NGŨ PHƯỚC
LÂM MÔN
Thích
Thiện Phước dịch
MẠNG
SỐNG LÀ CÂU ĐỐ Ư ?
Từ
xưa đến nay, mạng sống chính là một vấn đề vô cùng thần
bí, trừ người dốc hết tâm trí tu hành có được sở đắc,
nếu không thì ai ai cũng đều không biết giây phút nào chúng
ta đối mặt với tử thần. Có lẽ là sang năm hoặc 20 năm
sau, có lẽ là hôm nay hoặc một tiếng đồng hồ sau … Tùy
lúc mà có thể bị tai nạn vì xe cộ, động đất hoặc bị
những bệnh hoạn trong thân thể … thật là đáng sợ ! Nhân
vì chúng ta không biết thời hạn khi mình chết, cho nên phải
đem câu thành ngữ “ triêu bất bảo tịch” (buổi sớm không
bảo đảm tới chiều) để cảnh tỉnh chính mình trong mọi
thời khắc, thật là vô cùng xác đáng !
Trong
kinh “ Bốn Mươi Hai Chương”, Đức Thế Tôn dạy các đệ
tử rằng : “ Nhân mạng chỉ tại hô hấp gian” (mạng người
chỉ trong một hơi thở), ý nói một khi hơi thở không còn
ra vào nữa thì đã chuyển sang đời khác rồi! Trong tất cả
chúng ta, đừng nên cho rằng mình sẽ sống mãi mà không bao
giờ chết! Thế nên, nhân lúc tuổi còn trẻ, hãy nỗ lực
học tập và dụng công tu hành để được giải thoát. Nếu
không, giờ chết gần kề giống như con cua trong chảo nước
sôi thì làm sao còn cứu kịp nữa !
Biết
rõ được sự thật của mạng người là vô thường thì có
ích lợi rất lớn đối với chúng ta. Nhân vì thể hội được
mạng người là vô thường, là không thật có nên những sự
phóng đãng và tham ái không còn cơ hội để khởi lên nữa.
Vì vậy, việc tỉnh giác về mạng sống con người là vô
thường thì đó là đầu mối của trí tuệ và cũng chính
là bước chân đầu tiên để vượt khỏi biển khổ sanh tử
vậy ! Thảo nào ở trong “ Phật Môn Nhật Khóa”, Bồ Tát
Phổ Hiền đề tỉnh chúng ta rằng :
Ngày
nay đã qua
Mạng
sống giảm dần
Như
cá cạn nước
Nào
có vui gì !
Nên
siêng tinh tấn
Như
lửa cháy đầu
Chỉ
nhớ vô thường
Chớ
nên buông thả ”
NHỮNG
THÀNH TỰU Ở THẾ GIAN KHÔNG NHẤT ĐỊNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
SANH TỬ :
Giàu
sang, học thức, địa vị, dung mạo đẹp đẽ … phần lớn
đều không có tương quan đến vấn đề sanh tử. Cho dù có
giàu sang như bậc vương hầu, học thức ở thế tục có sâu
rộng như biển cả, địa vị cao như công khanh và dung mạo
đẹp như nàng Tây Thi đi nữa, nhưng khi đại nạn đến, cũng
vẫn không tránh khỏi cảnh lúng túng không biết nương tựa
vào đâu. Nếu cho rằng giai nhân, tài tử được sống lâu
như thế thì thật không hiểu được câu nói : “ Tự cổ
hồng nhan đa bạc mệnh” (Từ xưa đến nay, những người
đẹp phần nhiều là có số phận hẩm hiu). Cho nên, không
thể nhân vì mình được dung mạo đoan trang đẹp đẽ mà
sinh ra lòng kiêu ngạo; không thể vì chúng ta tuổi còn trẻ
mà cho là Diêm La Vương lại chẳng biết đường đến tìm.
Nên biết “ Thây chết ở trong quan tài không nhất định
là người già. Trên con đường mưu sinh của nhân loại, có
người đi chưa đến điểm cuối của cuộc đời mà đã nằm
xuống”. Cho nên, người xưa răn nhắc chúng ta rằng : “
Mạc vị lão lai phương niệm Phật, cô phần đa thị thiếu
niên nhân ” (Chớ bảo tuổi già mới niệm Phật, mộ phần
lắm kẻ tuổi xuân xanh).
Chúng
ta rất khó biết trước được khi nào mình sẽ từ bỏ cõi
nhân gian này : Có người chết ở trong bào thai, lại không
được sinh ra trước khi chết; có thai nhi vừa sinh ra nhân
vì bị nhiễm bệnh vàng da vàng mắt, bệnh giang mai, bệnh
máu đông chậm mà từ bỏ cõi đời; có đứa bé sống đến
ba – bốn tuổi thì bị xe cán chết; có người sau khi trưởng
thành, nhân vì chuyện ngoài ý muốn mà phải bị thương vong.
Ta
không nên cho mình thông minh và tài trí mà xem thường người
khác. Nhân vì thông minh mà chết yểu thì trường hợp này
rất nhiều. Ví như khi tôi còn học tiểu học, có vị lớp
trưởng tên Âu Dương, học hành giỏi nhất, nhưng đến năm
thứ 5 cấp tiểu học thì sanh bệnh viêm phổi mà qua đời.
Năm thứ 6 cấp tiểu học, có người bạn đồng học họ
Liễu nhân bị bệnh nhọt độc trên cổ mà chết đi.
Song
tín ngưỡng theo tôn giáo cũng không hẳn là được trường
thọ trăm năm. Ví như ở Bình Đông, có một người thanh niên
dốc hết lòng thành tín ngưỡng Cơ Đốc giáo. Anh ta vừa
tốt nghiệp Đại học chưa được bao lâu thì nhân vì bị
sự cố máy bay mà phải mất mạng. Khi tôi đọc sách ở Nghiên
cứu Sở, hôm nọ gặp một vị quản lý xí nghiệp tên là
Đỗ Hữu Sanh, anh vốn là một tín đồ của Đạo giáo, lại
cũng đã từng học qua trường Phật học. Nhưng thật không
may, khi anh ta giao du ở San Hô Đàm, trong lúc qua sông, bỗng
dưng sẩy chân trượt té mà chết đuối. Trong trường hợp
này, chẳng phải là Phật giáo không linh nghiệm mà là do sự
công phu của mình không đến nơi đến chốn ! Lại vì không
tận tâm tận lực tu học nên mới không có phương pháp chuyển
biến được định nghiệp vậy !
Tôi
đã nêu ra những câu chuyện nói trên với mục đích chính
là muốn nhắn nhủ mọi người rằng học vấn và tài năng
ở thế tục chỉ có thể giải quyết được một vài vấn
đề khó khăn nhỏ nhoi trong cuộc sống hiện tại, chứ thật
ra không giải quyết được chuyện lớn sanh tử. Từ xưa đến
nay, các tông giáo đều tận tâm tận lực để tìm cầu sự
giải đáp về vấn đề “ sanh tử sự đại” (việc lớn
của sanh tử), nhưng chỉ có Phật giáo mới giải quyết được
một cách triệt để về vấn đề này mà thôi ! Những người
tín ngưỡng theo Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo và Ma Môn giáo,
tuy được sanh lên thiên đàng hưởng phúc vui, nhưng không
thể thoát ly ra khỏi “ sáu nẻo luân hồi ” triền
miên vô tận này. Đối với nghĩa lý, giáo pháp của Phật
giáo tuy đã hoàn toàn thiện mỹ, nhưng không phải chỉ có
tin theo sự tướng và hình thức bên ngoài là đủ mà còn
phải duy trì, lý giải và thực hành thì mới có thể giải
quyết được vấn đề sanh tử một cách xác thực nhất,
đồng thời cũng thực chứng được chân lý vĩnh hằng vô
tận của đức Phật. Chúng ta cũng không nên cho rằng khi đã
tin theo tôn giáo thì Diêm Vương không biết đường tìm đến.
Đừng vì như thế mà thờ ơ cho qua ngày qua tháng. Chúng ta
phải biết rằng “ định nghiệp rất khó chuyển ”. Đây
là sự thật, chỉ trừ phi ở trong Phật pháp mà tu tập đến
mức độ có lối ngộ nhập thì mới được tự tại trong
sanh tử. Đến lúc này thì đối với vấn đề sanh tử kể
như là chuyện ngoài lề. Nếu không được như vậy thì chúng
ta nên đem hết thân mạng mà nỗ lực tu tập, mảy may cũng
không được biếng trễ.
Trong
kinh “ Bốn Mươi Hai Chương ”, Đức Phật dạy : “ Phù
vi đạo giả như ngưu phụ trọng hành thâm nê trung, bì cực
bất cảm tả hữu cố thị, xuất ly ứ nê nãi khả tô tức.
Sa môn đương quán tình dục thậm ư ứ nê, trực tâm niệm
đạo, khả miễn khổ hỷ ” (Nói đến người học đạo,
giống như con trâu mang nặng đang đi trong bùn lầy, dù rất
mỏi mệt nhưng không dám nhìn ngó hai bên, đợi đến khi ra
khỏi bùn lầy rồi thì mới được an tâm nghỉ ngơi. Thầy
sa môn nên quán tình dục thật đáng sợ hơn là bùn lầy,
phải chuyên tâm tu tập thì mới được khỏi khổ vậy).
DINH
DƯỠNG, VẬN ĐỘNG VÀ THỌ MẠNG :
Các
vị không nên cho rằng chỉ cần ăn uống cho đầy đủ chất
dinh dưỡng, vận động cho cơ thể khỏe mạnh thì thọ mạng
chắc chắn sẽ được diên trường. Nói đến vấn đề dinh
dưỡng và vận động thì đây chỉ là điều kiện phụ để
kéo dài tuổi thọ chứ không phải là nguyên nhân chính yếu,
bởi vì hiện tại rất nhiều người có dinh dưỡng rất tốt
lại cũng thường vận động nhưng lại chết yểu. Ví như
có rất nhiều con em sống trong cảnh giàu sang quyền quý, thường
ăn cao lương mỹ vị, mặc quần áo lụa là, lại còn chơi
bời lêu lổng nhưng thọ mạng thì chẳng bao lâu. Lý Tiểu
Long là một ngôi sao điện ảnh thời cận đại, mỗi ngày
đều luyện võ thuật để vận động cho thân thể cường
tráng nhưng sao lại chết sớm ?
Thọ
mạng dài hay ngắn, sự cao thấp về đạo đức và tri thức
có lúc cũng không hẳn thành một tỷ lệ tuyệt đối. Ví
như Đạo Chích có đến 9000 tên tùy tùng chuyên làm xằng
làm bậy, hoành hành khắp thiên hạ, vậy mà hắn sống tương
đối lâu. Còn Hạng Thác mới có 7 tuổi mà đã làm bậc
thầy của Khổng Tử, thế nhưng lại chết yểu !
Chúng
ta cũng không nên căn cứ vào số mạng dài hay ngắn để đoán
định phẩm hạnh tu hành của một người. Ví như thầy Nhan
Hồi vốn là người học trò tâm đắc nhất của Khổng Tử.
Tâm niệm của thầy ấy suốt ba tháng đều không lìa điều
nhân, không bao giờ thầy ấy phạm lỗi đến lần thứ hai
và cũng không bao giờ khoe khoang những việc lành, nết tốt
của mình. Thế mà thầy ấy lại chết non !
Các
vị lại không nên cho rằng số mạng của thầy Nhan Hồi ngắn
ngủi là vì không đủ chất dinh dưỡng. “ Nhan Hồi nhất
đan, tự nhất biều ẩm nhi tự đắc kỳ lạc ” (Nhan Hồi
một giỏ cơm, một bình nước mà vẫn cảm thấy an vui). Đây
là hạnh tu của thầy. Nếu như thầy Nhan Hồi thật sự không
đủ dinh dưỡng thì đức thánh Khổng và các bạn đồng
học của Nhan Hồi nhất định sẽ chăm sóc và giúp đỡ.
Vậy nói cho cùng thì nguyên nhân thọ mạng ngắn ngủi của
thầy Nhan Hồi nếu như không phải là do nghiệp lực của
kiếp trước ảnh hưởng đến thì cũng là bậc đã đạt
được mức “ tự tại trong sanh tử, dạo chơi chốn nhân
gian ”, thị hiện ra sanh tử để cảnh tỉnh người đời
về đạo lý “ Mạng sống là vô thường ” và để khuyến
dẫn họ tinh tấn tu hành.
Nếu
nói vì “ một giỏ cơm, một bầu nước ” mà tạo nên hiện
tượng mạng sống ngắn ngủi, thế thì ở trong “ kinh Phổ
Diệu và kinh Nhân Quả ” chép rằng : “ Khi Đức Thế Tôn
Thích Ca Mâu Ni chưa thành đạo thì Ngài đã từng tu khổ hạnh
sáu năm ở núi Tuyết, mỗi bữa Ngài chỉ ăn một hạt mè
và một hạt lúa mạch ”. Vậy thì sao thọ mạng của Ngài
lại kéo dài đến tuổi 80 ?
Quyển
“ Đại Mỹ Bách Khoa Toàn Thư ” đã từng ghi lại một thực
nghiệm về khoa học có liên quan đến việc ăn uống và kiện
khang như sau : “ Các khoa học gia đem loài chuột phân làm
hai nhóm : Nhóm chuột A mỗi ngày đều được ăn no đủ, còn
nhóm chuột B thì chỉ được ăn chút ít về thực vật. Kết
quả cho thấy nhóm chuột A không những sống lâu hơn nhóm
chuột B mà bộ lông trên thân của chúng còn bóng mượt lên
”.
Trong
tâm lý học, cũng có thực nghiệm tương tự. Ví như đem loài
chuột trắng phân làm hai nhóm: Nhóm chuột trắng bên A mỗi
ngày sau khi cho ăn no rồi dùng nhạc để kích thích chúng,
còn nhóm bên B thì để chúng nhịn đói. Kết quả phát hiện
nhóm chuột trắng bên A bị loét bao tử nhiều hơn so với
nhóm bên B. Đây cũng nói rõ nguyên nhân sinh ra bệnh loét bao
tử chủ yếu là tinh thần, chứ không phải do đói khát.
Trong
tự nhiên, chúng ta rất dễ tìm được chứng cứ ăn ít mà
được trường thọ. Ví như loài rùa mỗi ngày chỉ ăn rất
ít rau cỏ, nhưng lại có thể sống trên 100 năm. Còn
loài sư tử, cọp … mỗi ngày ăn rất nhiều thịt nhưng thọ
mạng lại ngắn ngủi. Thực trạng xã hội cũng thế, ở trong
thiên hạ chắc chắn không có người nào vì ham hố ăn uống
mà lại trường thọ. Ta thấy rất nhiều bà lão ở trên núi
hoặc ở những vùng quê hẻo lánh, mỗi ngày họ chỉ ăn rau
quả. Cuộc sống tuy rất đơn giản, nhưng có nhiều người
sống đến ngoài tuổi 90. Bạn thử giải thích xem có lạ
không chứ ?
NHÂN
VÀ DUYÊN ĐỂ SỐNG LÂU :
Mạng
sống thọ hay yểu cùng với sự giàu sang, địa vị, học
thức, tốt xấu … vốn không có liên quan với nhau. Nhưng
nó có quan hệ đến tâm từ bi, tục ngữ có câu “ nhân giả
thọ ” (người có lòng nhân ái thì được sống lâu), thật
không sai tí nào cả ! Đem tâm nhân hậu và khoan dung để đối
đãi với người thì nhất định sẽ được quả lành. Người
đời nay trường thọ chắc hẳn là do kết quả ở đời quá
khứ hoặc đời hiện tại có tâm từ ái đối với động
vật. Người đời nay mạng sống ngắn ngủi tất nhiên là
do kết quả của đời trước hoặc đời này giết hại loài
vật.
Người
đời nay làm việc thiện như đi chùa lễ Phật, nghe kinh, bố
thí, phóng sanh … mà mạng sống ngắn ngủi thì đó là do
quả báo của những nghiệp ác mà họ đã gây từ thuở quá
khứ nên họ phải cam chịu quả báo xấu ác. Còn những nghiệp
thiện của đời này chính là hạt giống mới gieo xuống thửa
ruộng công đức chưa ra hoa kết trái.
Trong
cuộc sống hàng ngày, ta thường thấy những người cả đời
làm lành mà bị ác báo, luôn gặp khó khăn trên đường hành
đạo, nào là bị ngoại duyên bức ngặt, cuộc sống luôn
bị người chèn ép, những điều mình mong muốn thì không
thực hiện được, thể xác thì bệnh hoạn, tâm linh thì phiền
muộn rối rắm …, cả trăm ngàn nghịch cảnh. Vậy các bạn
đừng nên oán trời, trách người; cũng đừng than vắn thở
dài, bi lụy xót xa. Trời ơi ! Sao tôi làm lành mà không được
quả tốt ? … Nên biết rằng đó là những nghiệp ác ở
đời quá khứ của mình đã gây tạo mà cảm vời ra. Vậy
nên phải mau mau sám hối, niệm Phật tinh tấn, nỗ lực, hết
lòng tu tập để mong cho nghiệp chướng mau được tiêu trừ.
Chúng
ta cần phải hiểu rõ nguyên lý của “ tâm địa ” giống
như khi chúng ta khai khẩn đất hoang để gieo trồng hoa mầu,
điều trước tiên là phải diệt trừ sạch những hạt giống
cỏ dại. Nếu không, chúng sẽ sanh trưởng rất nhanh, làm
cho những hoa mầu của chúng ta gieo trồng không thể lớn lên
được.
Sau
đây, tôi xin nói rõ về những nhân duyên của sự trường
thọ :
Nhân
trường thọ :
Nguồn
gốc của nhân trường thọ được hình thành từ lòng nhân
ái, tâm từ bi cứu hộ những động vật, tự mình phóng sanh,
khen ngợi khuyên bảo người làm việc phóng sanh và thí xả
những thực phẩm mình ăn cho loài vật.
Duyên
trường thọ :
Hình
thành từ tâm bình lặng, chí khí hòa mục với mọi người,
không nóng nảy giận hờn, môi trường sống có khuôn phép,
biết điều tiết được việc ăn uống, sinh hoạt có giờ
giấc, không lao nhọc quá độ …
Nhân
chết yểu :
Giết
hại động vật, ngược đãi với mọi người …
Duyên
chết yểu :
Luôn
luôn hờn mát, suốt ngày chỉ lo ăn uống, làm việc lao nhọc
quá sức, kết bạn với kẻ ác …
NHỮNG
CHỨNG CỨ CỦA NGƯỜI LÀM ĐIỀU NHÂN ĐỨC ĐƯỢC KÉO DÀI
TUỔI THỌ
Sa
di cứu đàn kiến khỏi bị chết yểu :
Kinh
Thí Dụ chép : “ Thuở xưa, tại khu rừng nọ, có năm thầy
sa môn tu tập, trong ấy có một vị chứng được sáu phép
thần thông. Ngài có một người đệ tử sa di mới 8 tuổi.
Vị sa môn này có được túc mạng thông nên biết chỉ còn
7 ngày nữa là tuổi thọ của chú sa di sẽ hết. Ngài bèn
nghĩ rằng nếu như chú sa di chết đi thì cha mẹ của chú
nhất định sẽ cho là mình không trông nom lo lắng, rồi phiền
muộn, trách cứ … Ý nghĩ vừa thoáng qua thì trong lòng bắt
đầu bồn chồn và cảm thấy khó chịu.
Nhân
đây mà thầy sa môn bảo chú sa di rằng : “ Cha mẹ giờ đây
chắc nhớ con lắm, vậy con nên trở về thăm viếng, tám ngày
sau hãy trở lại ”. Lúc bấy giờ, chú sa di vô cùng mừng
rỡ vì ít được dịp may như vậy. Thế là chú đảnh lễ
và từ biệt thầy sa môn.
Tiểu
sa di đi được nửa đoạn đường thì trời bắt đầu mưa
to. Trông thấy bên đường, nước mưa đang chảy vào hang kiến,
chú sa di bèn lấy đất lấp miệng hang lại khiến cho nước
không chảy vào nữa.
Sau
khi chú sa di trở về nhà, suốt mấy ngày không hề có việc
gì xảy ra. Mãi đến rạng ngày thứ 8, chú lại về đến
chỗ của thầy sa môn. Vị sa môn ngạc nhiên thấy sa di vẫn
bình an trở về, lấy làm lạ bèn nhập định quán xét nguồn
cơn thì mới biết là tiểu sa di nhân vì cứu đàn kiến mà
tuổi thọ được tăng thêm.
Thầy
sa môn hỏi : “ Con vừa làm xong một công đức thật to, thế
con có biết đó là công đức gì không ?”.
Tiểu
sa di ngơ ngác đáp : “ Bảy ngày qua, con đều ở trong nhà,
nào có làm công đức gì đâu!”.
Thầy
sa môn lại nói : “ Con lẽ ra chỉ sống được tới ngày
hôm qua, nhưng vì nhờ công đức cứu đàn kiến nên bây giờ
thọ mạng của con kéo dài đến tuổi 80 ”.
Tiểu
sa di nghe thầy mình nói nguyên do của “ thiện hữu thiện
báo ” (làm lành được hưởng quả lành) thì càng thêm tin
tưởng và trong lòng vô cùng hoan hỉ. Thế là kể từ đó,
chú sa di dũng mãnh và nỗ lực dụng công tu hành, không lúc
nào bê trễ. Ít lâu sau, chú chứng được thần thông và thánh
quả (kinh Pháp Cú Thí Dụ, chương 7).
Lưu
Cảnh phóng sanh được trường thọ :
Vào
triều nhà Minh, có một người tên Lưu Cảnh, phụ thân là
một vị quan Đại ti khấu rất nổi tiếng. Lưu Cảnh thuở
nhỏ vốn là người yếu đuối, nhiều bệnh tật. Cảnh có
cả thảy bốn người anh đều lần lượt qua đời ở độ
tuổi thanh xuân. Nhân đây, cha Cảnh vô cùng lo lắng cho sự
an nguy của đứa con duy nhất còn lại của mình. Thế là ông
mời rất nhiều thầy bói đến nhà để xem tướng, nhưng
thật không may là mọi người đều nói rằng Cảnh sống không
quá tuổi 19.
Nghe
nói ở Tứ Xuyên có một vị tướng sĩ nổi tiếng tên Chu
Sĩ Liên vừa đến kinh thành, Đại ti khấu họ Lưu bèn mời
tướng sĩ họ Chu đến nhà để xem tướng cho Cảnh. Chu tướng
sĩ nhìn thấy dung mạo của Cảnh thì nói rằng : “ Ngươi
sẽ có một nguy ách rất khó qua năm 19 tuổi, nhưng xin ngươi
đừng tuyệt vọng, hãy nghe lời ta mà nỗ lực sám hối nghiệp
chướng, rộng chứa âm đức thì có thể chuyển được vận
xấu ”.
Năm
ấy, Lưu Cảnh được 17 tuổi. Sau khi nghe lời của Chu tướng
sĩ tiên đoán, từ đấy về sau, Cảnh quyết tâm bỏ những
việc làm ác, rộng làm việc lành, lại đem thuyết “
công quá cách ” và “ Thái thượng cảm ứng thiên ” để
làm khuôn phép, mỗi ngày đều phản tỉnh tự răn và nghĩ
ra một thiện niệm rằng : “ Ở trên vách tường phía Đông,
khuyên một vòng màu đỏ. Ở trên vách tường phía Tây, khuyên
một vòng màu đen ”.
Đối
với giới sát và phóng sanh, đặc biệt thực hành không dám
mảy may bê trễ. Như vậy trải qua 3 năm, cuối cùng thì vẫn
bình an và vượt qua được cửa ải khó khăn vào năm 19 tuổi.
Ngày
nọ, Lưu Cảnh ở trên một con thuyền vượt qua sông Trường
Giang, nhìn thấy ông chài bắt được một con rùa thật to,
Lưu Cảnh thấy vậy khởi lòng từ mẫn, bèn mua và đem thả.
Con rùa kia dường như rất có linh tính, nó luôn luôn theo sau
mạn thuyền để đưa tiễn anh ta đến 5 – 6 dặm, vẫn còn
lưu luyến mãi không thôi.
Ngay
đêm hôm ấy, Lưu Cảnh dừng chân trong một quán trọ, mộng
thấy một vị đạo nhân, thân mặc áo đen, dáng người vừa
thấp vừa to bè đến trước mặt Cảnh, nói rằng :“ Công
tử rộng làm các việc lành, ngót ba năm liền không bê trễ.
Bây giờ, anh đã được trường thọ và tăng thêm phúc lộc
rồi đấy, nhưng thân thể của anh còn ốm yếu lắm, thật
khó mà chịu nổi những cơn nóng lạnh thâm nhập. Bần đạo
hiện có chút diệu thuật muốn truyền trao. Nếu công tử
y theo đây mà thực hành thì sẽ được bình an, không bệnh
hoạn ”. Đạo nhân nói xong, bèn dạy Lưu Cảnh lẽ yếu chỉ
của việc điều tức.
Khi
tỉnh lại, Lưu Cảnh mới biết vị đạo nhân ấy chính là
thần qui đến báo ơn. Thế là từ đó, Cảnh bèn y theo phép
dụng công trong mộng mà thực hành. Chẳng bao lâu, thân thể
ngày một khỏe mạnh hơn. Sau này, Cảnh mời Chu Sĩ Liên đến
kinh thành để đa tạ ân tình chỉ dạy năm xưa.
Chập
tối hôm ấy, Cảnh và Chu tướng sĩ cùng nằm ngủ trên một
chiếc giường. Chu Sĩ Liên ngủ thiếp đi, đến nửa đêm
lại tỉnh dậy thì phát giác được là hơi thở của Cảnh
vô cùng nhẹ nhàng vi tế.
Đến
rờ rờ đất ngày hôm sau, khi ngủ dậy, Chu tướng sĩ bèn
nói với Đại ti khấu họ Lưu rằng : “ Xin hỏi mấy năm
gần đây, công tử của ông sao tướng tá thay đổi nhiều
quá vậy ? Đêm hôm qua, tôi cùng Cảnh ngủ chung trên một
chiếc giường thì mới biết cậu ta đã học được phương
pháp hô hấp của thần Ô Qui. Đây không chỉ rất có ích
cho thân thể mà lại phước thọ miên trường nữa. Thật
là Lưu Cảnh làm thiện được phước báo vậy !”.
Về
sau, Lưu Cảnh sống đến 98 tuổi, con cháu đều là những
bậc hiền tài. Quả thật đúng với lời tiên đoán của tướng
Chu Sĩ Liên vậy !
PHẢI
NUÔI DƯỠNG TÂM TỪ BI TỪ THUỞ ẤU THƠ
:
Tâm
từ bi là nền tảng căn bản của các hạt giống lành. Nói
đến lòng từ bi, đại khái được chia làm hai phương diện
:
Cứu
giúp người sống trong cảnh nghèo khổ và khó khăn.
Phải
giữ gìn hết sức chu đáo giới sát và thường phóng sanh
Loại
tâm từ bi thứ nhất là đối với loài người, còn loại
thứ hai là đối với động vật.
Cử
chỉ tốt đẹp cứu giúp người sống trong cảnh nghèo nàn
khốn khổ so ra thì được mọi người trong xã hội tiếp
thu được, còn việc giữ giới sát và thường phóng sanh thì
tương đối khó khăn. Vấn đề chủ yếu là thông thường
người ta không rõ ý nghĩa của việc làm đó nên rất ít
người xiển dương.
Một
người nếu muốn trường thọ thì không những cứu giúp người
bần cùng khốn khổ, mà còn phải có tâm từ bi thương yêu
bảo hộ các loài động vật nữa. Ví như nhìn thấy đứa
bé vì không hiểu biết nên bắt giết chuồn chuồn, bươm
bướm, ong mật, kiến, sâu bọ, chim non …, dùng đủ mọi
hình thức để giết chết và ngược đãi các loài động
vật để làm trò đùa. Như thế, chúng ta phải có trách nhiệm
khuyên dạy, cấm ngăn hoặc dạy cho chúng hiểu đâu là thiện,
đâu là ác. Nhân vì việc làm này không những chỉ tổn thương
đến mạng sống mà còn tăng thêm tập khí sát sanh. Mai này,
khi lớn lên, những hành động ấy vốn đã nhiễm sâu vào
tạng thức, chúng rất dễ trở thành những con người không
có lòng nhân ái, thậm chí dẫn đến giết người.
Đỗ
Phủ là một đại thi hào triều Đường. Ông đã từng nhìn
thấy những đứa bé vì vui đùa mà giết hại sinh vật mà
đau xót cảm than rằng :
Nguyên
văn :
Can
qua binh cách đấu vị chỉ
Phượng
hoàng, kỳ lân an tại tai
Ngô
đồ hồ vi túng thử lạc
Bạo
diễn thiên vật thánh sở ai
Dịch
nghĩa :
(Can
qua gươm dáo đấu chưa dừng
Phượng
hoàng, kỳ lân nào dửng dưng ?
Ta
lầm loạn theo vui thú ấy
Giết
sạch muôn loài thánh lệ rưng)
Không
những như thế mà chúng ta còn phải dạy dỗ con cái không
giết hại loài vật. Nên dạy chúng nuôi dưỡng lòng từ bi
ngay từ thuở nhỏ. Nếu khi gặp loài động vật lâm vào cảnh
khốn cùng, ví như thấy thiêu thân lao vào lửa, côn trùng
bị bắt, chim sẻ bị thương, loài kiến bị đạp, cá tôm
mắc lưới, thú bị rượt … đều nên khởi lòng từ bi,
tận tâm tận lực dùng mọi phương cách để cứu hộ chúng.
Ngoài
ra, không được tùy tiện đem nước sôi đổ ở trên đất,
nhân vì trên và trong đất có vô số loài sinh động vật
đang sống. Việc làm này không chỉ thương hại đến tánh
mạng của chúng, đồng thời cũng khiến cho chúng ta gặp ác
báo là mạng sống ngắn ngủi, thường hay bệnh hoạn ốm
đau.
Đức
Phật dạy chúng ta rằng : “ Bình không, chậu không, hủ không,
khạp không … đều phải để úp trên đất, không được
để ngữa, nhân vì để ngữa thì lúc mưa xuống, nước ứ
đọng lại lâu ngày sẽ sanh trùng, đến khi chúng ta dùng hủ,
nếu chẳng cẩn thận, đem nước đổ đi thì những ấu trùng
sẽ bị chết khô ”. Đây cũng là một phương thức sát sanh
vậy !
Lại
nhân vì bộ phận chứa nước ấy tích tụ chừng một hai
ngày thì muỗi liền đẻ trứng vào trong đó, rồi sanh ra rất
nhiều ấu trùng. Đến khi trời nắng, chúng sẽ bị chết
khô ngay. Tương tự với đạo lý này là cũng không nên dùng
nước dơ có trùng mà tưới hoa hoặc rau cỏ.
Trong
thực nghiệm, ngành khoa học đã cho biết : “ Nếu chúng ta
sử dụng nhiều thuốc sát trùng như DDT chẳng hạn thì sẽ
dẫn đến bệnh ung thư gan ”. Vì vậy, ở trong gia đình,
chúng ta cũng không nên sử dụng thuốc sát trùng. Giả như
có thể nói rằng nhang muỗi cũng rất độc hại, nghe nói
sử dụng nhiều nhang muỗi thì sẽ có ảnh hưởng rất xấu
đến hệ thần kinh não của trẻ em. Vậy muốn phòng ngừa
ruồi, muỗi, gián … thì chúng ta phải khai thông cống rãnh,
sắp đặt đồ đạc cho gọn gàng ngăn nắp và cửa sổ phải
có rèm che. Đây chính là biện pháp căn bản.
Nhân
vì nếu dùng thuốc sát trùng để giết hại loài động vật
thì sau ắt sẽ nhất định hại đến sức khỏe của mình.
Trong
kinh, Đức Phật dạy : “ Người giết hại chúng sanh sẽ
bị quả báo nhiều bệnh tật, mạng sống ngắn ngủi ”.
Ngày nay, khoa học cũng chứng minh rằng : “ Nếu sử dụng
thuốc sát trùng thì sẽ tổn hại đến sức khỏe; phá hoại
hệ sinh thái; gây ô nhiễm không khí, nguồn nước và hoàn
cảnh chung quanh chúng ta ”.
Chúng
ta phải nên phát huy lòng nhân ái. Điều kiện thiết yếu
để phát huy lòng nhân ái là cần phải phóng sanh và thí thực.
Phóng sanh tức là bất kỳ ở các chợ, đường sá …, gặp
những loài động vật như chim, cá, rùa … bị nhốt, trói
hoặc sắp bị giết hại thì chúng ta phải tận tâm tận lực
dùng mọi phương kế để cứu hộ chúng và làm cho chúng được
tự do. Nói đến thí thực thì chia làm hai loại :
Một
là thí thức ăn cho chim, cá … hay những động vật khác ở
nơi hoang dã, ví như mỗi ngày rải một ít hạt lúa ở bên
chùa hoặc ngoài tăng phòng cho chim ăn để cho chúng khỏi đói
mà phải đi tìm ăn những côn trùng nhỏ bé. Đây cũng là
cơ hội làm giảm sát sanh không hình tướng hay cũng chính
là phương pháp tích tụ âm đức vậy !
Hai
là thí thức ăn cho loài ngạ quỷ hoặc những cô hồn vất
vơ vất vưởng không nơi nương tựa. Loại thí thực này cần
phải niệm chú thì mới có hiệu nghiệm. Nhân vì có những
loài ngạ quỷ cổ nhỏ như lỗ kim, khi ăn thức ăn không thể
vào được. Nếu ta đọc lời chú thì nương vào oai lực của
Tam Bảo khiến cho cổ họng của loài quỷ ấy mở rộng ra,
cho dù ăn uống không ngon thì cũng khiến cho thức ăn biến
ra rất nhiều hoặc khiến cho thức ăn biến thành mỹ vị.
Ở các kinh “ Thiền Môn Nhật Tụng ”, “ Phật Môn
Nhật Tụng ” hoặc “ Tảo Vãng Khóa Tụng Bản ” … đều
có ghi rất rõ về những chú này. Ví như : Chơn ngôn phá địa
ngục, chơn ngôn triệu thỉnh, chơn ngôn mở oan kết, chơn
ngôn diệt định nghiệp, chơn ngôn diệt nghiệp chướng, chơn
ngôn mở rộng yết hầu, chơn ngôn biến thực, chơn ngôn cam
lộ thủy …
Kinh
Ưu Bà Tắc chép : “ Mỗi ngày, khi ăn cơm, trước tiên phải
cúng dường mười phương chư Phật và chư Bồ tát, kết duyên
cùng các bậc thánh hiền để đời sau chúng ta dễ gần gũi
mà tiếp nhận sự giáo hóa của các Ngài. Khi cúng dường
xong, nên dùng một cái muỗng, dùng bảy hạt cơm, nếu bún
thì dài chừng một tấc, đem ra bên ngoài để cúng dường
quỷ thần, lại tụng lời kệ chú như sau :
Nguyên
văn :
Pháp
lực bất tư nghì
Từ
bi vô chướng ngại
Thất
liệp biến thập phương
Phổ
thí châu sa giới
Án
độ lợi ích tóa ha
Dịch
nghĩa :
Sức
pháp chẳng nghĩ bàn
Từ
bi không ngăn ngại
Bảy
hạt biến mười phương
Thí
khắp cùng pháp giới
Án
độ lợi ích tóa ha (ba hoặc bảy lần)
2.
Nguyên văn :
Đại
bàng kim xí điểu
Khoáng
dã quỷ thần chúng
La
Sát quỷ tử mẫu
Cam
lộ tất sung mãn
Án
mục đế tóa ha
Dịch
nghĩa :
Chim
đại bàng cánh vàng
Khoáng
dã các quỷ thần
Mẹ
con quỷ La Sát
Thảy
đầy đủ cam lộ
Án
mục đế tóa ha
(Ba
hoặc bảy biến và đàn chỉ ba lần)
Nguyên
văn :
Nhữ
đẳng quỷ thần chúng
Ngã
kim thí nhữ cúng
Thử
thực biến thập phương
Nhất
thiết quỷ thần cộng
Án
mục lực lăng tóa ha
Nguyện
dĩ thử công đức
Phổ
cập ư nhất thiết
Ngã
đẳng dữ chúng sanh
Giai
cộng thành Phật đạo
Dịch
nghĩa :
Các
vị chúng quỷ thần
Ta
nay thí cho ngươi
Thức
ăn biến mười phương
Tất
cả quỷ thần thảy
Án
mục lực lăng tóa ha (ba hoặc bảy lần)
Nguyện
đem công đức này
Hồi
hướng cho tất cả
Đệ
tử và chúng sanh
Đều
trọn thành Phật đạo
Nếu
các vị muốn hiểu rõ điển cố và lời kệ chú của pháp
thí thực này thì xin xem trong kinh “ Cứu Diện Nhiên Ngạ
Quỷ Đà La Ni ”, kinh “ Niết Bàn ” và trong “Tỳ Nại
Da Tạp Sự”.
Thiện
Phước dịch
(
còn tiếp )
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 05-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 331 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân