THIỀN QUAN
SÁCH TÂN
Sa
Môn Châu Hoằng- HT. Thích Thanh Từ Việt Dịch
TỰA
Thiền
lại có cửa (quan) sao ? Đạo vốn không có trong, ngoài, ra,
vào; nhưng người hành đạo bởi có mê, ngộ nên bậc đại
thiện-tri-thức giữ cửa không thể không có khi mở, đóng.
Các Ngài giữ khóa chốt kỹ càng, tra hỏi nghiêm ngặt, khiến
những kẻ loạn ngôn, tà ý muốn vượt qua bị cửa ngăn cản
không thể thực hiện được mưu gian, cũng là cái kế giữ
lâu dài vậy.
Tôi
khi mới xuất gia được gặp một pho sách để trong phòng
tên THIỀN MÔN PHẬT TỔ CƯƠNG MỤC. Trong ấy ghi chép những
lời tường thuật của các vị Tôn túc về sự tham học,
tu chứng của mình. Nào lúc mới tham học khó khăn thấu hiểu,
lúc thực hành công phu nhọc nhằn khổ sở, đến sau cùng
bỗng nhiên thấu ngộ. Tôi đọc qua, lòng rất kính mộ, nguyện
học theo gương các Ngài. Bộ sách này các nơi khác không thấy
có. Kế tôi đọc bộ Ngũ đăng chư ngữ lục trong Tạp truyện,
không luận những vị xuất gia hay tại gia có thật tham, thật
ngộ, tôi đều góp nhặt thêm vào phần trước pho sách.
Tôi
chọn rút những chuyện cốt yếu, xếp theo loại, biên thành
tập lấy tên là THIỀN QUAN SÁCH TẤN. Ở nơi nào thì tôi
để nó trên bàn, đi đâu thì mang theo trong bị, mỗi lần
đọc cảm thấy kích lệ tâm chí, tinh thần khoáng đạt, như
có một sức mạnh vô hình thúc đẩy gắng tiến.
Có
thể nói quyển sách này rất cần thiết đối với người
chưa vượt qua khỏi cửa, nếu với kẻ vượt khỏi cửa đã
xa thì đâu còn cần dùng ? Tuy nhiên, ngoài cửa này còn lớp
cửa khác, chẳng qua giả mượn tiếng gà, tạm rời miệng
cọp mà thôi. Được ít cho là đủ là người tăng thượng
mạn. Sông chưa cùng, núi chưa tột vẫn phải gắng tiến.
Chạy mau, đi mãi bao giờ vượt khỏi cái cửa đen tối sau
cùng, chừng ấy sẽ chậm rãi nghỉ ngơi không muộn.
Niên
hiệu Vạn Lịch năm thứ 28, đầu mùa Xuân
CHÙA
VÂN THÊ
Sa
môn CHÂU HOẰNG
Cẩn
chí
I.
RÚT GỌN LỜI DẠY CHƯ TỔ
Phần
này, tôi không biên những lời cao siêu của chư Tổ, chỉ
rút những chỗ thực hành công phu khẩn thiết. Lại rút gọn
những chuyện cốt yếu cho tiện hằng ngày đọc qua để kích
lệ thân tâm.
1.
Hoàng Bá Vận Thiền sư dạy Chúng
Về
trước tu tập nếu chưa thấu triệt, một phen lưỡi hái tử
thần kề cổ, sẽ thấy trăm mối rối ren. Thế mà, có một
bọn ngoại đạo vừa thấy người hạ thủ công phu, bèn cười
lạt, bảo rằng : Còn có cái ấy nữa. Ta thử hỏi ông : Nếu
khi thần chết đến, ông lấy cái gì để chống cự lại
? Vậy lúc rảnh rang lo giải quyết cho xong, đến khi gấp rút
được ít nhiều tỉnh lực. Chớ đợi khát nước mới lo
đào giếng, khi tay chân co rút, đường trước mịt mờ, trăn
trở rối loạn, khổ thay ! Khổ thay ! Bình nhựt chỉ học
Tam muội ngoài môi, nói thiền, nói đạo, trách Phật, chê
Tổ, đến lúc này tất cả buông xuôi. Chỉ tưởng dối với
người, đâu ngờ ngày nay dối mình.
Tôi
khuyên hết thảy huynh đệ, lúc thân thể còn tráng kiện nên
chọn lấy những điều mình đã hiểu, làm động cơ tu tiến
thì rất dễ dàng. Tự các ông không chịu lập chí quyết
chết thực tập công phu, chỉ nghĩ là khó thì lại càng thấy
khó. Nếu là bậc trượng phu hãy khán công án. Có vị Tăng
hỏi ngài Triệu Châu : "Con chó có Phật tánh không ?" Ngài
Triệu Châu đáp : "Không". Suốt 12 thời (24 tiếng đồng hồ)
khán một chữ KHÔNG. Ngày tham, đêm tham, đi, đứng, ngồi,
nằm, mặc áo, ăn cơm, đại tiểu tiện v.v… đều dồn hết
tinh thần khán một chữ KHÔNG. Lâu ngày chầy tháng kết thành
một khối, bỗng nhiên tâm hoa khai phát, ngộ được cái máy
nhiệm mầu của Phật, Tổ, sẽ không còn ngờ vực câu nói
của Lão Hòa thượng, thấu triệt đại ngộ. Tổ Đạt Ma
từ Ấn Độ đến, không gió đã làm dậy sóng. Đức Thế
Tôn đưa cành hoa cả hội đều ngơ ngác. Lý này, dù nói đến
chết, cả ngàn vị Thánh còn chẳng biết thế nào, chưa tin
được cái đạo quá kỳ đặc như thế. Việc này chỉ ngại
người hữu tâm.
2.
Triệu Châu Thẩm Thiền sư dạy Chúng
Các
ông chỉ thấu đạt lý tọa thiền, chuyên khán hai ba mươi
năm, nếu không hội ngộ chặt đầu Lão Tăng đi. Lão Tăng
ngót 40 năm chuyên khán không dụng tâm tạp loạn, trừ hai
thời cơm và cháo mới tạp dụng tâm.
3.
Huyền Sa Bị Thiền sư dạy Chúng
Phàm
người học Bát nhã Bồ tát phải đủ đại căn cơ, đại
trí tuệ mới được. Nếu căn cơ trì độn, phải chuyên cần
khổ nhọc, nhẫn nại đêm ngày quên mệt, giống như người
đi đưa đám ma mẹ, cần cù cấp bách sẽ có người phụ
lực. Ghi tạc trong lòng chuyên tâm thật cứu, ắt có ngày
hội ngộ.
4.
Đại Nghĩa Thiền sư răn dạy
Chớ
có quên mình với tử tâm,
Bệnh
này khó trị thật quá thâm,
Mau
mau đề khởi tâm suy xét,
Cần
kiếm Tổ sư nghĩa nhiệm mầu
Lỡ
khi ngủ gật, liền trợn mắt,
Xem
thử kèo nhà, nó là gì ?
Nếu
người tịnh tọa chẳng dụng công,
Bao
giờ mới được ngộ tâm không ?
5.
Vĩnh Minh Thọ Thiền sư răn dạy
Cửa
học đạo không có gì kỳ đặc, chỉ cần gột sạch căn,
trần và những chủng tử nghiệp thức từ vô lượng kiếp
đến giờ. Các ông nếu tiêu trừ hết tình niệm, đoạn dứt
vọng duyên, đối với tất cả thứ ái dục ở thế gian tâm
không động nhiễm như cây đá, dù đạo nhãn chưa sáng, tự
nhiên thân tâm an tịnh. Nếu gặp bậc đạo sư chân chánh
phải thiết tha thân cận, giả sử tham chưa thấu triệt, học
chưa thành tài, một phen tai nghe đạo vị tạo thành chủng
tử đạo trong tàng thức, kiếp kiếp không sa vào ác thú,
đời đời không mất thân người, vừa sanh ra một nghe ngàn
ngộ.
6.
Tử Tâm Tân Thiền sư tiểu tham
Chư
Thượng tọa ! Thân này khó được, Phật pháp khó nghe, chính
đời này không lo độ, mong đời nào độ thân này ? Các ông
thích tham thiền ư ? Phải buông bỏ hết. Buông bỏ cái gì
? Buông bỏ tứ đại, ngũ uẩn, buông bỏ những nghiệp thức
từ vô lượng kiếp đến nay. Nhìn xuống gót chân mình suy
cùng, xét tận xem nó là cái gì ? Xét qua xét lại, bỗng nhiên
tâm hoa phát sáng, chiếu khắp cõi nước mười phương.
Có
thể nói được tại tâm, nắm trong tay, mới hay biến quả
đất thành vàng ròng, khuấy nước sông làm tô lạc, thật
khoái chí thay ! Chớ nên cắm đầu trên sách vở, xét lời
bàn chữ, nói thiền luận đạo, thiền đạo không có ở trên
sách vở. Dù nhớ hết Đại tạng kinh thuộc lòng Bách gia
chư tử, cũng chỉ là luận bàn suông chơi, đến khi chết
trọn không lợi ích gì.
7.
Đông Sơn Diễn Thiền sư tiễn đệ tử đi hành khước
Ông
nên ghi hai chữ Sanh Tử trên trán, xét nét tìm hiểu. Chớ
có kết bè, hiệp bọn cười giỡn qua ngày. Lúc Diêm vương
đến không thể đem cơm tiền đút lót được. Chớ bảo rằng
ta chưa từng nhắc ông.
Nếu
thực tập công phu, phải luôn luôn kiểm điểm thường thường
xét nét, thế nầy là chỗ đắc lực, thế kia là chỗ không
đắc lực, thế này là chỗ được, thế kia là chỗ mất.
Có một bọn vừa lên Bồ đoàn (2) liền ngủ gật, đến lúc
tỉnh thì tâm tưởng lăng xăng, vừa xuống Bồ đoàn là nói
chuyện vang rân. Biện đạo như thế đến Đức Phật Di Lặc
ra đời cũng chưa kết quả. Phải sáng suốt, mạnh mẽ đề
khởi câu thoại đầu, sáng tham, tối tham cùng với thùy miên,
loạn tưởng chống nhau, không nên tọa trong vô sự. Lại không
nên trên Bồ đoàn ngồi như chết. Nếu tạp niệm dấy khởi,
càng tranh đấu càng nhiều chi bằng nhẹ nhàng buông xả, bước
xuống đất đi một vòng. Lại lên bồ đoàn mở mắt, để
hai bàn tay ngón cái gối đầu nhau, xương sống thẳng lên,
y như trước đề khởi thoại đầu, liền có cảm giác mát
mẻ, in như trả nước sôi vừa đổ vào một gáo nước
(1)
Hành khước : Đi khắp nơi tìm thầy, tìm bạn học hỏi, cốt
yếu không ở lâu một chỗ để dứt tâm quyến luyến nhiễm
trước.
(2)
Bồ đoàn : Đồ lót ngồi trong lúc tọa thiền lạnh. Thực
tập công phu như vậy, quyết định có ngày đạt đạo.
8.
Ghi Am Chơn Thiền sư dạy
Tin
có 10 phần, nghi cũng có 10 phần ; nghi 10 phần, ngộ cũng 10
phần. Hãy đem những cái đã nghe, đã thấy, biết quấy, hiểu
lầm, câu hay, lời diệu, thiền đạo, Phật pháp, tâm cống
cao ngã mạn … trong lúc bình sanh trút đổ triệt để. Chỉ
để lại công án còn chưa minh liễu, an định tại gót chân,
ngồi thẳng xương sống, không phân biệt ngày đêm, liền
được quên lửng đông, tây, nam, bắc, tợ hồ như người
chết. Tâm tùy cảnh hóa, tự nhiên bên trong quên suy nghĩ,
bặt tâm thức, chợt phá vỡ đầu lâu, xưa nay không phải
do ai mà được. Bấy giờ đâu không thỏa chí bình sanh sao
!
9.
Đại Huệ Cảo Thiền sư đáp lời hỏi
Thời
nay có những kẻ tự mắt chưa sáng, chỉ biết dạy người
tu tâm như ngây, như chết là hết việc. Hoặc dạy người
tùy duyên quán xét, mang vọng tình lặng lẽ chiếu soi. Hoặc
dạy người việc ấy chớ soi xét. Các bệnh như thế, dụng
công phu rất uổng không bao giờ liễu ngộ. Chỉ cần an tâm
một chỗ, không việc gì chẳng được, một khi thời tiết
nhơn duyên đến, tự nhiên xúc chạm liền thấy khắp nơi
đều bừng sáng.
Đem
tâm thức duyên việc thế gian trần tục của mình, xoay lại
để trên lầu Bát nhã, dù đời này chưa triệt ngộ, nhưng
khi chết nhất định không bị ác nghiệp kéo lôi. Kiếp sau,
vừa ra đời là được ở trong nhà Bát nhã, thấy nghe liền
được thọ dụng. Việc này quyết định như vậy không thể
nghi ngờ.
Chỉ
phải tự luôn luôn đề khởi thoại đầu, khi vọng niệm
dấy khởi không cần dụng tâm đàn áp, nên khán câu thoại
đầu. Đi cũng đề khởi, ngồi cũng đề khởi, đề khởi
qua, đề khởi lại, không cần xét ý nghĩa, nơi nào cũng là
chỗ tốt, không nên phóng xả. Bỗng nhiên tâm hoa khai phát
chiếu soi khắp mười phương cõi nước, hay ở trong đầu
mảy lông hiện các cõi Phật, ngồi trong hạt bụi chuyển
đại pháp luân.
10.
Mông Sơn Dị Thiền sư dạy chúng
Tôi
năm 20 tuổi mới hiểu đạo, đến năm 32 tuổi đi thưa hỏi
17, 18 vị Trưởng lão, thế nào thực hành công phu, đều không
ai chỉ ra manh mối. Sau đến tham học với Hoàng Sơn Trưởng
lão, dạy khán chữ KHÔNG. Suốt cả ngày đêm chăm chăm khán
nó như mèo rình chuột, như gà ấp trứng, không cho gián đoạn.
Khi chưa thấu triệt phải như chuột khoét rương chưa phủng
thì không dời chỗ khác. Thực hành công phu như vậy nhất
định có ngày phát minh. Tôi y lời dạy, ngày đêm chăm chăm
thể cứu trải 18 hôm, sau khi uống trà, chợt ngộ "Đức Thế
Tôn đưa cành hoa, Ngài Ca Diếp mỉm cười", vui mừng vô hạn.
Đi cầu 4, 5 vị Trưởng lão quyết nghi, các ngài đều không
dạy một lời. Hoặc bảo dùng Hải ấn tam muội (1), nhất
ấn mà ấn định, ngoài ra chớ để lòng. Tôi tin lời nầy
hơn hai năm. Nhằm năm Cảnh Định thứ 5 tháng sáu, tại Tứ
Xuyên phủ Trùng Khánh, tôi bị bệnh kiết nặng, ngày đêm
đi cả trăm lần, nguy kịch sắp chết. Tất cả công phu đều
không đắc lực, đến Hải ấn Tam muội cũng không dùng được.
Những điều hiểu ngộ ngày trước dùng cũng không được,
có miệng không thể nói ra lời, có thân không thể cử động,
chỉ chờ chết mà thôi. Tôi cố sức gắng gượng làm chủ,
phân phó mọi việc xong xuôi, bước lên bồ đoàn, sửa soạn
một lò trầm, chậm rãi ngồi định. Thầm khấn: "Tam bảo
Long Thiên chứng giám, con xin sám hối các nghiệp ác về trước.
Nếu đại hạn con đã đến, nguyện nương sức Bát nhã chánh
niệm thác sanh, sớm được xuất gia. Nếu bệnh được lành,
con xin xả tục làm Tăng, mau được giác ngộ, rộng độ những
kẻ sau". Khởi nguyện nầy rồi, tôi đề khởi chữ KHÔNG
hồi quang tự khán, không bao lâu nghe trong tạng phủ động
ba bốn lần, không quan tâm đến nó, chập lâu mí mắt không
động. Lại lâu lâu không thấy có thân, chỉ có thoại đầu
thầm thầm liên
(1)
Hải ấn Tam muội : Chánh định trong lặng tâm suốt thấu
vạn vật, như biển nước yên lặng vạn tượng đều in hình
không sót. tục.
Đến
chiều mới xuất định, bệnh bớt được phân nửa. Lại
tọa thiền đến cuối canh ba, các bệnh đều dứt, thân tâm
nhẹ nhàng. Đến tháng 8, tôi sang Giang Lăng xuất gia.
Qua
một năm, tôi rời đây đi hành khước, giữa đường dừng
lại thổi cơm, hiểu được công phu một mạch liên tục không
gián đoạn. Đến Huỳnh Long, vào tạm trú. Một hôm, đang
tọa thiền ma ngủ đến, liền tại tòa chấn chỉnh tinh thần,
ma ngủ nhẹ nhẹ rút lui. Lần thứ hai, ma ngủ lại đến,
cũng làm như lần trước chúng thối lui. Lần thứ ba, ma ngủ
rất trầm trọng, bèn bước xuống tòa đi lễ Phật, chúng
liền tiêu tán. Lại lên Bồ đoàn ngồi, y như nghi thức đã
định trước, tinh tấn mãnh liệt đuổi bọn ma ngủ đi mất.
Ban đầu khi ngủ dùng gối ngắn kê đầu, sau dùng cánh tay
gối đầu, sau nữa giữ không cho thân xoay trở. Qua hai ba đêm,
ngày đêm đều nhọc nhằn mỏi mệt, dưới chân bức bách
khó chịu, bỗng nhiên trước mắt như mây mù tan, tự thân
như tắm mới ra nhẹ nhàng mát mẻ. Trong tâm nghi tình càng
mạnh, không cần dụng công mà thầm thầm hiện tiền. Tất
cả thinh sắc, ngũ dục, bát phong đều không thể xâm nhập,
trong sạch tợ như tách pha lê đựng tuyết, như bầu trời
trong tạnh buổi sáng mùa thu. Tự suy nghĩ công phu tuy khả
quan, nhưng không thể quyết trạch. Tôi liền từ giã đi Chiết
Giang.
Dọc
đường quá nhọc nhằn nên công phu thối thất. Đến Thừa
Thiên, chỗ Cô Thiềm Hòa thượng tạm dừng. Tự thệ : "Nếu
không được hội ngộ, quyết không đi đâu". Hơn một tháng
công phu phục hồi như cũ. Bấy giờ khắp mình sanh ghẻ lở,
tuy thế không để ý đến, quyết tâm liều chết sấn sướt
công phu, tự nhiên được đắc lực. Thế là, thực hành được
công phu trong lúc bệnh. Một hôm nhơn đi thọ trai, vừa ra
khỏi cửa đề khởi thoại đầu, đi mà không hay mình đi
cho đến nhà trai chủ. Lại thực hành được công phu trong
lúc động. Công phu đến chỗ này như trăng hoa dưới đáy
nước, tuy sóng gió ầm ầm ở trên mà vẫn không tan, không
mất, hoạt bát linh động.
Ngày
mùng 6 tháng 3, tôi trong khi tọa thiền đề khởi chữ KHÔNG,
bỗng ngài Thủ tọa vào thiền đường thắp hương, đụng
hộp nhang khua lên tiếng, hốt nhiên như dưới đất động
một tiếng, chợt ngộ được chính mình, thấu đạt được
ý ngài Triệu Châu. Liền đắc ý một bài tụng :
Chớ
bảo cuối đường cùng,
Dẫm
ngược sóng là nước.
Lão
Triệu Châu siêu quần,
Diện
mục chỉ như thế. (1)
Khoảng
mùa thu đến yết kiến các vị Đại lão : An Kiến, Tuyết
Nham, Thối Tỉnh, Thạch Khanh, Hư Chu. Hư Chu khuyên trở về
Hoàng Sơn. Tôi y lời trở về Hoàng Sơn.
Vừa
vào chùa gặp Hoàng Sơn Trưởng lão hỏi : "Quang minh tịch
chiếu biến hà sa, đâu không phải lời của Tú Tài Trương
Chuyết ?". Tôi vừa mở miệng, Ngài nạt một tiếng, rồi
đi. Từ đây, đi, ngồi, ăn uống đều không còn ý tứ, trải
qua sáu tháng. Đến năm sau vào mùa xuân, nhơn ra ngoài thành
trở về, lên bực thang đá, bỗng nhiên nghi ngại trong lòng
đều tiêu tan, không còn biết có thân đi trên đường. Tôi
vào yết kiến Hoàng Sơn. Ngài hỏi lại câu trước. Tôi bèn
lật ngược thiền sàng. Về trước những phương pháp thực
hành, bao nhiêu công án, giờ này mỗi mỗi đều minh liễu.
Chư
nhơn giả ! Tham thiền rất là tinh mật, tôi nếu không bị
bệnh nặng ở Trùng Khánh có thể một đời đã trôi xuôi.
Cần thiết gặp bậc thầy thấy biết chơn chánh. Cho nên,
cổ nhơn sáng tham học, chiều thưa (1) Nguyên văn : Một hưng
lộ đầu cùng
Đạp
phiên ba thị thủy
Triệu
Châu lão siêu quần
Diện
mục chỉ như thị
hỏi
để quyết trạch thân tâm, chăm chăm khẩn thiết tham cứu
cho thấu đáo việc này.
11.
Tố Am Điền Đại sĩ dạy Chúng
Gần
đây những người dốc chí tham thiền rất ít, vừa tham câu
thoại đầu liền bị ma hôn trầm, tán loạn lôi cuốn. Không
biết hôn trầm, tán loạn với nghi tình chống đối nhau. Tín
tâm nặng thì nghi tình nhiều, nghi tình nhiều thì hôn trầm,
tán loạn tự mất.
12.
Vô Lượng - Thương Thiền sư dạy
Suốt
cả ngày đêm đều ôm câu thoại đầu mà đi, mà đứng, mà
ngồi, mà nằm, tâm dường như dẫm lên gai nhọn, không bị
tất cả vô minh, ngũ dục tam độc …, nuốt sống. Đi đứng
ngồi nằm toàn thân là nghi tình, nghi qua, nghi lại, trọn ngày
như ngây ngốc, thấy sắc, nghe tiếng, chỉ giữ một tiếng
động ấy thôi.
13.
Cương Nhu Thiền sư đáp thơ người
Thực
tập công phu cần phải khởi đại nghi tình. Ông tập công
phu chưa đầy một tháng đã kết thành khối. Nếu chơn nghi
hiện tiền thì dù khuấy cũng không động. Cần phải dõng
mãnh tiến tới, trọn ngày như kẻ ngây khờ, khi thời tiết
đến, không còn sợ con qui trong vò chạy mất.
14.
Tuyết Nham Khâm Thiền sư dạy
Thời
giờ không đợi người, một chớp mắt đã qua đời khác,
lúc thân thể còn tráng kiện sao không dốc chí học hỏi cho
thấu nguồn tột đáy. Chúng ta có cái diễm phúc gì mà ngày
nay được ở trong Tăng đường ấm cúng, tại pháp hội của
Tổ sư, trên ngọn danh sơn Đại trạch Thần long thế giới
này. Ăn thì cơm cháo ngon lành, uống thì nước nôi ấm áp.
Nếu không dốc chí học hỏi giáo lý cho tận cùng, triệt
để, là các ông tự thả trôi đời mình cam chịu trôi lăn,
thật là kẻ hạ liệt ngu si! Nếu thật là mờ mịt không
biết, sao không thưa hỏi các bậc tiên tri ? Phàm những khi
có người hỏi đạo, các bậc Trưởng lão chỉ dạy, hoặc
nói ngang nói dọc sao không ghi nhớ xét nghĩ rốt ráo thử
cái đó là cái gì ?
Sơn
tăng (Ngài tự xưng) xuất gia lúc năm tuổi, làm thị giả
thượng nhơn, mỗi khi Ngài cùng khách luận đạo đều lặng
tâm lóng nghe, liền biết có việc này, lòng tin chắc chắn
khởi sự học tọa thiền. Năm 16 tuổi làm Tăng, 18 tuổi đi
hành khước. Đến chỗ Hòa Thượng Song Lâm Viễn, thực tập
công phu từ sáng đến chiều không ra khỏi ngõ, dù vào liêu
của chúng cũng chỉ đi đến giá phía sau. Vòng tay trước
ngực, không ngó hai bên, chỉ nhìn trước không hơn ba thước.
Ban đầu khán chữ KHÔNG, chợt niệm đầu phát khởi, liền
phản quán trở lại, bỗng được một niệm như băng lạnh,
tâm lóng lặng trong trẻo không diêu động, hơn một ngày và
khoảng một khắc (15 phút) không nghe tiếng chuông trống.
Năm
tôi 19 tuổi dừng tại Linh Ẩn, được thơ Xử Châu gởi đến.
Trong thơ nói : "Nghe ông thực tập công phu như nước lạnh,
việc ấy không hay, hai tướng động và tịnh phải đoạn
dứt. Phàm tham thiền phải khởi nghi tình, nghi ít ngộ ít,
nghi nhiều ngộ nhiều…". Được Xử Châu chỉ bảo, tôi liền
đổi thoại đầu khán "càn niệu quyết" (1). Một bề đông
nghi tây nghi, khán ngang khán dọc, lại bị hôn trầm, tán loạn
giao công, không được một khắc yên tịnh. Tôi bèn dời sang
Tịnh Từ. Được bảy huynh đệ kết bạn tọa thiền, giao
ước không đấp mền và không kề lưng xuống chiếu. Ngoài
ra, có Tu Thượng tọa mỗi ngày ngồi trên bồ đoàn in tuồng
"thiết quyết tử" (2) khi bước xuống đi mở đôi mắt, xuôi
hai tay cũng tợ "thiết quyết tử". Muốn gần gũi Ngài để
hỏi thoại đầu, mà không được. Nhơn hai năm thân không
nằm, bị hôn trầm hành rất khổ sở. Bèn một buông, tất
cả đều buông. Sau hai tháng, mới chỉnh đốn được sự
tu tập trước, lần lần tinh thần hồi
(1)
Càn niệu quyết : có người hỏi Tổ Vân Môn : "Thế nào là
Phật ?" Tổ đáp: "Càn niệu quyết" (đồ hốt phẩn)
(2)
Thiết quyết tử : Dáng sừng sừng chăm chăm đáu đáu in tuồng
cây giá áo sắt.
phục.
Lâu nay cốt mong đạt được bản hoài, nên không nằm quên
ngủ ; nhưng không ngủ không được, đến giữa đêm buồn
ngủ muồi phải ngủ một giấc, thức dậy mới có tinh thần.
Một
hôm, bên hành lang gặp Tu Thượng-tọa, mới một lần được
gặp Ngài. Tôi liền hỏi : "Năm rồi, muốn nhờ thầy dạy
câu thoại đầu, tại sao thầy cứ tránh tôi ?". Thượng tọa
bảo : "Người chơn chánh biện đạo không có rảnh mà cắt
móng tay, huống là dạy thoại đầu". Tôi hỏi : "Hiện giờ
tôi bị hôn trầm, tán loạn đuổi không đi, phải làm sao
?". Thượng tọa dạy : "Tại ông không mãnh liệt, phải lên
Bồ đoàn ngồi thẳng xương sống, gom toàn lực vào câu thoại
đầu, không màng đến hôn trầm, tán loạn". Tôi y lời dạy
của Thượng tọa thực hành công phu, bỗng nhiên quên cả
thân tâm, trong trẻo sáng suốt cả ba ngày đêm, hai con mắt
không nhắm. Ngày thứ ba, sau buổi ngọ trai, tôi kinh hành ngoài
tam môn, chợt gặp Thượng tọa. Thượng tọa hỏi : "Ông thực
hành công phu thế nào ?". Tôi thưa : "Được đạo". Thượng
tọa hỏi : "Ông nói thế nào được đạo ?". Tôi lặng thinh
không thể trả lời, lại tăng thêm mê muội. Toan quay vào
thiền đường tọa thiền, chợt gặp Thủ tọa. Thủ tọa
bảo : "Ông chỉ mở sáng đôi mắt, xem thử cái ấy là cái
gì ?". Tôi lại bị đề thêm một câu thoại đầu, vội vã
vào Thiền đường tọa Thiền. Vừa lên ngồi Bồ đoàn, bỗng
nhiên trước mặt mở sáng như tuồng đất lỡ. Trạng thái
này không thể trình bày cho người hiểu được, không thể
lấy các tướng thế gian thí dụ được. Tôi bèn bước xuống
đơn tìm Thượng tọa. Thượng tọa thấy, liền bảo : "Tốt
lắm ! tốt lắm". Rồi nắm tay tôi dẫn đi một vòng trên
bờ liễu trước cửa chùa. Ngước nhìn trời đất xum la vạn
tượng, những vật mắt thấy tai nghe xưa nay là đáng chán,
đáng bỏ, cho đến vô minh, phiền não từ trước đến giờ
đều là Diệu minh của mình, lưu xuất từ chơn tánh. Hơn
nửa tháng không khởi xao động. Rất tiếc ! không gặp bậc
Tôn túc sáng suốt hướng dẫn nên không tiến lên được,
phải dừng trụ nơi đây. Không thể vượt được chỗ thấy
biết, làm ngăn ngại chánh tri kiến, mỗi khi ngủ cảnh khác
lúc thức. Chỉ thú của công án thì lý hội, còn "núi bạc
vách sắt" (1) thì không hiểu. Tuy gần gũi những vị Tiên
sư chưa đạt đạo, cũng nhiều năm nhập thất, thăng tòa,
mà không có một lời nào giải quyết được sự nghi ngại
trong tâm. Trong kinh giáo và những lời Ngữ lục cũng không
cứu được bệnh này. Ôm ấp cái nghi này trong lòng ngót 10
năm.
Một
hôm, ở Thiên mục, tôi kinh hành trên điện Phật, mắt chợt
thấy một gốc Bá cổ, vừa thất liền phát (1) Núi bạc vách
sắt : Linh tánh cao vút khó với tới, thí dụ như núi bạc
vách sắt khó vịn được.
tỉnh,
cảnh giới được lâu nay là vật ngăn ngại, chợt nhiên tiêu
tán, như trong nhà tối hiện mặt trời. Từ đây không còn
nghi sanh, nghi tử, nghi Phật, nghi Tổ mới được thấy chỗ
đứng của Kính Sơn Lão Nhơn, vui vẻ an trụ nơi đây 30 năm.
15.
Cao Phong Diệu Thiền Sư dạy Chúng
Việc
này chỉ cần người có tâm tha thiết, vừa phát tâm tha thiết
chơn nghi liền khởi. Nghi qua, nghi lại, không nghi tự nghi,
từ sáng đến chiều vuốt đầu rút đuôi làm thành một khối.
Khuấy không động, đuổi không đi, sáng suốt linh diệu, thường
hiện ở trước, đây là khi đắc lực. Lại phải sát định
chánh niệm, cẩn thận không khởi nhị tâm, đến đi mà không
biết mình đi, ngồi không biết mình ngồi, lạnh, nóng, đói,
khát, tất cả đều không biết, cảnh giới này hiện tiền
tức là tin tức sắp đến nhà. Nắm thì tới, bắt thì được,
chỉ còn đợi thời khắc mà thôi. Lại không nên nghe nói
như thế, rồi khởi tâm tinh tấn cầu nó, cũng không được
đem tâm đợi nó, không được buông, không được bỏ, chỉ
cần ngưng đọng chánh niệm, lấy ngộ làm qui tắc. Chính
khi ấy, có tám muôn bốn ngàn quân ma rình rập trước căn
môn (1) của ông, tất cả việc kỳ quái, thiện ác … tùy
tâm ông mà hiện. Ông vừa khởi một mảy may tâm nhiễm trước,
liền rơi vào rọ của ma, bị chúng làm chủ, chịu chúng chỉ
huy, miệng nói lời ma, thân làm việc ma, chánh nhơn Bát nhã
từ đây hằng mất, hạt giống Bồ đề không thể nẩy mầm.
Chỉ dừng khởi tâm như quỷ giữ thây ma, giữ qua giữ lại,
khối nghi bỗng nhiên nổ một tiếng kinh thiên động địa.
Tôi
15 tuổi xuất gia, 20 tuổi được đắp y, đến Tịnh Từ lập
nguyện bốn năm liều chết học thiền. Ban đầu học với
Đoạn Kiều Hòa thượng, dạy tham cứu "sanh từ đâu đến,
chết trở về đâu ?" Ý phân hai đường, tâm không qui nhất.
Sau yết kiến Tuyết Nham Hòa thượng, dạy khán chữ KHÔNG.
Lại dạy mỗi ngày đến trình một lần, như người đi đường
mỗi ngày cần thấy công trình, nhơn thấy nói mới có thứ
tự. Rốt sau, đến Ngài không hỏi chỗ công phu. Một hôm
vào cửa, Ngài hỏi : "Ai cùng ông kéo tử thi đến ?" (1) Tiếng
chưa dứt, Ngài liền đi ra. Sau đến Kinh Sơn, vừa vào thiền
đường, tôi như trong mộng chợt nhớ câu "Muôn pháp về một,
một về chỗ nào ?". Từ đây nghi tình phát hiện, không còn
phân biệt đông, tây, nam, bắc. Ngày thứ sáu ở đây, theo
chúng lên gác tụng kinh, vừa ngước đầu nhìn lên chợt thấy
bài Chơn tán của Ngũ tổ Diễn Hòa thượng, hai câu sau :
"Trăm
năm ba vạn sáu ngàn ngày,
Gắng
công suy xét nguyên lai là gì" (1)
(1)
Căn môn : Ngoài cửa sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý).
Nguyên
văn : Thùy dữ nê dà giá tử-thi lai ?
Câu
"kéo tử thi…" ngày trước, bỗng nhiên thấu triệt, liền
hồn phi đảm tán, chập sau tỉnh lại, khác nào người buông
gánh nặng 120 cân. Khi đó, tôi được 24 tuổi. Mãn nguyện
ba năm, sau bị Hòa thượng hỏi : "Những ngày này tu tập đã
làm chủ được chưa ?". Tôi thưa : "Đã làm chủ". Lại hỏi
: "Trong khi ngủ nằm mộng có làm chủ được không ?". Thưa
: "Làm chủ được". Lại hỏi : "Khi ngủ mê không mộng chủ
ở chỗ nào ?". Câu hỏi này không có lời để đáp, không
có lý lẽ trình bày, Hòa thượng dạy : "Từ nay ông không
cần học Phật pháp cùng cổ tột kim, chỉ cần đói thì ăn,
mệt thì ngủ, ngủ vừa thức dậy chấn chỉnh tinh thần,
tự hỏi cái ta thức này chủ nhân rốt ráo tại chỗ nào
? An thần lập mạng, tự thể chuyển một đời ngu si, quyết
định phải thấy rõ ràng cái ấy".
Trải
qua năm năm, một hôm đang ngủ chợt thức giấc, vẫn ôm lòng
hoài nghi việc này, bỗng một đạo hữu cùng ngủ đẩy rớt
cái gối xuống đất, động một tiếng, ngẫu nhiên tan vỡ
khối nghi, như chim thoát khỏi lưới. Bao nhiêu công án của
Phật tổ, những nhơn duyên sai biệt nay đều thấu đạt.
Từ đây, nhà yên
(2)
Nguyên văn : Bách niên tam vạn lục thiên triêu. Phản phú nguyên
lai thị giá hán nước thạnh, thiên hạ thái bình, nhất niệm
vô vi mười phương đều dứt.
16.
Thiết Sơn Ái Thiền sư dạy
Sơn
tăng 13 tuổi biết được Phật pháp, 18 tuổi xuất gia, 20
tuổi làm Tăng. Trước đến Thạch Sương, được Am chủ dạy
luôn luôn quán chót mũi trắng, tâm được thanh tịnh. Sau có
vị Tăng từ Tuyết Nham đến, trình bày phương pháp tọa thiền
do Ngài Tuyết Nham dạy. Xét lại công phu của tôi chưa từng
được qua lối ấy. Nhơn đó, tôi đến Tuyết Nham. Ngài dạy
thực hành công phu chỉ đề một chữ KHÔNG. Tôi y đó tu tập,
đến đêm thứ tư toàn thân mồ hôi ra ướt dầm, được
mười phần trong sáng. Kế vào Tăng đường, tôi không nói
chuyện với ai, chỉ chuyên tâm vào sự tọa thiền.
Sau
đến yết kiến Diệu Cao Phong. Ngài dạy : "Suốt cả ngày
đêm thoại đầu chớ cho gián đoạn. Canh tư thức dậy theo
đuổi thoại đầu sẽ được hiện trước mắt. Vừa biết
ma ngủ đến, liền đứng dậy đi kinh hành vẫn giữ thoại
đầu, khi đi mỗi bước không rời thoại đầu. Dọn đơn,
rửa bát, cất muỗng, dẹp đũa, theo chúng làm việc… đều
không rời thoại đầu. Ban ngày, ban đêm đều cũng như vậy,
nhào nặn thành một khối, chắc chắn sẽ được phát minh".
Theo lời dạy của Ngài Cao Phong, tôi thực hành công phu quả
nhiên kết thành một khối.
Ngày
20 tháng 3, Ngài Tuyết Nham lên Thiền đường bảo: "Chư huynh
đệ ! Nếu ngồi lâu trên bồ đoàn bị ngủ gật, nên bước
xuống đất, đi một vòng, lấy nước lạnh súc miệng, rửa
hai con mắt, lại lên bồ đoàn ngồi thẳng xương sống như
vách đứng ngàn trượng, đề khởi câu thoại đầu. Dụng
công như thế quyết định 7 ngày được ngộ. Lối đó là
40 năm về trước, Sơn tăng đã áp dụng công phu".
Tôi
y lời dạy này thực hành, liền biết có công phu dị thường.
Ngày thứ hai, cặp mắt muốn nhắm mà không thể nhắm. Ngày
thứ ba, thân này như đi giữa hư không. Ngày thứ tư, không
còn biết tới việc thế gian. Đêm ấy, đứng dựa lan can
một chút, lặng nhiên không biết, kiểm điểm lại thoại
đầu vẫn không mất. Trở vào lên bồ đoàn ngồi chợt nghe
từ đầu đến chân tợ như đầu lâu chẻ vỡ, in tuồng dưới
đáy giếng sâu muôn trượng được đưa lên hư không. Khi
ấy, vui mừng vô hạn. Tôi đem việc này thuật lại Ngài Tuyết
Nham. Ngài bảo : "Chưa phải". Lại trở về thực hành công
phu, mong được pháp ngữ. Chuyến sau, Ngài bảo :
"Nối
dòng Phật, Tổ việc hướng thượng,
Sau
ót trước đây thiếu một chùy".
Nguyên
văn : Thiệu long Phật, Tổ hướng thượng sự,
Não
hậu y tiền khiếm nhất chùy.
Trong
tâm tự hỏi, tại sao lại "thiếu một chùy ?". Không tin việc
này, liền khởi nghi, không thể tự giải quyết được. Mỗi
ngày chồng chập tọa thiền sắp được nửa năm. Một hôm,
nhơn nhức đầu chưng thuốc, gặp Giác Xích Tỷ, tri khách,
hỏi : "Thái tử Na Tra lóc thịt trả cho mẹ, cắt xương trả
cho cha là sao ?". Nghe hiểu mà không thể đáp, bỗng nhiên phá
vỡ khối nghi.
Sau
đến tham học với ngài Mông Sơn. Sơn hỏi : "Tham thiền công
phu đến chỗ nào là cùng tột ?". Liền im lặng không biết
mối manh. Sơn dạy : "Lại phải thực hành định lực công
phu, gột sạch tập tục thế gian". Mỗi khi vào thất chỉ
nhớ "thiếu một chùy". Một hôm, từ ban mai tọa thiền đến
suốt đêm, dùng định lực dồn ép, liền được thấy u vi.
Khi xuất định gặp Sơn, bèn thuật lại cảnh này. Sơn bảo:
"Cái ấy là bản lai diện mục của ông". Vừa muốn nói, Sơn
liền đóng cửa. Từ đây, công phu mỗi ngày càng đến chỗ
mầu nhiệm. Bởi vì rời ngài Tuyết Nham sớm quá, nên thực
hành công phu chưa từng đến chỗ tế mật. Rất may ! Lại
được gặp bậc Thầy khuôn mẫu, mới đạt đến chỗ này.
Lâu nay nhờ thực hành công phu khẩn thiết cùng cực, nên
hiện tại giờ giờ ngộ nhập, bước bước sạch trong. Một
hôm, nhìn trên vách thấy bài Minh Tín Tâm của Tam tổ rằng
: "Về nguồn được ý chỉ,
Tùy
chiếu mất chơn tông" (1)
Lại
gọt thêm một lớp nữa. Ngài Mông Sơn bảo : "Việc này in
như mài giũa hạt châu, càng giũa thì càng sáng, càng sáng
thì càng trong sạch. Giũa một lần, hơn nhiều đời khác thực
hành công phu". Nhưng, tuy nói vậy, chữ "thiếu" vẫn còn ở
trong tâm. Một hôm trong định, chợt chạm đến chữ "thiếu",
bỗng nhiên thân tâm rỗng rang, triệt xương thấu tủy, như
tuyết đọng hốt nhiên chảy tan, siêu việt không còn ngăn
ngại. Liền bước xuống đất tìm Mông Sơn thưa : "Tôi thiếu
cái gì ?" Sơn đánh ba cái, tôi lễ ba lễ. Sơn bảo : "Thiết
Sơn chỉ một cái đó mà mấy năm rồi, đến nay mới liễu
ngộ".
Chư
huynh đệ ! Nếu tạm thời câu thoại đầu không còn, có khác
gì người chết. Tất cả cảnh giới đến bức bách thân,
chỉ lấy câu thoại đầu chống lại. Luôn luôn kiểm điểm
thoại đầu, xét trong động, trong tịnh và đắc lực hay không
đắc lực. Trong định cũng không nên quên thoại đầu, quên
thoại đầu thì thành tà định. Không được khởi tâm mong
chờ được ngộ. Không nên tìm hiểu trên văn tự. Đừng
thấy xúc chạm chút ít cho là đã liễu ngộ. Chỉ nên như
si như ngốc, Phật pháp, thế pháp nhồi thành một khối. Thi
vi động tác chỉ là tầm thường, chỉ cần thay đổi đường
lối của ngày xưa. Cổ nhơn nói :
Đại
đạo xưa nay chẳng dụng lời,
Nghĩ
bàn huyền diệu cách vực trời,
Chi
bằng quên cả năng và sở,
Mới
khá đói ăn, mệt nghỉ ngơi (1).
(1)
Nguyên văn : Qui căn đắc chỉ, Tùy chiếu thất Tông.
17.
Đoạn Nhai Nghĩa Thiền sư dạy Chúng
Nếu
muốn siêu phàm nhập thánh thoát khỏi trần lao, phải nên
lột da, chẻ xương, dứt hẳn tái sanh, như trong tro lạnh phát
lửa, cây khô nảy chồi, đâu phải là việc dễ dàng. Tôi
trước kia hầu hạ Tiên sư đã nhiều năm, mỗi khi bị đánh
phạt, tâm không khởi một niệm xa lìa. Cho đến ngày nay khi
gặp những việc đau khổ, bất giác nhớ đến Thầy mà rơi
nước mắt! Đâu phải như các ông hiện giờ, gặp một việc
khổ nhỏ là bỏ Thầy ra đi không thèm ngó trở lại !
18.
Trung Phong Bổn Thiền sư dạy chúng
Tiên
sư Cao Phong Hòa thượng dạy người, chỉ dạy tham câu thoại
đầu, ôm ấp trong lòng, đi tham (1)
(1)Thủy
khả cơ xan khốn tắc miên.
Nguyên
văn : Đại đạo tùng lai bất thuộc ngôn
Nghĩ
đàm huyền diệu cách thiên uyên
Trực
tu năng sở câu vong khước
như
thế, ngồi cũng tham như thế. Khi tham đến chỗ dụng lực
không tới, lưu ý không được, chợt nhiên thấu đạt, mới
biết thành Phật đã tự bao giờ. Một việc ấy, là do Phật,
Tổ đã kinh nghiệm được cái tam muội liễu sanh thoát tử
vậy. Chỉ quí ở chỗ tin quả quyết và trải thời gian lâu
xa không thối chuyển, quyết định sẽ được tương ưng.
Khán
thoại đầu thực hành công phu là chỗ đứng rất ổn đáng,
gần gũi bờ giác ngộ. Dù đời nầy không ngộ, tín tâm vẫn
không lui sụt, ắt đời sau hoặc đời sau nữa sẽ được
khai ngộ.
Hoặc
hai ba mươi năm mà chưa khai ngộ, không cần tìm phương tiện
nào lạ, chỉ giữ tâm không duyên cảnh khác, ý dứt các vọng,
chăm chăm không bỏ, một bề chú ý vào câu thoại đầu đang
tham, đứng thẳng tại cuối đầu, giữ vững sống cùng sống,
chết cùng chết. Đâu quản ba đời, năm đời, mười đời,
một trăm đời, nếu chưa triệt ngộ, quyết định không thôi.
Có cái chánh nhơn như thế rồi, lo gì đại sự không có ngày
minh liễu.
Trong
lúc bệnh thật hành công phu, không cần ông tinh tấn dõng
mãnh, cũng không cần mày chau, mắt trợn, chỉ cần tâm ông
như cây như đá, tợ hồ như đống tro tàn. Đem thân tứ đại
huyễn hóa này gởi tận thế giới bên kia. Dù nó bệnh cũng
được, chết cũng được, có người săn sóc cũng được,
không ai săn sóc cũng được, thơm sạch cũng được, lầy
thúi cũng được, có thầy trị lành bệnh sống đến 120 tuổi
cũng được, nếu như chết liền bị nghiệp trước lôi vào
vạc dầu sôi, lò lửa đỏ cũng được. Trong những cảnh
giới như thế, đều không làm lay động được tâm, chỉ
thiết tha đem câu thoại đầu (không cần xét ý nghĩa) để
bên lò thuốc, gối trên đầu nằm, thầm thầm tham chiếu,
không nên lơi lỏng.
19.
Thiên Như Tắc Thiền sư dạy
Sanh
không biết từ đâu đến, gọi là sanh đại. Tử không biết
về đâu, gọi là tử đại. Khi tử thần đến chỉ còn biết
co tay giựt chơn. Huống nữa, đường trước mịt mờ theo
nghiệp thọ báo, thực là cái việc rất khẩn cấp vậy. Cái
đó là cảnh quả báo của sanh tử. Nếu luận về gốc nghiệp
sanh tử, tức là ngày nay phóng tâm chạy theo thinh, sắc khiến
phải thất điên bát đảo, chính là gốc ở nó. Do đó, Phật,
Tổ vận đại từ bi hoặc dạy ông tham thoại đầu, hoặc
dạy niệm Phật, khiến ông quét sạch vọng niệm, nhận ra
mặt thật xưa nay (bản lai diện mục), làm cái việc khoáng
đạt đại giải thoát.
Nhưng,
người nay tu không linh nghiệm bởi ba thứ bệnh :
1-
Không gặp Thiện tri thức chỉ dạy.
2-
Không thống thiết ghi nhớ việc lớn sanh tử, lửng lơ thong
thả không ngờ mình ở trong vô sự.
3-
Đối với danh hư, lợi ảo ở thế gian quán không tan, buông
không rời, lên ngồi trên bồ đoàn mà vọng duyên ác tập
đoạn không được, bỏ không khỏi. Chỗ phong ba dấy động,
bất giác thân này lăn vào trong biển nghiệp, trôi dạt đông
tây.
Người
chơn chánh học đạo đâu có cam chịu như vậy. Phải tin quyết
lời Tổ sư dạy : "Tạp niệm lăng xăng làm sao hạ thủ công
phu ? Chỉ một câu thoại đầu như cầm cây chổi sắt quét
dọn, càng quét nó càng nhiều, càng nhiều lại càng quét,
quét xuôi không được thì quét ngược, hốt nhiên quét tận
thái hư không, muôn sai ngàn biệt một đường suốt thấu".
Chư thiện đức ! nỗ lực đời này cho liễu ngộ, đừng
để vĩnh kiếp thọ tai ương.
Có
người tự nghi niệm Phật cùng tham thiền không đồng ? Đâu
biết rằng, tham thiền chỉ mong biết được tâm, thấy được
tánh; niệm Phật ngộ tự tánh Di Đà duy tâm Tịnh độ, làm
gì có hai lý. Kinh nói : "Nhớ Phật, niệm Phật hiện tiền
và đời sau quyết định thấy Phật". Đã nói hiện tiền
thấy Phật thì cùng với tham thiền ngộ đạo, đâu có cái
gì là khác ?
Chỉ
đem bốn chữ A Di Đà Phật làm câu thoại đầu, suốt 12 thời
(24 giờ) luôn luôn đề khởi, đến chỗ một niệm không sanh,
không mắc trong giai cấp vượt thẳng đến cõi Phật.
20.
Trí Triệt Thiền sư bàn Tịnh độ huyền môn
Niệm
Phật một, hoặc ba, năm, bảy tiếng, thầm tự hỏi : tiếng
niệm Phật này từ đâu khởi ? Hoặc hỏi : Niệm Phật là
ai ? Có nghi chỉ giữ lấy cái nghi đó. Nếu chỗ hỏi không
thiết tha thì nghi tình không tha thiết. Hỏi trở lại cái
câu cứu kính "niệm Phật là ai ?". Hỏi ít thì nghi ít. Chỉ
lấy câu "niệm Phật là ai ?" xét mãi hỏi hoài.
21.
Vô Văn Thông Thiền sư dạy
Sơn
tăng ban đầu yết kiến Độc Ông Hòa thượng, dạy tham "không
phải tâm, không phải vật, không phải Phật". Sau, cùng với
Vân Phong, Nguyệt Sơn v.v… sáu người lập nguyện tương trợ
nhau đến cứu kính. Thứ, yết kiến Hoài Tây, dạy về công
năng chữ KHÔNG, bảo đề một chữ KHÔNG. Kế đi đến Trường
Lô, kết bạn miệt mài điêu luyện. Sau, gặp sư huynh Hoài
thượng Kỉnh. Kỉnh hỏi : "Ông sáu bảy năm rồi có thấy
được cái gì ?". Tôi đáp : "Mỗi ngày chỉ tâm ấy không
trước một vật". Kỉnh hỏi : "Một cái ấy bị ràng buộc
ở đâu ra đó ?". Tôi trong tâm in tuồng biết mà không biết,
không dám mở miệng. Kỉnh thấy tôi chỗ thực hành chưa phát
tỉnh, bèn bảo : "Ông trong định công phu không mất, chỗ
động liền mất". Bị chỉ trúng bệnh, lòng kinh sợ, tôi
hỏi : "Phải làm thế nào thấu đạt được việc lớn ấy
?" Kỉnh bảo: "Ông không nghe Xuyên Lão Tử nói : Cần biết
ý đoan chánh, xây mặt về hướng Nam xem sao Bắc đẩu (1)".
Nói xong, liền bỏ đi. Tôi bị câu nói này, lòng nghi ngờ
càng tăng, đi không biết mình đi, ngồi không biết mình ngồi,
khoảng năm bảy ngày như vậy. Không đề chữ KHÔNG nữa,
chuyên khán "cần biết ý đoan chánh, xây mặt về hướng Nam
xem sao Bắc đẩu". Đến liêu Tịnh đầu cùng chúng ngồi trên
một cái cây, chỉ vì nghi tình không giải, độ khoảng bữa
ăn, chợt biết trong tâm rỗng rang trong nhẹ, thấy tình tưởng
đổ vỡ giống như lột da, người, vật tất cả cảnh trước
mắt đều không thấy cũng như hư không. Ngủ khoảng nửa
giấc thức dậy, toàn thân đều ra mồ hôi, liền ngộ được
câu "Xây mặt về hướng Nam xem sao Bắc đẩu". Bèn đến gặp
Kỉnh, nói bài tụng :
"Đều
không ngăn ngại,
Chỉ
có một đường hướng thượng.
Chưa
đ uợc khoáng đãng" (1)
(1)
Nguyên văn : Yếu tri đoan đích ý, Bắc đẩu diện nam khán.
Sau,
vào trong núi Hương Nham qua một mùa hạ, bị muỗi cắn hai
tay nát bấy. Nhơn nhớ đến cổ nhơn vì pháp quên mình, tại
sao ta lại sợ muỗi ? Chí tâm quên tất cả, ngậm khít hai
hàm răng, ấn mạnh hai bàn tay, chỉ đề một chữ KHÔNG, nhẫn
lại càng nhẫn. Bất giác thân tâm vắng lặng, như tòa nhà
đổ vỡ bốn vách, in tuồng hư không, không có một việc
gì phải nghĩ ngợi. Giờ thìn tọa thiền, đến giờ mùi xuất
định, tự biết Phật pháp không dối người, tại mình công
phu chưa đến. Tuy kiến giải rõ ràng, mà còn vọng tưởng
ẩn kín chưa dứt. Bèn vào núi Quang Châu tập định sáu năm.
Đến núi Lục An trụ sáu năm. Sau lại về núi Quang Châu ở
ba năm, mới chứng đến chỗ siêu thoát.
22.
Độc Phong Hòa thượng dạy Chúng
Kẻ
học đạo lấy cái gì làm chỗ nắm chắc trong tay ? - Chỉ
đề một câu thoại đầu là cái nắm chắc trong tay.
23.
Bát Nhã Hòa thượng dạy Chúng
Chư
huynh đệ ! có người thực hành công phu ba năm, năm năm mà
chưa được cái gì , liền đem câu
(1)
Nguyên văn : Đô vô đới ngại
Thượng
hữu hướng thượng nhấùt lộ,
Bất
đắc sái lạc.
thoại
đầu ấy ném đi, đâu biết thế là đi được nửa đường
vội bỏ. Đáng tiếc ! từ trước đến đây, trong tâm chứa
đầy máy móc.
Lại
kẻ có chí, thấy trong chúng sẵn củi khô, nước đầy, nhà
ấm, phát nguyện ba năm không ra khỏi cửa, quyết định được
thọ dụng mới chịu. Sau khi được chút ít thọ dụng, lại
gắng sức thực hành công phu, tâm địa được thanh tịnh,
thấy cảnh vật hiện tiền liền thành tứ cú (pháp kệ) tự
cho là đại liễu ngộ. Rồi ngon mồm, thích ý lầm mất một
đời, khi tắt ba tấc hơi lấy gì bảo đảm ? Quí Phật tử
! Nếu muốn giải thoát, tham phải bền chí tham, ngộ phải
chơn thật ngộ.
Hoặc
thoại đầu thầm thầm liên tục, không gián đoạn, không
biết có thân, gọi đó là quên thân, chớ pháp chưa quên.
Có người đến chỗ quên thân, chợt nhớ tìm lại, như trong
mộng thấy trợt chân rơi xuống vực sâu muôn tượng chỉ
lo vớt vát cứu mạng, liền mắc bệnh điên cuồng. Đến
đây, phải khẩn thiết đề thoại đầu, bỗng nhiên cả thoại
đầu cũng quên, gọi là thân pháp đều quên. Thình lình trong
tro lạnh nghe đậu nổ, mới biết Trương Công uống rượu,
Lý Công say (đạt đến chỗ giao cảm không thể nghĩ bàn).
Lâu nay ở trong cửa Bát nhã hoặc nạt, hoặc đánh là tại
sao ? Vì phải đập phá lớp cửa chót của chư Tổ vậy. Phải
đi khắp tham vấn các bậc Thiện tri thức để được biết
chỗ cạn sâu, sau sẽ đến bên bờ suối, dưới cội cây
bảo dưỡng thánh thai, đợi đến khi nào Long Thiên đuổi
ra, mới nên đi xiển dương chánh pháp, khắp độ quần sanh.
24.
Tuyết Đình Hòa thượng dạy Chúng
Suốt
12 thời (24 giờ) tẩy sạch mọi việc, chỉ khán câu "trước
khi cha mẹ chưa sanh, cái gì là mặt thật xưa nay (bản lai
diện mục) của ta ?" Không quản đắc lực hay không đắc
lực, hôn trầm tán loạn hay không hôn trầm tán loạn, chỉ
chuyên đề khởi thoại đầu.
25.
Cổ Mai Hữu Thiền sư dạy Chúng
Phải
cần phát tâm dõng mãnh, lập chí cương quyết, đem những
điều đã học, đã hiểu trong thuở bình sanh, tất cả Phật
pháp, văn chương, thi phú, Tam muội trên ngữ ngôn, quét sạch,
quét ra tận bể đại dương, không bao giờ nhắc đến. Trong
khi tọa thiền đoạn sạch tám muôn bốn ngàn niệm đầu vi
tế. Lại đem câu thoại đầu đã tham, một bề đề khởi,
nghi qua nghi lại, đè tới ép lui, thân tâm lóng lặng, xét
phần đã hiểu lấy liễu ngộ làm qui tắc. Không nên trên
công án xét nét, trên kinh sách tìm kiếm, chỉ phải đoạn
dứt mọi việc xao động mới mong đến nhà. Nếu thoại đầu
đề không khởi, liên tiếp đề khởi ba lượt liền thấy
có sức mạnh. Nếu thân thể mỏi mệt, tâm thức xao động,
nên nhẹ nhẹ bước xuống đi một vòng , lại lên Bồ đoàn,
đem câu thoại đầu cũ như trước mà nhào nặn.
Nếu
vừa lên Bồ đoàn liền bị ngủ gật, mở được mắt ra
thì nghĩ Đông tưởng Tây, xuống Bồ đoàn thì đi cặp đôi,
cặp ba, kề tai giao đầu, nói to nói nhỏ, ghi một bụng kinh,
sách, ngữ lục trên văn tự, thuật hay luận khéo, dụng tâm
như thế, đến phút lâm chung đều không thể nương cậy.
26.
Kiệt Phong Ngu Thiền sư dạy Giảng sư Ngũ Đài
Giả
sử Đức Văn Thù phóng hào quang kim sắc đến xoa trên đảnh
ông, ông được cỡi trên mình con sư tử, Đức Quan Âm hiện
thiên thủ thiên nhãn, ông nắm được chim Anh ca, đều là
chạy theo thinh sắc, nơi ông có lợi ích gì ? Cốt suốt thấu
việc lớn nơi bản thân mình, vượt khỏi ngục tù sanh tử,
trước phải dứt tất cả những cái hiểu biết hư vọng
Thánh, Phàm, suốt 12 thời (24 giờ) hồi quang phản chiếu,
chỉ khán cái "không phải tâm, không phải vật, không phải
Phật", cái đó là cái gì ? Cần thiết không chạy ra ngoài
bàn luận tìm kiếm. Dù có một mảy thần thông, Phật pháp,
thánh giải lớn bằng hạt gạo, hạt lúa, hạt bắp, đều
là tự dối mình, thảy đều khinh Phật, chê pháp. Phải tham
đến thân trần không áo, chỗ một mảy nhỏ không lập, liền
được thấy trước mắt Thanh Châu mặc áo vải, Trấn Châu
ăn rau bặc, đều là vật của mình dùng, lại không riêng
cầu thần thông thánh giải.
27.
Hạt Đường Thiền sư đáp lời Vua hỏi
Hoàng
đế Tống Hiếu Tôn hỏi : "Làm sao thoát khỏi vòng sanh tử
?"
Đáp
: "Không ngộ Đạo Đại thừa trọn không thể thoát khỏi".
Hỏi
: Làm sao được ngộ ?
Đáp
: "Tánh bản hữu dùng năm tháng mài nó, sẽ được ngộ".
28.
Đoạn Ngạn Hòa thượng dạy Chúng
"Muôn
pháp về một, một về chỗ nào ?" Không thể ngồi yên lặng
rỗng không, không quán thoại đầu. Không được niệm thoại
đầu, ngồi mà không nghi. Như có hôn trầm, tán loạn không
nên khởi niệm đuổi dẹp, tiện lợi nhất là đề khởi
thoại đầu, chấn chỉnh thân tâm, dõng mãnh tinh tiến. Nếu
không có hiệu quả, nên bước xuống đi kinh hành, chừng biết
hôn, tán hết sẽ lên Bồ đoàn. Bỗng nhiên không đề cử
mà tự đề, không nghi mà tự nghi, đi không biết mình đi,
ngồi không biết mình ngồi, chỉ có nghi tình vọi vọi thẳm
thẳm rõ ràng sáng suốt. Đó gọi là chỗ đoạn phiền não,
cũng gọi là chỗ ngã tiêu tan.
Tuy
nhiên, như thế chưa phải là cứu kính, lại thêm cố gắng
khán "một về chỗ nào ?". Đến cái chỗ đề cử thoại đầu
không còn thứ tự, duy có nghi tình, nếu quên liền đề khởi,
thẳng đến tâm phản chiếu dứt, ấy gọi là quên pháp. Đến
cái chỗ vô tâm, chớ cho là cứu kính. Cổ nhơn nói :
"Chớ
bảo vô tâm ấy là đạo,
Vô
tâm còn cách một lớp rào" (1)
Chỗ
này, chợt gặp thinh gặp sắc chống chọi nhau soang soảng.
Phải cười to một tiếng chuyển mình vượt qua, mới là cái
đạo con trâu Hoài Châu ăn lúa, mà con ngựa Ích Châu đầy
bụng (đạo giao cảm không thể nghĩ bàn).
29.
Cổ Chuyết Thiền sư dạy Chúng
Chư
Đại Đức ! Sao không khởi đại tinh tấn, ở trước Tam bảo
tha thiết phát trọng nguyện : "Nếu không rõ suốt việc sanh
tử, không vượt khỏi cửa chư Tổ, thệ không xuống núi".
Đến trước cái đơn bảy thước, trên liên sàng dài, treo
cao đảy bát, ngồi thẳng như vách cao ngàn trượng, trọn
một đời này thực hành cho thấu triệt giáo pháp. Nếu đạt
được tâm này, quyết không dối nhau. Bằng người phát tâm
không chơn, chí không mãnh liệt, bên này ở mùa Đông, bên
kia ở mùa Hạ, ngày nay tiến tới, ngày mai thối lui, nhớ
một bụng, sao một bộ, hôi như hèm đựng trong hũ người
nghe đâu khỏi chán ghét ụa mửa, dù đến Đức Phật Di Lặc
ra đời cũng không can thiệp gì. Khổ thay!
(1)
Nguyên văn : Mạc vị vô tâm vân thị đạo Vô tâm du cách
nhứt trùng quang
30.
Thái Hư Thiền sư dạy Chúng
Nếu
chưa liễu ngộ, phải lên Bồ đoàn ngồi, tâm như tro lạnh,
mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm cũng phải khán, khán
cái "mặt thật trước khi cha mẹ chưa sanh".
31.
Sở Thạch Kỳ Thiền sư dạy Chúng
Huynh
đệ ! Mở miệng liền nói ta là người tham thiền và hỏi
kẻ khác thế nào là thiền ? Xem Đông, ngó Tây, miệng như
tuồng vác tấm biển. Khổ thay ! Dốt thay ! Aên cơm của Phật,
Tổ mà không lý hội việc bổn phận, đua học văn chương
thế tục, giọng cao nói to, lỗi lầm mà không kiêng sợ, hoàn
toàn không biết hổ thẹn. Có một bọn thôi không chịu đến
Bồ đoàn tham cứu cho rõ "cái mặt thật xưa nay trước khi
cha mẹ chưa sanh", chỉ bắt chước theo người làm công quả,
mong cầu phước báo, sám trừ nghiệp chướng, thật là cách
đạo rất xa.
Hoặc
một bọn lóng lòng kềm niệm, nhiếp sự về không, niệm
tưởng vừa sanh liền đè bẹp, cái thấy biết như vậy tức
là đã rơi vào không, là người chết, học theo ngoại đạo.
Lại có một bọn vọng chấp cái hay giận, hay mừng, hay thấy,
hay biết nhận được rõ ràng liền cho là sự tham học một
đời đã xong. Ta hỏi ông : khi ngọn lửa vô thường thiêu
đốt thành một đống tro tàn, cái hay giận, hay mừng, hay
thấy, hay biết ấy đi đến chỗ nào ? Giả sử ông tham đến
Dược Hống Ngân Thiền (lối tu thiền của Tiên gia), thứ
ngân này không phải chơn thật, một phen bị nấu liền chảy.
-
Nhơn tôi hỏi : Ông bình thường tham cái gì ? Đáp rằng :
Có thầy dạy tham "muôn pháp về một, một về chỗ nào",
lại dạy chỉ như thế mà hội. Ngày nay mới biết không phải,
đến cầu xin Hòa thượng dạy câu thoại đầu. Tôi nói :
Công án của Cổ nhơn có cái nào không phải, tại mắt ông
không chánh, nên thấy thầy dạy tà, rồi đi cầu thỉnh mãi
không thôi. Vậy nên tham câu "con chó không có Phật tánh",
sẽ có ngày đập bể thùng sơn (đại ngộ), từ trước đến
giờ Sơn tăng nhờ đó mà đạt được. Tham đi !
32.
Phổ Tế Thiền sư đáp thơ Lý Tướng Quốc
Đã
lâu tham chữ KHÔNG, không cần thay đổi thoại đầu khác,
huống là đề cử thoại đầu khác. Tham chữ KHÔNG đã lâu,
ắt nơi chữ KHÔNG có chút ít thuần thục, cần thiết chớ
di động, chớ tham thoại đầu khác. Chỉ suốt 12 thời (24
giờ) trong bốn oai nghi luôn luôn đề cử thoại đầu. Chớ
trông đợi bao giờ ngộ hay không ngộ, chớ nghĩ thấm nhuần
mùi vị hay không mùi vị, cũng chớ quản đắc lực hay không
đắc lực, dồn ép cho đến chỗ tâm nghĩ không tới, ý bàn
không đến, tức là chỗ thân mạng của chư Phật, Tổ vậy.
33.
Sở Sơn Kỳ Thiền sư giải chế
Chư
Đại đức ! Trong 90 ngày qua đã được chứng ngộ hay chưa
? Nếu như chưa ngộ thì thêm một mùa Đông sẽ được tan
biến ấy vậy. Nếu là người đống lương Phật pháp, lấy
mười phương pháp giới làm hạn kỳ hoàn toàn giác ngộ.
Một trăm ngày, một ngàn ngày, kiết chế, giải chế chỉ
lấy đề cử thoại đầu làm gốc. Nếu một năm chưa ngộ
tham thêm một năm, mười năm chưa ngộ tham thêm mười năm;
hai chục năm chưa ngộ tham thêm hai chục năm, trọn đời chưa
ngộ, quyết định không đổi chí ; cần phải thấy được
chỗ chơn thật cứu kính mới là ngày nghỉ tham.
Nếu
như không thể trên lời nói thấu đạt ý chỉ, nên đem một
câu A Di Đà Phật ôm ấp trong lòng thầm thầm thể cứu, thường
thường đề khởi nghi tình "niệm Phật là ai ?". Mỗi niệm
tiếp nối, tâm tâm không gián đoạn, như người đi đường
đến chỗ cùng nguồn, tột núi, tự nhiên có cái việc chuyển
thân, động đất một tiếng liền khế nhập tâm thể.
34.
Độc Phong Thiện Thiền sư dạy Chúng.
Nếu
thật muốn liễu thoát sanh tử, trước phải phát tín tâm
to, lập thệ nguyện lớn. Nguyện : "Nếu không phá vỡ công
án đang tham, thấy suốt mặt thật trước khi cha mẹ chưa
sanh, ngồi đoạn sanh tử hiện hành vi tế, thệ không bỏ
thoại đầu đang tham, không xa lìa chơn thiện tri thức và
không tham mê danh lợi ; nếu cố trái nguyện này, sẽ đọa
ác đạo". Phát đại nguyện này rồi, để phòng ngừa tâm,
nhiên hậu mới kham lãnh thọ công án.
Hoặc
khán chữ KHÔNG, cần yếu vận dụng tâm lực để tại "con
chó không có Phật tánh". Hoặc khán muôn pháp về một, cần
yếu tại "một về chỗ nào ?". Hoặc tham cứu niệm Phật
cần yếu tại "niệm Phật là ai ?". Xoay lại phản chiếu cho
thâm nhập nghi tình. Nếu thoại đầu không đắc lực, trở
lại đề trọn câu khiến đầu đuôi nhất quán, mới dễ
khởi nghi. Nghi tình không dứt, khẩn thiết dụng tâm, bất
giác bước đi ngã nhào, liền nhảy vọt tận hư không xa thẳm.
Trở lại tham đi !
35.
Không Cốc Long Thiền sư dạy Chúng
Không
nên dại khờ niệm thoại đầu, cũng chớ suy xét thoại đầu,
chỉ nên hoài nghi mong thấu rõ việc này. Bỗng nhiên buông
tay đi trên dốc đứng, một phen chuyển thân liền thấy chót
vót rực rỡ. Đến đây không nên đắm trước, còn một chùy
rốt sau thật là khó vượt. Ông hãy như thế tham đi !
Không
tham mà tự ngộ, thượng cổ còn có thể có, hiện nay chưa
có ai không nỗ lực tham mà được ngộ.
Ưu
Đàm Hòa thượng dạy tham "niệm Phật là ai?". Ông nay không
cần dùng những pháp này, chỉ cốt bình thường niệm Phật.
Niệm mãi không quên, bỗng nhiên chạm duyên, xúc cảnh chỉ
do một câu thấu đạt, mới biết Tịch quang Tịnh độ không
rời chỗ này, Phật A Di Đà không rời tự tâm.
36.
Thiên kỳ Hòa thượng dạy Chúng
Các
ông từ nay phải phát tâm quyết định, ngày ba thời, đêm
ba thời đề cử an định câu thoại đầu đã tham, xem nó
đạo lý thế nào ? Cần thiết phán xét cái mình đã hiểu,
lâu ngày nhiều năm không lọc luyện hôn trầm mà hôn trầm
tự mất, không trừ tán loạn mà tán loạn tự tiêu, thuần
nhất không tạp loạn. Tâm niệm không sanh, bỗng nhiên được
ngộ, như mộng chợt tỉnh, xem lui về trước đều là hư
huyễn, chính nơi đây bộ máy xưa nay hiện thành sum la vạn
tượng hoàn toàn hiện bày. Như thế, mới không uổng làm
người sanh trên đất nước, cũng không uổng làm vị Tăng
ở trong pháp môn này, từ đây tùy duyên qua ngày, chẳng sướng
sao ! chẳng khoái sao !
37.
Cổ Âm Cầm Thiền sư dạy Chúng
Trong
khi tọa thiền thấy những cảnh giới thiện, ác đều do lúc
ngồi không khởi quán sát, không suy xét chân chánh, chỉ ngồi
nhắm mắt yên lặng, tâm không tinh tấn biện biệt, ý thả
trôi theo cảnh, nửa mộng nửa tỉnh, hoặc vì tham trước
cảnh tịnh, bởi thích nên mới thấy các cảnh.
Người
chơn chánh thực hành công phu, thấy buồn ngủ nhiều thì đi
ngủ một giấc, khi thức giấc liền dậy, chấn chỉnh tinh
thần, xoa tay áp vào mắt, ngậm khít hàm răng, để hai tay
chồng lên nhau, thẳng khán thoại đầu rơi tại chỗ nào ?
Cần yếu chớ theo hôn trầm, một mảy may ngoại cảnh không
thể dính mắc.
Trong
lúc đi, đứng, ngồi, nằm một câu A Di Đà Phật không cho
gián đoạn, phải tin nhơn sâu thì quả dày, cho đến không
niệm mà tự niệm. Nếu chuyên niệm thì niệm chẳng phải
không, cần nhào nặn niệm lại thành một khối. Chính khi
niệm, nhận được người niệm Phật, Đức Phật A Di Đà
cùng ta đồng hiện.
38.
Dị Nham Đăng Thiền sư thích nghi
Học
nhơn tham cầu Thiện tri thức, hoặc vị dạy đề câu thoại
đầu, hoặc vị dạy nghi thoại đầu, như vậy là đồng hay
khác ? Vừa cử thoại đầu, liền đó khởi nghi, đâu có hai
lý. Một niệm đề khởi nghi tình liền hiện. Lật tới, trở
lui chuyên cần nghiên cứu, công sâu sức mạnh tự nhiên được
liễu ngộ.
39.
Nguyệt Tâm Hòa thượng dạy Chúng
Ý
chí phấn khởi, tinh thần sáng suốt đề cử thoại đầu,
quan trọng trên chữ sau chót, nghi tình còn mãi thống thiết
thầm thầm. Hoặc ngậm miệng tham thầm, hoặc nói ra tiếng
theo đuổi, như mất vật quí, cần phải gặp trước mắt,
nắm được trong tay mới chịu. Những ngày dụng công, tất
cả giờ, tất cả chỗ đều không khởi hai niệm.
II.
SỰ KHỔ CÔNG TU TẬP CỦA CHƯ TỔ
1.
Một mình ngồi trong tịnh thất
Đạo
An Đại sư một mình ngồi trong tịnh thất ngót 12 năm, chuyên
gạn lọc tâm tư, mới được ngộ đạo.
2.
Ngồi trên cây dựa mé hố
Tịnh
Lâm Thiền sư, sau khi nghỉ diễn giảng để tu tập thiền
định, thường bị bệnh ngủ làm mê loạn tâm. Ngài cố hết
sức trấn tỉnh, nhưng cứ mỗi lần ngồi được một lúc,
lại mơ màng hồi nào không hay. Gần chỗ Ngài ở có một
cây đại thọ nghiêng mình ra giữa hố đá sâu thăm thẳm.
Muốn đuổi con ma ngủ đi, Ngài leo lên cây ngồi thiền. Trải
mấy ngày đêm, vì sợ hơ hỏng sẽ té nát thây, Ngài giữ
tâm định tỉnh không dám chợp mắt. Nhờ thế, Ngài được
đại ngộ.
3.
Ăn rau ngủ dưới gốc cây
Thông
Đạt Thiền sư vào núi Thái Bạch tu, không có cơm gạo, đói
thì ăn rau, nghỉ thì nằm dưới gốc cây. Ngài tọa thiền
tư duy năm năm liền không dừng. Do sự cố gắng đó, nhào
nặn tâm tư thành một khối ; một hôm, bỗng nhiên khối ấy
tan vỡ, Ngài đại ngộ.
4.
Không giải y
Kim
quang Chiếu Thiền sư xuất gia hồi 13 tuổi, 19 tuổi vào núi
Hồng Dương, nương theo Ca Diếp Hòa thượng tu tập. Ngài chuyên
cần ngót ba năm chưa bao giờ giải y, ngủ không đặt lưng
xuống chiếu. Sau, Ngài đến núi Cô Xạ cũng chuyên cần như
thế, bỗng nhiên khai ngộ.
5.
Lấy dùi chích vào mình
Từ
Minh, Cốc Tuyền, Lang Hương ba người kết bạn đến Phần
Dương tham học. Bấy giờ ở Hà Đông lạnh tột độ, mọi
người đều kinh sợ thối lui. Duy có Từ Minh quyết chí cầu
đạo cam chịu lạnh ở lại đây, sớm chiều bền chí tinh
tấn tu tập. Ban đêm tọa thiền ma ngủ đến, Minh lấy dùi
chích vào mình khiến ma ngủ tan mất. Sau này, Từ Minh thay
thế Tổ Phần Dương đạo phong phát triển, được hiệu là
Sư tử Tây Hà.
6.
Trong thất tối không quên
Hoằng
Trí Thiền sư đến tham học nơi Tổ Đơn Hà. Một hôm, nhơn
cùng bạn đồng tu gạn hỏi nhau về công án, Thiền sư bỗng
cười to lên. Tổ nghe, trách "một tiếng cười của ông đã
mất bao nhiêu việc tốt. Nếu tạm thời tâm không định,
đồng như người chết !". Hoằng Trí Thiền sư bái tạ, ghi
lòng. Từ đấy về sau, dù ở trong thất tối, Ngài cũng không
bao giờ quên.
7.
Chiều về rơi nước mắt
Y
Am Thiền sư tu hành rất tinh tấn. Mỗi khi trời ngã bóng về
chiều, Ngài sa nước mắt, than : "Ngày nay vẫn chưa được
gì, ngày mai chưa biết công phu ra sao !". Ở trong Tăng chúng,
không bao giờ Ngài thốt ra một lời vô ích.
8.
Tám năm nỗ lực tu hành
Hối
Đường Tâm Thiền sư tự nói : Lúc mới vào đạo trong tâm
thầm nghĩ việc tu rất dễ dàng. Đến khi gặp Tổ Huỳnh
Long, nghĩ lại tâm niệm ngày trước rất mâu thuẫn với lý
đạo. Tôi bèn nỗ lực tu hành, suốt ba năm, nhiều lúc lạnh
như cắt, nóng như thiêu vẫn không lay chuyển chí nguyện,
mới được mọi việc hợp lý đạo. Hiện nay, dù tôi vung
tay, tằng hắng đều là trúng ý Tổ Sư từ Aán Độ truyền
sang.
9.
Đánh thức bằng cách kê đầu gối tròn
Thị
Giả Triết khi ngủ lấy cây tròn làm gối, gối đầu. Ngủ
vừa trở mình thì đầu rớt xuống chiếu, Ngài giựt mình
thức dậy tu tập. Ngài lấy đó làm qui tắc nhất định hằng
ngày trong việc tu hành. Có người bảo : "Dụng tâm như thế
là thái quá". Ngài đáp : "Tôi duyên trong đạo Bát nhã rất
mỏng manh, nếu không cố gắng như vậy, e bị vọng tập lôi
cuốn".
10.
Bị mưa không hay
Am
chủ Toàn dụng công tu tập rất mãnh liệt, đến bỏ ăn quên
ngủ. Một hôm, Ngài đứng dựa lan can khán câu "con chó không
có Phật tánh", mưa đến bao giờ không hay, khi ướt cả áo
mới biết.
11.
Thề không xổ mền
Phật
Đăng Tuần Thiền sư học đạo với Tổ Phật Giám. Tham hỏi
mãi mà không khế ngộ, Ngài than : "Nếu đời này không tỏ
ngộ, ta thề không xổ mền ra nằm nghỉ". Phát thệ rồi,
ngót 49 ngày, Thiền sư chỉ đứng dựa cột chuyên tâm tham
cứu, trạng như ngây dại, không khác nào người mất mẹ.
Do đó, Ngài được đại ngộ.
12.
Ném thơ không xem
Thiết
Diện Bỉnh Thiền sư đi hành khước, ly hương chưa bao lâu,
được thơ nhà gửi đến, Ngài ném thơ, nói : "Đây là việc
làm rối loạn ý người".
13.
Do kiên thệ được giác ngộ
Linh
Nguyên Thanh Thiền sư ban đầu đến tham học với Tổ Huỳnh
Long, nhiều lần thưa hỏi mà vẫn mờ mịt không biết manh
mối. Đêm lại, Ngài đến trước bàn Phật phát thệ : "Con
nguyện trọn đời phụng sự chánh pháp, cầu mong sớm được
khai ngộ". Sau này, Ngài xem bản Ngữ lục của Tổ Huyền Sa,
xem xong cuốn lại để dựa vách, đứng dậy đi kinh hành.
Ngài vừa bước đi sút chiếc dép, cúi đầu xuống tìm, chợt
đại ngộ.
14.
Không lúc nào duyên cảnh khác
Viên
Ngộ Cần Thiền sư trở lại tham học với Tổ Đông Sơn Diễn.
Ngài làm thị giả, ngày đêm chuyên cần gắng sức tham cứu.
Thiền sư tự nói : "Sơn tăng ở trong Chúng không lúc nào tâm
duyên cảnh khác, ngót mười năm mới được thấu đạt".
15.
Giây phút không quên
Mục
Am Trung Thiền sư lúc đầu học tập Thiên Thai giáo, sau chuyên
về Thiền tông. Ngài đến tham học với Tổ Long Môn Nhãn.
Ở đây, Thiền sư không một phút giây quên phản tỉnh. Một
hôm, Ngài đến chỗ quay nước, thấy trên ngạch đề "Pháp
luân thường chuyển", chợt đại ngộ.
16.
Quên đò đến bến
Khánh
Thọ Hưởng Thiền sư đến tham học với Tổ Bảo Công, chuyên
cần quên cả sớm chiều. Một hôm, có duyên sự đến Huy
Dương, qua bến đò Triệu, nghi tình chưa tan, Thiền sư quên
đò đã cập bến. Người đồng hành thấy thế, gọi : "Đò
đến bến rồi, sao không lên ?". Bỗng nhiên, Thiền sư buồn
vui lẫn lộn. Trở về, Thiền sư đem việc ấy bạch lại
Bảo Công. Công nói : "Đó là kẻ nằm cứng đờ, chưa phải
ngộ". Lại dạy khán "Mặt trời lời Phật". Một đêm, cùng
Chúng họp lên Thiền đường, tịnh tọa, nghe tiếng bảng
cây, Thiền sư đại ngộ.
17.
Quên cả ăn ngủ
Tùng
Nguyên Nhạc Thiền sư lúc còn làm cư sĩ đến tham vấn Ưng
Am Hoa, không khế hội, nhưng vẫn cố gắng tinh tấn. Sau Ngài
đến học với Mật Am Kiệt. Kiệt hỏi đâu, Ngài trả lời
suốt thông cả. Kiệt than : "Thiền như cây Hoàng Dương !".
Ngài càng cố gắng tinh tấn hơn, cho đến quên ăn, quên ngủ.
Một hôm, Mật Am Kiệt vào thất một vị Tăng bên cạnh hỏi:
"Không phải tâm, không phải vật, không phải Phật?". Ngài
nghe lóm liền đại ngộ.
18.
Thân miệng đều quên
Cao
Phong Diệu Thiền sư ở trong Chúng lưng không bén chiếu, thân
miệng đều quên. Có khi, Ngài ngậm miệng bụm mũi đi như
người trong nhà vệ sinh mới ra; hoặc khi, Ngài hả hoát miệng
như cửa không gài. Sau đến Kinh Sơn, Ngài vừa vào đến nhà,
liền đại ngộ.
19.
Bỏ hết muôn việc
Kiệt
Phong Ngu Thiền sư trước tiên học đạo với Tổ Thạch Môn.
Sư vâng giữ pháp ngữ của Tổ, ngày đêm mải miết tham cứu.
Về sau, Sư đến tham vấn Tổ Chỉ Nham, tham câu "không phải
tâm, không phải vật, không phải Phật". Lúc ấy lòng nghi
càng tăng, Sư bỏ hết muôn việc, quên cả ăn, ngủ. Hết
mai lại chiều, Sư ngồi sững như tượng gỗ. Một đêm, Sư
nghe vị Tăng ở phòng cạnh bên ngâm câu : "Chẳng trừ vọng
tưởng, chẳng cầu chơn" trong bài CHỨNG ĐẠO CA, bỗng nhiên
thấy tự do như người trút gánh nặng. Sư đắc ý hai câu
:
"Đêm
vắng bỗng quên tay chỉ nguyệt,
"Hư
không thoát lộ bóng dương hồng. (1)
(1)
Nguyên văn : Dạ bán hốt nhiên vong nguyệt chỉ
Hư
không tịnh xuất nhật luân hồng.
20.
Bế cửa nỗ lực tham cứu
Thừa
tướng Di Thích Sở Tài đến tham học với Vạn Tùng Lão nhơn.
Ông bỏ hết việc nhà bế cửa thất không tiếp khách. Dù
những khi giá lạnh, nóng bức, không ngày nào ông dừng nghỉ
tham cứu. Đêm đến, ông thắp đèn sáng kế tiếp mặt trời
để bỏ ngủ. Ban ngày thì ông quên ăn. Như vậy, suốt ba
năm, ông mới được ấn chứng.
21.
Đụng đầu vào cột
Trung
phong Bổn Thiền sư theo hầu Ngài Tử Quan. Ngày đêm chuyên
cần tu tập, mỗi khi buồn ngủ lắm, Sư đụng đầu vào cột
nhà cho ma ngủ tan biến. Một hôm, Sư tụnh kinh Kim cang đến
câu "Hà đảm Như Lai sứ" (gánh vác việc Như Lai) bỗng nhiên
thấu đạt. Sư tự cho rằng chỗ chứng chưa cùng tột, càng
cố gắng tinh tấn, thưa hỏi không dám bê trễ. Một lúc nọ,
Sư nhìn dòng nước chảy, chợt đại ngộ.
22.
Trong thất khắc khổ
Độc
Phong Thiện Thiền sư bế quan ở Dục Khê. Trong thất, Ngài
không kê giường, chỉ để một cái ghế ngồi. Ngài tự nguyện:
"Nếu chẳng tỏ ngộ, ta không rời khỏi chỗ này". Một đêm,
hành đạo quá mỏi mệt, Ngài vừa lại ghế ngồi, bất giác
ngủ quên đến canh ba.
Tự
trách mình, Ngài chỉ đi đứng chớ không ngồi nữa. Nhưng
một hôm, Ngài lại dựa vách ngủ quên. Sau khi thức giấc,
rất hối hận, Thiền sư lập thệ : "không nương tựa vách".
Chừng ấy, thân thể nặng nề mỏi mệt, mí mắt chỉ muốn
sụp xuống, Ngài khóc lóc lễ Phật sám hối, tìm đủ cách
để đánh đuổi ma ngủ đi. Nhờ thế, công phu của Ngài càng
lúc càng tăng tiến thêm. Một đêm, nghe tiếng chuông, Ngài
bỗng cảm thấy thân tâm vắng lặng không còn chỗ nương
tựa, liền đắc ý bài kệ :
"Thầm
thầm lặng lặng bặt duyên ngàn,
"Một
tiếng chày kình tợ sấm vang !
"Manh
mối khôn tìm, tin tức vắng,
"Đầu
xương sọ nát, mộng vừa tan. (1)
23.
Quên nằm
Bích
Phong Kim Thiền sư tham học với Ngài Phổ Vân Hải. Phổ Vân
dạy khán công án "muôn pháp về một, một về chỗ nào ?".
Ngài nghi đến ba năm. Một hôm, nhơn đi hái rau với Phổ Vân,
Ngài chợt im lặng rất lâu. Phổ Vân hỏi : "Ông định sao
?". Ngài thưa :
(1)
Nguyên văn : Trầm trầm tịch tịch tuyệt thi vi,
Xúc
trước vô đoan, hầu tợ lôi.
Động
địa nhất thinh tiêu tức tận,
Độc
lâu phấn túy mộng sơ hồi.
"Định
và động không quan hệ". Phổ Vân hỏi : "Định động không
quan hệ, ấy là người gì ?". Ngài lấy cái sọt đựng rau
đưa lên. Phổ Vân không chịu. Ngài ném cái sọt xuống đất.
Phổ Vân cũng không chịu. Từ đó về sau, Ngài càng thiết
tha công phu, đến lưng không bén chiếu, một lần tọa thiền
đến bảy ngày mới xuất. Một hôm, nghe tiếng bảng cây,
Ngài đại ngộ.
24.
Giữ độn công phu
Vô
Tế Thiền sư lúc mới thực hành công phu không đọc đến
bốn quyển Kinh Lăng Già, và những bản Ngữ lục cũng không
xem. Ngài cam chịu mù tối chuyên ròng thực hành độn công
phu. Thế mà sau này, Ngài vẫn được đại ngộ.
III.
DẪN CÁC KINH
1.
Im lặng chuyên cần tu tập
Tôn
giả A Na Luật Đà, Tôn giả Nan Đề, Tôn giả Kim Tỳ La ở
chung trong rừng chuyên tu thiền định. Sáng các Ngài trước
sau đi khất thực, trở về thọ trai xong, mỗi vị đều tọa
thiền đến chiều mới dậy. Vị nào dậy trước, thấy trong
hũ hết nước, nếu mạnh thì một mình đi xách, nếu yếu
lấy tay ra dấu gọi một vị
(1)
Phần này tôi chỉ trích dịch chớ không dịch tất cả. nữa
cùng xách, mỗi người không nói chuyện với nhau. Đến năm
ngày mới họp một lần, hoặc hai người thuyết pháp, hoặc
như Thánh im lặng.
(Kinh
Trung A Hàm)
2.
Không thấy Đạo thề không nằm nghỉ
Một
vị xuất gia ở nước Ba La Nại, tự thệ : "không khế hội
chơn lý, thệ không nằm nghỉ". Ngày đêm đều đi kinh hành,
trải ba năm như vậy, liền đắc đạo.
Một
vị sa môn ở nước La Duyệt Kỳ, trải cỏ làm nệm ngồi.
Ngài tự thệ : "không đắc đạo, quyết không rời chỗ này".
Những khi buồn ngủ quá, Ngài lấy dùi chích vào vế cho mất
buồn ngủ. Trong vòng một năm như vậy, ngài ngộ đạo.
(Kinh
Tạp Thí Dụ).
3.
Vì chuyên cần cam chịu mọi khó khổ
Giả
sử thân ta máu thịt khô kiệt, chỉ còn da bọc xương, nếu
chưa đạt được thắng pháp, quyết không dừng nghĩ. Vì tinh
tấn cam chịu những việc nóng, lạnh, đói, khát, gió, mưa
… lại cam chịu người khác hành hạ thân thể đau đớn,
cam chịu mọi sự mắng nhiếc, hủy nhục của người.
(A
Tỳ Đàm Tập Dị Môn Túc)
4.
Hông không bén chiếu
Ngài
Hiếp Tôn Giả 80 tuổi mới xuất gia. Những vị Tăng thiếu
niên hỏi Ngài : "Cái việc của người xuất gia, một là tập
tu Thiền định, hai là học tụng kinh điển, mà ông nay tuổi
già yếu làm sao tu tiến được ?". Tôn giả nghe rồi, liền
phát thệ : "Tôi nếu không thông ba Tạng kinh, không đoạn
được ái dục trong ba cõi và chứng được sáu pháp thần
thông, đầy đủ tám món giải thoát, thệ không để hông
bén chiếu". Từ đây, Tôn giả ban ngày thì nghiên cứu giáo
lý, ban đêm thì tọa thiền an định, suốt ba năm như vậy,
liền chứng đầy đủ như sở nguyện. Người thời bấy giờ
kính trọng hạnh tinh tấn của Ngài, nên đặt hiệu là "Hiếp
Tôn Giả" (Tôn giả hông không bén chiếu).
(Tây
Vức Ký)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 08-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 338 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân