ và Sức Thần tự tại như Đức Phật khi mới chào đời.
Thuở
ấy, theo truyền thống của Ấn Độ, tất cả những người
con gái khi được gả lấy chồng, theo chồng, nhưng đến thời
kỳ sinh hoa nở nhụy thì luật xứ ấy bắt buộc các bà phải
về lại nhà cha mẹ ruột của mình để sinh con. Tuy là bậc
mẫu nghi thiên hạ, Hoàng Hậu Maỳa cũng không biệt lệ. Hôm
ấy nhằm ngày trăng tròn tháng tư âm lịch, Hoàng Hậu và
đoàn tùy tùng đã làm lễ khởi kiệu hồi hương lúc trời
còn tinh sương. Đoàn phải đi ngang qua Lâm Tỳ Ni, một công
viên nổi tiếng nhất của quốc gia Ấn Độ thời bấy giờ.
Thấy khí trời ấm áp lạ thường, đất trời quang đãng,
chim trỗi nhạc tưng bừng trên những hàng cây, bên những
con đường dẫn vào hoa viên, đầy hoa nở rộ. Xa xa, những
cánh hạc tắm sương bên những giòng suối tuôn chảy xuống
lưng chừng núi, hòa lẫn tiếng chim ca tạo thành một bản
nhạc thiên nhiên bất tuyệt.
Hoàng
Hậu thấy nhẹ nhõm trong người, cho xe dừng lại, cùng đoàn
tùy tùng dõi theo lối mòn phủ đầy hoa báu, lần bước vào
tận hoa viên ngắm cảnh. Thấy cành vô ưu nở rộ đong đưa
trước gío, một loài hoa mấy ngàn năm mới nở một lần,
Hoàng Hậu qúa vui mừng, đưa tay với hái đóa hoa thiêng thì
bỗng nhiên đất trời chuyển động 6 cách. Từ trên không
trung, muôn ngàn ánh sáng rực rỡ, tiếng nhạc trời vang dội
khắp nơi, những đóa hoa trời rải xuống như mưa. Trong tiếng
gío, người ta như nghe thấy hàng Chư Thiên vang tiếng gọi:"Nhân
loại ơi, có hay chăng Đấng Giác Ngộ ra đời. Ôi, hân hoan
cho 25 loài, 33 cõi nhân loại chúng sanh được thấy Đạo Mầu."
Hoàng
Hậu như chìm sâu trong tĩnh lặng, cũng là lúc Đấng Giác
Ngộ khai hông của mẹ, bước ra cỏi đời. Ngài đưa tay phải
chỉ lên trời, tay trái chỉ xuống đất. Giữa đám đông
Trời, Người, Thánh Thần có mặt, Ngài dõng dạc tuyên bố:
"Thiên
thượng thiên hạ duy Ngã độc tôn
Nhứt
thiết chúng sanh sinh, lão, bệnh, tử."
Tạm
dịch: Trên trời dưới đất chỉ có Ta là tôn qúy nhất
Tất
cả chúng sanh đều bị sinh, gìa, bệnh, chết.
Đây
là lời nói đầu tiên của Đấng Giác Ngộ khi vừa chào đời,
cũng là chân lý tối hậu mà suốt quãng đời Ngài huấn dạy.
Ngài đã nói lên nhân duyên lớn nhất của Chư Phật vào đời.
Dù đã trải qua 2627 năm, thế giới đã biến thiên, cuộc
đời đã bao lần thay đổi nhưng lời dạy của Đức Phật
vẫn vang vọng khắp muôn nơi. Mỗi khi chúng ta liên tưởng
về ngày Đản sinh của Đức Phật, có lẽ ai cũng như nghe
thấy lời này, nhưng có mấy ai thấu triệt được những
lời dạy cao qúy đó!
Theo
quan niệm chung của người con Phật, tất cả đều nghĩ rằng
những chúng sanh từ địa ngục lên tới 33 tầng trời, trong
25 loài, 10 giới, 3 cõi dục, sắc và không hình sắc, những
chúng sanh này vẫn còn ngủ mê trong bóng tối vô minh dầy
đặc của Tình và Tưởng. Chỉ có các Đức Phật mới đoạn
lìa các dục lậu, phá sạch nguồn gốc vô minh loạn tưởng
của chính các Ngài và có khả năng giác ngộ cho tất cả
chúng sanh thành bậc giác ngộ. Đấng Đạo Sư chỉ dạy khắp
Trời, Người là cha lành của muôn loại. Đức Phật là Đấng
tôn qúy nhất trong tam giới. Quan niệm này chỉ đúng một
phần với lời nói trên của Đức Phật nhưng không phải
trong ý nghĩa của lời dạy đó hoàn toàn. Vì sao? Vì Đức
Phật không phải vào đời để tự khen mình như chúng ta lầm
tưởng mà để mở ra cho chúng sanh thấy được con đường
giác ngộ, chỉ cho chúng sanh thấy rõ tánh Phật của mình,
làm cho chúng sanh nhận lại tánh Phật của mình, khiến cho
chúng sanh sống trở lại tự tánh Phật của chính mình, y
như Chư Phật, không khác. Trong tự tánh Phật không có một
ý niệm Ta, Người để tự đề cao cái bản ngã hư dối đó.
Quan
niệm của những người theo Phật giáo thâm uyên, họ cũng
đã nhìn thấy các pháp hữu vi vô thường, sinh diệt, không
có tự tánh chơn thật. Cứu cánh của thân tâm cảnh giới
không có cái gì là của ta, là ta, là tự ngã của ta. Nên
biết, Đức Phật nói "Duy ngã độc tôn" không phải chỉ cho
cái bản ngã hư dối của thân năm uẩn này. Nếu căn cứ
theo ngôn từ ấy mà tự đề cao bản ngã duy nhất thì sẽ
rơi vào thần ngã, giống như ngoại đạo. Vậy lời nói trên
của Đức Phật phải hiểu như thế nào mới đúng ý Phật?
Chúng ta hãy cố gắng theo dõi bài tiểu luận dưới đây để
nhận ra lời Phật mà cũng là cái chìa khóa vàng mở tung ra
cánh cửa tự tánh trong bước đầu tiến dần đến con đường
thành Phật.
Thông
thường, bất luận chúng sanh nào sống trong tam giới (cõi
dục, cõi sắc và cõi vô sắc) cũng đều mang thân của Tình
và Tưởng, thì đều chấp sắc thân của mình là có thật,
thân này là của ta, thân này là ta, là tự ngã của ta, dựa
trên sự nhận biết, nhớ tưởng, niệm niệm không dừng của
sự phân biệt mà gọi là tâm của ta.
Trong
hai lãnh vực thân và tâm này đều là tự ngã của ta cả.
Từ chỗ thấy biết thân này thật có, thân này của ta nên
ai cũng thương qúy thân mình, muốn cho thân ta sống lâu, trẻ
đẹp mãi để hưởng thụ dục lạc, thỏa mãn những cảm
giác do căn trần duyên hợp hình thành. Chúng ta sợ nó già
xấu và chết đi thì sẽ không còn là ta nữa, thì không còn
thỏa mãn được những gì mình ham muốn nên bằng tất cả
mọi gía, con người cố gắng bảo vệ nó hết lòng. Nếu
thân ta bị xúc chạm trái với tự ngã thì sanh ra bực giận,
ngược lại, nếu thân ta được nuông chiều thì sanh ra yêu
thích, hống hách kiêu căng. Chính vì con người đã hoàn toàn
lệ thuộc vào sắc thân, sống vì thân nên đã đồng hóa
thân này là tự ngã của ta. Vì nhu cầu vật dục để thỏa
mãn sắc thân, con người phải đòi quyền sống, tranh dành
mọi thứ cho đời sống. Được thì tăng thêm lòng tham ái,
thua thì thêm oán thù, tìm cách giết nhau, tạo nhiều ác nghiệp,
rồi chính cái nghiệp đó, huân tập lâu ngày biến thành sức
mạnh đưa chúng ta đến thọ qủa báo trong cảnh khổ đau.
Oán thù chưa trả thì khó quên, thương yêu chưa bỏ thì khó
dứt nên nói thương ghét sanh ra từ cái gốc si mê chấp ngã
là vậy! Khi thân này sắp hoại, những nỗi sợ hãi kinh hoàng
vì mất nơi nương tựa, cái niệm khát ái đi tìm thân sau
bùng lên mãnh liệt. Do đó, theo nghiệp luyến ái mới có luân
hồi sanh tử, cứ thế chết đi sống lại, quay cuồng trong
biển trầm luân bất tận mà không ai tự biết bắt nguồn
từ đâu? Người ta hay đổ thừa cho người, cho cảnh, cho
trời, cho số mệnh v...v...làm cho mình khổ. Nhưng đó chỉ
là cái khổ theo duyên còn mất mà nguồn gốc sinh ra cái khổ
đó chính là ngu si, chấp cái ta có thật!
Để
phá cái ngu si chấp thân này có thật, Đức Phật khẳng định:
Thân này không phải của ta, không phải là ta, không phải
tự ngã của ta vì thân này vốn không có tự tánh chất thật,
chỉ do nghiệp duyên hợp huyễn có thôi. Khi các duyên tan hoại
thì cái hư vọng sẽ diệt. Đó là điều chúng ta khó có thể
chấp nhận, nhưng nếu cứ khách quan mà quán sát theo sự chỉ
dẫn của Đức Phật thì sẽ thấy rõ những gì Đức Phật
nói không sai.
Đức
Phật bảo, thường quán sát sắc thân của ta đây do 4 vật
lớn là Đất, Nước, Gío, Lửa duyên hợp tạo thành trong
tánh chất thân này là không thật tánh.
Vậy
Đất là gì? Đất là những phần vật cứng trong thân như
da, thịt, gân xương, tóc, lông, răng, móng, tủy, não v..v...
Nước là gì? Nước là những phần ướt trong thân như máu,
nước mắt, nước mũi, nước tiểu, tinh khí, mồ hôi v..v...Gío
là gì? Gío là hô hấp tuần hoàn, tim đập mạch nhảy, các
sự chuyển động trong thân. Còn lửa là gì? Lửa là nhiệt
độ trong người làm cho máu huyết lưu thông. Bốn vật lớn
này hợp lại, bắt nguồn từ nghiệp dâm dục cùng với tâm
tham ái si mê huân tập lâu đời, theo sức tạo nghiệp thành
thân. Đại khái như người nằm mộng, theo nghiệp dâm dục
nghĩ tưởng không dứt, tạo thành tác dụng tâm sinh lý. Nhưng
người ngủ mê hình như không biết thân hành, khi tác dụng
sinh lý nơi thân, người ấy mới biết mình mới trải qua
mộng mị. Cũng như thế, từ ý niệm muốn trở lại tìm thân
nên theo nghiệp tham ái mà tìm chỗ tái sanh, mượn thân cha
mẹ duyên hợp tạo thành thân bốn đại (đất, nước, gío,
lửa). Như vậy thân này tạo ra bởi đất, nước, gío, lửa
thì thân này của đất, nước, gío, lửa, tại sao lại bảo
là thân của ta? Qủa là một sự nhận thức sai lầm đáng
tiếc! Nếu nói thân này của ta, vậy khi thần thức chưa vào
nơi thai tạng của mẹ, thân này lúc ấy là gì? Ta ở đâu?
Ta có hay không? Gỉa sử chúng ta cầm đao cắt đứt từng
bộ phận trong cơ thể ra từng thứ một, bộ phận nào cũng
có hình dáng khác nhau, tên gọi khác nhau cho đến khi tách
rời hết những bộ phận trong cơ thể vật chất ấy, thử
tìm cái còn lại là gì trong cái không có tánh chất thật
ấy? Thân của ta nằm trong phần nào của cơ thể? Nhờ duyên,
các thứ vật chất ấy tạo thành một tổng hợp tướng,
thành một gỉa tướng mà trong gỉa tướng đó không có cái
gì là của ta cả! Vì gỉa tướng không có tánh chất thật
nên ví nó như vật huyễn hóa. Đã như huyễn hóa, không thật
có, tại sao lại chấp cái không thật đó mà cho là của ta?
Tối ngày bù đầu bù cổ chạy đi lo ăn để bồi bổ phần
đất, lo uống để bồi bổ phần nước, vay mượn không khí
để thở là bởi phần gío, làm cho nhiệt độ trong người
tuần hoàn, máu huyết lưu thông gọi là cho sự sống. Trong
sự vay mượn gỉa dối, cho vô rồi kiếm chỗ xả ra, cả
đời khổ nhọc vậy mà cho là hạnh phúc, thật là chuyện
nực cười!
Đức
Phật còn nói, thân này không phải ta vì chúng ta quán sát
đất, nước, gío, lửa duyên hợp huyễn có như vừa kể trên
là những thứ vật chất vô tri vô giác, còn cái TA là tự
tánh thấy biết tánh chất của mọi thứ vật chất vô tri
vô giác kia, tại sao lại lầm lẫn nhận cái vô tri vô giác
kia là Ta chứ? Vả lại, những thứ vô tri đất, nước, gío,
lửa đó mỗi thứ đều có tánh chất gỉa dối khác nhau.
Tánh của đất là cứng, tánh của nước là ướt, tánh của
gío là động, tánh của lửa là nóng, chúng không thuần một
tánh chất. Còn tự tánh của ta là một tánh thể thuần nhất
hư linh, tại sao lại đi nhận lầm những thứ vật chất vô
tri có nhiều tánh chất hỗn tạp, đổi thay, không cố định
mà cho những thứ vật chất đó là Ta thì qủa là mê muội
quá!
Như
vậy, trong sắc thân gỉa dối này không có cái gì của ta,
là ta cả nên Phật giáo nói thân này là Vô Ngã. Đã là vô
ngã thì không lý do gì mình tự cho mình là tôn qúy hơn người
khác. Chỉ có phàm phu mới tự xưng mình là hơn kẻ khác.
Thật ra, trong tất cả thân của mọi người khác nhau trên
hình dáng diện mạo, nhưng tánh chất của mọi sắc thân đều
không có tánh chất thật, đều là vô ngã như nhau, không lý
do gì mà khởi nghĩ thân ta hơn thân người khác hoặc khởi
ra thân kiến, ta thấy biết hơn người khác v...v...Một khi
con người đã thấy rõ tánh chất thân này là không, nên mọi
thứ tranh chấp, luyến ái giữa ta và người không còn, mọi
thứ khổ não cũng không dựa vào đâu mà làm chúng ta khổ
não, chúng ta mới thấy lúc ấy thật sự giải thoát khỏi
bản ngã hư dối này. Đức Phật đã phá sạch được nguồn
gốc mê lầm chấp ngã nên được giải thoát, được pháp
thân bất hoại. Còn Trời, Thần, Người, Qủy...chúng sanh
còn mê lầm chấp ngã nên không thể đoạn trừ cái gốc mê
lầm, nên Đức Phật gọi: "Tất cả chúng sanh đều bị sanh,
gìa, bệnh, chết. Chỉ có Chơn Ngã (Phật Tánh) là tôn qúy
hơn hết."
Có
nhiều người lại nói thân này là vật chất gỉa dối nên
phải bị sanh diệt, nhưng còn linh hồn là phi vật chất thì
sẽ sống mãi. Phật giáo chia thành 2 loại chấp của 2 hạng
người: Hạng người chấp đoạn và hạng người chấp thường.
-Người
chấp đoạn là nghĩ thân này khi chết là không còn gì nữa.
-Người
chấp thường lại bảo là còn một linh hồn bất diệt sống
mãi.
Người
chấp đoạn là người chỉ biết sống theo bản năng của
nghiệp thức mê lầm, phục vụ cho mọi thứ ham muốn của
sắc thân, chết bỏ tinh thần. Khi họ chết, họ nghĩ là không
còn gì nữa. Đó là hạng phàm phu không trí tuệ.
Người
chấp thường là hạng người cho rằng thân hoại nhưng linh
hồn tiếp tục sống mãi. Đó là cái chấp của hàng ngoại
đạo theo thần, ngã.
Phật
giáo xem hai hạng người này đều một loại tà kiến như
nhau, cả hai cái thấy đều không đúng với sự thật. Vậy
theo Phật giáo giải thích thế nào trong hai cái chấp này?
Phật
giáo gọi linh hồn đó chỉ là thần thức hay tâm thức. Cái
gọi là linh hồn, thần thức này cũng là những cái do giác
quan tiếp xúc với các cảnh mà phát sinh. Bất cứ cái gì
do duyên hợp huyễn có thì những thứ đó đều do nghiệp
tạo thành, không có tánh chất thật, là vật huyễn hóa. Trong
lãnh vực tinh thần của cái gọi là linh hồn, tâm thức đó,
Đức Phật đã chia ra 4 thứ: Thọ (sự nhận biết), Tưởng
(tưởng nhớ), Hành (ý nghĩ tương tục), Thức (sự phân biệt
biết). Chúng ta hãy tãp quán sát từng lãnh vực như dưới
đây:
-THỌ
(sự nhận biết) - Thọ hay thọ cảm có phải là tâm thức
ta chăng? Nếu trong không có mắt, ngoài không có hình tướng
sắc trần thì mắt có biết gì không? Không biết! Mắt chỉ
thấy mà không biết! Ngược lại, bên ngoài có hình tướng
sắc trần mà không có mắt, sắc trần cũng không biết gì
hết! Một thứ hình sắc đơn độc sẽ không có sự thấy,
huống là biết! Như vậy, sự thấy và vật bị thấy phải
có mắt và hình sắc giao tiếp nhau mới có cái thấy. Từ
mắt và hình sắc tiếp xúc nhau, sự nhận biết (cảm thọ)
mới biết đối tượng mình thấy là hình sắc gì, đẹp hay
xấu, nam hay nữ v...v...
Tới
đây chúng ta biết thọ cảm (Thọ) do giác quan tiếp xúc với
trần cảnh mới phát sanh tâm thọ cảm nhận biết. Nếu khi
không có sự tiếp xúc giữa căn và trần thì cái gọi là
tâm nhận biết hay thọ cảm đó vốn không tự có. Nếu bảo
tâm nhận biết (thọ cảm) là linh hồn thì từ đâu mà hiện
hữu? Nếu linh hồn đó do một thượng đế nào tạo ra cho
người ấy thì người ấy là vật thọ tạo, là do nghiệp
tạo tác, tức là tướng duyên hợp huyễn có, thì tánh chất
cái gọi là linh hồn, tâm thức kia chỉ là không thật có!
Bởi vì do căn trần giao tiếp mới tạo ra, nếu không có sự
giao tiếp đó, đương nhiên không có linh hồn, tâm thức đó!
Tâm thức thì sinh diệt luôn luôn, linh hồn cũng biến đổi
từng ý niệm vì từng ý niệm của linh hồn người phàm khảc
linh hồn vị thánh v...v...Vậy thì, biết linh hồn là cái duyên
hợp huyễn có, thay đổi luôn luôn trong khi người còn sống,
tại sao khi người đó chết đi lại có linh hồn không thay
đổi??? Qủa là điều lầm lẫn si mê khi nhận cái linh hồn,
tâm thức đó cho là thường còn, chẳng biến đổi. Thế nên,
phải biết tâm thức, thọ cảm, linh hồn không phải là thứ
linh hồn bất diệt. Vả lại, tâm thức (thọ cảm+linh hồn)
do tiếp xúc mà có thì linh hồn đó là của sự tiếp xúc,
sao nhận là của ta? Thọ cảm thì có thọ nhận vui, thọ nhận
khổ hoặc thọ nhận không vui không khổ, tùy theo cảnh duyên
mà tâm thức phân biệt thọ nhận. Nó không có một tánh thể
nguyên vẹn nên xác định linh hồn hay tâm thức kia không phải
là tâm thể chơn thật của ta. Người nào chấp sau khi thân
chết còn linh hồn bất diệt đều là sai lầm, không thể
chấp nhận. Những người này hầu hết là kẻ mê tín, không
có lý luận bằng trí tuệ.
-TƯỞNG
(Vọng nhớ) - Tưởng là do nhớ nghĩ chín mùi, bắt đầu từ
chỗ thọ cảm nhận biết nói trên mà hình ảnh đó rơi vào
tàng thức, lưu giữ chờ duyên phát sanh. Nếu không có duyên
cảnh dựa thì sự nhớ tưởng dấy khởi do nhớ nghĩ mà thành.
Nếu không nhớ nghĩ, Tưởng cũng không có được. Nếu bảo
Tưởng là linh hồn của ta , vậy khi không nhớ tưởng, linh
hồn ở đâu? Có hay không? Thí như người đạt thiền định,
dứt hết mọi nhớ tưởng mà vẫn thấy biết rõ ràng. Tưởng
do nhớ nghĩ mà có thì Tưởng là của nhớ nghĩ, sao lại nói
cái tưởng ấy là linh hồn của ta? Tưởng thì có tưởng
về qúa khứ, tưởng về tương lai, tưởng về hiện tại,
không có tánh chất cố định. Vậy nếu nói Tưởng là linh
hồn thì linh hồn nào là linh hồn của ta trong sự trôi chảy
bất tận ấy? Người chấp tâm Tưởng là thường còn, hay
nói linh hồn bất diệt đều là lối chấp mê muội.
-HÀNH
(ý nghĩ tương tục khởi) - Khi một ý tưởng phân biệt phát
khởi, không bao giờ chỉ dừng lại ở đó, mà nó tiếp tục
tương sanh để tồn tại và trôi chảy bất tận nên gọi
là Dòng Tư Tưởng. Thí dụ, tai vừa nghe tiếng nhạc hay, lập
tức chúng ta nghĩ đó là nhạc gì? Ai hát? Làm sao có cơ hội
gặp người ca sĩ đó?..v...v..Bao nhiêu ý nghĩ dồn dập tới.
Cứ như thế, hàng ngày tâm ta tiếp xúc với bao nhiêu cảnh,
bao nhiêu người, cứ huân tập tiếp tục nối dài làm sao
dòng tư tưởng ấy ngưng lại được? Chúng ta thử quán sát
những ý niệm tương tục khởi do cái gì mà có? Do nhớ nghĩ
đến hình ảnh tâm duyên vào, khi có cảnh thì phân biệt suy
nghĩ, khi không có cảnh thì nhớ tưởng vọng sanh. Nếu bảo
ý niệm tương tục là linh hồn của mình thì khi người đạt
thiền định, thử hỏi, những ý niệm kia bây giờ ở đâu?
Họ có linh hồn không? Ý niệm tương tục khởi là của niệm,
sao lại nhận là linh hồn, tâm thức của ta? Ý niệm tương
tục thì có nghĩ thiện, nghĩ ác, không ghi nhận (vô ký), sinh
diệt không dừng, không cố định. Trong biết bao ý niệm đó,
ý niệm nào là linh hồn của ta? Và CÁI TA nào là cái Đức
Phật đề cao là tôn qúy?
-THỨC
(sự phân biệt nhận biết) - Đây là lãnh vực thứ tư, một
trong 4 cái gọi là lãnh vực tinh thần. Linh hồn, tâm thức,
dạng từ tuy khác nhưng thực chất đều không hai. Thức do
cái gì phát sinh? Thức do phân biệt mà có. Nếu không phân
biệt, thức cũng không. Nếu bảo thức là linh hồn hay tâm
thức của ta, vậy khi không còn phân biệt thì có linh hồn,
tâm thức không? Thức phân biệt sanh là thức của phân biệt,
sao bảo là của ta? Vả lai, thức có chấp giữ, chán bỏ,
có không giữ, không bỏ, không có tánh chất cố định thì
cái nào là linh hồn của ta?
Xuyên
qua hai phương diện: vật chất chỉ cho sắc thân tứ đại
giả dối không thật; tinh thần gồm có thọ cảm, tưởng,
ý niệm tương tục, sự phân biệt nhận biết, chúng ta gọi
là thân tâm, Phật giáo gọi là ngũ uẩn (5 sự che đậy tự
tánh) Vì mê muội theo 5 thứ này mới niệm không dứt, che
đậy tự tánh Phật của mình, vọng nhận thân tứ đại hư
giả làm thân, nhận vọng tưởng làm tâm, niệm niệm tương
tục đâu còn biết cái gì là tự tánh. Phật là tánh thấy
biết được thực thể của thân tâm cảnh giới hư vọng
kia. Tự tánh giác ấy của Chư Phật và chúng sanh không hai,
không khác. Chư Phật do nhận lại tự tánh Phật, phá dẹp
vô minh tham ái, đối đãi, nên sống với tự tánh giác ngộ
gọi là thành Phật, là con người thật đời đời trong mỗi
chúng sanh mà vì tự mê muội không biết. Đức Phật vì thương
chúng sanh nên phương tiện thị hiện đản sanh ra đời, chỉ
cho chúng sanh thấy được tự tánh giác ngộ sẵn có nơi mỗi
người. Ai nhận lại được tự tánh ấy, hay gọi là con người
thật chính ta thì cái TA đó là cái DUY NGÃ ĐỘC TÔN, là cái
Chân Ngã (Phật tánh) tôn qúy hơn tất cả mọi cái bản ngã
hư dối mà Trời, Người, Phàm phu dựa trên sắc thân tứ
đại, cho cái linh hồn sinh diệt kia là tâm thể. Vì tất cả
chúng sanh nhận lầm thân tâm giả dối đó, tạo nghiệp mê
lầm để chịu trầm luân 6 đạo, sanh thân tứ đại nối
nghiệp ba đời, chịu sanh già bệnh chết khổ đau, không có
gì đáng qúy.
Đến
đây chúng ta đã thấy rõ cái Ta nào gỉa dối, cái Ta nào
chơn thật mà kinh điển Phật giáo thường đặt nó rất nhiều
tên, tùy theo người đứng vào mặt nào để gọi nó như:
Phật tánh, Chân như, Bồ đề, Niết bàn v...v..
Phật
tánh là chỉ cho tánh ấy ở trong mê lầm cũng không làm nó
nhiễm ô, ở trong sanh diệt tánh ấy thấy biết các thứ tâm
sanh diệt mà tự tánh ấy không bị sinh diệt làm thay đổi.
Tuy làm chúng sanh mà tánh Phật không thiếu, khi thành Phật
tánh ấy không thêm. Tánh không thay đổi, thêm bớt gọi là
Chơn Như. Ở trong Chơn Như mà giữ được tánh thể gọi là
Bồ Đề (giác ngộ). Tự tánh nó xưa nay không sanh không diệt
mà sáng suốt thường hằng gọi là Niết Bàn v...v..
Đức
Phật nhận ra tự tánh giác ngộ này, sống trọn vẹn với
tự tánh ấy nên tạm gọi danh từ Thành Phật, có nghĩa là
sống trọn vẹn với con người chân thật của ta, nên nói,
CHỈ CÓ TA LÀ TÔN QUÝ NHẤT, trên Trời dưới Trời không có
ai như Phật, không có ai bằng Phật là ý nghĩa này, chớ không
phải Phật dùng cái tâm Nhơn Ngã hư dối, tự khen mình một
cách cao ngạo, khinh thường chúng sanh mê muội, không đáng
tôn quý.
Đọc
đến đây, chúng ta đã thấu triệt được ý nghĩa của bài
pháp đầu tiên khi Đức Phật mới chào đời, đã chỉ dạy
chỗ cứu cánh của Phật Đạo và chỉ cho tất cả chúng sanh
biết được cái NHÂN DUYÊN LỚN NHẤT CỦA CHƯ PHẬT RA ĐỜI
LÀ KHAI THỊ CHÚNG SANH, NGỘ NHẬP PHẬT TRI KIẾN, có nghĩa
là phương tiện lập bầy ra con đường thành Phật (Khai),
chỉ cho tất cả chúng sanh đều có tự tánh giác ngộ y như
Chư Phật (Thị), khiến cho chúng sanh nhận lại tự tánh Phật
của mình mà từ vô lượng kiếp tới nay chúng ta đã quên
nó (Ngộ). Sau hết, tuy nhận ra tự tánh Phật của mình nhưng
đã bao đời huân tập những thứ vô minh, vọng tưởng, nay
cần phải tu tập thiền định, trí tuệ để phá dẹp hết
những phiền não đó đi rồi mới trở về (Nhập) tự tánh
giác ngộ, hay gọi là chỗ thấy biết như Phật.
Nhưng
vì chúng sanh mê ngộ chẳng đồng nên không phải ai cũng thấy
được tự tánh. Bởi vậy, phải tùy người mà Đức Phật
phương tiện lập bầy 84,000 pháp môn đốn tiệm nhằm dẫn
dắt chúng sanh tiến từ bước trên đường Phật Đạo. Người
trí lấy sự thấy tánh khởi tu làm trọng, người mê chấp
pháp môn làm chính, người từ gốc giác ngộ cứu cánh mà
tu, kẻ thì từ phương tiện rồi từ từ tiến bước. Đường
vào Phật Đạo có muôn ngàn lối nhưng chỗ cứu cánh thì
thành Phật không hai.
Đã
mấy ngàn năm tổ chức Lễ Phật Đản, có ai đem những lời
dạy của Phật ra để chỉ cho chúng sanh thấy rõ con đường
thành Phật mà tu chưa? Đức Phật đã cần khổ tu hành từ
vô lượng kiếp mới thành Phật, thương tưởng chúng sanh
mà hiện ra nơi đời, dùng đủ mọi pháp giác ngộ chúng sanh,
công đức Phật vô lượng vô biên, không thể nào xưng tán,
đền đáp được, không thể cúng dường một mớ hình thức
lễ nghi trong ngày Phật Đản mà gọi là cúng dường Phật
đầy đủ. Điều ý nghĩa hơn hết, sâu sa hơn hết là chúng
ta phải nỗ lực tu hành đạt đạo ngay trong đời này. Đồng
thời, chúng ta cũng đem giáo pháp Phật, giáo hóa chúng sanh
để việc lợi mình lợi người sớm được viên mãn như
lời Phật ân cần dạy bảo: "Tin, hiểu và thực hành trọn
vẹn lời dạy của Như Lai, đem tâm từ bi cứu giúp muôn loài
hữu tình thấy được Phật đạo, đó chính là cúng dường
Như Lai một cách chơn chánh, đích thực nhất."
Qua
bao mùa Phật Đản ở xứ người, chúng ta đã thấy qua nội
dung nhiều buổi lễ lớn, không thấy tổ chức nào đặt nặng
vấn đề giảng dạy chánh pháp hoặc nói rõ nguyên nhân nào
Đức Phật thị hiện thế gian. Giáo lý của Đức Phật hình
như bị bỏ quên, chỉ thấy nội dung buổi lễ đượm mùi
chánh trị đấu tranh hay bày ra những trò ca hát vui chơi để
cầu người kéo về tham dự cho đông, nhơn đó mà bán buôn
với nhiều hình thức thủ lợi. Xong lễ, người Phật tử
ra về, không biết nội dung hôm nay Ban Tổ Chức muốn nói
gì? Không ai biết được những điều đáng lẽ phải được
biết trong ngày lễ Phật Đản như:
-Nguyên
nhân nào Đức Phật ra đời?
-Làm
thế nào để tứ chúng ngồi lại với nhau, tìm ra một phương
thức tu hành đích thực và làm cho Phật pháp ngày một phát
dương quang đại?
-Đối
với thế hệ con em chúng ta, vừa sống trong một xã hội không
mấy ai coi trọng về đạo đức nhân luân, vừa trong lòng
ngoại đạo, làm thế nào giúp cho chúng giữ vững niềm tin
Phật pháp, khiến cho ánh sáng của Đạo Giác Ngộ được
trường tồn? Nếu không đầu tư kịp thời thì không biết
qua một thế hệ kế tiếp nữa, những hình ảnh Phật pháp
có còn thấy được nữa hay không khi mà con em chúng ta từ
từ biến thành ngoại đạo hết!? Không biết hàng giáo phẩm
Phật giáo và cha mẹ các em có thấy được hiểm họa đó
không?
Kính
nguyện Đức Phật từ bi soi sáng cho tất cả chúng sanh thấy
được con đường giác ngộ, tiến tu thành Phật.
GHI
CHÚ: Đáp ứng lòng mong mỏi của một số Phật Tử, tháng
3-2003 Thượng Tọa Viện Chủ Hoa Nghiêm Tự đã lập nên Hội
Niệm Phật A Di Đà và được hưởng ứng đông đảo của
Phật Tử. Một tiếng niệm Phật chí thành có thể giúp ta
giải thoát khỏi bao phiền não. Quý Phật Tử nào muốn tham
dự hoặc muốn biết thêm chi tiết về lớp tu này, xin liên
lạc với tu viện Hoa Nghiêm,3222 W. First Street, Santa Ana CA 92703.
Số phone (714) 775-6799. Sau Đại Lễ Phật Đản, tu viện sẽ
tiến tới việc tổ chức ngày tu Phật Thất. Mong quý Phật
Tử tham gia mỗi ngày mỗi đông để cùng tinh tấn trên đường
Phật Đạo.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 05-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 331 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân