TẢN MẠN
VỀ CẦN THƠ
Hư
Thân Huỳnh trung Chánh
Sáu
bảy năm trước, tôi bỗng được người bạn gốc gác Cần
Thơ báo tin rằng tờ đặc san Trung Học Phan thanh Giản có
bài viết về tôi(*), những chi tiết về tên họ, ngành nghề,
chức vụ thì khó lầm lẫn là ai khác, nhưng lại có vài điểm
như : quê quán Rạch Giá, con nhà giàu, cùng học chung với
người viết là cụ Việt Cường Võ văn Hơn tại Trung học
Phan thanh Giản vào các niên khóa 1930-1934 thì không đúng, có
lẽ tác giả đã lẫn lộn và trộn lẫn tôi với một người
nào khác chăng? Thật ra, làm con nhà giàu ngổ ngáo như cụ
Võ văn Hơn mô tả nghe cũng hấp dẫn, nhưng rất tiếc tôi
không có hân hạnh đó, tôi cũng chưa có hân hạnh đặt chân
đến ngưỡng cửa trường Trung Học Phan thanh Giản lần nào,
nhất là tôi không thể nào có hân hạnh làm bạn học với
cụ vào những năm 1930-1934… chỉ vì thời gian đó tôi chưa
sanh ra đời : Tôi sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội xã Long
Hòa, Trà Vinh, quê ngoại xã Hòa An, Cao Lãnh. Anh bạn khuyên
tôi đính chánh, nhưng tôi nghĩ cụ Võ văn Hơn đáng tuổi
cha mẹ tôi, cụ nhắc chuyện xưa, chuyện nầy “bắt quàng”
qua chuyện khác mới cũ lẫn lộn nhau là việc rất bình thường,
đính chánh có thể khiến cụ cụt hứng, tội nghiệp… nên
tôi đã im lặng.
Thế
nhưng, thỉnh thoảng bạn bè lại điện thoại thăm hỏi chuyện
nầy, rồi nhân dịp đó chúng tôi có cơ hội gợi lại cho
nhau những hình ảnh xa xưa về Cần Thơ, từ đó, kỹ niệm
ấu thời tại Cần Thơ bỗng sôi động trong tâm khảm, để
ấp ủ thành nỗi nhung nhớ khôn nguôi. Do đó, khi anh chị
Trương kim Thạch (anh Thạch là đàn anh trong nghề, cũng là
vị tiền nhiệm của tôi tại Toà án Long An) thổ lộ tình
cảm mặn nồng của anh chị đối với ngôi trường Trung Học
Phan thanh Giản xa xưa, rồi đề nghị tôi viết một đoản
văn về Cần Thơ, thì những hình bóng cũ một lần nữa lại
ngập tràn, thôi thúc tôi viết bài tản mạn nầy. Và vì bài
viết có vài điểm khác biệt với nhân vật mà cụ Võ văn
Hơn mô tả, nên khi nhập đề tôi đành nhắc đến cụ, xin
cụ thứ lỗi.
Thân
hữu không mấy người biết, thuở ấu thơ tôi đã có thời
sống tại Cần Thơ hai năm, và cũng không ai ngờ rằng đã
qua bao năm tháng dài, mà tình cảm của tôi đối với Cần
Thơ vẫn thắm thiết đậm đà. Gia đình tôi đã trôi giạt
đến Cần Thơ vào năm 1948, tương tợ như một về lục bình
trôi lang thang theo giòng nước rồi bị xô đẩy tắp vô một
bờ bến lạ vào một đêm tối tăm mù mịt. Chới với, ngỡ
ngàng…
Duyên
cớ nào đã đưa đẩy chúng tôi lạc lõng đến Cần Thơ vào
thời điểm nầy là một chuyện dài, khởi đầu với cảnh
đất nước loạn ly tan tóc… Thật vậy, nếu khói lửa chiến
chinh vào mùa thu năm 1945 không lan dần đến quê hương tôi,
một hòn cù lao nhỏ giữa giòng sông Cổ Chiên, thuộc xã Long
Hòa, tỉnh Trà Vinh, thì có lẽ gia đình tôi vẫn an phận với
nếp sống trầm lặng tại miền thôn dã. Thế nhưng, chiến
cuộc đã cướp mất tôi người cha, và mẹ tôi đành quyết
định bỏ nhà cửa ruộng vườn, gạt lệ dẫn con ra đi. Bà
đưa con tạm lánh về Mỏ Cày, Kiến Hòa, gởi anh tôi cho chị
chồng. Sau đó, cùng với chị bếp trung thành lãnh phần bơi
mũi, bà thuê chiếc xuồng và một người thợ chèo, đi ngược
giòng sông Tiền, đưa hai đứa con nhỏ về quê ngoại tại
Cao Lãnh nương náo. Lộ trình đi thập phần nguy hiểm. Tiếng
súng ngày đêm vẫn vang rền, sông Cửu Long mênh mông sóng
gió chập chùng, chiếc thuyền con hàng ngày cứ lầm lì len
lỏi giữa làn súng đạn của hai phe, là chuyện thường trực
liều lĩnh thách thức với tử thần. Ngày nào, trên giòng
sông cũng có vài mươi xác chết sình chương, mà người ta
gọi là “thằng chổng” trôi dập dìu. Nạn nhân có thể
là kẻ bị Tây nghi ngờ là Việt Minh, nên xử bắn rồi đạp
xác xuống sông, hoặc cũng có thể là kẻ bị kháng chiến
tình nghi là thành phần “Việt gian”, trói bỏ vào bao bố
kèm với viên đá nặng thả xuống sông cho “mò tôm”. Nguy
hiểm hơn nữa, là những nút “kiểm soát” được đặt
đầy dẫy khắp nơi, mà ranh giới không rõ rệt, nếu bị
chận hỏi mà trả lời lợn cợn thì mất mạng như chơi.
Có một lần một “Oâng” Việt Minh chận xét thấy trong
mớ chỉ thêu của mẹ tôi có rất nhiều màu, trong đó có
ba màu xanh trắng đỏ, mà ba màu nầy hợp lại thành màu cờ
nước Pháp. Thế rồi, “Oâng” ta lên án mẹ tôi là Việt
gian, tịch thu chỉ thêu và bắt mẹ tôi dẫn đi. Anh bạn chèo
buột miệng : “Điệu nầy bả dám bị cho đi mò tôm lắm
à!”. Em tôi khóc ngất, tôi mới sáu tuổi song cũng phải
đóng vai anh dỗ em, nên không thể khóc. Khi mẹ tôi được
tha, em tôi mừng quá ôm chầm, khóc sướt mướt nữa. Anh bạn
chèo, thấy tôi có vẻ vô tâm, sanh lòng bất mãn phán cho một
câu : “Thằng anh coi bộ ngu quá! Má nó bị bắt nó không
lo, má nó được tha nó chẳng mừng tí nào!”. Cuối cùng
rồi thì chúng tôi cũng về tới Hòa An, Cao Lãnh, sống an lành
trong vòng tay chở che của ngoại.
Tuy
nhiên, nỗi ưu tư lớn lao của mẹ tôi là tương lai của con,
bà không chấp nhận cảnh dốt nát thất học ở miền quê,
nên ở nhà ngoại chưa giáp năm, mẹ tôi lại dẫn con ra đi,
mong tìm chốn thị tứ có trường ốc cho con cái học hành.
Thế nhưng, với khả năng hạn hẹp của một thiếu phụ vốn
chỉ lúc thúc trong khuê phòng, thì sống chốn nào cũng khó
khăn chật vật, nên gia đình chúng tôi cứ phải thay đổi
chỗ ở liên miên, và do đó chuyện học hành của lũ con cũng
gián đoạn mãi… Một hôm, mẹ tôi nghe một người em họ
tên Nghiệp tán tụng Cần Thơ dễ sống, lại có trường Trung
Học nổi tiếng, chẳng chút đắn đo bà tin ngay lời quảng
cáo của cậu, gom góp mớ vốn liếng cỏn con gồm vài món
nữ trang còn sót lại, một bàn máy may Singer, khuôn bánh kẹp,
khuôn bánh gai… rồi dẫn con đi lập nghiệp. Cậu Nghiệp
hướng dẫn mẹ tôi thuê một căn phố lợp lá, nền đất
tại một hẻm lầy lội thuộc vùng Cái Khế, cậu ở chơi
một tuần, rồi máu lang bạt kỳ hồ nổi dậy, cậu lại
ra đi, bỏ mặc chúng tôi ở lại với nỗi bỡ ngỡ, cô đơn,
lạc lõng ở xứ người. Trong nghề may, mẹ tôi là “tay ngang”
chỉ dám may quần áo cho đám con, nay bà đành bặm gan đi khắp
xóm lãnh may thuê với giá rẻ mạt. Bà cũng có mối lai rai,
khách hàng toàn là dân nghèo, chuộng giá rẻ hơn phẩm chất
nên phần đông dễ dãi, tuy vậy, thỉnh thoảng cũng có người
sừng sộ chê áo quần hư hỏng, và mẹ tôi phải năn nỉ
xin hoàn lại tiền công để khỏi bị bồi thường. Bà cũng
trổ tài làm bánh kẹp, bánh gai, khuấy kẹo để bán, nhưng
ngoài loại kẹo dừa, xóm nghèo không mấy hưởng ứng các
loại bánh mắc tiền, thành thử buôn bán ế ẩm và ngày qua
ngày vốn liếng của bà cứ mòn mỏi lần…
Căn
phố nhỏ bé nhưng đối với gia đình tôi thì rộng chán,
thừa chỗ cho một cái giường để mẹ con chui rúc với nhau,
cái bếp đặt dưới đất phải ngồi xổm nấu nướng, ngồi
xổm để ăn. Tôi nhớ dường như cửa sau không thông thương
nên dì Tám gánh nước và mấy con gà mẹ tôi nuôi sau nhà…
cũng ra vào bằng cửa trước như chúng tôi. Có mấy con gà
quanh quẩn cũng vui, nhà đất, tôi suốt ngày đi chân không
mà gà thì cũng vậy, có gì khác nhau đâu? Tôi hoàn toàn không
nhớ nỗi nhu cầu vệ sinh đã giải quyết như thế nào, có
lẽ, thời đó chuyện nầy đối với đầu óc trẻ thơ thì
nó đơn giản, chớ đâu đòi hỏi phải sạch sẽ, tiện nghi
mà phải quan tâm.
Xóm
giềng mà tôi còn nhớ được là gia đình bác thợ mộc, bà
Hai bánh canh, dì Tám gánh nước mướn…, ai cũng tốt bụng
và dễ thương, nhưng đặc biệt tình nghĩa là gia đình chú
Chín Chỉnh, hành nghề đạp xe lôi ở căn nhà đối diện.
Chú thím Chín cảm thông hoàn cảnh đơn chiếc của mẹ tôi
nên thường giúp đỡ chúng tôi từ chuyện khiêng vác nặng
nhọc cho đến chuyện thiếu muỗng nước mắm, tép hành, tép
tỏi. Chiều chiều chú thường chở đám con trên xe lôi đi
hóng mát, đôi lần chú ngoắc tôi lại cho lên ngồi chung,
tạo cho tôi nguồn vui vô tận. Niềm vui đó, sau nầy dẫu
tôi ngồi trên chiếc xe hơi láng bóng nào cũng không sánh được.
Chú Chín có 4 con : anh Chung, chị Ba, chị Tư, và con bé Sáu
chừng 5 tuổi. Anh Chung lớn hơn tôi ba tuổi nhưng mới học
lớp hai, còn tôi đang học lớp ba trường Nam tiểu học, nhưng
tôi phục anh lắm. Đôi khi tôi được anh dẫn đi bụi đời,
la cà ở các hàng quán, lượm bao thuốc hút, lượm nút chai…
về làm tiền, vui chơi mút mùa. Những căn nhà sâu trong hẻm
tôi không còn nhớ được ai, ngoại trừ một cô gái mà tôi
không nhớ gì về vóc dáng và quần áo của chị, nhưng bước
chân rón rén tránh sình lầy thì nhớ rất rõ, vì tôi thường
chê đi như vậy chẳng vui, phải lội sình, đá nước tung
tóe như tôi mới thú vị. Chị chưng diện như thế nào mà
các bà đa sự trong xóm thường háy nguýt phê phán là thứ
gái lẳng lơ trắc nết, đôi khi họ còn gọi chị là “con
đĩ”, họ cấm con cái chào hỏi chuyện trò. Tôi được “cố
vấn tối cao” là anh Chung giải nghĩa nên hiểu rõ ngành nghề
nầy, nhưng tôi cũng nghe có người kể rằng chị chu cấp
phụng dưỡng mẹ chí hiếu, nên tôi rất quí trọng chị.
Niềm kính trọng đó vẫn tồn tại mãi trong tôi, nên sau nầy,
khi hành nghề xử án, tôi đối xử với gái mãi dâm như người
em, người chị. Khi viết những truyện ngắn có những nhân
vật hành nghề nầy như truyện “Sen Trắng”, truyện “Người
đẹp thoảng hương sen”, tôi viết với tất cả niềm tôn
kính trong lòng.
Ngoại
tôi quá lo lắng cho nếp sống bấp bênh của gia đình tôi,
nên khi tình hình an ninh tại vùng quê Cao Lãnh vừa vãn hồi,
ngoại liền ép buộc mẹ tôi về Hòa An chung sống, phần con
cái thì sẽ gởi tạm cho thân nhân tại chợ Mỹ Trà để
đi học. Lúc đó là mùa bãi trường, tôi đã chuẩn bị tinh
thần để sẵn sàng theo mẹ lên đường, thì mẹ tôi tìm
được một người bà con nhơn đức, chịu cho tôi ăn ở miễn
phí một năm. Mẹ mang gởi tôi cho Oâng bà Tư, - Oâng Tư là
Cao văn Trương, cán sự Ty Địa Chánh, bà Tư là bà con xa,
trẻ tuổi hơn mẹ tôi, nhưng là vai dì – rồi dẫn em tôi
rời Cần Thơ lúc nào tôi chẳng biết. Mẹ có trở lại thăm
tôi một lần, ở chơi một ngày rồi ra đi. Sáng hôm đó,
chú Chín Chỉnh đến đón mẹ tôi đưa ra Bắc Cần Thơ, thấy
tôi đứng xớ rớ ở đó, chú bảo tôi đi theo. Đến nơi,
chú ngừng xe, mẹ tôi liếc nhìn tôi rồi quay mặt ngay để
che dấu giọt nước mắt vừa lăn tròn nơi khóe. Tôi thấy
kịp nhưng gắng nén lòng, lặng lẽ quan sát bà. Bà luống
cuống xuống xe, rồi hấp tấp bước nhanh xuống phà tránh
không ngoảnh mặt lại.
Ở
nhà Oâng bà Tư tôi không còn thú vui bụi đời nữa,
nhưng lại có lắm bạn. Ở trường thì có “trò” Ngôn,
ở nhà thì có anh Đức, cháu Oâng Tư, quê Bến Tre được
Oâng Tư đem về nuôi cho ăn học Rồi đến ngày tựu trường
trung học, có các anh Nguyễn lương Tri, Nguyễn lương Năng,
Nguyễn nam Thanh được cha mẹ gởi đến xin ở trọ. Anh Lương
Năng kể lể nỗi nghèo khó của bạn làTô Cang cho Oâng bà
Tư nghe, thế là Oâng bà lại mở rộng lòng cho anh Cang về
ăn ở miễn phí. Nhà đông rần rần, các bậc đàn anh bàn
cãi suốt ngày toàn chuyện quốc gia đại sự, nhen nhúm lòng
yêu nước trong tôi. Năm đó xảy ra vụ trò Ơn ở Saigon, học
sinh Trung Học Cần Thơ biểu tình rồi bãi khóa. Anh Lương
Năng và Tô Cang vô bưng, anh Lương Tri bị kéo về Mỹ Tho với
gia đình, anh Nam Thanh bị tống đi du học trời Tây. Căn nhà
lại vắng lặng như cũ.
Niên
học trôi qua thật nhanh, tôi rời Cần Thơ trong niềm tiếc
nuối, ước mong có ngày sẽ trở về thăm chốn cũ. Mãi đến
chín năm sau, năm 1959, tôi mới có cơ hội nầy. Tôi và 5 đồng
nghiệp được Nha Điền Thổ biệt phái về Ty Bảo Thủ Điền
Thổ Cần Thơ một tuần lễ để yểm trợ chương trình Cải
Cách Điền Địa. Trong thời gian nầy, chỉ có một lần tôi
tránh né anh em, xé lẻ đi lang thang tìm về xóm cũ nhưng vô
vọng. Lúc bấy giờ Oâng bà Tư đã rời Cần Thơ, thân thiết
tôi chỉ còn gia đình chú Chín. Tôi đón bừa những chiếc
xe lôi ngược xuôi hỏi thăm tên chú, cuối cùng có người
chở tôi tới nhà chú tại một xóm hoàn toàn mới lạ. Tôi
vào nhà thì gặp chị Tư, đang ỳ ạch mang bầu đứa con thứ
nhì, hỏi ra thì anh Hai đang nhập ngũ phương xa, chị Ba lập
gia đình ở riêng, bé Sáu đi học, chú thím Chín về quê vài
ngày,… nên tôi hơi thất vọng.
Sau
nầy tôi được cử về làm việc tại An Giang và Kiên Giang
trong nhiều năm. Tôi có rất nhiều dịp để về Cần Thơ,
khi thì làm Phụ thẩm cho những phiên Tòa Đại Hình, khi thì
được bạn bè thù tạc. Lần nào tôi cũng háo hức đi, và
thực sự rất vui mừng gặp bạn, nhưng lần nào cũng như
lần nào, khi ra về tôi luôn luôn vấn vương bởi niềm thất
vọng mơ hồ mà chẳng hiểu tại sao. Một hôm vào khoảng
năm 1969, tôi đang làm việc tại Kiên Giang thì nhận được
bức thơ của một người bạn học từ năm lớp 9 đang nằm
trong vòng lao lý tại Cần Thơ, xin tôi giúp đỡ. Tôi với
anh không có tình thân, 12 năm qua chưa hề liên lạc, nên tôi
ngần ngừ định làm lơ, nhưng sau cùng, tôi nghĩ người ta
đã cầu cứu mình, dẫu mình không giúp được thì cũng nên
thăm nom an ủi. Thế rồi, tôi cho tài xế ở nhà, một mình
lái xe thật sớm sang Cần Thơ vào Phòng Dự Thẩm thăm hỏi
hồ sơ của anh ta. Hồ sơ đã hoàn tất và gởi lên Phòng
Luận Tội chờ đưa ra Tòa Đại Hình, nên không còn cách gì
xem xét lại được. Tôi tìm anh Biện Lý Võ minh Huệ. - Tôi
đã từng là phụ tá của anh nên có chỗ thân tình – Tôi
vắn tắt kể chuyện người bạn học, và nhờ anh Huệ ký
giấy phép cho tôi đưa nghi phạm đi chơi một vòng chừng vài
giờ. Anh Huệ đồng ý dễ dàng, anh điện thoại xuống Trung
Tâm Cải Huấn, nên khi tôi đến nơi thì họ đã sẵn sàng
cho tôi lãnh anh bạn ra ngay. Tôi lái xe chạy vòng vòng, cho
anh biết tình trạng hồ sơ và giải thích anh nghe vài điểm
pháp lý cần thiết, sau đó, tôi mời anh ăn cơm ở bất cứ
chỗ nào mà anh thích. Anh ấp úng hồi lâu rồi cho biết anh
đã được tiếp tế đầy đủ nên không thèm ăn, anh chỉ
thiếu thốn đàn bà mà thôi. Kết luận, anh xin tôi cho anh
đi hoang một chuyến. Tôi ngần ngừ hồi lâu, cuối cùng tôi
nghĩ nhu cầu của anh kỳ cục nhưng cũng chẳng hại ai nên
đồng ý, nhưng tôi xác định rằng tôi chỉ mời ăn thôi,
còn vụ nầy anh phải tự lo liệu. Anh nhờ tôi đưa đến
một khách sạn sang trọng, tôi ngồi chờ ở ngoài xe, chừng
một giờ sau thì thấy anh tươi tỉnh trở ra. Trên đường
đến tiệm ăn, anh lại ấp úng lần nữa. Tôi hơi ngạc nhiên
và hơi khó chịu, nhưng vẫn đồng ý. Anh viện cớ đã cạn
tiền nên xin đưa đến một địa điểm bình dân trong ngõ
hẻm Cái Khế, rồi anh đi vào căn nhà lầu khang trang đầu
hẻm. Chờ đợi sốt ruột, tôi lang thang đi sâu vào con hẻm.
Hẻm hẹp dần, nước mưa ứ đọng vài nơi và nhà cửa cũng
xây bừa bãi tồi tệ hơn. Thấy một ngách nhỏ, tôi len vào,
nhà cửa ở đây chỉ là thứ lều ọp ẹp kết hợp bằng
những miếng tôn tạp nhạp vá víu. Tôi dán mắt quan sát ba
thằng bé con cỡi trần, đen đúa, tong teo… đang rạng rỡ
ngồi giọc nước sình hôi hám, rồi bỗng nhiên nỗi xúc động
vui buồn lẫn lộn xâm nhập tâm tôi, khiến tôi rỡn ốc cả
châu thân. Tôi đã khám phá được Cần Thơ của tôi rồi.
Thì ra, cái Cần Thơ mà tôi tương tư thương nhớ, không phải
là cái thành phố nguy nga tráng lệ nổi tiếng là Tây đô,
mà chính là những hình ảnh tiều tụy bùn lầy nước đọng
như thế nầy, nơi đã từng chứa chan cả một bầu trời
thân thương vào tuổi bé thơ của tôi.
Tôi
hấp tấp đưa trả anh bạn học về Trung Tâm Cải Huấn, rồi
lái xe ra đi với niềm cảm xúc vẫn còn miên man trong lòng.
Khi tôi dừng xe tại bến Bắc, tôi chợt thấy một chiếc
xe lôi chở một thiếu phụ trẻ và một thằng bé con trờ
tới. Tôi nhìn theo hai mẹ con, rồi liên tưởng đến buổi
chia tay với mẹ khoảng hai mươi năm về trước cũng tại
chỗ nầy. Tôi mong thằng bé được mẹ dẫn theo, chớ không
bị bỏ lại như tôi ngày trước : bơ vơ và buồn tủi lắm!
Thế rồi, nước mắt tôi bỗng ràn rụa… nước mắt mà
20 năm trước tôi đã đè nén, giờ đây bỗng tuôn tràn một
cách bất ngờ và cũng rất là vô lý…
Tháng
6.2003
Ghi
chú :
*Bài
viết tựa đề “Ba chàng hàn sinh xuất sắc”, tác giả Việt
Cường Võ văn Hơn, cựu học sinh khóa 1930-1934, đăng trong
Giai phẩm Phan thanh Giản & Đoàn thị Điểm năm 1997. Để
đọc giả có chút ý niệm, xin trích nguyên văn một đoạn
nhỏ như sau :
“…
Thành phần gồm các học sinh nội trú đóng tiền, thuộc con
nhà giàu “ruộng cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi”.
Ở nhà cha mẹ nuông chiều “cưng như cưng trứng, hứng như
hứng hoa” muốn gì được nấy. Vào nội trú, kỹ luật nhà
trường gò bó, quen thói chọc trời khuấy nước, phá xóm
phá làng, tá điền thảy đều ngán mấy cậu. Lại thêm vầy
đoàn hợp ngũ, mách nước đủ trò, do đầu xỏ trật búa
chỉ huy. Khét tiếng là Huỳnh trung Chánh (Rạch Giá), con trai
út của đại phú gia Lái hồ nước mắm Phú Quốc, sau là
chánh án rồi dân biểu thời đệ nhứt Cộng Hòa….”
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 07-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 270 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân