SỐ 306 THÁNG 06 NĂM 2003
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
TỘI TÁNH VỐN KHÔNG
Minh Tâm

Ðức Phật bảo ông Ưu Ba Ly đi thăm bệnh, ỏng này từ chối vì trước đây có hai vị Tỳ Kheo phạm luật hạnh đến hỏi, ông y theo pháp giảng giải, thì trưởng giả Duy Ma Cật đến bảo rằng. Chớ kết thêm tội làm rối loạn lòng họ, vì tội Tánh không ở đâu cả do Tâm tạo. Hiểu được vậy mới là giữ luật. 

Ưu Ba Ly, phiên âm chữ Phạn Upali, dịch nghĩa là Cận Thủ, Cận Chấp: ở gần bên cạnh mà giữ lấy, nắm lấy, ý nói ông Ưu Ba Ly thân cận Phật nắm giữ giới luật chặt chẽ. ông vốn là một người thợ cắt tóc tại thành Ca Tỳ La Vệ. Một hôm thấy sáu Hoàng Tử đi tới chỗ Phật xin xuất gia, ông xin đi theo, sáu Hoàng Tử đồng ý và nhường ông thọ giới trước, chứng tỏ sáu vị đã bỏ sự phân chia giai cấp. Ông Ưu Ba Ly tu hành rất tinh tấn chẳng bao lâu đã đắc quả A La Hán và được Ðức Phật khen là giữ luật đệ nhất, không phạm giới cấm. Kinh Avadana Jataka chép rằng có 500 Hoàng Tử họ Thích tới xin xuất gia, thấy A La Hán Ưu Ba Ly thì họ chẳng chào lạy, vì trước kia ông Ưu Ba Ly vẫn cắt tóc cho họ. Ðức Thế Tôn dạy các Hoàng Tử phải tới kính lạy chào ông Ưu Ba Ly vì trong Giáo Hội của Phật chỉ kể đức hạnh tu chứng chứ không kể địa vị chức tước trong xã hội. Tại kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất, ông Ưu Ba Ly đọc lại những giới luật do Phật chế ra, gom lại thành Luật Tạng.  

Có hai Tỳ Kheo phạm luật hạnh, hổ thẹn không dám bạch Phật, đến hỏi ông Ưu Ba Ly nhờ giải tội cho. Ðây là môt phương pháp sám hối, trình bày lỗi lầm cho vị Thanh Văn giữ luật bậc nhất, vị này cứ y theo luật Phật mà giải nói. Ngài ưu Ba Ly đứng về sự tướng mà nói, phạm giới gì thì bị trừng phạt như thế nào để họ ăn năn chừa lỗi, không dám tái phạm. Ðứng về sự tướng thì thấy có người phạm giới, có giới luật bị phạm, có người bị trừng phạt. Nhưng theo Trưởng giả Duy Ma Cật đứng về Thể Tánh tuyệt đối mà luận thì ông Ưu Ba Ly chẳng nên nói vậy, chớ kết thêm tội cho họ, chớ làm rối loạn lòng họ, phải dứt bỏ ngay lời kết tội sai trái này. Họ phạm tội đã hối hận khổ lắm rồi, trừng phạt làm họ khổ thêm, ví như họ bị kết thêm tội nữa. Tâm họ đã lo sợ buồn phiền, trừng phạt làm họ rối loạn trong lòng, thêm phần đau khổ. Lời ông Duy Ma Cật quy tất cả về Tâm, nhất thiết do Tâm tạo, Tâm tạo Thiên Ðường, Tâm tạo Ðịa Ngục, nhưng tìm Tâm chẳng thấy đâu, giống như Kinh Lăng Nghiêm đã giảng rõ. Tâm như thế nào thì tội tánh cũng như thế đó. Nói Tâm nhơ là để cho dễ hiểu, đó là vọng tâm vọng thức, chứ Chân Tâm thì chẳng phải nhơ chẳng phải sạch.  

Trong nghi thức sám hối có câu: “Tội do Tâm sinh tất do Tâm diệt, Tâm diệt hết thì tội cũng không còn. Tội hết, Tâm diệt, cả hai đều Không, Thế mới thật là chân sám hối.” Tội lỗi cũng như tất cả các pháp đều do Tâm sinh ra, rồi cũng đo Tâm diệt đi, tùy Tâm biến hiện. Khi Tâm không tạo tác thì tội không còn. Nếu thấy có Tâm có tội thì còn chấp ngã chấp pháp, người tu hành phải thấy tội tánh vốn Không, Tâm cũng Không, chắng còn chấp gì nữa mới là sám hối chân chánh. Không đây chẳng phải là không ngơ, mà là do duyên hợp mà thấy có, là giả huyễn, là vọng tưởng điên đảo, không có thật. Chúng sinh vì si mê vọng tưởng như người chiêm bao, Chân Tâm trở thành vọng thức, thấy có gây nhiều tội lỗi phạm giới. Khi tỉnh giác, vọng thức biến đi, Chân Tâm chiếu sáng như người chiêm bao chợt tỉnh, hết mê mờ điên đảo, thì chẳng thấy có tội lỗi gì nữa. Vì sao? Vì tội lỗi không thật có. Những gì chúng ta làm trong gịấc chiêm bao đều là giả cả. Ðiều quan trọng là phải tỉnh giấc chiêm bao, biết đâu là Chân, đâu là vọng, đâu là thật, đâu là giả.  

Tội là gì? Tội là kếl quả của một việc làm xấu ác, trái với Chân Lý. Ai làm ? Ðã biết rằng không có ta (phá chấp ngã), không có việc làm tội lỗi sái quấy (phá chấp pháp), không có người hay vật bị ta làm quấy, tất cả đều là giả, là Không, đã chẳng có người gây thì làm gì có tội. Ðây là ý nghĩa câu: tội Tánh vốn Không. Chỉ vì vọng tưởng đảo điên, vọng thức che lấp Chân Tâm nên thấy là nhơ, chúng sinh và các pháp đều nhơ. Khi giác ngộ, vọng thức tan biến, Chân Tâm hiển hiện thì chúng sinh và các pháp trở thành trong sạch. Tất cả đều do Tâm, Tâm Thanh tịnh thì pháp thanh tịnh, không còn tội cấu nữa.  

Vậy nhơ sạch đều do Tâm, do có vọng tưởng điên đảo chấp ngã hay không. Câu nói tất cả chúng sinh Tâm Tướng không nhơ là có ý nghĩa chúng sinh đều có Phật Tánh vốn thanh tịnh, không hề nhơ uế nhiễm ô. Chỉ vì một niệm bất giác vô minh vọng động nổi lên, ví như người đang chiêm bao mê thấy có ta có người, có cảnh vật nhơ sạch, lúc tỉnh dậy thấy chỉ là giấc mơ thôi, không thật có. Cuộc đời là giả, các pháp là giả, vô thường vô ngã, sinh diệt không dừng, như trăng dưới nước, như bóng trong gương. Có ai bị trừng phạt vì một tội gây ra trong giấc chiêm bao không ? Cuộc đời là giấc mộng dài, tội Tánh vốn Không, ai biết rõ nghĩa này, thấu được Chân Lý cứu cánh, gọi là khéo hiểu, gọi là giữ luật chân chánh.  

Ðến đây cần phải giải thích thêm cho rõ, kẻo có sự hiểu lầm tai hại. Sau khi học xong đoạn kinh trên, có thể có một số người đặt câu hỏi: Tội Tánh vốn Không, vậy có cần giữ giới theo luật Phật không? Xin đáp: Rất cần. Ðứng về Tánh thì không có tội báo chi cả, nhưng đứng về Tướng thì vẫn có tội báo. Hiểu lý vô thường vô ngã, thâm nhập Bản Tánh Chân Không, nhưng còn thân xác ngũ uẩn, còn sống trong thế gian thì còn phải giữ giới luật, giữ cả trong Tâm, giữ cả ngoài thân, mọi hành động tạo tác đều y theo gịới luật, nhưng khi Tâm đã thanh tịnh, không còn dính các pháp thì giữ giới mà không thấy mình giữ giới, không thấy giới phải giữ, mới là giữ giới. Vì sao? Tâm thanh tịnh thì không thế nào làm việc xấu ác phạm giới luật nữa, cứ thản nhiên mà sống, tự nhiên mà làm, chẳng chú tâm mà việc làm nào cũng lành tốt, không vọng tưởng si mê, hết nhiễm ô xấu ác.  

Cần hiểu chữ Không của Phật Giáo Ðại Thừa chẳng phải là không ngơ mà là Chân Không Diệu Hữu, là Bản Thể Chân Như nguồn gốc của các pháp, là Thật Tướng. Ðối với người đã có trình độ hiểu hiết giáo lý khá sâu thì có thể nói Tội Tánh vốn Không, các pháp đều là Không, vì người ấy đã hiểu rõ đâu là Chân Tâm, đâu là vọng thức. Lúc mê ngủ thì thấy có, lúc tỉnh giấc thì thấy không.  

Nhưng đối với hạng người sơ cơ chưa nắm vững lý Không của Ðại Thừa thì nên phương tiện đứng về Tướng mà nói: có tội phước, quả báo, có các pháp lành dữ... khiến cho họ sợ tội mà không dám phạm gíới, họ lam phước mà tu các pháp lành. Rồi lần lần khi họ đã thâm nhập giáo lý, lúc đó phải đứng về Tánh mà nói lên sự thật: tất cả là Không. Tóm lại, phải tùy căn cơ chúng sinh mà dạy luật, thuyết pháp.  

Theo giáo lý Tiểu Thừa thì có tội phước nhân quả rõ ràng, gây tội phải đền, phải ăn năn sám hối, làm việc tốt để chuộc lỗi xưa đền bù lại. Tiểu Thừa coi việc giữ giới tướng hết sức quan trọng, chuộng hình thức giữ giới bề ngoài, thí dụ: không nhìn ngó người nữ, không giữ tiền, không ăn quá giờ Ngọ, lỡ phạm tội thì phải ghi nhớ để không tái phạm. Đại Thừa coi Tâm Giới quan trọng hơn Giới tướng, tuy không bỏ giới tướng. Ðứng về Tánh thì tội là Không. Ðứng về Tướng thì lỡ có tội phải tự tâm ăn năn sám hối thì tội sẽ tiêu. Ðại Thừa không dồn ép người lở phạm tội vào chân tường, không đuổi người xuất gia về thế tục, mà cho họ có cơ hội thực tâm sám hối, quay về tâm thanh tịnh thì sẽ thấy nhẹ nhàng đã sám hối rồi thì quyết tâm không phạm tội nữa, như vậy thì sự sám hối mới được gọi là chân chánh. Ai kết tội? Theo tín ngưỡng bình dân thì có Ðịa Ngục, Diêm Vương, Quỷ Sứ hành tội. Theo Phật Giáo Ðại Thừa thì tất cả do Tâm tạo, nguồn gốc quan trọng là Tâm, những hành động phát xuất từ Tâm mới là đáng kể. Tội chia làm hai loại: vô tình hay cố ý. Nếu vô tình phạm tội thì nhẹ, sám hối có thể hết tội, trong lòng thanh thản. Nếu cố ý phạm tội thì nặng, phải tốn nhiều tâm cơ thời giờ, phải làm nhiều công đức mới rửa sạch tội lỗi. Nếu vì không biết mà phạm tội thì dễ được tha thứ, nếu đã biết mà còn vi phạm giới luật thì khó mà trừ bỏ những ám ảnh ray rứt nội tâm. Trong Kinh điển Ðại Thừa có nhiều thí dụ điển hình các Bồ Tát vì lợi tha mà phạm tội: tiền thân Ðức Phật có lần đã giết mấy lái đò tướng cướp để cứu những người khách thương vô tội, các Bồ Tát thị hiện phạm giới để răn chúng sinh. Vì lợi ích chúng sinh mà làm những việc người thường cho là tội lỗi, nhưng đối với các Bồ Tát đã hiểu năm uẩn là Không thì làm gì có tội. Bàn tay có vết thương khi mó vào thuốc độc thì dễ bị làm độc, còn tay không bị thương thì dù có mó vào thuốc độc cũng không hề gì. Thấy việc khó làm, cứu người mà phạm giới thì người tu theo hạnh Tiểu Thừa liền lánh xa, còn người có tâm hạnh Bồ Tát thì tự nguyện xông vào làm, mong sao cứu giúp được chúng sinh, còn riêng mình bi thiệt thòi, bị tội cũng chấp nhận. Ðó là Tâm Ðại Bi, quên mình vì người. 

Ông Ưu Ba Ly tu hạnh Thanh Văn, luận tội phạm giới do việc làm, còn chấp tướng, thấy có hai Tỳ Kheo phạm giới, có giới bị vi phạm, có tội phải chịu nhận, lãnh thọ. Còn Trưởng giả Duy Ma Cật thực hành Bồ Tát Ðạo, thấy tất cả do Tâm phát xuất thì dùng Tâm sám hối sẽ thấy tội tánh vốn Không. Năm uẩn là Không thì tội cũng là Không, là huyễn. Chỉ cần thức tỉnh giác ngộ là giải quyết mọi vấn đề, dĩ nhiên  không bao giờ phạm tội nữa, đó là sám hối, đó là giữ luật, đó là khéo hiểu.  

Ðoạn kinh trưởng giả Duy Ma Cật thuyết cho ông Ưu Ba Ly và hai Tỳ Kheo nghe là nói với những người đã tiến bước khá xa trên đường giác ngộ để dẫn tư tưởng Tiểu Thừa bước sang tư tưởng Ðại Thừa, từ lý vô thường sinh diệt bước sang lý Chân Không Diệu Hữu bất sinh bất diệt của Bát Nhã. Hai vị Tỳ Kheo nghe xong, như người chiêm bao chợt tỉnh, dứt hết nghi hối, tán thán Trưởng giả Duy Ma Cật là bậc thượng trí, cả hai Tỳ Kheo đều phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác và phát nguyện cầu cho tất cả chúng sinh đều được biện tài như vậy. Ðó là tự giác giác tha, tự lợi lợi tha, không nguyện cho riêng mình mà nguyện cho tất cả chúng sinh đều có biện tài, đó là bằng chứng hai vị đã bỏ con đường hẹp ích kỷ mà bước sang con đường lớn vị tha.  

Ông Ưu Ba Ly cũng công nhận và khâm phục biện tài nhạo thuyết của Trưởng giả Duy Ma Cật, ngoài Ðức Như Lai ra, không ai sánh bằng, trí huệ của trưởng giả thông suốt khôn lường, vì vậy ông không kham lãnh đi thăm bệnh.  
(Trích Đoạn Kinh Duy Ma Cật Luận Giải của Minh Tâm)
 

Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 05-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 331 KB
 
 

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412