THÍ DỤ
LÕI CÂY
HT.
Thích Chơn Thiện
A.Kinh
dài: THÍ DỤ LÕI CÂY
(Kinh
số 29: Mahàsàropamasuttam – Greater Discourse On The Simile oF the
Pith)
I.
GIẢI THÍCH TỪ NGỮ
–
Devadata (Đề Bà Đạt Đa): Tôn giả Đề Bà Đạt Đa,
theo tài liệu thuộc văn học Pàli, là một hoàng thân xuất
gia. Tôn giả tu tập thành tựu Định uẩn, có các thần thông.
Về sau khởi ý tham liên kết với Thái tử Ajàtasattu (A Xà
Thế) phế vua cha là Bimbisàra (Tần Bà Sa La) thoán ngôi. Tôn
giả dựa vào thế lực của vua A Xà Thế yêu cầu Đức Phật
trao Giáo hội Tăng già cho Tôn giả lãnh đạo. Đức phật
từ chối yêu cầu của Tôn giả. Tôn giả dẫn theo 500 vị
Tỷ kheo đến Gayàsìra, núi Kênh Kênh, tách khỏi Giáo hội.
Về sau, các Tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đã
chỉ rõ sai lầm, phi pháp của Tôn giả Đề Bà Đạt Đa và
thuyết phục được 500 Tỷ kheo kia về với Giáo hội.
Tôn
giả Đề Bà Đạt Đa rất ân hận về việc làm sai trái của
mình, định đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, cầu sám hối,
nhưng không còn kịp nữa; Tôn giả bị đất rút chết. Nay
tại chỗ đất rút vẫn còn để lại dấu tích không có cỏmọc,
cỏ không thể mọc.
Đây
là sự kiện “phá hòa hiệp Tăng” lớn nhất do Tôn giả
Đề Bà Đạt Đa gây ra.
–Thời
giải thoát: Samayatnmokkha: (Release as to things of time): Chỉ là
kết quả giải thoát khỏi các pháp thế gian, chưa bất động;
nếu thiếu giác tỉnh và tinh cần, có thể thối chuyển.
–
Phi thời giải thoát (Asamaya as to things that are timeless): Giải
thoát khỏi các pháp vượt khỏi thời gian, tâm bất động
và trở nên bất thối chuyển.
–
Tâm giải thoát bất động: Akuppà cetovimutti: (Unshakable freedom
of mind): Sớ giải: đây là quả vị A la hán (Tâm đã tận
trừ tất cả lậu hoặc).
II.
NỘI DUNG KINH DÀI THÍ DỤ LÕI CÂY
1.
Nhân sự kiện Tôn giả Devadatta sau khi tu tập thành tựu Định
uẩn, không tiếp tục mục tiêu phạm hạnh, từ bỏ chúng
Tăng vì danh vọng và sự tôn kính, lợi dưỡng, Đức Thế
Tôn giảng dạy kinh dài Ví Dụ Lõi Cây (số 29).
2.
Con đường xuất thế trải qua nhiều bước thành tựu. Mỗi
bước thành tựu có đem lại niềm vui, niềm tự hãnh cho hành
giả. Danh vọng và lợi dưỡng cũng theo đó mà đến nhiều
hơn. Nếu thiếu giác tỉnh và thiếu nỗ lực đi tới thì
hành giả sẽ rơi vào sai lầm, không thể thành tựu phạm
hạnh mà còn có thể sa đọa.
1.1.
Bước đầu từ bỏ gia đình, xuất gia tu hành...
1.2.
Bước thành tựu Giới uẩn...
1.3.
Bước thành tụu Định uẩn...
1.4.
Bước thành tựu tri kiến...
1.5.
Bước thành tựu “thời giải thoát”...
1.6.
Bước thành tựu “Phi thời giải thoát”...
Năm
bước thành tựu đầu, nếu hành giả tự hãnh thì sẽ rơi
vào vòng danh vọng, lợi dưỡng và thối chuyển. Chỉ có bước
thành tựu thứ sáu “Phi thời giải thoát” thì bất thối
chuyển, sẽ tiếp thành tựu bước đi cuối cùng là “Tâm
giải thoát bất động” (A la hán vị).
3.
Đức Thế Tôn ví các bước giải thoát đầu theo thứ tự
là cành vỏ ngoài, vỏ trong và giác cây; chỉ có bước giải
thoát thành tựu phạm hạnh là lõi cây. Như người đi đến
cây để tìm về lõi cây, cũng thế, người xuất gia là cầu
tìm “Tâm bất.động giải thoát”.
III.
BÀN THÊM
1.
Danh vọng, lợi dưỡng, lời khen ngợi, lời tán thán là những
gì rất hấp dẫn con người, dẫn dắt con người vào hưởng
thụ, phóng dật, khen mình, chê người, gây chia rẽ tập thể,
phá hòa hợp Tăng. Hiện tượng “tha hóa” này đã xảy ra
ở mức độ trầm trọng trong Giáo hội dưới sự lãnh đạo
của Thế Tôn. Hiện tượng ấy trở nên khá phổ biến trong
thời đại ngày nay. Đức Phật đã giảng dạy nếp sống
“lục hoà” và chế pháp “Thất diệt tránh” để ngăn
ngừa.. Nhưng tâm lý trần thế ấy, hiện tượng “tha hóa”
ấy vẫn luôn luôn là mối ưu tư đối với các tâm hồn giải
thoát. Vì thế, Đức Thế Tôn đã đạy thêm kinh dài và kinh
ngắn Ví Dụ Lõi Cây để nhắc nhở chúng Tăng.
2.
Hướng giáo dục Phật giáo chân chính, qua bản kinh dài Ví
Du Lõi Cây là hướng giáo dục phát tnển Giới, Định, Tuệ,
Giải thoát và Tri kiến giải thoát. Song song với việc trao
truyền kiến thức, hướng dẫn tu trì, hướng giáo dục ấy
cần luôn nhắc nhở, khích lệ,
đánh
thức Tăng, Ni giữ chặt mực tiêu phạm hạnh, và nắm chặt
tâm lý hướng về mục tiêu ấy. Nếu cần khen ngợi, tán
thán thì chỉ tán thán các thái độ sống, các nếp sống
thiểu dục, tri túc, viễn ly, tán thán thái độ khiêm tốn,
tinh cần, tùy hỷ.
Bản
kinh số 29 quả là đã đánh thức dậy trong tâm các nhà giáo
dục Phật giáo niềm thao thức của hằng thiên niên kỷ.
Bài
viết này cũng đã khép lại trang kinh với nỗi u hoài ấy...
B.
Kinh ngắn: VÍ DỤ LÕI CÂY
(Kinh
số 30: Cùlasàropamasuttam – Lesser Discourse On The Simile oF the
Pith)
I.
GIẢI THÍCH TỪ NGỮ
Giới
thiệu vài nét về Lục sư ngoại đạo Purana Kassapa, Makkhali-Gosalà,
Ajita Kesa-Kumbala, Pakudha Kàtyayana, Saĩjaya Belatthaputta, và Nigantha
Nàtaputta, và các chủ trương của lục sư ngoại đạo:
1.
Purana Kassapa: ông là nhà khổ hạnh lõa thể, chết năm 572
trước Tây lịch.
Theo
kinh Phạm Võng, Trường Bộ kinh I, chủ thuyết của ông gọi
Phi nghiệp hay Vô nhân – Akiriyavàda hay Ahetuvàda. Theo ông,
khi một người hành động hay khiến người khác hành động,
thì không phải linh hồn hành động hay khiến người khác
hành động. Linh hồn thực sự vô hành, ở ngoài kết quả
của nghiệp thiện, ác. Thực tại cũng ở ngoài thiện, ác.
2.
Makkhah-Cosàla: Theo kinh Sa Môn Quả, lý thuyết của ông là “Luân
hồi tịnh hóa” (Samsàra-suddhi). Theo lý thuyết này tất cà
các người phàm, trí theo thời gian luân hồi, sẽ chuyển hóa
đi đến chỗ toàn thiện.
3.
Ajita Kesa-Kambla: Chủ trương duy vật. Có thể nói là chủ trương
đoạn diệt luận: Cá nhân chết là hết. Khi chết các nội
đại trở về với các ngoại đại – đất , nước, gió,
lửa; các căn trở về hư không.
4.
Pakudha Kàtyayana: Chủ trương lý thuyết bảy phạm trù. Theo
ông, không có hành động giết, nghe, biết, giảng dạy trong
thực tế. Chỉ có hành động tách rời các đại. Khi một
người chặt đôi một cái đầu với thanh gươm, thực sự
không có giết chết một người, mà chỉ có sự việc thanh
gươm đi vào giữa bảy yếu tố.
5.
Saijaya Belatthaputta: ông được xem là vị nổi tiếng nhất
chủ trương Hoài nghi thuyết. Học thuyết của ông được
hiểu là “Bất khả tri luận” (Agnostics), hay Hoài nghi luận
(Sceptics), học thuyết “Trườn uốn con lươn” (Eel Wrigglers).
Tôn giả Sàriputta là môn đệ của ông truớc khi quy hướng
Đức phật và trở thành vị Tướng quân Chánh Pháp.
6.
Nigantha Nàtaputta: Học thuyết của phái Ni Kiền Tử này, theo
kinh Sa Môn Quả, Trưòng Bộ kinh I, là chủ trương “bốn tự
chế”, nhờ bốn tự chế (xem Sa Môn Quả) này mà Ni Kiền
Tử tự chủ và toàn thiện.
II.
NỘI DUNG KINH NGẮN VÍ DỤ LÕI CÂY
1.
Như phần giới thiệu điểm xuyết trên về sáu học thuyết
của lục sư ngoạì đạo, đó là các tà thuyết tà kiến.
Do đó mà các giáo chủ ngoại đạo không bao giờ có thể
là các Bậc Chánh Đẳng Giác, hay Nhất Thiết Trí được.
Thế nên, Bà la môn Pingalakoccha sau khi nghe các vị giáo chủ
ấy tự xưng chứng Nhất Thiết Trí đâm ra ngờ vực, đến
bạch hỏi Thế Tôn sự thật.
Đức
Thế Tôn tế nhị không trả lời thẳng câu hỏi của Pingalakoccha,
mà chỉ nói lên kinh ngắn Ví Dụ Lõi Cây giới thiệu toàn
bộ lộ trình giải thoát như Pháp cho đến quả vị giải
thoát sau cùng: “Bất động giải thoát tâm”, gián tiếp
xác định rằng: Ai đã đi suốt lộ trình giải thoát, ai đã
vạch ra trọn lộ trình giải thoát ấy mới là Bậc Nhất
Thiết Trí – chỉ có Bậc Nhất Thiết Trí mới có thể chuyển
vận bánh xe Pháp.
2.
Các bước đi giải thoát, cơ bản là tương tự phần giới
thiệu ở kinh dài Ví Dụ Lõi Cây. Tuy nhiên, kinh số 30 này
có sự trình bày lộ trình giải thoát rất đặc biệt như
được trình bày dưới đây:
2.1.
Thành tựu Giới.
2.2.
Thành tựu Định.
2.3.
Thành tựu Tri kiến.
2.4.
Thành tựu Sơ thiền Sắc giới (Phật giáo).
2.5.
Thành tựu Nhị thiền Sắc giới (Phật giáo). .
2.6.
Thành tựu Tam thiền Sắc giới (Phật giáo).
2.7.
Thành tựu Tứ thiền Sắc giới (Phật giáo).
2.8.
Thành tựu Không vô biên xứ (Phật giáo).
2.9.
Thành tựu Thức vô biên xứ (Phật giáo).
2.10.
Thành tựu Vô sở hữu xứ (Phật giáo).
2.11.
Thành tụu Phi tưởng phi phi tưởng xứ (Phật giáo).
2.12.
Thành tựu Diệt thọ tưởng định (Phật giáo).
Chính
chứng Diệt thọ tưởng định là an trú Tâm giải thoát bất
động, thành tựu mục đích phạm hạnh.
Cần
phân biệt ý nghĩa thành tựu Định (điểm 2.2) ở trên chỉ
là sự thành tựu sức mạnh tập trung (samatha) của ngoại
đạo, hay ngoại đạo thưòng thực hiện; riêng từ Sơ thiền
Sắc định đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ định cũng là
ý nghĩa thành tựu định, nhưng đây là Định uẩn của Phật
giáo vốn có mặt trí tuệ tẩy trừ cầu uế tâm, tẩy trừ
tham ái và xả các nội thọ (không trước dính nội thọ).
Phần Thiền định Phật giáo có nét đặc thù, không tìm thấy
ở ngoại đạo, là Thiền quán, tuệ quán (Vipassana). Nhờ sự
phái triển trí tuệ mới có thể chứng đắc Diệt thọ tưỏng
định là định ở ngoài kinh nghiệm của ngoại đạo.
Không
có trí tuệ về sự thật thật, và không chứng đắc Diệt
tưởng định thì không bao giờ có thể lự xưng là Nhất
Thiết Trí. Đây là câu trả lời cho câu hỏi của Bà la môn
Pingalakoccha.
III.
BÀN THÊM
1.
Bà la môn Pingalakoccha một trí thức thờì Đức Phật, sau
khi nghe kinh ngắn Ví Dụ Lõi Cây đã thấy được “dấu chân
voi”, dấu chân của Bậc “Nhất Thiết Trí”, đã nhận
ra Thế Tôn là Bậc Chánh Đẳng Giác duy nhất ở đời và
đã quy y Bậc Đạo Sư, trọn đòi quy ngưỡng.
Sắc
thái đặc thù của những ai thực hiện đúng con đường
giải thoát của Phật giáo là trung thành với trí tuệ Vô
ngã, không chấp thủ các sở đắc, các tri kiến, hoàn toàn
thực hiện ly tham ái đối với bất cứ hiện hữu nào
ở đời, giữa khi ngoại đạo thì đắm trước các thành
quả của Giớì, Định và các tri kiến, đắm trưóc tự ngã.
Do không đắm trước mọi hiện hữu, mọi thành quả tu tập,
Đức Thế Tôn, và các đệ tử của Ngài, đoạn trừ hết
các sinh y, lậu hoặc, chứng đắc “Bất động tâm giải
thoát”, giác ngộ, Niết bàn.
2.
Diệt thọ tưởng định là định khi an trú thì thọ, tưởng
uẩn bị diệt hay ngũ uẩn diệt-không hoạt động; ngũ uẩn
diệt tức khổ diệt: đây là thành tựu của phạm hạnh.
3.
Đọc xong bản kinh 30, tên gọi “Lõi cây” còn để lại
trong âm hưởng bên tai; hình ảnh ; lõi cây hiện rõ trong tâm
như đang thầm nói với hành giả rằng: thật là vô lý nếu
người tu dừng lại ở bất cứ thành tựu nào của công phu
trên đường về! Thật là vô minh, nếu người khát vọng
chân lý và hạnh phúc lại tham trước tham ái, và các đối
tượng tham ái, tham trước tiếng tăm và lợi dưỡng!
Sứ
mệnh của Đệ tử Thế Tôn là tìm về “Bất động tâm
giải thoát”, và giúp những người khác tìm về./.
(đăng
trong NS Giác Ngộ số 85, 04-2003)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 05-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 331 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân