TÁNH KHÔNG
VÀ CHÂN KHÔNG
HT.
Thanh Từ
Hôm
nay nhân ngày giải hạ, Tăng Ni trở về đây chúc mừng khánh
tuế cho tôi, đồng thời xin tôi cho vài lời nhắc nhở trên
bước đường tu hành, tôi rất hoan hỉ. Trước tiên tôi xin
chúc mừng Tăng Ni qua mùa hạ được bình yên, an vui. Đó là
kết quả tốt sau một mùa an cư.
Đối
với các Thiền viện, đây là lần an cư thứ ba mươi, bắt
đầu từ năm 1970 chúng ta an cư tại Chân Không, tới nay là
năm 2000.Kiểm lại trong ba mươi năm đó, từ con số an cư
đầu tiên chỉ vỏn vẹn mươi người thôi. Giờ đây tất
cả các Thiền viện tụ hội về có thể lên đến bốn năm
trăm người. Như vậy đứng về số lượng, Tăng Ni ngày càng
đông, Phật tử cũng càng nhiều hơn. Nếu đường lối tu
của chúng ta không có lợi ích, không có sự an lạc, thì chắc
rằng không thể nào được sự hưởng ứng đông đảo như
vậy. Ngày nay mọi người đều hoan hỉ tu hành, để chứng
minh rằng con đường của chúng ta đi rất hợp với tâm cầu
tiến của Tăng Ni và Phật tử. Đó là một lẽ thật.
Được
đông đảo Tăng Ni hưởng ứng tu thiền, đó là một niềm
vui. Nhưng tôi cũng có nỗi lo, bởi vì Tăng Ni càng đông thì
số tạp càng nhiều. Vì vậy mong rằng tất cả Tăng Ni tu
theo sự hướng dẫn của tôi, nhất là những vị lớn ở
trong các Thiền viện, phải luôn luôn tự kiểm lại sự tu
của mình qua một năm, hay nói gần hơn là qua ba tháng an cư,
tiến thối như thế nào để chỉnh đốn lại cho tốt đẹp
hơn. Những gì ưu chúng ta cố gắng làm cho tăng trưởng, những
gì khuyết chúng ta cố gắng chừa bỏ, đừng để những điều
xấu dở lẫn lộn trong tập thể tu hành như vầy. Vì đó
sẽ là duyên cớ làm cho đường lối tu ngày càng suy yếu,
ngày càng dở tệ. Như vậy mới xứng đáng là người tu hành
cầu giải thoát sanh tử.
Gần
đây, trong khi tu nhìn lại giáo lý tôi thấy có hai điều hệ
trọng khác hơn hồi xưa. Hai điều đó là gì? Một là Tánh
Không. Hai là Chân Không. Lâu nay người ta thường hay lẫn
lộn về hai điều này.
Trước
tôi nói về Tánh Không. Nhiều vị cho rằng khi đạt được
Tánh Không sẽ có vô số thứ nhiệm mầu, tức là Tánh Không
diệu hữu, như Chân Không diệu hữu vậy. Đó là do không
hiểu, không phân biệt được thế nào là Tánh Không, thế
nào là Chân Không.
Thế
nào là Tánh Không? Khi nói tới Tánh Không, chúng ta phải nhớ
Tánh Không Duyên Khởi, khi nói tới Chân Không chúng ta phải
nhớ Chân Không Diệu Hữu. Hai từ này nên nhận cho thật kỹ.
Tánh Không là thể tánh của tất cả các pháp. Thể tánh của
tất cả các pháp là không, do duyên hợp nên sanh ra muôn pháp.
Vì vậy nói Tánh Không duyên khởi.
Tánh
Không đó thế nào?
Thí
dụ đây là cái bàn, đây là hư không. Cái bàn là hữu, hư
không là không. Cả hai đều không ngoài Tánh Không, nên biết
Tánh Không không phải là hư không trống rỗng. Lâu nay trong
nhà chùa thường nói thà chấp có bằng núi Tu-di, chẳng nên
chấp không bằng hạt cải. Nghĩa là thà chấp cái gì cũng
có hết, có tội, có phước, có thiện, có ác v. v… mà không
sao. Còn chấp không dù chỉ bằng hạt cải cũng là họa, như
không tội không phước v. v…
Chúng
ta nhận ra tướng có tướng không qua cái nhìn của mắt. Con
mắt thấy đây là có, kia là không. Các tướng duyên hợp
nên có hình có tướng, còn duyên chưa hợp là hư không trống
rỗng nên nói không.
Như
vậy trong cái có không phải là thật có, trong cái không cũng
không phải là thật không. Tại sao? Chúng ta cứ cho rằng cái
bàn khít khao chặt chẽ, không có kẽ hở nên nói nó có, còn
chỗ trống rỗng hoàn toàn không có gì cả nên nói nó không,
nhưng sự thật không phải vậy. Nếu nhìn kính hiển vi, chúng
ta sẽ thấy trong cái bàn vẫn có những kẽ hở trống, tức
là cái không. Còn trong hư không có vô số bụi bặm vi trùng
v. v… nhưng vì nó quá nhỏ nên tầm mắt chúng ta không thấy,
rồi nói là không. Nên nói thật có thật không đều không
đúng. Trong nhà Phật gọi thấy như thế là biên kiến, tức
chấp một bên, không đúng lẽ thật.
Hiện
giờ đa số chúng ta đều nặng trên hình thức hoặc có hoặc
không. Những hình thức nào mắt thấy được gọi là có,
hình thức mắt không thấy được gọi là không. Nếu phân
tích vi tế hơn, sâu sắc hơn, trong cái không vẫn có cái có,
trong cái có vẫn có cái không nên cho rằng "sắc tức thị
không, không tức thị sắc", nghĩa là trong hư không có bụi
bặm tức là có cái có, trong cái bàn có những khoảng trống
tức là có cái không.
Trong
con người chúng ta cũng vậy. Nếu từ đầu đến chân khít
khao không có một chỗ hở trống thì chúng ta đã chết rồi.
Hai lỗ mũi nếu không trống thì hết thở, miệng không trống
thì hết ăn. Tất cả các cơ quan luôn luôn có cái không lẫn
trong cái sắc. Ngược lại ngoài hư không, cái sắc cũng có
trong cái không. Không với sắc lẫn lộn nhau nên Bát-nhã nói
sắc tức thị không, không tức thị sắc là vậy.
Các
hình thức hoặc trống không hoặc có sắc chất đều được
chúng ta nhìn thấy bằng mắt. Trong kinh Phật dạy thân này
do tứ đại hoặc lục đại, thất đại hợp lại thành. Tứ
đại gồm đất, nước, gió, lửa, ai cũng biết. Lục đại
tức tứ đại cộng thêm hai thứ nữa là Không và Thức, thất
đại thì thêm Kiến. Các hình thức trống không như đã nói
ở trên chính là Không đại. Không đại trong con người hay
sự vật đều do mắt thấy.
Từ
cái không thô đối với cái có thô, chúng ta thấy được
nên nói có, nói không. Đến cái không tế nằm lẫn trong sắc,
hoặc sắc lẫn trong không, tuy mắt không thấy nhưng dùng kính
hiển vi cũng sẽ thấy. Như vậy cái không, cái có đó đều
là đối đãi từ hình thức, chưa phải "sắc tức thị không".
Thế
thì "sắc tức thị không" trong kinh Bát-nhã chỉ cho cái không
nào? Như tôi đã nói "Tánh Không duyên khởi", căn cứ theo
các kinh A-hàm Phật dạy tất cả pháp không tự có, mà do
duyên hợp mới thành. Bởi duyên hợp mới thành nên không
một pháp nào tự có nguyên thể của nó, mà đều từ cái
không, duyên hợp thành có.
Thí
dụ đống cát, ban đầu không có gì, do gom cát tụ lại thành
đống, gọi là đống cát. Nếu phân tán số cát này ra hết,
thì đống cát không còn. Như vậy đống cát có là do duyên
tụ lại mà có, đống cát không có là do duyên tan ra thành
không. Duyên tụ duyên tán, thành có thành không. Nếu đống
cát trước đó tự có nguyên thể thì không phải đợi nhiều
hạt cát tụ lại mới thành, đống cát đã có sẵn. Nhưng
có đống cát nào nguyên sẵn không? Thật thể của đống
cát vốn không, cái không này Bát-nhã gọi là Tánh Không.
Cũng
vậy, con người nếu trước tự có thì không đợi cha mẹ
sanh, còn đợi cha mẹ sanh mới có tức do duyên hợp. Như vậy
hình sắc con người, tánh nó vốn không, duyên hợp mới có.
Nói tóm lại, tất cả sự vật từ nhỏ tới lớn trong vũ
trụ này đều không có nguyên thể ban đầu, phải đợi duyên
hợp mới có, đó gọi là Tánh Không.
Tánh
Không được thấy bằng gì? Đó là chỗ tôi muốn nhấn mạnh.
Tánh Không được thấy bằng trí tuệ. Bát-nhã là trí tuệ,
chỉ có trí tuệ mới thấy được Tánh Không. Bởi vì Tánh
Không không phải là cái không trống rỗng của hư không. Vì
sự vật không có cái nguyên thể trọn vẹn từ ban đầu,
đợi duyên hợp mới có, nên gọi là Tánh Không. Nó không
phải là không đối với có, nên chúng ta đâu thể dùng mắt
để thấy Tánh Không được. Có, không do duyên hợp thì có
tụ có tan, còn Tánh Không không có tụ tán.
Kinh
Kim Cang, đức Phật dạy muốn được giác ngộ phải biết
"Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai". Hết
sức đơn giản, thấy các tướng không có tướng thật, đó
là thấy Phật. Tại sao? Bởi vì tất cả tướng đều là
duyên hợp, hư giả, không có tướng thật là phi tướng. Thấy
như vậy là thấy đúng sự thật nên nói thấy Phật, tức
là dùng trí tuệ giác ngộ để thấy.
Trí
tuệ giác ngộ là trí thấy biết đúng như thật. Chúng ta
biết thân này duyên hợp, hư dối thì còn chấp ngã, chấp
ta thật không? Bởi từ lâu chúng ta sống trong mê lầm, vô
minh nên không thấy được tánh thật của các pháp thành ra
chấp ngã chấp pháp. Từ chấp ngã chấp pháp mà sanh đấu
tranh, tàn sát lẫn nhau. Bây giờ nhờ trí tuệ Bát-nhã, ta
nhìn thấu đáo biết tất cả pháp duyên hợp đều là hư
giả. Thân này duyên hợp nên hư giả, cái bàn duyên hợp nên
hư giả, tất cả sự vật trên thế gian này do duyên hợp
nên đều hư giả. Như vậy thì còn chấp cái gì nữa?
Nên
kinh Kim Cang Phật dạy:
Nhất
thiết hữu vi pháp,
Như
mộng huyễn bào ảnh,
Như
lộ diệc như điện,
Ưng
tác như thị quán.
Dùng
trí tuệ Bát-nhã soi thấu tất cả pháp như mộng huyễn, như
bọt như sương, như điện chớp, không có gì thật hết. Thấy
như vậy gọi là thấy bằng trí tuệ Bát-nhã. Nếu thấy mình
thật người thật, tất cả mọi thứ đều thật hết thì
phiền não cả ngày. Vì mình thật thì được mất cũng thật,
vui buồn cũng thật nên khổ. Còn thấy mình hư dối thì tất
cả mọi thứ chung quanh cũng đều hư dối, hư dối thì được
mất đâu có khổ. Sống chết chỉ là trò chơi thôi, có gì
đâu quan trọng.
Cho
nên trí tuệ Bát-nhã là gốc, là nền tảng của sự tu. Sở
dĩ ở Thiền viện đêm nào cũng tụng Bát-nhã là vì thế.
Nếu nhìn tất cả pháp đúng như thật, tức là duyên khởi,
Tánh Không duyên khởi nên sự vật hiện có đều hư dối
không thật. Biết rõ như vậy, thấy đúng như vậy, chúng
ta cười cả ngày không có gì phải buồn, phải khổ. Giả
sử ta bệnh, nghe ai nói mình sẽ chết trong nay mai cũng cười
thôi. Có hợp thì có tan, lý ấy như vậy không có gì phải
sợ phải lo. Đó là ta sống được tự tại, giải thoát rồi.
Thử
kiểm lại, nếu con người là thật, thì tổ tiên mình tới
bây giờ lẽ ra vẫn còn. Nhưng tổ tiên chúng ta đã đi hết
rồi, tới ông cố bà cố, ông nội bà nội, cha mẹ mình cũng
đi, và đến phiên mình cũng phải đi. Có ai sống mãi đâu,
hết tụ rồi tan, không có gì thật cả. Vậy mà con người
cứ ngỡ là thật, có phải mê lầm không?
Nên
biết trí tuệ và mê lầm ở cạnh nhau thôi. Thấy thân thật,
các pháp bên ngoài thật, đó là mê lầm. Nếu căn cứ trên
Tánh Không duyên khởi thì không có một pháp thật. Chúng ta
tu muốn đi tới chỗ an lạc tự tại phải thấy rõ được
Tánh Không của các pháp. Như vậy muôn sự muôn vật không
có gì trói buộc được mình, không có gì làm phiền lụy
được mình.
Qua
đó đủ thấy trí tuệ Bát-nhã là sức mạnh phi thường giúp
chúng ta phá tan hết mọi khổ đau, phiền lụy. Chúng ta tụng
Bát-nhã hoài mà không ứng dụng được trí tuệ này nên không
hết khổ. Nếu hiểu thấu và thể nhập được chân lý đó
rồi, thì sống giữa đời này không có gì đáng sợ, không
có gì đáng phiền hết. Cuộc đời là như vậy, có gì đâu
quan trọng. Chiếc thân hữu hình hữu hoại, lúc nào cũng chực
tan rã mà người ta cứ tưởng thật, vô lý làm sao! Cuộc
sống trên thế gian này là một dòng sanh diệt không dừng,
lớp người trước đi qua, lớp người sau nối tiếp. Cứ
như vậy mà sanh diệt không dừng, thì thật ở chỗ nào?
Cho
nên chúng ta tụng kinh Bát-nhã là để thấm nhuần lý Tánh
Không duyên khởi, chớ không phải để chấp không. Người
hiểu thấu được lý Bát-nhã không bao giờ chấp không. Chấp
đây không kia có là đại si mê. Bởi vì tất cả pháp do duyên
hợp mà có, duyên hợp thì Tánh Không. Như ngôi chùa Thường
Chiếu này là do duyên hợp hay có sẵn? Trước năm 1975 ngôi
chùa không có, bây giờ lại có, rõ ràng do các duyên tụ lại
nên có ngôi chùa. Chùa đã là của duyên thì gặp duyên ngược
lại tức sẽ tan hoại, chớ đâu thể còn hoài. Dù kiên cố
mấy, cũng có duyên làm cho nó hoại không bao giờ còn nguyên
mãi được. Hiểu như vậy là chúng ta mở sáng con mắt trí
tuệ Bát-nhã, nên nói sống bằng trí tuệ Bát-nhã là giác
ngộ, giải thoát.
Hiểu
được lý Tánh Không là hiểu được lý duyên hợp hư dối.
Lý duyên hợp phát xuất từ kinh nào? Từ kinh A-hàm. Kinh A-hàm
nói các pháp duyên hợp, cái này có nên cái kia có, cái này
sanh nên cái kia sanh, cái này diệt nên cái kia diệt v. v…
đều là lý nhân duyên tương quan giữa cái này với cái kia,
chớ không có nguyên sẵn một thứ riêng.
Xét
theo đó thì thấy từ lý Nhân duyên hòa hợp của hệ A-hàm
tới Tánh Không của hệ Bát-nhã có gì khác nhau đâu. Nói
duyên hợp cho người nghe dễ hiểu, nói Tánh Không để chỉ
thẳng bản chất của các pháp. Biết được Tánh Không thì
biết duyên hợp là hư dối. Như tôi co năm ngón tay lại thì
có nắm tay. Nếu nắm tay có sẵn từ thủy chí chung thì đâu
đợi năm ngón co lại mới thành nắm tay. Như vậy nắm tay
nguyên tánh nó vốn không, đợi năm ngón co lại thành có.
Có là do duyên hợp, nếu năm ngón buông ra kiếm nắm tay trước
có còn không? Rõ ràng không còn. Như vậy Tánh Không duyên
hợp mới thành tướng, duyên hết thì tướng phải mất. Thế
thì nắm tay thật hay giả? Nó chỉ có một thời gian thì làm
sao thật được.
Tăng
Ni tu hành bao nhiêu năm, có thấy được các pháp duyên hợp
hư dối không? Nếu thấy được là trí tuệ Bát-nhã, còn
thấy chưa được là vô minh. Tu mà chưa lột được xác vô
minh, bị nó trói chặt kéo lôi thì thật là đáng tiếc. Muốn
giác ngộ nhất định phải lột bỏ xác vô minh mới được.
Trong mười hai nhân duyên, vô minh là đầu mối là gốc. Dòng
sanh tử gốc từ vô minh mà ra, chưa thoát được cái vỏ này
thì không thể nào giải thoát sanh tử được.
Ai
cũng nhận thân này duyên hợp nhưng lại không dám nói hư
dối, vô lý làm sao! Như vậy có hết vô minh chưa? Vô minh
thật sâu thật đậm, mà cứ ngỡ mình tu hết vô minh rồi.
Ai đó lỡ nói huynh vô minh quá liền nổi giận đùng đùng,
đâu biết giận đùng đùng tức đã thú nhận ta vô minh. Người
ta nói mình vô minh mà mình không vô minh thì thôi, có gì phải
giận. Chúng ta tu nếu không nắm vững cái gốc đó, thì sự
tu làm sao tiến được.
Cho
nên Tánh Không đây không phải không nhãn, nhĩ, tị, thiệt,
thân, ý… lý Tánh Không là do trí tuệ Bát-nhã thấy. Biết
lý đó, bởi các pháp Tánh Không đợi duyên hợp thành có,
cho nên nó là hư giả. Tánh Không không phải là cái không
đối với cái có. Nói tóm lại, Tánh Không là để chỉ tất
cả sự vật tự thể không có, đợi duyên hợp mới có. Thế
thì, tôi xin hỏi lại Tánh Không là gì? Không là cái gì hết,
nên không tất cả các pháp, sáu căn, sáu trần đều không,
kể cả Tứ đế, Thập nhị nhân duyên cũng không.
Phật
vì đối bệnh cho thuốc, bệnh hết thì thuốc cũng bỏ. Tánh
Không là một lý thật để chúng ta nhân đó nhìn thấy sự
vật, tướng duyên hợp là hư dối, thấy rõ như vậy. Người
nào thừa nhận thân này là duyên hợp, thì phải thừa nhận
nó là hư dối. Đó là một lẽ thật.
Nếu
chúng ta nắm được lẽ thật ấy rồi, sẽ thấy công dụng
của nó rất phi thường. Như thấy thân này duyên hợp hư
dối thì có còn khổ nữa không? Nếu thân này hư dối, người
ta chửi mình, mình đâu có buồn. Cả ngày cười hoài không
bận bịu gì hết, phiền não từ đâu mà ra.
Giáo
lý Nguyên thủy nói thân này vô ngã, năm uẩn hợp là vô ngã.
Đến Bát-nhã thì nói Tánh Không duyên hợp hư dối, đó là
một lẽ thật, hết sức chân thật. Nhưng tội nghiệp thay
chúng ta do mê lầm từ muôn kiếp, nên Phật nói thì tin mà
nhận thì không dám nhận. Tin Phật nói mà mình ưng sống với
mê hơn là trí.
Vì
vậy chúng ta tu khó trăm bề. Nếu tỉnh thức như lời Phật
dạy thì tu không có gì khó hết. Tất cả phiền não khiến
tâm bất an đều từ chấp thân thật, tâm thật, cảnh thật.
Khi biết rõ không có một pháp thật thì phiền não theo đó
rơi rụng hết. Cho nêân ngài Huyền Giác đã nói trong Chứng
Đạo Ca:
Đại
trượng phu bỉnh tuệ kiếm
Bát-nhã
phong hề kim cang diệm.
"Đại
trượng phu bỉnh tuệ kiếm", bậc đại trượng phu cầm kiếm
tuệ, tức kiếm Bát-nhã. "Bát-nhã phong hề kim cang diệm",
Bát-nhã là trí tuệ sắc bén hay chặt đứt tất cả. Kim cang
là một thứ kim loại không có chi phá được, nên ví nó như
đống lửa cháy rần rần, quăng vật gì vô cũng tan nát hết.
Như vậy trí tuệ Bát-nhã chính là trí tuệ kim cương hay phá
tan mọi thứ phiền não, mà không gì có thể phá được trí
tuệ này cả. Ngài nói tiếp:
Phi
đản năng tồi ngoại đạo tâm
Tảo
tằng lạc khước thiên ma đảm.
Tồi
phục là dẹp trừ, tảo tằng là sớm từng. Trí tuệ Bát-nhã
chẳng những hay dẹp trừ được tâm ngoại đạo, mà còn
sớm từng làm cho thiên ma phải rụng mật khiếp vía nữa.
Để thấy lý Bát-nhã này không ngoại đạo nào phá vỡ được.
Khi
biết các pháp Tánh Không duyên hợp hư giả, là thoát khỏi
được các thứ chấp hai bên như chấp có, chấp không, gọi
là biên kiến. Với con mắt Bát-nhã có là giả có, vì giả
có nên không phải không, mà cũng không phải thật có. Không
thật không, không thật có mà hiện tiền mắt thấy, tai nghe,
đó là lý trung đạo.
Nhà
thiền thường dùng hình ảnh mặt trăng ở dưới hồ. Mặt
trăng dưới hồ có hay không? Xác định là không cũng không
được, xác định là có thật cũng không được. Nó chỉ
là bóng, là huyễn hóa. Nói mặt trăng có thật dưới hồ
là ngu xuẩn. Nói mặt trăng không ngơ, tại sao mắt mình thấy?
Chẳng qua đó là tướng duyên hợp hư giả, là bóng không
phải thật. Không thật mà chấp thật là ngu mê. Thân này,
sự vật chung quanh này cũng vậy.
Chúng
ta si mê cho các pháp là thật nên dễ bị nó kéo lôi dụ dỗ.
Dụ dỗ bằng cách nào? Thí dụ: Người hiếu sắc khi thấy
sắc đẹp liền bị mềm lòng, người hiếu danh hiếu lợi
khi thấy danh lợi liền chạy theo. Nhưng nếu chúng ta biết
rõ những thứ đó không thật, không chạy theo nó thì ma nào
có thể dụ dỗ mình nổi, kể cả thiên ma còn phải vỡ mật
nữa là khác. Lý Kim Cang Bát-nhã hay như vậy mà chúng ta không
dùng, giống như người có kiếm bén mà không biết dùng, đành
chịu chết dưới tay giặc.
Có
trí Bát-nhã thì đi tới Niết-bàn dễ như trở bàn tay. Đạo
Phật được gọi là đạo giác ngộ vì thấy tột cùng lẽ
thật, chớ không phải thấy nửa chừng, thấy mơ màng. Lâu
nay chúng ta tu thật lơ là. Cho nên người tu cần phải lãnh
hội cho sâu lý Tánh Không, một lần tỉnh là không được
mê trở lại nghe, chớ còn tỉnh tỉnh mê mê thì muôn đời
cũng không ra khỏi sanh tử.
Kế
đến, tôi nói về Chân Không. Nói Tánh Không là tánh của
tất cả pháp, nói Chân Không là Tâm thể của tâm. Một bên
thuộc về pháp, một bên thuộc tâm. Cho nên Tánh Không thì
duyên khởi còn Chân Không thì diệu hữu, chúng ta cần phải
nắm cho thật vững chỗ này. Tại sao Chân Không là diệu hữu?
Lục
Tổ khi trình kệ cho Ngũ Tổ, Ngài kết luận bằng hai câu:
Bản
lai vô nhất vật
Hà
xứ nhá trần ai.
Xưa
nay không một vật, đó là Chân Không. Về điểm này chư Tổ
đều thấy như nhau. Như Tổ Huệ Khả sau khi có chỗ vào,
thời gian sau Ngài bạch với Tổ Đạt-ma: "Bạch Hòa Thượng
con đã dứt hết các duyên. " Tổ bảo: "Coi chừng rơi vào
không. " Ngài thưa: "Rõ ràng thường biết, không sao được.
" Tổ Đạt-ma liền khen: "Ông như vậy, ta như vậy, chư Phật
cũng như vậy. " Đó là Tổ đã ấn chứng cho ngài Huệ Khả
rồi. Chỗ rõ ràng thường biết mà không có một vật chính
là Chân Không. Từ Tổ Huệ Khả thấy được lý Chân Không
không một vật. Đến Tổ Huệ Năng thì thấy "bản lai vô
nhất vật" cũng không một vật. Đó là trên thể của tâm
mà nói. Tuy không có một vật mà rõ ràng thường biết, cho
nên nói Chân Không diệu hữu.
Chúng
ta nếu tỉnh táo, một mình ngồi lại năm ba phút, không có
niệm nào dấy lên. Mắt, tai, mũi, lưỡi… toàn thân hiển
nhiên như vậy, lúc đó biết hay không biết? Chim kêu nghe,
người đi thấy, gió thổi biết, rõ ràng thường biết mà
vẫn không có một niệm. Thế có phải là Chân Không không?
Ngược
lại chúng ta biết bằng cách duyên theo bóng dáng người và
sự vật, biết bằng cách phân biệt chia chẻ, đó là cái
biết của sanh diệt. Cái biết sanh diệt ta lại dùng, còn
cái biết không sanh diệt, thường nhiên thì lại bỏ. Vì vậy
chư Phật chư Tổ dạy mình tu đến chỗ không còn một niệm
vọng tưởng mà vẫn hằng tri hằng giác, đó là chỗ chân
thật. Chỗ đó không phải kiếm ở đâu xa, chỉ cần đừng
dấy niệm, đừng chạy theo cảnh thì cái biết ấy rõ ràng.
Vì
cái biết ấy không có hình tướng, nên chúng ta dễ quên.
Có mà không nhận, như kẻ cưỡi trâu đi tìm trâu, dưới
sông mà kêu khát nước. Trái lại, chúng ta nhận thân duyên
hợp hư dối là thật, tâm nghĩ tưởng lăng xăng là mình.
Cả ngày mình sống với tâm khỉ vượn, phóng chạy tứ tung.
Vì sống với tâm ấy nên hết phê bình người này, lại chê
trách kẻ khác, tạo không biết bao nhiêu thứ nghiệp, bao nhiêu
khổ đau.
Như
vậy mới thấy chúng ta mê lầm rất đáng thương. Cái thật
đang có lại không nhớ, nhớ những cái giả dối tạm bợ,
cho đó là mình. Vì vậy Phật nói chúng sanh muôn kiếp muôn
đời trôi lăn trong sanh tử. Kinh Pháp Hoa dụ chúng ta là con
ông Trưởng giả, bỏ cha đi lang thang làm kẻ ăn mày rồi
kêu khổ. Đến khi trở về, thấy cha mà không dám nhận mình
là con Trưởng giả, lại nhận kiếp bần hèn, thật đau xót.
Cũng
vậy, chúng ta cho tâm lăng xăng sanh diệt là tâm mình nên suốt
đời khổ hoài. Nếu không nhận tâm ấy là mình thì đâu
có khổ. Sở dĩ chúng ta khổ vì người kia chê, người nọ
nói xấu mình. Việc không đáng làm, không đáng nghe mà cứ
làm, cứ nghe, chạy theo cái giả bỏ cái thật thì không khổ
sao được. Chỉ cần buông hết những tâm niệm lăng xăng
lộn xộn đó, thì cái chân thật hiện tiền. Thật ra, lúc
nào tâm chân thật cũng hiện tiền chớ không phải vắng,
nhưng vì mình quên thành ra nó vắng.
Trong
nhà thiền các Thiền sư có khi tự gọi, tự "Dạ" để nhắc
mình có ông chủ đang nghe đó. Nếu không có ông chủ làm
sao nghe, làm sao thấy. Như đưa phất tử lên để nhắc mình
có cái hiện tiền đang thấy, không phải suy nghĩ gì cả.
Hoặc khi các ngài hỏi, học nhân vừa cúi đầu suy nghĩ các
ngài liền tát tai, đập gậy, sao tàn nhẫn vậy? Thật ra các
ngài thương đáo để, từ bi đáo để, không muốn cho người
sau nhận giả làm thật, rồi bám vào đó mà đánh mất cái
chân thật đang hiện sờ sờ trước mặt.
Chúng
ta thử sống với cái thật chừng một ngày thôi, xem thử
có buồn giận không? Hay là sẽ được thảnh thơi tự tại,
thấy vẫn thấy, nghe vẫn nghe, giờ ăn thì ăn, giờ ngủ thì
ngủ, không có gì buộc ràng, không có gì bận lòng. Các Thiền
sư hồi xưa thường bảo với đệ tử: Ông dâng cơm thì ta
nhận, ông xá thì ta gật đầu, chỗ nào không chỉ tâm yếu
cho ông. Rõ ràng có lúc nào thiếu vắng cái chân thật ấy
đâu, chỉ tại mình không chịu nhận, lại chạy theo những
gì văn hoa, bóng bẩy bên ngoài, thành ra mất mình.
Vì
quên hẳn tâm thể nguyên vẹn không sanh diệt ấy nên phiền
não kéo lôi chúng ta đi trong luân hồi sanh tử. Kiếp này tu
nhắm mắt cũng luân hồi, kiếp khác tu nhắm mắt cũng luân
hồi, không thoát được vì quên gốc theo ngọn, quên chánh
theo tà. Người tu phải thấy tường tận chỗ đó.
Đức
Phật khi sống với tâm chân thật rồi thì Tam minh, Lục thông,
Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng v. v… đầy đủ. Đó
là "Chân Không mà diệu hữu". Cái có trong nhiệm mầu phi thường,
chớ không phải có trong cái thường. Không phải trở về
đó rồi chúng ta khờ khạo không biết gì, mà trở về được
thì diệu hữu hiện tiền. Diệu hữu ấy là dụng của tâm,
cho nên quan trọng ở chỗ trở về được thể thì dụng chính
là diệu hữu.
Thấy
được Tánh Không, thấy được Chân Không chúng ta còn việc
gì phải làm nữa không? Thiền sư Huyền Giác trong bài Chứng
Đạo Ca đã nói "Pháp thân giác liễu vô nhất vật". Vô nhất
vật chính là chỗ không một vật của Lục Tổ, là Pháp thân,
là Chân Không vậy. "Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật",
chữ thiên này không phải trời, mà thiên là sẵn có. Nói
bản nguyên tức là nói nguồn gốc ban đầu. Nguồn gốc ban
đầu của chúng ta chính là ông Phật sẵn có từ muôn đời
đó.
Khi
giác ngộ thì thấy: "Ngũ uẩn phù vân không khứ lai. Tam độc
thủy bào hư xuất một. " Thấy được, nhận được pháp
thân thì thân năm uẩn này cũng như mây nổi, qua lại trong
hư không, chẳng có nghĩa lý gì hết. Chỉ vì chúng ta không
nhận ra được pháp thân, nên thấy thân năm uẩn là quí.
Khi ngũ uẩn đã như phù vân, thì tam độc cũng như bong bóng
nước.
Người
tu thấy tột như vậy thì việc tu không phải là khó, không
phải là chuyện xa vời, mà nó rất gần rất thực tế. Sống
được với Chân Không tức là sống được với Pháp thân.
Sống được với Pháp thân thì không còn tạo nghiệp, không
tạo nghiệp thì làm gì đi trong luân hồi nữa. Đó là giải
thoát rồi.
Rõ
ràng chỉ cần nhận chân được hai điều "Tánh Không duyên
khởi" của các pháp, "Chân Không diệu hữu" của tâm thể
thì đời tu chúng ta vững như hòn núi. Ngược lại cứ chạy
theo bên ngoài, nghe chỗ này hay, chỗ kia lạ thì tu suốt kiếp
cũng chỉ lẩn quẩn trong sanh tử, không đi tới đâu hết.
Nên
nhớ hai điều này không thể lẫn lộn nhau mà hỗ tương cho
nhau. Thấy các pháp Tánh Không thì duyên khởi hư giả, thấy
như vậy nên phiền não lặng, từ đó Chân Không mới hiện.
Chân Không hiện, nhìn lại thân này hư dối còn gì nữa mà
tham sân si. Cho nên trước phải dùng trí Bát-nhã dẹp hết
phiền não thì "ông chủ"û mới hiện ra.
Mong
rằng Tăng Ni tu hành thấy đúng như thật, đừng bị vô minh
che mờ nữa, để trên đường tu dễ tiến mới có thể thoát
ly sanh tử được. Đó là mục tiêu của chúng ta nhắm.
Giảng
tại Thiền Viện Thường Chiếu
Mùa
Hạ năm Canh Thìn 8-2000
Source:
www.thientongvietnam.com
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 07-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 270 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân