NGƯỜI
PHẬT TỬ
CÓ NÊN LÀ
NGƯỜI ĂN CHAY KHÔNG ?
Nguyên
Tác: Dr. D. P. Atukorale
Chuyển
Ngữ: Tâm Diệu
Lời
Dịch Giả: Dr. D.P. Atukorale, M.D. M.R.C.P. là bác sĩ chuyên khoa
về tim mạch, hiện là Giáo Sư Viện Đại Học Colombo Tích
Lan và là Cố Vấn Trưởng Khoa Tim Mạch Viện Tim Mạch Quốc
Gia, Colombo, Sri Lanka. Bài này và các bài nghiên cứu khác
về y khoa và dinh dưỡng của ông được đăng tải trên Tập
San Y Khoa Hiệp Hội Y Khoa Tích Lan và các báo Online edition of
Daily News và Sunday Observer.
Người
ta cho rằng mọi người Phật tử đều tôn trọng năm giới
răn. Khi chúng ta giữ giới răn thứ nhất, chúng ta hứa rằng
sẽ không tước đoạt bất cứ sự sống nào và gây đau đớn
đến bất cứ sinh vật nào. Thật là rõ ràng rằng chúng ta
không thể ăn thịt được nếu như không có người nào giết
loài vật dùm chúng ta. Nếu chúng ta không tiêu thụ thịt hay
các sản phẩm có nguồn gốc từ thịt, thì sẽ không có việc
giết hại loài vật. Giới thứ nhất là một lời huấn thị
chống lại việc hủy diệt sự sống và làm thương tổn muôn
loài.
Theo
giới răn thứ nhất, Đức Phật dạy chúng ta không được
làm tổn thương mọi loài. Trong kệ 131 kinh Pháp Cú Đức Phật
dạy rằng: “Kẻ nào tìm hạnh phúc cho mình bằng cách hành
hạ chúng sinh khác , cũng mong cầu hạnh phúc , kẻ ấy sẽ
không được hạnh phúc”. Vì thế theo Phật giáo, không giết
hại và không làm tổn thương đến chúng sinh rất là quan
trọng.
Kệ
225 kinh Pháp Cú nói rằng, “Người sáng suốt không làm tổn
hại đến sinh vật và luôn luôn chế ngự thân, sẽ đạt
được cảnh bất diệt “Niết Bàn” nơi đó không còn sầu
muộn”.
Cũng
kinh Pháp Cú kệ 405 nói rằng, “Người đã từ bỏ gậy gộc
trong sự tiếp xúc với chúng sanh mạnh hay yếu, không sát
sinh và cũng không gây thương tổn, được gọi là người
cao thượng”. (người Bà La Môn)
Kinh
Pháp Cú kệ 129 và 130 nói rằng, “Tất cả đều sợ hãi
trước hiểm nguy, tất cả đều quý trọng đời sống. Hãy
lấy lòng ta suy lòng người. Không nên giết, cũng không nên
làm cho kẻ khác bị giết”.
Theo
Phật giáo, tất cả mọi loài như loài cá bơi lội, loài thú
vật, loài chim bay đều là các loài có cảm giác, không thể
bị giết hay làm bị thương. Phật tử không thể là những
người đi săn bắn, đánh cá, đánh bẫy, nhân viên của các
lò sát sinh, và mổ xẻ động vật sống..v..v..
VẤN
ĐỀ ĂN THỊT THÌ SAO ?
Một
số người đã tranh luận rằng, trong trường hợp người
ta không tự giết con vật để mà ăn, (có nghĩa là người
khác giết) thì không có vấn đề gì khi ăn thịt đó.
Nhưng
kệ 129 và 130 trong Kinh Pháp Cú đã chỉ rõ rằng chúng ta KHÔNG
ĐƯỢC GIẾT HAY GÂY NÊN SỰ GIẾT (should not kill or cause to
kill). Khi người nào đó mua thịt hay các sản phẩm có nguồn
gốc từ thịt, người đó đã tạo nên những nhân thiết
yếu (nhu cầu tiêu thụ) để cho người nào đó giết những
con thú vật này. (cung cấp theo nhu cầu)
Bởi
sự đồng ý ăn thịt do người khác phục vụ, chúng ta là
nguyên nhân tạo cho người khác giết hại thú vật. Kệ 7
Kinh Pháp Cú nói, “Người hằng sống khoái lạc, tâm thần
xáo trộn, ăn uống thiếu tiết độ, lười biếng, thiếu
đức hạnh, người ấy sẽ bị “Ma vương” lôi cuốn, bị
những cám dỗ dục vọng, như cây yếu trước gió”
Lý
do chính là lòng từ bi. Lòng từ bi là một phương pháp tu
học quan trọng để trở nên một người tốt. Người không
có lòng từ bi thì không xứng đáng là một Phật tử.
Người
có tấm lòng từ bi, xót thương, thì trong mọi khía cạnh của
cuộc đời, tâm từ bi đó luôn luôn biểu lộ. Hãy nghĩ đến
sự đau buốt khi bạn bị một con ong chích hay con rết tấn
công. Người nào đã từng nhìn thấy con cua bị luộc trong
nồi nước sôi (hay chảo dầu nóng) sẽ thấy con cua dồn mọi
nỗ lực một cách tuyệt vọng, đau đớn đến nỗi không
thể chịu đựng được, mà vùng vẫy mong thoát ra khỏi nồi
nước, sẽ không bao giờ có thể ăn cua được. Cuối cùng
con cua bỏ mạng trong đớn đau cùng cực khi cơ thể chúng
ngả qua mầu vàng đỏ. Một cuộc đời đã kết thúc trong
đau đớn biết là bao!
TẠI
SAO PHẬT TỬ NÊN LÀ NGƯỜI ĂN CHAY?
Ai
đã từng trông thấy cảnh đau đớn kinh hoàng của con bò
khi bị người đồ tể cắt cổ thọc huyết và lột da hồi
lâu trước khi nó chết sẽ không bao giờ nỡ nhẫn tâm mà
ăn thịt bò được nữa. Không ăn thịt loài vật là sự biểu
lộ của lòng từ bi.
Với
những người ăn thịt, những tiệc tùng, lễ cưới, lễ sinh
nhật cũng như lễ kỷ niệm đám cưới là những sự chết
chóc của hàng ngàn con vật.
Ngăn
ngừa nỗi đau đớn của những sinh vật bằng cách không ăn
thịt chúng (để thỏa mãn sở thích và đáp ứng nhu cầu
đói) là sự biểu lộ tối thiểu của lòng từ bi mà người
Phật tử chúng ta có thể làm được. Bắn giết, đâm chém,
siết cổ, dìm xuống nước, đánh bả thuốc độc, thiêu đốt
hay để điện giật, hoặc cố ý dùng bất cứ phương tiện
nào khác để tước đoạt sự sống, cố tình gây nên sự
đau đớn cho con người hay loài vật là vi phạm và làm ô
uế giới răn thứ nhất
Một
cách khác vi phạm giới răn thứ nhất là tạo nên nguyên nhân
cho người khác giết hại, tra tấn đánh đập hay làm thương
tổn đến bất cứ một sinh vật nào. Vì thế ăn thịt là
tạo lý do cho người khác giết hại cũng là phá hoại giới
răn thứ nhất.
Nếu
những con gà, bò hay cá không bị ăn, chúng sẽ không bị giết
chết. Vì vậy những người ăn thịt phải chịu trách nhiệm
về sự bạo hành và sự hủy diệt loài vật.
Phật
giáo cũng dạy chúng ta rằng không một sinh thể nào không
đã từng là cha, là mẹ, là chồng, là vợ, là chị, là anh,
là em, là con trai, là con gái của chúng ta, trong những chuỗi
nhân quả luân hồi chồng chất từ vô lượng đời kiếp.
Nói một cách khác, một sinh vật như con bò ngày nay có thể
là mẹ của chúng ta trong đời trước.
Con
gà mà bạn sẽ ăn vào bữa ăn chiều tối nay có thể là anh
hay chị của bạn trong quá khứ. Vì thế, quyền sống của
loài vật không thể bị coi thường hoặc chà đạp lên. Làm
sao một vị Sư đi tìm sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ,
mà lại cứ thản nhiên ăn thịt loài vật, dù biết rằng
chúng nó phải chịu đựng nỗi thống khổ kinh hoàng trong
giờ phút hấp hối khi bị giết?
ĐỨC
PHẬT CÓ THỪA NHẬN CHUYỆN ĂN THỊT KHÔNG?
Các
cư sĩ tại gia và các vị Sư ăn thịt thường trích dẫn kinh
Jivaka, trong đó đức Phật nói rằng, “Như Lai cấm không
cho ăn thịt trong ba trường hợp. Nếu thấy, nghe hay có lòng
hoài nghi rằng con vật bị giết cho mình ăn. Trong ba trường
hợp, Ta cho phép ăn, nếu không thấy, không nghe hay không có
lòng hoài nghi rằng con vật bị giết cho mình ăn”.
Thế
không phải rằng những con vật như bò, dê, heo, gà bị giết
tại các lò sát sinh là để cho những người ăn thịt thưởng
thức chăng? Nếu không một ai ăn thịt thì rõ ràng là các
con vật này không bị giết.
Có
thể tưởng tượng một vị Sư nói với thí chủ, người
cúng dường Sư món thịt, “Thưa đạo hữu thí chủ, thật
đạo hữu có lòng tốt đã cúng dường món thịt này cho Sư.
Nhưng Sư có lý do tin tưởng là loài vật bị giết để lấy
thịt cho Sư ăn, vì thế Sư không thể nhận được”?
Kinh
Jivaka cũng ngụ ý rằng Phật đã chấp thuận những sự giết
chóc và cảnh khủng khiếp tại các lò sát sinh. Nhưng nên
biết rằng sự giết hại thú vật làm thực phẩm tại các
lò sát sinh là một trong các ngành nghề mà Phật đã ngăn
cấm không cho Phật tử làm vì lý do từ bi.
Nói
rằng một đằng Phật lên án những ngành nghề buôn bán đẫm
máu với những sự giết chóc trong các lò sát sinh, săn bắn
thú vật, câu cá và bẫy sập thú rừng và một đằng lại
cho phép người Phật tử và hàng tăng sĩ được ăn thịt,
nếu những con vật này không phải là đặc biệt bị giết
để cho họ ăn, là một sự mâu thuẫn vô lý. Còn ai nữa
ngoài những người ăn thịt phải chịu trách nhiệm về sự
giết chóc nơi các lò sát sinh, săn bắn thú và câu cá?
Tóm
lại những đồ tể tại các lò sát sinh và các kho hàng gói
thịt chỉ làm việc để đáp ứng cho nhu cầu của những
người ăn thịt mà thôi. “Tôi chỉ làm giùm ông cái phần
việc dơ bẩn”, người đồ tể đã trả lời như thế với
một bậc thượng lưu khi vị này phản đối sự tàn bạo
của việc giết hại thú vật khờ khạo vô hại. Mọi người
ăn thịt, bất kể đã được diễn dịch rằng con vật được
giết cho họ hay là không, đều là yểm trợ cho kỹ nghệ
giết thú vật và góp phần vào sự tàn bạo giết chóc các
sinh vật khờ khạo vô hại. Chẳng lẽ Phật lại khờ đến
nỗi không hiểu được điều này, Ngài là người được
mô tả là đấng toàn hảo, đấng mà trí tuệ và từ bi bao
trùm khắp vũ trụ? Phải chăng Phật lại có thể kém nhạy
cảm đến nỗi không thấy rằng chỉ cần ngưng ăn thịt,
người ta có thể chấm dứt một cách hiệu quả cả sự giết
hại những con vật yếu ớt, câm lặng cùng với những sự
thống khổ, kinh hoàng mà chúng phải chịu đựng.
Chúng
ta được biết rằng Phật ngăn cấm các đệ tử của ngài
không được ăn thịt các thú vật như chó, voi, gấu và sư
tử. Vậy tại sao Phật lại cho phép ăn một loại thịt và
ngăn cấm ăn loại khác?
Thế
còn heo hay bò, những con vật này giả thiết là được chấp
thuận cho phép ăn, thì ít đau đớn hơn con chó hay con gấu
khi chúng bị giết chăng?
Ai
là Phật tử cũng đều biết Phật vô cùng từ bi và vô cùng
quý trọng sự sốngï, thí dụ như Ngài nhấn mạnh rằng rằng
các Tỳ kheo phải mang theo đồ để lọc nước mỗi khi uống,
tránh khỏi làm chết các vi sinh vật có thể có trong nước,
cho nên không thể tin được rằng Ngài có thể lãnh đạm
trước nỗi đau đớn và chết chóc của các loài gia súc bị
giết để làm thực phẩm.
Như
các Phật tử đều biết, hàng tu sĩ có giới luật riêng.
Phật có thể đòi hỏi các vị Sư nhiều điều chấp hành
mà không đòi hỏi nơi những Phật tử tại gia. Các tu sĩ
được huấn luyện đặc biệt để có những phẩm hạnh cao
quý và nghị lực bền bỉ, khác biệt với hàng cư sĩ tại
gia. Họ có khả năng mạnh mẽ chống lại sự cám dỗ khoái
lạc mà người thường khó chống cự nổi. Đấy là lý do
tại sao, họ từ bỏ khoái lạc tình dục (sống đời sống
độc thân) và cũng không ăn cơm sau 12 giờ trưa. Tại sao ăn
cơm sau 12 giờ trưa lại vi phạm giới luật nghiêm trọng hơn
là ăn thịt loài vật? Chúng ta có thể tin quả thật Phật
đã có nói những điều ấy cho những người biên tập kinh
điển Pali, nơi đề tài về sự ăn thịt chăng?
QUAN
ĐIỂM CỦA ĐẠI THỪA VỀ VẤN ĐỀ ĂN THỊT
Bây
giờ chúng ta hãy xem xét phiên bản kinh điển tiếng Sanckrit
nói về việc ăn thịt. Tôi trích từ kinh Lăng Già mà nguyên
một chương nói về những điều tai hại của việc ăn thịt.
“Vì
lòng từ bi, vì sự tinh khiết, các Bồ tát không được ăn
thịt mà nó được sanh ra từ máu mủ ..v..v.. Vì nỗi lo ngại
những nguyên nhân cấu thành sự kinh hoàng của chúng sinh,
vị Bồ Tát, người đã tự rèn luyện để có được từ
tâm không được ăn thịt”.
“Thật
là điều không đúng sự thật khi cho rằng thịt là thực
phẩm thích đáng và dùng được khi con vật không bị giết
bởi chính người ăn, khi người ăn không ra lệnh cho người
khác giết, và khi người khác không đặc biệt giết để
cho mình ăn”.
“Trong
tương lai có thể có những người bị sự cám dỗ bởi mùi
vị của thịt, sẽ kết hợp lại với nhau để tạo ra nhiều
cách ngụy biện cho việc ăn thịt. Nhưng dù thịt được ăn
dưới bất cứ hình thức nào, bất cứ kiểu cách nào, bất
cứ ở đâu, đều bị tuyệt đối cấm chỉ đối với bất
cứ ai.”
Kinh
Lăng Nghiêm nói, “Người tu hành chánh định, cốt để giải
thoát khỏi khổ đau của cuộc đời. Nhưng trong khi tìm kiếm
sự giải thoát nỗi khổ đau của chính mình, tại sao chúng
ta lại làm khổ đau cho kẻ khác. Trừ khi chúng ta kiểm soát
được tâm, biết ghê tởm ngay cả đến ý tưởng về sự
hung ác, tàn bạo, và giết chóc; chúng ta sẽ chẳng bao giờ
có thể giải thoát khỏi cảnh trần lao khổ ải”.
“Sau
khi ta diệt độ, có nhiều loại quỷ thần trôi nổi trên
khắp thế gian lừa gạt chúng sinh, và dạy rằng ăn thịt
cũng có thể đạt đạo giác ngộ. Có thể nào một vị Sư
hy vọng trở nên vị Bồ Tát cứu độ chúng sinh lại có thể
sinh sống bằng thịt của chúng sinh”?
Kinh
Đại Bát Niết Bàn phiên bản tiếng Sanckrit nói rằng: “Ăn
thịt làm tiêu tan hạt giống từ bi”.
Ngay
cả trước thời Đức Phật tại Ấn Độ, nhiều tôn giáo
đã chỉ trích việc ăn thịt không có lợi cho việc phát triển
tâm linh. Nếu các vị trưởng lão của trường phái Đại
Thừa hài lòng với lối diễn dịch của trường phái Nguyên
Thủy về việc ăn thịt, thì họ đã giữ sự im lặng. Thực
tế là họ đã phát biểu để chống lại sự ăn thịt một
cách kịch liệt, thấy được nỗi bối rối sâu xa của các
vị trưởng lão biên tập những lời dạy của đức Phật
trong bản tiếng Sanckrit.
Tự
điển Bách Khoa Phật Giáo nói rằng, ở Trung Hoa và Nhật Bản,
việc ăn thịt được coi như là xấu ác, bị loại trừ và
tất cả các loại thịt đều bị cấm dùng ở các chùa và
các tu viện. Việc ăn thịt là điều bị cấm kị tại Nhật
mãi cho đến giữa thế kỷ thứ 19th.
DÂN
CHÚNG TRÁNH CÚNG DƯỜNG CHO CÁC SƯ ĂN THỊT
Dr.
Kosheliya Wali trong cuốn sách của cô ”Conception of Ahimsa In
Indian Thought, đã viết “không bao giờ có thịt mà không có
sự tổn thương của chúng sinh, và làm tổn thương chúng sinh
là làm mất đi niềm an lạc và vì thế phải tránh xa việc
ăn thịt”.
“Người
ta phải biết kinh tởm thịt và sự tàn nhẫn của việc giết
hại súc vật trong các lò sát sinh và nên từ bỏ hoàn toàn
việc ăn thịt này”. “Ai cho phép giết hại loài vật, ai
cắt, giết, mua, bán, đãi đàng và ăn thịt, tất cả đều
là những kẻ sát sinh”.
“Ai
tìm sự tăng trưởng cơ thể của mình bằng thịt của sinh
vật khác và thờ phụng thần thánh, người đó là kẻ tội
lỗi nhất”.
“Không
thể kiếm được thịt từ cộng rơm hay từ hòn đá. Nó chỉ
có thể tìm được bởi sự giết chóc các sinh vật. Vì vậy
không nên ăn thịt”.
Một
vị sư Trung Hoa nói “Anh tạo thành một nhóm bạn bằng loại
thịt nào đó mà anh ăn. Anh thành lập một đoàn thể với
các loại thú vật nào đó mà anh ăn. Ví dụ nếu anh ăn nhiều
thịt heo, anh sẽ bị ràng buộc với nhóm heo, cũng tương tự
như vậy với bò gà cừu cá.....” Dr. Walch một người ăn
chay Anh Cát Lợi đã nói “Để ngăn ngừa sự chém giết con
người, người ta phải bắt đầu ở bàn ăn”. Nếu một
người muốn đi theo con đường an lạc hạnh phúc của Phật
Giáo và đi vào con đường tình thương và sự hiểu biết
của Phật, người ấy phải bắt đầu nơi cái bàn ăn.
Tại
Tích Lan, một bữa tiệc đám cưới phải giết hàng trăm,
nếu không nói hàng ngàn con vật. Tiệc sinh nhật hay kỷ niệm
hôn nhân cũng giết hàng trăm con vật. Trước khi chết chúng
chứa đầy nỗi giận giữ và oán thù. Bạn giữ giới thứ
nhất không phải chỉ không giết thú vật bằng hành động
mà còn bằng tư tưởng. Nếu tâm có ý giết hại tức là
đã vi phạm giới thứ nhất. Chúng ta phải xác quyết không
được sát sinh ngay cả trong tâm tưởng. Theo Phật giáo tâm
là cơ sở chủ đạo cho mọi hành động.
CÓ
PHẢI ĐỨC PHẬT THỊ TỊCH VÌ ĂN THỊT?
Những
vị Sư mà, trong một số trường hợp, có ăn thịt khi bào
chữa cho việc ăn thịt của mình nói rằng chính Phật đã
ăn miếng thịt heo tại nhà một đệ tử hơn là làm buồn
lòng vị thí chủ đó. (nếu khước từ nhận cúng dường)
Một số Sư ăn thịt nói rằng họ ăn bất cứ thực phẩm
nào mà Phật tử cúng dường một cách không kỳ thị. Nhưng
phần đông các học giả Phật giáo cho rằng thức ăn dâng
cho Phật không phải là thịt đã làm cho Phật chết và tất
cả kinh điển Đại Thừa đều một mực chống lại việc
ăn thịt như đã đề cập trước đây. Theo nhà học Phật
Rhys David thì thức ăn mà cư sĩ Thuần Đà dâng cúng Phật
là nấm rơm. Rhys David nói rằng từ sukara maddava có ít nhất
bốn ý nghĩa:
·
Loại thực phẩm heo ăn.
·
Một loại thức ăn mà heo rất ưa thích
·
Các phần mềm trong cơ thể con heo và
·
Một loại thức ăn bị giẫm nát bởi con heo.
Cư
sĩ Thuần Đà là một đệ tử thuần thành của Phật, chắc
chắn ông ta không thể nào cúng dường Phật miếng thịt heo
vì thừa biết rằng Ngài không ăn thịt. Rất có thể chính
Thuần Đà cũng không ăn thịt như rất nhiều người Ấn Độ
thời bấy giờ. Như thế thì có thể nào ông ta lại cúng
dường thịt lên Phật, một người rất nhạy cảm về nỗi
thống khổ, đau đớn của chúng sinh, người không uống sữa
bò trong thời kỳ 10 ngày đầu tiên sau khi bò sanh con.
Bất
cứ một vị sư nào được cúng dường bữa ăn tại nhà cư
sĩ đều biết rằng gia chủ thường thỉnh hỏi sư hay vị
thị giả theo hầu hoặc một vị cư sĩ hộ pháp thân cận,
loại thức ăn nào sư thường ăn, để có thể tránh các loại
thực phẩm không thích hợp với cơ thể và tinh thần của
Sư. Trong thời kỳ Phật tại thế, những thí chủ cúng dường
thức ăn cho Phật thường tham vấn Ananda, vị thị giả của
Phật. Các tăng sĩ không thích loại thức ăn nào có thể có
cách thích hợp để từ chối mà không cần phải thốt lên
một lời nói nào.
Tôi
được biết phần lớn tăng sĩ Tích Lan ăn thịt và các sản
phẩm có nguồn gốc từ thịt. Thỉnh thoảng một số còn
gợi ý (mention) với các vị thí chủ cúng dường, về những
thức ăn như là thịt gà, khi những thí chủ này gặp họ
để xin ngày hẹn dâng thực phẩm cúng dường (to book a date
for dana). Một số tăng sĩ, đặc biệt những Sư sống trong
những chùa như là Sasuna và các am, cốc, không ăn thịt, cá
hay trứng, bởi vì những thức ăn này kích thích dục vọng,
không có lợi ích trong tiến trình tu tập để giải thoát
tâm linh.
Một
điều đáng để ý là càng ngày càng có nhiều thí chủ cúng
dường bữa ăn chay cho các vị Sư khất thực và con số các
vị Sư ăn chay cũng tăng lên trong những năm gần đây.
Các
tăng sĩ có thể giữ một vai trò quan trọng trong việc làm
giảm thiểu sự giết chóc loài vật, và nỗi đau đớn kinh
hoàng mà chúng phải chịu đựng trong những giờ phút hấp
hối bằng cách yêu cầu các đệ tử không cúng dường thịt
khi họ đến gặp để xin Sư cho họ cúng dường trai tăng,
như là đã có rất nhiều Phật tử tuân theo những gương
sáng do các Sư dạy dỗ.
Đa
số Phật tử kính trọng các Sư ăn chay hơn là các Sư ăn
thịt. Các Sư truyền giảng giáo pháp của Phật không thể
nào chấp nhận thức ăn thịt mà lại không có sự xung đột
với “tâm từ bi”. Đạo Phật là một tôn giáo thực hành.
Nếu tăng đoàn làm một cuộc phát động cho việc ăn chay
chắc chắn sẽ cứu được rất nhiều con vật khỏi thảm
cảnh chết chóc và những nỗi đau đớn kinh hoàng đi cùng
với sự giết chóc.
Tăng
đoàn Phật giáo nên dẫn đạo và các cư sĩ Phật tử, ít
ra là một tỷ lệ cao, sẽ theo các ngài.
Dr.
D. P. Atukorale, MD
Chú
Thích của Người Dịch:
(1)
Từ sukara maddava được kết hợp bởi hai từ sukara và maddava.
Sukara có nghĩa là con heo và maddava có nghĩa là phơi khô, là
ngon, tức là một loại thức ăn mà giống heo rừng rất thích
ăn. Các học giả Phương Tây dịch là truffles, một loại nấm
quý.
(2)
Theo Kinh Trường A Hàm, Quyển 3, Kinh Du Hành, Thứ 2, Đoạn
2: Khi đức Phật nhận bát canh nấm từ tay Thuần Đà, Ngài
có nói với Thuần Đà rằng, đừng đem thứ canh nấm còn
dư này cúng dường cho các vị Tăng khác, Thuần Đà vâng lời
rồi lui ra. Tại sao Phật nói như vậy? Đây là nguyên văn
kinh:<<....Sau khi Phật và đại chúng đã an tọa, ông Châu
Na (Thuần Đà) đem món ăn dâng Phật và chúng Tăng, ông lại
nấu riêng một thứ nấm Chiên Đàn là thức ăn trân quý kỳ
lạ ít thấy, đem dâng riêng cho Phật, Phật dạy Châu Na chớ
đem thứ nấm ấy cho chúng tăng ăn. Châu Na vâng lời....>>
(Kinh Trường A Hàm, Thích Thiện Siêu Việt dịch, Phật Học
Viện quốc Tế xuất bản 1986 (trang 86).
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 05-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 331 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân