BÌNH GIẢNG
BÀI THƠ PHÚ
CỦA ĐỨC VUA TRẦN NHÂN TÔNG
Hoà
Thượng Thích Quảng Liên
Bản
Hán Văn:
“Cư
trần lạc đạo thả tuỳ duyên
Cơ
tắc xan hề khốn tắc miên
Gia
trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối
cảnh vô tâm mạc vấn thiền”.
Bản
dịch:
Ở
đời vui đạo hãy tuỳ duyên
Đói
đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong
nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối
cảnh không tâm chớ hỏi thiền.
Bài
thơ phú trên đây của Thượng Hoàng Điều Ngự Trần Nhân
Tông một Hoàng Đế của triều đại nhà Trần thế kỷ 13,
Ngày sanh ngày 11 tháng 11 năm 1258, viên tịch 1308. Trước ngày
sanh nở thái Tử, Nguyên Thánh Hoàng Thái Hậu mộng thấy một
vị thần tiên trao cho Hoàng Thái Hậu hai cây gươm với lời
khuyên bảo Hoàng Thái Hậu tự ý lựa chọn, Hoàng Hậu chọn
lấy cây gươm ngắn trong số hai cây gươm mà thần tiên trao,
bỗng nhiên Hoàng Hậu tỉnh giấc, cảm thấy mình có thai,
khi hạ sanh Thái tử màu da trên thân toàn như vàng y màu hoàng
kim. Vua cha là Trần Thánh Tông đặt tên là Kim Phật có nghĩa
là Phật vàng, trên thân hiện toàn màu vàng, lại bên vai phải
của Vua có một nốt ruồi đặc biệt, các quần thần bấy
giờ bàn tán là : Chắc chắn Thái Tử có thể gánh vác đại
sự tiếp nối vua cha thống lãnh giang sơn Đại Việt , yêu
nước thương dân lòng đầy đạo đức phi thường.
Vua
Trần Nhân Tông được truyền ngôi năm 1278 – 1279, nối nghiệp
vua cha Trần Thánh Tôn. Mặc dù nhiều lần từ chối ngôi vua
muốn nhường ngôi lại cho em là Đức Việp để làm tròn
sự nghiệp xuất the, song hoàng triều không đồng ý. Bắt
buộc vua Trần Nhân Tông lên ngôi chấp chính từ năm 1279 –
1294. Trong 14 năm lên ngôi gặp đất nước bị ngoại xâm do
giặc Nguyên – Mông Cổ từ phương Bắc tràn xuống xâm lấn
Đại Việt. Trước tình thế khó khăn, Vua Trần Nhân tông
không còn cách nào lựa chọn khác là triệu tập quần thần
và thứ dân văn võ nhất tề đứng lên chống ngoại xâm bảo
vệ đất nước, nền độc lập dân tộc. Với tinh thần cương
quyết dũng cảm vì dân vì nước vì độc lập tự do, toàn
dân hưởng ứng đứng lên đoàn kết một lòng, lại
thêm có nhiều tướng lãnh oai hùng hào kiệt như : Trần Hưng
Đạo, Trần Bình Trọng, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản
v.v... là những tướng lãnh ưu tú tài ba chiến thắng giặc
Nguyên Mông Cổ làm Hốt Tất Liệt hồn vía bay theo mây gió,
mộng đô hộ Đại Việt bị tan vỡ thảm hại.
Sau
khi chiến thắng giặc Nguyên - Mông Cổ vua Trần Nhân Tông
thực hiện nhiều biện pháp củng cố chính trị nội bộ
và phát động chính sách ngoại giao với lân quốc Champa phái
Nam. Nước nhà được thái bình ổn định vua Trần Nhân Tông
chỉnh đốn nội bộ và đưa chính sách phát triển kinh tế
nông thôn, chấn hưng đạo đức văn hoá truyền thống dân
tộc .
Thế
giới không tiết lời khen Việt Nam có hai tướng tài tinh nhuệ
là Quốc Công Trần Hưng Đạo, tướng của đời Trần Minh
Vương Trần Nhân Tông thế kỷ thứ 13 và Đại Tướng Võ
Nguyên Giáp thời đại Chủ Tịch Hồ Chí Minh thế kỷ 20 .
Có
điều khác là dưới thời Minh Vương Trần Nhân Tông chiến
thắng ngoại xâm giặc Nguyên - Mông Cổ bằng nhơn lực phương
tiện và chiến thuật mưu lược thuần tuý đặc tánh dân
tộc Việt Nam sáng tạo và phát động tư tưởng đạo đức
đoàn kết chiến đấu thắng lợi không nhờ quân lực, khí
giới chiến thuật và tư tưởng bên ngoài mà chính lòng yêu
nước bất khuất hào hùng của dân tộc Việt Nam yêu chuộng
hoà bình độc lập dân tộc
Khúc
khải hoàn cất tiếng trên lảnh thổ Đại Việt đế đô
Thăng Long sau chiến thắng quân Nguyên –Mông Cổ do Vua Trần
Nhân Tông bực minh quân lảûno đạo tài ba , đem lại hoà
bình an cư lạc nghiệp, Vua Trần Nhân Tông ban sắc lệnh đại
xá tội phạm, lấy đất công ban thưởng cho quân dân có công
dẹp giặc, và giảm miễn thuế nông nghiệp tạo điều kiện
thuận lợi cho nông dân hăng hái sản xuất lúa gạo, nông
sản, để dân được no cơm ấm áo, dân có giàu thì nước
mới mạnh .
Về
mặt ngoại giao Vua Trần Nhân Tông sáng suốt lập ban giao thân
hữu với nước láng giềng phía Nam là Champa. Đây là một
sáng kiến tinh thần hoà khí đáng kính trọng .
Hoàn
thành sứ mệnh cương vị vua chúa của một đất nước, Vua
Trần Nhân Tông tiến lên một bước nữa là bước đường
giải thoát như người đã hoài bão lúc chưa lên ngôi hoàng
đế. Người nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, cắt
ái từ thân theo hạnh từ bi trí tuệ giác ngộ giải thoát
của phật Thích Ca tu thiền nhập định trên núi Yên Tử,
đem đuốc tuệ sáng soi trong lòng dân Việt. Ngài sáng tác
nhiều bài phú để giáo huấn thần dân bài “Cư Trần Lạc
Đạo” là một bài trong những bài phú đáng được lưu tâm,
nói lên tâm tư nguyện vọng ĐỜI và ĐẠO, tục đế và chơn
đế liên quan đến đời sống con người trần thế và xuất
thế giải thoát. Ngài nói :
“Ở
đời tu đạo hãy tuỳ duyên
Đói
đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong
nhà có báu thôi tiềm kiếm
Đối
cảnh không tâm chớ hỏi thiền “.
Vua
Trần Nhân Tông làm tròn bổn phận trong đời sống trần gian,
trọng trách của bực minh vương Ngài đưa đất nước Đại
Việt thanh bình thịnh vượng sau chiến thắng quân Nguyên -
Mông Cổ, dân Việt được cuộc sống huy hoàng trong cảnh
thái bình. Tuy nhiên vua Trần Nhân Tông nhận thấy cuộc sống
trần gian dù cao đẹp giàu sang vinh quang nó không tồn tại
vĩnh cửu mãi, một ngày nào đó vô thường đến nó sẽ bị
tan mất không khác nào như sương đầu ngọn cỏ, như hoa phù
du sớm nở tối tàn, chỉ có tinh thần đạo đức, vui với
đạo yêu đạo làm theo đạo tùy theo duyên sống động tùy
hoàn cảnh xứ sở đưa đời sống cao đẹp hơn vĩnh viễn
hơn đó là con đường giác ngộ giải thoát cuộc sống sanh
già bệnh chết. Đúng như lời Phật Thế Tôn chỉ giáo : Tùy
duyên bất biến, bất biến tùy duyên "đời và đạo, sáng
và tối, chúng sanh và Phật, phiền não và Bồ đề, sanh tử
và Niết bàn" chỉ là một tánh không có hai, chỉ khác người
được giác ngộ gọi là Phật, người còn vô minh trược
gọi là chúng sanh, có đuốc tuệ là sáng tỏ không đuốc
tuệ là mờ tối .
“Mê
cố tam giới thành
Mê nên thành ba cỏi
Ngộ
cố thập phương không
Ngộ nên mười phương không
Bổn
lai vô nhứt vật
Xưa nay không một vật
Hà
xứ hữu Nam Bắc”.
Chổ nào có Nam Bắc
Đời
sống tốt đẹp văn minh hoàn thiện... chính là người vui
với đạo sống với đời , có đạo mà không có đời thì
đạo truyền cho ai, có đời mà không có đạo thì đời khô
cằn không tinh thần sống động, khác nào như cây đứng giữa
rừng đồng trống khô khan .
Đói
ăn, khác uống, mệt ngủ là nếp sống thường tình của dân
sinh. Người đời thường nói “có thực mới vựt được
đạo” có sức khỏe là nhờ sự bồi dưỡng ăn uống và
nghĩ ngơi thanh thoát, có sức khỏe mới tạo nên sự nghiệp
đời cũng như đạo mới được vinh quang sáng rạng, đó có
nghĩa là tùy duyên hoàn cảnh của nhơn sinh xã hội .
Chính
hai câu thơ đầu của bài thơ phú bốn câu là nói lên sự
cần thiết của đời sống nhân sinh, theo thuật ngữ Phật
gọi đó là đời sống tục đế (Samvrity Satya) đời sống
của con người thế tục trần gian không thể không có !
Đức
Vua Trần Nhân Tông nhận thức đời sống thực tế ăn mặc
ngủ nghỉ của nhân sinh không thể không có, lại rất cần
thiết cho đời sống tùy theo duyên hoàn cảnh khác biệt của
mỗi người trong xã hội .
Tuy
nhiên kiến thức trí tuệ nhận thức Vua Trần Nhân Tông không
phải dừng nơi đây, nơi cuộc sống thường tình trong đời
sống hạng cuộc rồi buông tay khi vô thường đưa đến, có
sanh phải có diệt, có sống phải có chết, có hạnh phúc
phải có ngày đau khổ... Nếu chúng ta chỉ biết có hướng
ngoại tìm phương tiện cho sự sống mà không biết hồi tâm
hướng nội. Nhìn và nhận thức cái gì sẳn có trong bản
thân chúng ta mà xưa nay chúng ta đánh mất chỉ biết theo trần
cảnh tạm bợ bên ngoài . Chính vì vậy Cư Trần Lạc Đạo
(ở đời vui đạo) hay an cư lạc nghiệp, đó là đạo nghiệp
thế gian mà Đức Vua Trần Nhân Tông phương tiện đưa ra đáp
ứng đời sống nhất thời hiện tại không thể không có.
Như kinh điển Phật nói có vô số phương tiện tùy cơ ứng
biến.
Từ
đó Đức Vua đưa nhơn sinh tiến lên đời sống cao thượng,
đời sống hướng về nội tâm bản giác sẳn có nên
Ngài nói :
“Trong
nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối
cảnh không tâm chớ hỏi thiền.”
Hai
câu đầu “Cư Trần Lạc Đạo ... “ là diễn tả tư tưởng
đời sống thế gian thế tục, đời sống nhờ phương tiện
ngoại cảnh bên ngoài mà nhà vua khuyên nhân dân có nếp sống
đạo đức tu tâm dưỡng tánh làm thú vui cho tinh thần lạc
đạo trong lúc nước nhà được thái bình.
Từ
phương tiện hướng ngoại Ngài trở về nội tâm, bản giác
nhân loại ít ai hiểu rằng Phật ở trong lòng ta ( Phật tại
tâm ) nên dong rủi theo cuộc đời giả tạo mờ ảo bên ngoài
làm lu mờ bản tính giác ngộ Phật tánh sẳn có trong nội
tâm chúng ta.
Trong
nhà sẵn có ngọc ngà của báu đầy đủ không thiếu thứ
gì, mà tự mình không biết lại quanh quẩn bốn phương tìm
kiếm. Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “ Thọ ký thứ tám
“ có kể câu chuyện rằng : Có chàng thanh niên trong vạt
áo có cột sẵn viên ngọc báu vô giá phòng hờ gặp khi cùng
cực thiếu thốn lấy ra tiêu xài, song chàng thanh niên không
nhớ trong vạt áo mình có viên ngọc báu vô giá, gặp cơn
đói khát áo quần rách rưới đi lang thang từ làng này sang
tỉnh nọ xin ăn, một ngày nọ gặp lại bạn tri thức
nói với chàng thanh niên rằng trong mình chàng có viên
ngọc quý hiếm cớ sao không lấy ra bán mà tiêu dùng lại
đi lang thang xin ăn khổ cực... chàng thanh niên nhớ lại và
tìm trong vạt áo qủa thật có viên ngọc báu, từ đó chàng
không còn khổ sở nữa. Ngọc báu trong mình mà không biết
đem ra tiêu dùng, cũng như Phật tánh sáng suốt sẳn có trong
mỗi chúng sanh mà không biết trau dồi tu sữa để lâu ngày
bị bụi trần bám dơ. Nhờ thiện tri thức nhắc mới nhớ
lại bản tánh ngọc báu vô giá sẳn có trong ta, khi biết mình
sẳn có còn tìm đâu nữa.
Tu
thiền chỉ quán, trước quán sát cảnh vật bên ngoài là hư
ảo giả tạm do nhiều nhơn duyên yếu tố kết hợp mà có
như chiếc xe do nhiều bộ phận lắp ráp mà thành rồi theo
luật thời gian biến chuyển hư mòn sự vật mai một không
tồn tại mãi mãi. Biết sự vật là ảo huyền vô thường
có rồi không nên tâm không đam mê cố chấp thật có các
Pháp. Tâm không chấp trước ngả Pháp, tức tâm không còn
phiền não, phiền não không còn thì tâm yên tịnh tâm thanh
tịnh nên tiếp xúc đối tượng cảnh vật bên ngoài đều
không thật có không đam mê chấp trước mong muốn trông cầu.
Cho nên đối cảnh không tâm, tâm đã thanh tịnh phát hiện
trí tuệ được sáng suốt còn hỏi đến thiền, tu thiền
để làm gì. Như nhờ thuyền bè vượt qua dòng sông đau khổ
đến bờ giải thoát bên kia rồi, còn mong thuyền bè vát thuyền
bè trên vai chi cho nhọc. Khi thiền đã được chứng đắc
còn hỏi thiền tìm thiền tu thiền chi nữa.
Nhờ
phương tiện để đạt đến cứu cánh Chơn – Thiện – Mỹ
, chính vua Trần Nhân Tông nhận chơn được chân lý Phật
đà. Trước dùng phương tiện Cư Trần Lạc Đạo, an cư lạc
nghiệp, đói ăn khát uống, mệt ngủ tạo thiện duyên cho
dân tộc nhân loại trong cuộc sống nhân quần xã hội biết
Đạo vui Đạo, từ đó tiền lên đời sống cứu cánh tinh
thần giải thoát thành lập Trúc Lâm Tam Tổ Yên Tử, lưu lại
thánh cảnh Yên Tử hiện hửu và đạo đức thiền môn tinh
thần giải thoát cho muôn đời hậu lai.
Có
đời có đạo phương tiện cứu cánh
Tục
đế chơn đế , sắc sắc không không
Tùy
duyên bất biến, bất biến tùy duyên là chơn đạo của Phật
Tổ lưu truyền, một triết lý cảnh giác nhơn sanh mà Đức
vua Trần nhân Tông áp dụng rất cụ thể nhuần nhuyễn đúng
đắn trong cuộc sống Đời và Đạo. Người tiếp nối cầm
đuốc tuệ Như Lai soi sáng đất Đại Việt, kỉnh tỉnh nhân
gian giác ngộ sáng tạo.
Trần
Nhân Tông một Hoàng Đế đáng kính, không muốn sống trong
cảnh vinh hoa chốn hoàng cung cũng như Thái Tử Sĩ – Đạt
– Ta từ bỏ ngai vàng xuất gia tìm chơn lý giải thoát nhơn
loại đau khổ. Vua Trần Nhân Tông xứng đáng là bực Tổ
đáng tôn kính của Phật Giáo Việt Nam.
Tóm
lại : Đức Vua Trần Nhân Tông thực thi pháp môn (Thiền quán
của Phật Tổ đem đuốc tuệ soi sáng nhân quần xã hội không
phải là việc dễ làm. Hơn nữa , cương vị một Hoàng Đế
đương triều thạnh trị lại từ bỏ cung vàng điện ngọc
làm người Tu sĩ bình thường hành trì khổ hạnh đâu phải
không có mục đích. Mục đích đó phải là cao thượng siêu
việt hơn là cương vị đế vương tự xưng hùm xưng bá, lợi
dụng địa vị quyền qúy cao sang hầu mưu đồ đàn áp tác
hại kẻ khác... Ngược lại Đức Vua Trần Nhân Tông là bực
Minh Vương với tinh thần độ lượng theo gót từ bi trí tuệ
của Phật Tổ, vô ngãû vị tha tự mình chịu khổ để tạo
cho người khác an vui hạnh phúc trong ánh đạo vàng.
Việc
làm cao thượng của Vua Trần Nhân Tông, Hoàng Đế nước Đại
Việt (Vietnam), ngoại trừ Thái tử Sĩ – Đạt – Ta, thì
không một Hoàng Đế nuớc náo khác có thể sánh bằng.
Dân
tộc Việt Nam ta rất hãnh diện và tự hào có một Hoàng Đế
vô ngã vị tha như Đức Vua Trần Nhân Tông tu hành đắc đạo
nối gót Phật Thích Ca đem đuốc tuệ soi sáng nhân quần xã
hội.
Là
người Việt Nam kính thờ Phật Tổ Thích Ca không thể không
kính thờ Đức Vua Trần Nhân Tông, một đệ tử trung thành
chơn tu của Phật Tổ, kế thừa Phật tạo lập Trúc Lâm Tam
Tổ, một danh lam Thánh Cảnh Yên Tử Việt Nam bất diệt.
Phật
giáo việt Nam xưa nay thực hành hai pháp môn là môn Thiền
học và Tịnh Độ, thực hành Thiền – Tịnh như nước với
sửa, tùy theo cơ duyên trình độ hoàn cảnh mà áp dụng. Tu
Thiền để tâm được an cư thanh tịnh, tu Tịnh Độ niệm
Phật là nhớ nghỉ đến đức tánh Từ Bi trí tuệ và thực
hành theo lời Phật dạy.
Tu
Thiền tu tịnh một nhà
Nào
ai phân biệt Phật Đà chúng sanh
Tu
hành trọng nhất tánh linh
Tu
tâm dưỡng tánh tụng kinh ngồi thiền
Mong
sao vọng tưởng tội khiên
Diệt
trừ vọng chấp bình yên tu hành
Tu
hành cứu độ nhân sinh
Người
người giác ngộ chí thành chơn tu.
Vua
Trần Thánh Tông nói:
Lễ
Phật là kính trọng đức tánh từ bi hỷ xã của Phật
Niệm
Phật là cảm niệm công ơn cứu khổ độ sanh của Phật
Trì
giới là thi hành đại hạnh thanh tịnh của Phật
Xem
kinh là muốn hiểu rõ chơn lý của Phật
Ngồi
Thiền là muốn đạt đến cảnh Phật
Tham
thiền là thích hợp tâm thành của Phật
Thuyết
pháp là viên mãn chí nguyện của Phật .
PL.2546
Rằm tháng Tám – Nhâm Ngọ
H.T
Thích Quảng Liên
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 08-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 338 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân