TỘI TÁNH
VỐN KHÔNG
Minh
Tâm
Ðức
Phật bảo ông Ưu Ba Ly đi thăm bệnh, ỏng này từ chối vì
trước đây có hai vị Tỳ Kheo phạm luật hạnh đến hỏi,
ông y theo pháp giảng giải, thì trưởng giả Duy Ma Cật đến
bảo rằng. Chớ kết thêm tội làm rối loạn lòng họ, vì
tội Tánh không ở đâu cả do Tâm tạo. Hiểu được vậy
mới là giữ luật.
Ưu
Ba Ly, phiên âm chữ Phạn Upali, dịch nghĩa là Cận Thủ, Cận
Chấp: ở gần bên cạnh mà giữ lấy, nắm lấy, ý nói ông
Ưu Ba Ly thân cận Phật nắm giữ giới luật chặt chẽ. ông
vốn là một người thợ cắt tóc tại thành Ca Tỳ La Vệ.
Một hôm thấy sáu Hoàng Tử đi tới chỗ Phật xin xuất gia,
ông xin đi theo, sáu Hoàng Tử đồng ý và nhường ông thọ
giới trước, chứng tỏ sáu vị đã bỏ sự phân chia giai
cấp. Ông Ưu Ba Ly tu hành rất tinh tấn chẳng bao lâu đã đắc
quả A La Hán và được Ðức Phật khen là giữ luật đệ
nhất, không phạm giới cấm. Kinh Avadana Jataka chép rằng có
500 Hoàng Tử họ Thích tới xin xuất gia, thấy A La Hán Ưu
Ba Ly thì họ chẳng chào lạy, vì trước kia ông Ưu Ba Ly vẫn
cắt tóc cho họ. Ðức Thế Tôn dạy các Hoàng Tử phải tới
kính lạy chào ông Ưu Ba Ly vì trong Giáo Hội của Phật chỉ
kể đức hạnh tu chứng chứ không kể địa vị chức tước
trong xã hội. Tại kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất,
ông Ưu Ba Ly đọc lại những giới luật do Phật chế ra, gom
lại thành Luật Tạng.
Có
hai Tỳ Kheo phạm luật hạnh, hổ thẹn không dám bạch Phật,
đến hỏi ông Ưu Ba Ly nhờ giải tội cho. Ðây là môt phương
pháp sám hối, trình bày lỗi lầm cho vị Thanh Văn giữ luật
bậc nhất, vị này cứ y theo luật Phật mà giải nói. Ngài
ưu Ba Ly đứng về sự tướng mà nói, phạm giới gì thì bị
trừng phạt như thế nào để họ ăn năn chừa lỗi, không
dám tái phạm. Ðứng về sự tướng thì thấy có người phạm
giới, có giới luật bị phạm, có người bị trừng phạt.
Nhưng theo Trưởng giả Duy Ma Cật đứng về Thể Tánh tuyệt
đối mà luận thì ông Ưu Ba Ly chẳng nên nói vậy, chớ kết
thêm tội cho họ, chớ làm rối loạn lòng họ, phải dứt
bỏ ngay lời kết tội sai trái này. Họ phạm tội đã hối
hận khổ lắm rồi, trừng phạt làm họ khổ thêm, ví như
họ bị kết thêm tội nữa. Tâm họ đã lo sợ buồn phiền,
trừng phạt làm họ rối loạn trong lòng, thêm phần đau khổ.
Lời ông Duy Ma Cật quy tất cả về Tâm, nhất thiết do Tâm
tạo, Tâm tạo Thiên Ðường, Tâm tạo Ðịa Ngục, nhưng tìm
Tâm chẳng thấy đâu, giống như Kinh Lăng Nghiêm đã giảng
rõ. Tâm như thế nào thì tội tánh cũng như thế đó. Nói
Tâm nhơ là để cho dễ hiểu, đó là vọng tâm vọng thức,
chứ Chân Tâm thì chẳng phải nhơ chẳng phải sạch.
Trong
nghi thức sám hối có câu: “Tội do Tâm sinh tất do Tâm diệt,
Tâm diệt hết thì tội cũng không còn. Tội hết, Tâm diệt,
cả hai đều Không, Thế mới thật là chân sám hối.” Tội
lỗi cũng như tất cả các pháp đều do Tâm sinh ra, rồi cũng
đo Tâm diệt đi, tùy Tâm biến hiện. Khi Tâm không tạo tác
thì tội không còn. Nếu thấy có Tâm có tội thì còn chấp
ngã chấp pháp, người tu hành phải thấy tội tánh vốn Không,
Tâm cũng Không, chắng còn chấp gì nữa mới là sám hối chân
chánh. Không đây chẳng phải là không ngơ, mà là do duyên
hợp mà thấy có, là giả huyễn, là vọng tưởng điên đảo,
không có thật. Chúng sinh vì si mê vọng tưởng như người
chiêm bao, Chân Tâm trở thành vọng thức, thấy có gây nhiều
tội lỗi phạm giới. Khi tỉnh giác, vọng thức biến đi,
Chân Tâm chiếu sáng như người chiêm bao chợt tỉnh, hết
mê mờ điên đảo, thì chẳng thấy có tội lỗi gì nữa.
Vì sao? Vì tội lỗi không thật có. Những gì chúng ta làm
trong gịấc chiêm bao đều là giả cả. Ðiều quan trọng là
phải tỉnh giấc chiêm bao, biết đâu là Chân, đâu là vọng,
đâu là thật, đâu là giả.
Tội
là gì? Tội là kếl quả của một việc làm xấu ác, trái
với Chân Lý. Ai làm ? Ðã biết rằng không có ta (phá chấp
ngã), không có việc làm tội lỗi sái quấy (phá chấp pháp),
không có người hay vật bị ta làm quấy, tất cả đều là
giả, là Không, đã chẳng có người gây thì làm gì có tội.
Ðây là ý nghĩa câu: tội Tánh vốn Không. Chỉ vì vọng tưởng
đảo điên, vọng thức che lấp Chân Tâm nên thấy là nhơ,
chúng sinh và các pháp đều nhơ. Khi giác ngộ, vọng thức
tan biến, Chân Tâm hiển hiện thì chúng sinh và các pháp trở
thành trong sạch. Tất cả đều do Tâm, Tâm Thanh tịnh thì
pháp thanh tịnh, không còn tội cấu nữa.
Vậy
nhơ sạch đều do Tâm, do có vọng tưởng điên đảo chấp
ngã hay không. Câu nói tất cả chúng sinh Tâm Tướng không
nhơ là có ý nghĩa chúng sinh đều có Phật Tánh vốn thanh
tịnh, không hề nhơ uế nhiễm ô. Chỉ vì một niệm bất
giác vô minh vọng động nổi lên, ví như người đang chiêm
bao mê thấy có ta có người, có cảnh vật nhơ sạch, lúc
tỉnh dậy thấy chỉ là giấc mơ thôi, không thật có. Cuộc
đời là giả, các pháp là giả, vô thường vô ngã, sinh diệt
không dừng, như trăng dưới nước, như bóng trong gương. Có
ai bị trừng phạt vì một tội gây ra trong giấc chiêm bao
không ? Cuộc đời là giấc mộng dài, tội Tánh vốn Không,
ai biết rõ nghĩa này, thấu được Chân Lý cứu cánh, gọi
là khéo hiểu, gọi là giữ luật chân chánh.
Ðến
đây cần phải giải thích thêm cho rõ, kẻo có sự hiểu lầm
tai hại. Sau khi học xong đoạn kinh trên, có thể có một số
người đặt câu hỏi: Tội Tánh vốn Không, vậy có cần giữ
giới theo luật Phật không? Xin đáp: Rất cần. Ðứng về
Tánh thì không có tội báo chi cả, nhưng đứng về Tướng
thì vẫn có tội báo. Hiểu lý vô thường vô ngã, thâm nhập
Bản Tánh Chân Không, nhưng còn thân xác ngũ uẩn, còn sống
trong thế gian thì còn phải giữ giới luật, giữ cả trong
Tâm, giữ cả ngoài thân, mọi hành động tạo tác đều y
theo gịới luật, nhưng khi Tâm đã thanh tịnh, không còn dính
các pháp thì giữ giới mà không thấy mình giữ giới, không
thấy giới phải giữ, mới là giữ giới. Vì sao? Tâm thanh
tịnh thì không thế nào làm việc xấu ác phạm giới luật
nữa, cứ thản nhiên mà sống, tự nhiên mà làm, chẳng chú
tâm mà việc làm nào cũng lành tốt, không vọng tưởng si
mê, hết nhiễm ô xấu ác.
Cần
hiểu chữ Không của Phật Giáo Ðại Thừa chẳng phải là
không ngơ mà là Chân Không Diệu Hữu, là Bản Thể Chân Như
nguồn gốc của các pháp, là Thật Tướng. Ðối với người
đã có trình độ hiểu hiết giáo lý khá sâu thì có thể
nói Tội Tánh vốn Không, các pháp đều là Không, vì người
ấy đã hiểu rõ đâu là Chân Tâm, đâu là vọng thức. Lúc
mê ngủ thì thấy có, lúc tỉnh giấc thì thấy không.
Nhưng
đối với hạng người sơ cơ chưa nắm vững lý Không của
Ðại Thừa thì nên phương tiện đứng về Tướng mà nói:
có tội phước, quả báo, có các pháp lành dữ... khiến cho
họ sợ tội mà không dám phạm gíới, họ lam phước mà tu
các pháp lành. Rồi lần lần khi họ đã thâm nhập giáo lý,
lúc đó phải đứng về Tánh mà nói lên sự thật: tất cả
là Không. Tóm lại, phải tùy căn cơ chúng sinh mà dạy luật,
thuyết pháp.
Theo
giáo lý Tiểu Thừa thì có tội phước nhân quả rõ ràng,
gây tội phải đền, phải ăn năn sám hối, làm việc tốt
để chuộc lỗi xưa đền bù lại. Tiểu Thừa coi việc giữ
giới tướng hết sức quan trọng, chuộng hình thức giữ giới
bề ngoài, thí dụ: không nhìn ngó người nữ, không giữ tiền,
không ăn quá giờ Ngọ, lỡ phạm tội thì phải ghi nhớ để
không tái phạm. Đại Thừa coi Tâm Giới quan trọng hơn Giới
tướng, tuy không bỏ giới tướng. Ðứng về Tánh thì tội
là Không. Ðứng về Tướng thì lỡ có tội phải tự tâm
ăn năn sám hối thì tội sẽ tiêu. Ðại Thừa không dồn ép
người lở phạm tội vào chân tường, không đuổi người
xuất gia về thế tục, mà cho họ có cơ hội thực tâm sám
hối, quay về tâm thanh tịnh thì sẽ thấy nhẹ nhàng đã sám
hối rồi thì quyết tâm không phạm tội nữa, như vậy thì
sự sám hối mới được gọi là chân chánh. Ai kết tội?
Theo tín ngưỡng bình dân thì có Ðịa Ngục, Diêm Vương, Quỷ
Sứ hành tội. Theo Phật Giáo Ðại Thừa thì tất cả do Tâm
tạo, nguồn gốc quan trọng là Tâm, những hành động phát
xuất từ Tâm mới là đáng kể. Tội chia làm hai loại: vô
tình hay cố ý. Nếu vô tình phạm tội thì nhẹ, sám hối
có thể hết tội, trong lòng thanh thản. Nếu cố ý phạm tội
thì nặng, phải tốn nhiều tâm cơ thời giờ, phải làm nhiều
công đức mới rửa sạch tội lỗi. Nếu vì không biết mà
phạm tội thì dễ được tha thứ, nếu đã biết mà còn vi
phạm giới luật thì khó mà trừ bỏ những ám ảnh ray rứt
nội tâm. Trong Kinh điển Ðại Thừa có nhiều thí dụ điển
hình các Bồ Tát vì lợi tha mà phạm tội: tiền thân Ðức
Phật có lần đã giết mấy lái đò tướng cướp để cứu
những người khách thương vô tội, các Bồ Tát thị hiện
phạm giới để răn chúng sinh. Vì lợi ích chúng sinh mà làm
những việc người thường cho là tội lỗi, nhưng đối với
các Bồ Tát đã hiểu năm uẩn là Không thì làm gì có tội.
Bàn tay có vết thương khi mó vào thuốc độc thì dễ bị
làm độc, còn tay không bị thương thì dù có mó vào thuốc
độc cũng không hề gì. Thấy việc khó làm, cứu người mà
phạm giới thì người tu theo hạnh Tiểu Thừa liền lánh xa,
còn người có tâm hạnh Bồ Tát thì tự nguyện xông vào làm,
mong sao cứu giúp được chúng sinh, còn riêng mình bi thiệt
thòi, bị tội cũng chấp nhận. Ðó là Tâm Ðại Bi, quên mình
vì người.
Ông
Ưu Ba Ly tu hạnh Thanh Văn, luận tội phạm giới do việc làm,
còn chấp tướng, thấy có hai Tỳ Kheo phạm giới, có giới
bị vi phạm, có tội phải chịu nhận, lãnh thọ. Còn Trưởng
giả Duy Ma Cật thực hành Bồ Tát Ðạo, thấy tất cả do
Tâm phát xuất thì dùng Tâm sám hối sẽ thấy tội tánh vốn
Không. Năm uẩn là Không thì tội cũng là Không, là huyễn.
Chỉ cần thức tỉnh giác ngộ là giải quyết mọi vấn đề,
dĩ nhiên không bao giờ phạm tội nữa, đó là sám hối,
đó là giữ luật, đó là khéo hiểu.
Ðoạn
kinh trưởng giả Duy Ma Cật thuyết cho ông Ưu Ba Ly và hai Tỳ
Kheo nghe là nói với những người đã tiến bước khá xa trên
đường giác ngộ để dẫn tư tưởng Tiểu Thừa bước sang
tư tưởng Ðại Thừa, từ lý vô thường sinh diệt bước
sang lý Chân Không Diệu Hữu bất sinh bất diệt của Bát Nhã.
Hai vị Tỳ Kheo nghe xong, như người chiêm bao chợt tỉnh, dứt
hết nghi hối, tán thán Trưởng giả Duy Ma Cật là bậc thượng
trí, cả hai Tỳ Kheo đều phát tâm vô thượng chánh đẳng
chánh giác và phát nguyện cầu cho tất cả chúng sinh đều
được biện tài như vậy. Ðó là tự giác giác tha, tự lợi
lợi tha, không nguyện cho riêng mình mà nguyện cho tất cả
chúng sinh đều có biện tài, đó là bằng chứng hai vị đã
bỏ con đường hẹp ích kỷ mà bước sang con đường lớn
vị tha.
Ông
Ưu Ba Ly cũng công nhận và khâm phục biện tài nhạo thuyết
của Trưởng giả Duy Ma Cật, ngoài Ðức Như Lai ra, không ai
sánh bằng, trí huệ của trưởng giả thông suốt khôn lường,
vì vậy ông không kham lãnh đi thăm bệnh.
(Trích
Đoạn Kinh Duy Ma Cật Luận Giải của Minh Tâm)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 05-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 331 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân