NĂM PHÁP
có thể
đưa đến
KHỔ ĐAU hay HẠNH PHÚC.
Thích
Đức Thắng
Khổ
đau hay hạnh phúc đều là những hậu quả tất yếu mà những
hành động trước đó chúng ta đã tạo ra; dù là đồng thời
hay dị thời đi nữa, thì chúng cũng bị lệ thuộc vào sự
chi phối của luật tắt Nhân quả đứng về mặt hiện tượng.
Do đó vấn đề Nhân quả ở mặt nào đó, chúng được coi
như là nhân tố quyết định cho mọi giá trị đánh giá về
cuộc sống, mà đức Đạo sư khi còn tại thế thường dạy
cho đệ tử xuất gia cũng như tại gia của Ngài, theo đó cuộc
sống được thể hiện qua khổ đau hay hạnh phúc đều do
hành động của chính chúng ta mang lại ngay trong hiện tại
hay trong tương lai. Cũng vì vậy cho nên Tôn giả Ma-ha Mục-kiền-liên,
khi còn ở đời Ngài đã lấy những lời dạy về năm pháp
này của đức Phật để triển khai rộng ra trong A-tỳ-đạt-ma
pháp uẩn túc luận[1] . Theo đó năm pháp này được Tôn giả
liên hệ duyên khởi với ba độc tham, sân, si qua sự thể
hiện nhân quả của ba nghiệp thân, khẩu, và ý, trong việc
tự mình đem lại đau khổ cho chính mình, nếu phạm vào năm
pháp này, và khuyên người khác phạm vào năm pháp này. Ngược
lại tự mình muốn đem lại hạnh phúc cho chính mình
thì bằng cách xa lìa năm pháp này, và khuyên kẻ khác cũng
xa lìa năm pháp này nếu họ muốn có hạnh phúc. Theo Tôn giả,
thì đức Phật đã dạy năm pháp này như sau:[2]
“Khi
đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, trong rừng Thệ-đa[3]
, tại Thất-la-phiệt[4] , thì bấy giờ Thế Tôn bảo các Bí-sô:
“Nếu
những ai chưa dứt bặt hết được năm điều tội oán đáng
sợ này, thì đối với đời sống hiện tại họ sẽ bị
các vị Hiền thánh cùng quở trách, chán ghét; được gọi
là những kẻ phạm giới, tự làm tổn thương mình, mắc tội,
nên bị chê cười, phát sinh nhiều điều phi phước;[5]
khi thân hoại mạng chung sẽ đọa vào đường hiểm ác, sinh
vào trong địa ngục.
“Những
gì là năm? Đó là:
“Sát
sinh; do nhân duyên sát sinh nên sanh ra tội oán sợ hãi. Không
tránh xa sát sinh, đó gọi là (tội oán) thứ nhất.
“Lấy
của không được cho; do nhân duyên trộm cắp nên sanh
ra tội oán sợ hãi. Không tránh xa trộm cắp, đó gọi là
(tội oán) thứ hai.
“Dục
tà hạnh; do nhân duyên tà hạnh nên sanh ra tội oán sợ hãi.
Không tránh xa tà hạnh, đó gọi là (tội oán) thứ ba.
“Lời
nói hư dối, do nhân duyên lời nói hư dối nên sanh ra tội
oán sợ hãi; không tránh xa lời nói hư dối, đó gọi
là (tội oán) thứ bốn.
“Uống
nếm các loại rượu, các trường hợp say sưa, phóng dật;
do nhân duyên uống, nếm các loại rượu, các trường
hợp say sưa, phóng dật[6] nên sanh ra tội oán sợ hãi;
không tránh xa sự uống, nếm các loại rượu, các trường
hợp say sưa, phóng dật, đó gọi là (tội oán) thứ năm.
“Ai
chưa dứt hết được năm điều tội oán đáng sợ hãi như
vậy, thì đối với đời sống hiện tại, họ sẽ bị các
vị Hiền thánh cùng quở trách, chán ghét; được gọi là
những kẻ phạm giới, tự làm tổn thương mình, mắc tội,
nên bị chê cười, phát sinh nhiều điều phi phước; khi thân
hoại mạng chung sẽ rơi vào đường hiểm ác, sinh vào trong
địa ngục.
“
Những ai có khả năng dứt bặt hết năm điều tội oán đáng
sợ hãi này, thì đối với đời sống hiện tại, họ sẽ
được các vị Hiền thánh cùng khâm phục khen ngợi; được
gọi là những người trì giới, tự phòng hộ chính mình,
không có tội, không bị chê cười; phát sinh nhiều điều
phước thù thắng, khi thân hoại mạng chung được lên cõi
an lành, sanh về cõi Thiên trung[7] . Những gì là năm? Đó là:
“Tránh
sát sinh, do nhân duyên tránh sát sinh nên diệt được tội
oán sợ hãi; tránh được sát sinh, đó gọi là (trường
hợp) thứ nhất.
“Tránh
không cho mà lấy, do nhân duyên tránh được trộm cắp, nên
diệt được tội oán sợ hãi; có khả năng diệt được trộm
cắp, đó gọi là thứ hai.
“Tránh
xa dục tà hạnh, do nhân duyên tránh xa được dục tà hạnh
nên diệt được tội oán sợ hãi; vì có khả năng tránh xa
tà hạnh, đó gọi là thứ ba.
“Tránh
xa lời nói hư dối, do nhân duyên tránh xa lời nói hư dối
nên diệt được tội oán sợ hãi; có khả năng diệt được
lời nói hư dối, đó gọi là thứ bốn.
“Tránh
xa sự uống, nếm các loại rượu, các trường hợp say sưa,
phóng dật, vì tránh xa sự uống, nếm các loại rượu, các
trường hợp say sưa, phóng dật nên diệt được tội oán
sợ hãi; vì có khả năng tránh xa sự uống, nếm các loại
rượu, các trường hợp say sưa, phóng dật, đó gọi là thứ
năm.
“Ai
có khả năng dứt hết năm điều tội oán sợ hãi như vậy,
thì người đó đối với đời sống hiện tại được các
vị Hiền thánh đồng khâm phục khen ngợi, được gọi
là những người trì giới, tự phòng hộ chính mình, không
có tội, không bị chê cười; phát sinh nhiều điều phước
thù thắng, khi thân hoại mạng chung được lên cõi an lành,
sanh về cõi Thiên trung. Sau đó Thế Tôn liền nói kệ để
tóm lại nghĩa trên rằng:
Các
hành sát, đạo, dâm,
Nói
dối, ham các rượu;
Bị
năm tội oán trói,
Bị
Thánh hiền chê trách.
Là
phạm giới tự hại,
Có
tội, chiêu phi phước;
Chết
rơi đường hiểm ác,
Sinh
vào các địa ngục.
Tránh
các sát, đạo, dâm,
Hư
dối, các thứ rượu;
Thoát
năm oán đáng sợ,
Thánh
hiền đều khen phục.
Là
trì giới, tự giữ,
Không
tội, cảm nhiều phước;
Chết
về đường an lành,
Sanh
vào trong Thiên giới.”
Đó
là năm pháp được đức Phật thuyết giảng cho các hàng cư
sĩ tại gia vào lúc bấy giờ, và được tôn giả Ma-ha Mục-kiền-liên
lập lại trong: ‘A-tỳ-đạt-ma pháp uẩn túc luận.’ của
ngài. Trong năm pháp này, đứng về mặt muốn đạt đến hạnh
phúc mà nói, thì bốn cấm giới đầu thuộc về tánh giớ[8]i
, còn giới thứ năm chỉ là giá giớ[9]i , được đức Phật
thiết lập, làm nền tảng cơ bản cho cả hai hàng xuất gia
và tại gia trong việc thanh tịnh hóa cuộc sống qua sự thể
hiện thân và tâm, để từ đó làm nhân cho cuộc sống hạnh
phúc ngay trong hiện tại, hay trong tương lai cho cõi Nhân-Thiên
sau này. Cũng chính vì điều này mà ngũ giới cũng còn được
gọi là ngũ đại thí[10] . Ngược lại nếu không thực hành
năm điều cấm giới này mà phạm vào chúng thì coi như hậu
quả theo sau đó sẽ đưa đến cuộc sống khổ đau trong hiện
tại, hay sẽ rơi vào cuộc sống khổ đau trong đường hiểm
ác nơi địa ngục trong tương lai. Trong năm giới này tuy bốn
giới đầu chúng thuộc về tánh giới, nhưng đối với hàng
tại gia thì có khác với hàng xuất gia trong việc khai-giá-trì-phạm[11]
, và cũng có thể tùy theo hoàn cảnh sống, và duyên nghiệp
của mọi người tại gia mà theo đó có thể gia giảm trong
việc trì phạm, hay theo khả năng của mỗi người mà áp dụng
theo giới mà mình đã nguyện thọ trì trong khi truyền giới
và nhận giới của họ, chứ không bắt buộc phải giữ hết
năm giới;[12] trường hợp nếu nguyện thọ trì hết
năm giới thì tốt. Trong năm giới đối vời hàng cư sĩ tại
gia chỉ có một giới thứ ba là khác một chút đối với
năm giới của các hàng xuất gia là, chỉ khi nào vượt qua
giới hạn chức năng làm chồng hay làm vợ mà thôi, vì giới
này chỉ cấm tuyệt hẳn dành cho hàng xuất gia, còn tại gia
thì vì chức năng làm vợ làm chồng, và chức năng kế tục
giữ gìn nòi giống, nên chỉ cấm việc tà dâm mà thôi. Do
đó, người nam hay người nữ thuộc hàng tại gia chỉ bị
giới hạn trong tà dâm (tà hạnh). Đây là năm cấm giới đối
với hàng cư sĩ tại gia, nếu người nào áp dụng và thực
hành trọn vẹn thành tựu năm pháp này thì mới đưa đến
hạnh phúc một cách trọn vẹn, và thật sự sẽ được sinh
về cõi trời sau khi qua đời, còn nếu không thì phải tùy
theo giới mà mình đã trì giữ nhiều hay ít, có trọn vẹn
giới ấy hay không mà có kết quả theo việc làm của mình
là có hạnh phúc ít hay nhiều trong hiện tại hay trong tương
lai nơi cõi người, hay cõi trời.
Ở
đây, vấn đề khổ đau, hay hạnh phúc có được đều bắt
nguồn từ hành động gây nhân trước đó để đưa đến
hậu quả tất yếu phải nhận lãnh do thân-khẩu-ý đã gây
ra từ năm pháp mà ra. Đối với năm pháp Giết sanh mạng,
Trộm cắp, Tà hạnh, Nói dối, Uống rượu này mà chúng ta
tạo tác hay hành động theo động cơ thúc đẩy của Ý qua
ý hành, thân hành, và khẩu hành, thì đó là nguyên nhân
dẫn đến hậu quả thiện hay ác, tùy đó mà có kết quả
hạnh phúc hay đau khổ có được của chúng ta theo sau chúng.
Vậy sự hợp tác giữa năm pháp này và ba hành thân-khẩu-ý
chúng đẻ ra ba nghiệp thân-khẩu-ý dẫn dắt chúng ta đi đến
nơi khổ đau hay hạnh phúc đều tùy thuộc vào hành động
hay sự tạo tác của chúng ta. Từ đây chúng ta thấy sự liện
hệ duyên khởi thuận-nghịch rất rõ ràng bắt đầu từ hành
động giết hại sanh mạng hay không giết hại sanh mạng; trộm
cắp hay không trôm cắp, tà dâm hay không tà dâm; nói dối
hay không nói dối; uống rượu hay không uống rượu. Và cũng
từ đây chúng ta thấy sự liên hệ bắt đầu từ năm pháp
này đối với tất cả những pháp khác qua duyên khởi chúng
trở thành trùng điệp không đầu không mối. Chỉ mới trong
năm pháp này mà chúng ta đã nhận ra được sự liên hệ của
chúng đến Duyên khởi, đến Nhân duyên, đến Nhân quả, đến
Nghiệp báo, đến ba cõi, sáu đường, đến luân hồi v.v...
nói chung là liên hệ đến các pháp. Chính vì sự liên hệ
nhân quả duyên khởi này mà Năm pháp đã trở thành pháp căn
bản mấu chốt của mọi vấn đề giải quyết khổ đau và
hạnh phúc của con người, cho dù là xuất gia hay tại gia.
Chúng
ta mỗi người bất đầu tu từ đây, và cũng kết thúc từ
đây, nghĩa là đối với năm pháp này cần phải bắt đầu
áp dụng vào thực hành, thì chúng ta mới thấy được cái
giá trị của chúng sẽ đưa đến tốt hay là xấu, khổ đau
hay là hạnh phúc. Cũng cùng áp dụng và thực hành một pháp,
nhưng chúng sẽ cho chúng ta hai kết quả trái ngược nhau; nếu
chúng ta biết cách áp dụng và thực hành đúng thì chúng sẽ
dẫn đến kết quả tốt, hạnh phúc; ngược lại nếu áp
dụng sai thì chúng sẽ dẫn đến kết quả xấu, khổ đau.
Đức Phật đã đứng trên lập trường Nhân quả mà nói về
nguyên nhân tạo tác năm pháp có thể đưa đến đau khổ,
hay hạnh phúc ngay trong hiện tại hay trong tương lai.
NĂM
PHÁP CÓ THỂ
ĐƯA
ĐẾN ĐAU KHỔ HAY HẠNH PHÚC
1-
Sát sinh hay tránh xa sát sinh:
Trong
giới hạn của bài này, thì sinh ở đây chỉ cho các loài
chúng sanh có tình thức, biết ham sống, sợ chết như loài
người là tội chính, còn các loài sinh vật nhỏ bé nhất
như vi trùng đã có mạng sống thì thuộc tội nhẹ. Ở đây
chúng tôi chỉ nói đến giết hại mạng sống của con người,
nên những chúng sanh này mà ta vô cớ giết hại chúng,
thì sẽ đưa đến tội oán đối đáng sợ theo sau, và cứ
như vậy oán đối theo nhau như hình với bóng quấy nhiễu
trả vay nhau trong hiện tại, và tạo ra khổ đau suốt nơi
ba nẻo ác địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh trong luân hồi.
Có
năm điều kiện[13] hội đủ để trở thành tội sát
sinh:
a/
Đối tượng phải là người.
b/
Tưởng là người.
c/
Cố ý giết.
d/
Phương tiện.
e/
Người chết.
Sau
khi chúng ta hoàn thành việc giết người, thì hành động đã
tạo tác xong trở thành nghiệp nhân. Tùy theo ý hợp tác với
lời nói để đưa đối tượng đến chỗ chết, hay bằng
đồ vật do chân tay mang lại cái chết cho đối tượng, thì
theo đó trở thành ý nghiệp, thân nghiệp, hay khẩu nghiệp.
Từ nghiệp nhân này đưa đến nghiệp quả phải nhận lãnh
ngay trong hiện tại, hay ở đời sau còn tùy thuộc vào sự
đầu thú hay không đầu thú của thủ phạm, đã bị phát
hiện hay không bị phát hiện, mà nhận lãnh quả báo.
Trường
hợp nếu đầu thú sớm, thì sẽ có kết quả sau đó do tòa
án phán quyết, hoặc bị tội tử hình, hoặc tội chung thân
khổ sai; nếu không đầu thú hay không bị phát hiện, thì
trong hiện tại tuy trên hình thức chưa chịu quả báo tù tội
khổ đau, nhưng trên thực tế có thể tâm thần không được
an ổn, luôn lo sợ bị phát hiện, và đây cũng là một hình
thức chịu quả tuy là chưa chính thức, nhưng cuối cùng kiếp
sau cũng phải nhận quả mà thôi. Như vậy sự khổ đau trong
hiện tại đang chịu là nghiệp quả được sinh ra từ những
hành động tạo tác trước đó trong quá khứ đời trước,
chúng di hại di truyền cho đến ngày nay, chúng ta gọi là nghiệp
nhân. Từ nghiệp quả chủng tử di truyền hiện hữu này,
cọng với chủng tử nghiệp nhân tạo ra trong hiện tại, chúng
ta có một thứ Nhân-quả mới trong hiện tại, và từ cái
nhân được tạo ra trong hiện tại chúng sẽ dẫn đến cái
quả sau đó ở ngay trong cuộc sống này hay kiếp sau, và cứ
như thế chúng ta cứ tạo nhân, nhận quả trôi dạt mãi trong
ba nẻo ác luân hồi khổ đau. Đây là chúng tôi mới chỉ
đề cập đến nhân quả thuộc phân đoạn sinh tử, chứ chưa
nói đến nhân quả trong biến dịch sinh tử, thay đổi trong
từng sát na một. Nhân quả mà chúng tôi đang đề cập ở
đây cũng mới chỉ là thứ nhân quả do Chánh báo cá nhân
tạo ra chứ chưa nói đến nhân quả do Y báo tập thể cộng
đồng xã hội tạo ra nhân và hưởng quả tương tác với
nhau. Vì một người nhận lãnh kết quả của chính mình trong
hiện tại mang cả hai đặc tánh vừa mang nhãn hiệu Chánh
báo cá nhân mình, và vừa mang nhãn hiệu Y báo cộng đồng
xã hội, từ cha mẹ anh em gia đình cho đến xã hội mà mình
xuất hiện ra đời. Sự hổ tương duyên khởi này đã tạo
ra chính cuộc sống mà nạn nhân đang hiện hữu theo đó chúng
có những đặc thù riêng biệt mà chỉ nơi đó có mà thôi,
thí dụ như cõi người, cõi trời, địa ngục, ngạ quỷ,
súc sanh .v.v... chúng có những đặc tính riêng của từng nơi
thuộc Y báo mà Chánh báo chúng khế hợp duyên đủ đối với
nơi họ đến mà không có nơi nào khác lẫn lộn đối với
họ. Sự liên hệ Duyên khởi nơi dây chính là sự liên hệ
huyết thống, màu da, xứ sở, giàu nghèo, tốt xấu, khổ đau,
hạnh phúc .v.v... và đó cũng chính là kết quả của sự hình
thành liên đới giữa Biệt nghiệp và Cộng nghiệp của cá
nhân và xã hội chúng thể hiện ra trong cõi đó.
Tại
sao chúng ta giết hại sanh mạng lại đưa đến khổ đau? Như
đức Phật đã dạy ở trên sát sinh sẽ đưa đến tội oán
đối lẫn nhau. Vậy từ sự sát hại sinh mạng này sẽ đưa
đến sự liên hệ liên kết lẫn nhau giữa nhân và quả trong
hiện tại cũng như trong tương lai qua định luật duyên khởi.
Sự liên hệ hổ tương duyên khởi này nói lên đặc tính
thành tựu và hủy diệt của các pháp trong duyên đủ; về
một mặt nào đó chúng có thể thành tựu đồng thời khổ
đau hay hạnh phúc, và ngược lại chúng có thể hủy diệt
đi cũng đồng thời khổ đau hay hạnh phúc. Do đó, khi mà
có sự hiện diện của sát hại thì đồng thời cũng nảy
sanh ra hai thái cực trong cái thành tựu của khổ đau cho người
này, thì sẽ nảy sanh cái hủy diệt dành cho hạnh phúc người
khác, vì vậy mà oán đối phát sinh, và khi oán đối đã phát
sinh thì khổ đau sẽ hiện hữu. Giữa chủ thể giết hại
và đối tượng bị giết hại, cả hai đều bình đẳng trên
tánh giác, cho dù có thể sai biệt hay khác nhau trên hình tướng,
giai cấp, giàu nghèo, sắc màu, tôn giáo v.v... đi nữa, chúng
cũng có đủ mọi thứ quyền như tất cả mọi người, có
đủ mọi thứ tình cảm, mọi thứ bản năng, mọi thứ lý
trí như mọi người, và những thứ này được hướng đạo
bỡi một chủ thể tạm cho là ngã, là tôi, hay là ta. Từ
cái ngã, tôi, ta này phát sinh ra đủ thứ chuyện nhằm củng
cố, và nuôi dưỡng chúng lớn mạnh thêm qua sự thúc đẩy
vô hình của tham, sân, và si từ bên trong, mà đức Phật gọi
là ba độc. Chúng sử dụng thân-khẩu-ý như là một thứ
công cụ để tạo ra mọi việc có lợi cho mình trong việc
nuôi lớn cái chấp ngã vô minh, và hủy diệt, san bằng bất
cứ chướng ngại nào cản bước đường tiến tới.
Chính vì cái vô minh tà kiến chấp ngã này đẻ ra cái vô
minh tà kiến chấp pháp, và từ đây có của ta, và có những
cái liên hệ đến ta, có những sở hữu của ta: có đất
nước ta, có dân tộc ta, có dòng họ huyết thống của ta,
có tổ tiên ta, có ông bà cha mẹ ta, có vợ chồng con cái
ta, có sắc tộc ta, có tôn giáo ta, có châu lục ta, có ngôn
ngữ ta, có đủ thứ trên đời của ta. Cũng từ đó sanh ra
chiếm hữu, và mọi cuộc chiến tranh, xung đột sắc tộc,
tôn giáo, tranh giành đủ thứ xảy ra, an ninh trật tự bắt
đầu mất an ninh, cuộc sống của mọi người mọi sinh vật
cũng từ đây bất an, chuyện giết hại lẫn nhau không tránh
khỏi và đau khổ lầm than bắt đầu hiện hữu. Suốt hai
thiên niên kỷ qua, lớn thì qua hai cuộc thế chiến; nhỏ thì
không biết bao nhiêu mà kể, nào là chiến tranh giữa các tôn
giáo với nhau, nào là thánh chiến, nào là thập tự chinh,
nào chiến tranh giữa các sắc tộc với nhau, chiến tranh ý
thức hệ với nhau, chiến tranh xâm lược chiếm thuộc địa,
chiến tranh vì chủ nghĩa bá quyền, chủ nghĩa thực dân, chủ
nghĩa đế quốc cũ, chủ nghĩa đế quốc mới v.v... Những
cuộc chiến tranh như vậy, trước hết chúng bắt nguồn từ
những xung đột vô thức giữa các cộng nghiệp với nhau,
giữa các biệt nghiệp với nhau trong một cái cộng nghiệp
chung của kiếp người trên mặt đất này, mà mấu chốt chúng
cũng bắt nguồn từ vô minh hoặc nghiệp tà kiến của những
thứ cộng nghiệp, hay các biệt nghiệp đã di truyền từ chủng
tử kiếp trước di hại lại cho đến cái quả đời hiện
tại, cọng với cái nhân của các hành động vô minh tà kiến
trong hiện tại do chính chúng ta và hoàn cảnh luân lý xã hội
tạo ra, đã tạo thành một thứ bản ngã cá nhân và tập
thể khó bề thay đổi được. Chúng luôn luôn thúc đẩy mọi
người lo bảo vệ và nuôi lớn vô minh tà kiến chấp ngã
chấp pháp càng nhiều càng tốt, nên việc xung đột càng ngày
càng trở nên gay gắt và nghiêm trọng hơn. Những sự kiện
đấu tranh để sinh tồn càng trở nên sâu sắc và thủ đoạn
hơn, với mục đích là triệt hạ những gì không thuộc về
của ta và tóm thâu những gì nếu mình muốn thuộc về mình.
Vì vậy những cuộc chiến tranh về sau này, càng trở nên
khốc liệt và bạo tàn hơn, dưới mọi hình thức và bất
kể thủ đoạn, con người giết hại tàn sát lẫn nhau, không
những chỉ có con người giết hại con người mà con người
còn giết hại bao nhiêu sinh vật khác, triệt hạ cả những
môi trường sống chung quanh, miễn sao thõa mãn được lòng
tham, lòng thù hận trả thù, lòng ích kỷ, có lợi cho cá nhân
mình, tập thể mình, đất nước mình, tôn giáo mình, sắc
tộc mình thì họ làm chứ họ không cần đến hậu quả di
hại chung cho cả thế giới. Trong khi họ thõa mãn được lòng
tham, lòng thù hận qua hành động si mê của mình như vậy
là tạo ra tội oán đối, nhưng họ đâu có biết rằng chính
hành động của họ là nguyên nhân đẩy người khác vào chỗ
đấu đầu thù hận ngay trong hiện tại cũng như mai sau. Nếu
họ chỉ cần biết nhìn ra cái đau khổ oán hận nơi người
khác qua chính mình, thì có lẽ họ không bao giờ có hành động
sát hại để di hại đến khổ đau oán hờn đối với những
người khác, và cũng không bao giờ nhân danh mình hay nhân danh
bất cứ ai, hay bất cứ chủ nghĩa nào, tôn giáo nào, hay bất
cứ khuynh hướng chính trị nào để khuấy động chiến tranh
chén giết lẫn nhau mà thu lợi về mình. Vì tất cả những
nhân danh đó đều là trá hình của chấp ngã chấp pháp mà
thôi, rốt cuộc tự chính ta tạo ra tội oán đối với những
hoàn cảnh liên hệ duyên khởi chung quanh, đáng lý ra chúng
phải được nuôi dưỡng và trân trọng để tạo ra hạnh
phúc an vui cho chính con người và xã hội; đằng này chúng
ta tạo ra sự xung đột sát hại lẫn nhau, khiến cho xã hội
bất an, mà khi xã hội bất an là chính chúng ta những người
tạo ra chiến tranh sát hại cũng bất an; vì giữa ta và xã
hội có sự liện hệ duyên khởi mật thiết ( cái này có
thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh; cái này không
thì cái kia không,[14] cái này diệt thì cái kia diệt)
đó là một định luật tất yếu của cuộc sống, không thể
thiếu được. Một người nếu sát hại mạng sống kẻ khác
thì sẽ dẫn đến những hậu quả sau đây: Trước hết đối
với bản thân họ hai trong ba hành này sẽ liên quan trực tiếp
đến cái chết đó là ý hành cùng với thân hành hay khẩu
hành, điều này tùy thuộc vào hành nào đi chung với ý hành
để đưa đến cái chết cho đối tượng. Ý hành lúc nào
cũng có trước và điều động hai hành kia thi hành theo nó,
như khi ý phát khởi lên ý giết hại người để cướp
đoạt tài sản của kẻ khác chẳng hạng, hay do lòng thù hận
trả thù, hoặc do lừa đảo lường gạt để kiếm lợi về
mình, thì thân hành theo sự điều động của ý đi đến chỗ
muốn cướp, bằng đủ mọi cách thân hành động khiến cho
khổ chủ chết đi, thì người này mang hai nghiệp sát sinh
của ý và của thân. Trường hợp muốn giết người cướp
của qua ý sai khiến miệng nói khiến cho kẻ khác không chịu
được ôm hận hay nhục mà chết, hay nói để lừa gạt được
người, đưa thân chủ đến chỗ chết, thì người này mang
hai nghiệp thuộc ý và khẩu. Khi họ hoàn thành việc sát hại
kẻ khác như vậy thì nghiệp sát cũng theo đó mà hình thành,
và tạo thành nhân sát hại sinh mạng, và từ đây sẽ đưa
đến hậu quả của nó theo sau đó, trong hiện tại hay trong
tương lai. Trường hợp nếu án mạng này bị phát hiện và
tìm ra được thủ phạm ngay trong hiện tại, thì hậu quả
của nó sẽ tùy theo pháp luật hiện hành của nhà nước vào
lúc đó mà bị phạt tử hình hay tù chung thân gì đó. Trường
hợp nếu không bị phát hiện và được bỏ qua, thì nghiệp
quả sẽ trả vào kiếp sau đối với chính mình trong đường
hiểm địa ngục như Phật đã dạy ở trên. Đó là nói về
bản thân của người sát hại kẻ khác, còn bản thân của
những kẻ bị giết hại thì ôm lòng thù hận, quyết định
phải trả thù; từ đây oán đối hình thành, tạo nghiệp
sân hận, và si mê thuộc ý, và cứ như thế theo nghiệp duyên
tạo thân, thân tạo nghiệp trôi lăn mãi trong sáu đường
luân hồi vay trả, trả vay không bao giờ thoát khỏi khổ đau.
Đó là chúng ta mới đề cập đến cá nhân người sát hại,
và người bị sát hại, nhưng mỗi cá nhân như vậy chúng
hiện hữu và có giá trị được là nhờ sự hiện hữu của
đồng loại, và mọi sự vật chung quanh, vì chúng liên hệ
theo định luật duyên khởi. Vậy khi một người giết hại
người khác thì chính cả đồng loại và mọi sự vật cũng
chịu liên hệ liên đới với nhau trong tội sát này, và đối
với sự oán đối thù hận của kẻ bị giết, cũng can hệ
mật thiết đối với đồng loại và mọi sự vật chung quanh.
Thật là thú vị với tư tưởng này chúng ta có thể liên
hệ về một khía cạnh nào đó, với nếp sống của dân tộc
Việt nam trong phong dao tục ngữ thì cũng có những câu chịu
ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng này như : ‘Con dại cái mang’
hay ‘Mũi dại lái chịu đòn.’ Tuy ở đây chỉ nói lên được
cái liên hệ huyết thống, hay liên hệ tập thể trong một
chừng mực nào đó, nhưng chúng cũng nói lên được tính đặc
thù của tư tưởng này, nếu chúng ta biết tư duy và liên
hệ sâu xa một tí nữa về nhiều mặt như: chánh trị, xã
hội, kinh tế, quân sự, y tế, giáo dục, văn hoá, vân vân
và vân vân, thì chính tư tưởng này nó bao trùm tất cả mọi
liên hệ trong cuộc sống của chúng ta.
Do
đó mỗi hành động của chúng ta được hình thành thì theo
đó di truyền lại cho kết quả trước hết là cá nhân và
sau nữa là tập thể xã hội. Một người bị giết hại ngoài
sự mất đi một thành viên trong một gia đình, trong một cộng
đồng xã hội thôi, mà nó còn di hại đến hiệu quả sản
xuất, hay tiêu dùng cho một gia đình hay một xã hội nào đó
trong việc cung cầu nữa, như trên chúng tôi đã trình bày.
Cho nên một hành động xấu như sát hại sinh mạng chẳng
hạn chúng sẽ di hại xấu cho cả một xã hội. Như hiện
tại vấn đề môi trường sinh thái đã đang và sẽ được
cả toàn thể các quốc gia trên thế giới ra sức tuyên truyền
về việc tác hại của chiến tranh giết người và, ra sức
bảo vệ các loài động thực vật một cách nghiêm ngặt,
từ trên rừng cho đến dưới biển; không cho con người sát
hại một cách bừa bãi và tùy tiện, là nhằm bảo vệ môi
trường sống cho nhân loại, nếu không có chúng thì nhân loại
và vạn vật trên trái đất này sẽ đi đến chỗ diệt vong
không xa.
Như
vậy, qua pháp giết hại sinh mạng, nó có những tai hại đối
cá nhân và xã hội cho hiện tại như đức Phật đã dạy
ở trên, và mặc khác nó còn di hại trong tương lai qua biệt
nghiệp và cọng nghiệp nơi quốc độ mình phải đến như
địa ngục. Đức Phật hoàn toàn chính xác trong việc khuyên
con người không nên sát hại các sinh vật khác trong đó con
người là chính, trước hết nếu tránh không giết hại sinh
mạng thì sẽ không tạo ra tội oán đối với người với
vật. Như vậy nghiệp thân-khẩu-ý không thành, thì ba độc
tham, sân, si không hiện hữu trong sát hại. Ở đây vì nhân
sát hại của thân-khẩu-ý không tạo ra, nên không có hậu
quả tù tội, giam cầm, hay bị người ghét bỏ, sống an lành
không bị xáo trộn lo toan, và sau khi thân hoại mạng chung
vì không tạo nghiệp sát hại thân-khẩu-ý nên không sanh về
đường hiểm ác địa ngục chịu đau khổ, mà được sanh
về cõi trời hưởng nhiều hạnh phúc. Trong pháp này nếu
người nào tránh khỏi không sát hại thì theo tôn giả Mục-kiền-liên,
người ấy là vị Ưu-bà-tắc[15] đạt được học xứ
thứ nhất trong năm học xứ trên.
2-
Không cho mà lấy hay tránh xa không cho mà lấy:
Đây
là pháp thứ hai còn gọi trộm cướp, hay tránh xa không trộm
cướp. Ở đây, chỉ chung cho những vật không thuộc sở hữu
của mình mà muốn thành của mình, chủ vật sở hữu không
cho mà chúng ta đem tâm trộm cướp lấy cho mình, dù là vật
đó để ở nơi đâu mà có chủ thì không được không cho
mà lấy. Hành vi hủy phạm vào giới không cho mà lấy thứ
hai này, cũng tùy thuộc vào những vật mà chúng ta đã lấy
nhiều hay ít, có giá trị nhiều hay giá trị ít, theo đó tội
cũng tùy thuộc vào chúng là nặng hay nhẹ, và như vậy sẽ
đưa đến tội oán đối đáng sợ theo sau, và cứ như vậy
oán đối theo nhau như hình với bóng quấy nhiễu trả vay nhau
trong hiên tại, và tạo ra khổ đau suốt nơi ba nẻo ác địa
ngục, ngạ quỷ, và súc sanh trong luân hồi.
Nếu
là nặng thì thành tội bất khả hối và, chúng phải hội
đủ sáu điều kiện[16] sau đây:
1/
Tài vật của người khác.
2/
Biết rõ tài vật đó là của người chứ không phải của
mình.
3/
Khởi lên tâm trộm cướp, hay có tâm dự mưu trộm cướp
trước.
4/
Tìm cách lấy và hoàn thành mục đích trộm cướp.
5/
Tài vật được trị giá là năm tiền. (giá trị của tài
vật này còn tùy thuộc vào quốc độ sở tại của nó về
việc người trộm bị lên án tử hình nếu như trộm cướp
vật trị giá như vậy)
6/
Dời khỏi chỗ cũ.
Đó
là sáu điều kiện đủ để kết án, khi nào hành động của
chúng ta đã hoàn thành việc trộm cướp vật của người
khác không cho mà lấy. Giới này cũng như giới thứ nhất,
sự hoàn thành một kết quả hành động phải từ tâm có
ý nghĩ trộm cướp vật của người kinh qua lời nói
của miệng hay hành động của thân, được thể hiện qua
kết quả làm hại kẻ khác, mà kết quả ấy được xã hội
hay quốc gia đó chấp nhận là một bản án tử hình, hay khi
hành động đó có hại cho vật người khác với giá trị
từ năm tiền vàng trở lên, hay bao nhiêu tùy thuộc vào quốc
gia, xã hội đó ấn định, thì người phạm vào giới này
mắc vào tội trọng không cho sám hối để trừ tội và, trong
tương lai sẽ đọa vào trong ba đường ác địa ngục, ngạ
quỷ, hay súc sanh chịu báo khổ đau, tùy theo nơi họ bị đọa
vào.
Cũng
như giới thứ nhất sự tác hại hỗ tương của nó trong hiện
tại cũng như những di hại hỗ tương trong tương lai không
khác gì với giới thứ nhất, chúng chỉ khác nhau trên mặt
hiện tượng về tội danh thôi, nhưng về kết quả phải chịu
nặng nhẹ đồng nhau. Do đó mỗi hành động của chúng ta
được hình thành thì theo đó di truyền lại cho kết quả
trước hết là cá nhân và sau nữa là tập thể xã hội. Một
người cướp của giết người, ngoài sự mất đi an ninh trật
tự của một xã hội, nó làm mất đi một thành viên trong
một gia đình, trong một cộng đồng xã hội, trong việc di
hại đến hiệu quả sản xuất, hay tiêu dùng cho một gia đình
hay một xã hội nào đó trong việc cung cầu nữa, như trên
chúng tôi đã trình bày. Cho nên một hành động xấu như cướp
của giết người chẳng hạn chúng sẽ di hại xấu cho cả
một xã hội, như trong vấn đề an ninh trật tự xã hội,
vấn đề kinh tế của một quốc gia. Nếu tất cả mọi người
không lo làm ăn mà ai cũng ngồi đó, chờ cho kẻ khác làm
sẵn ra tiền bạc của cải, rồi mình ra tay cướp lấy để
mình tiêu xài, thì gia đình đó, xã hội đó sẽ đi đến
đâu? chắc chắn là sẽ đưa tất cả mọi người đến chỗ
mất an ninh trật tự, nghèo nàn, lạc hậu khổ đau và, cuối
cùng là chết đói, gia đình xã hội tan rã.
Do
đó vấn đề chúng ta sống có hạnh phúc hay không có hạnh
phúc luôn tùy thuộc vào hành động của chúng ta, ở đây
chúng cũng như pháp thứ nhất. Trong pháp này nếu người nào
tránh khỏi không trộm cướp thì theo tôn giả Mục-kiền-liên,
người ấy là vị Ưu-bà-tắc đạt được học xứ thứ hai
trong năm học xứ trên.
3.
Dục tà hạnh hay tránh xa dục tà hạnh:
Đây
là pháp thứ ba, còn gọi là dục tà hạnh, hay tránh xa dục
tà hạnh. Ở đây trừ qua hệ nam nữ giữa vợ chồng có hôn
thú, ngoài ra tất cả những quan hệ với nam nữ mà luật
pháp quốc gia, hay đạo đức của một xã hội nơi chúng ta
cư trú không cho phép, thì đều là những quan hệ bất chính
còn gọi là tà hạnh hay tà dâm. Như kinh Viên Giác nói: ‘Tất
cả các loài chúng sanh trong các thế giới, dù sinh bằng trứng,
sinh bằng thai, sinh nơi ẩm thấp, hay hoá sinh, mà hiện hữu
được thì cũng đều phát xuất từ dâm dục mà có tánh mạng.’
Đủ để nói lên sự tồn tại của chúng ta trên hành tinh
này chính là sự tồn tại của dâm dục. Do đó nếu muốn
chúng sinh phàm phu dứt hẳn dâm dục, thì đó là một điều
khó khăn khó thực hiện được trong một sớm một chiều.
Do đó đức Đạo sư đã phương tiện cho những chúng sinh
tại gia ở cõi dục chỉ được giới hạn trong sinh hoạt
vợ chồng mới tạm gọi là chính đáng. Chúng sanh ở cõi
này muốn dứt hết dâm dục thì phải tu chứng đến tam quả
A-na-hàm[17] , và như vậy chỉ dành cho hàng xuất gia, trong
việc toàn đoạn dâm dục.
Sự
an lập của chúng sanh trong cõi thế gian này, chủ yếu do sự
hoà hợp giữa nam và nữ khi được gọi là vợ chồng. Sự
hoà hợp trong sinh hoạt vợ chồng này nếu là bình thường
thì sẽ không mang đến cho xã hội những bi kịch xáo trộn,
mang lại mọi hạnh phúc cho mọi cá nhơn, mọi gia đình trong
một xã hội. Ngược lại chúng mang lại cho mọi người, mọi
gia đình những đổ vỡ trong quan hệ vợ chồng, cha con, mẹ
con, người thân trong gia đình, ra đến bạn bè trong xã hội;
mang đến cho mọi người một cuộc sống bất an xáo trộn
do sự liên hệ bất bình thường, vượt qua khỏi giới hạn
của vợ chồng. Từ đây cũng sẽ dẫn đến những cái chết
mà nói ra thì không ai muốn, nhưng trên thực tế hằng ngày
thường xảy ra luôn: bị giết vì giam dâm, vì tình, vì hiếp
dâm, dụ dỗ, vì thông dâm, đồng lòng thông dâm phá hoại
gia đình v.v… Và cũng sẽ đưa đến tội oán đối đáng
sợ theo sau, và cứ như vậy oán đối theo nhau như hình với
bóng quấy nhiễu trả vay nhau trong hiện tại, và tạo ra khổ
đau suốt nơi ba nẻo ác địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh
trong luân hồi.
Vì
muốn tạo hạnh phúc an lạc cho nhân gian nên đức Phật đã
chế định dục tà hạnh cho nam nữ cư sĩ tại gia.
Dục
tà hạnh phải hội đủ bốn điều kiện[18] thì phạm
tội nặng bất khả hối:
1/
Đúng đối tượng.
2/
Có tâm dâm.
3/
Đúng ba nơi là đường miệng, đường tiểu tiện và, đường
đại tiện mà hành dâm.
4/
Tác thành sự thật hành dâm, cho dù hai căn của nam và nữ
chỉ vào một chút như hạt mè, cũng thành tội bất khả hối.
Giới
này vì dành cho chúng sanh tại gia cho nên chỉ giới hạn trong
phạm vi vợ chồng, mục đích là mang đến hạnh phúc an lạc
cho chúng sanh cõi dục này, chứ chưa nhằm đến mục đích
giải thoát, nên trong kinh Ưu-bà-tắc ngũ giới tướng[19]
đức Phật có Khai cho người tại gia nam là: ‘Nếu Ưu-bà-tắc
nào cùng dâm nữ hành dâm, không trả tiền, thì phạm tà dâm
bất khả hối, còn trả tiền thì không phạm’[20] . Nhưng:
“Trong Đại thừa Bồ-tát giới, nếu không phải là Bồ-tát
địa thượng (bậc sơ địa trở lên), vì nhân duyên nhiếp
hoá, chẳng được có hành vi này[21] ”. Thật sự, ở đây
có sự khác biệt như vậy là vì một đằng đức Phật muốn
chúng sanh tại gia có cuộc sống hạnh phúc đứng về mặc
luân lý xã hội, và mặc khác là đứng về phương diện đạo
đức giải thoát, nên có sự mâu thuẫn giữa kinh Ưu-bà-tắc
và Đại thừa Bồ-tát giới kinh. Đây chính là Giới được
đức Phật Khai (trong khai-giá-trì-phạm) cho các cư sĩ tại
gia; và cũng là cư sĩ tại gia nhưng đã thọ giới Bồ-tát
rồi thì dứt khoát không được phạm (giá) vào hành vi này.
Đây là một vấn đề tế nhị và phức tạp, cho nên ngay
trong giới này đức Phật cũng giới hạn và mở cho những
đối tượng nào, tuỳ theo căn cơ mà các chúng sanh đó nguyện
thọ trì, thì theo đó mà khai hay giá. Và giới này đức Phật
cũng căn cứ vào xã hội Ấn độ vào lúc bấy giờ, do đó
việc chế giới cũng tuỳ thuộc vào xã hội đó. Hiện tượng
trên là hiện tượng phổ biến tại xã hội Ấn độ vào
lúc đó, nên đức Phật cũng phải căn cứ vào xã hội đó
mà chế giới. Nhưng hiện tượng này đối với Việt nam,
hay nhiều xã hội khác trên hành tinh này cho là một hiện
tượng không lành mạnh, không phải là tấm gương tốt của
người thiện, thì chúng ta cũng căn cứ vào những lời dạy
của đức Phật về việc Khai-Giá-Trì-Phạm đối với giới
luật như thế nào để chúng ta cũng theo đó mà hoàn thành
một cuộc sống hạnh phúc an lành ngay trên trái đất này.
Vì theo đức Phật, việc chế giới Ngài luôn luôn căn cứ
vào tướng phạm để mà chế. Nhưng tướng phạm thì luôn
tuỳ thuộc vào sinh hoạt luân lý thói quen tập quán của xã
hội đó chúng hình thành. Vì vậy đối với hiện tượng
này, khi chúng ta đã quy y tam bảo, thọ trì năm pháp rồi thì
chúng ta cũng nên coi đây là một hành vi tà dâm, vì một mặc
chúng nuôi lớn dục tham của con người.
Giới
này cũng như giới thư nhất, thứ hai, sự hoàn thành một
kết quả hành động phải từ tâm có ý nghĩ dục tà
hạnh kinh qua lời nói của miệng hay hành động của thân,
được thể hiện qua kết quả làm hại kẻ khác, mà kết
quả ấy được xã hội hay quốc gia đó chấp nhận là một
bản án tử hình, khi hành động đó có hại cho người khác,
thì người phạm vào giới này mắc vào tội trọng không cho
sám hối để trừ tội, và trong tương lai sẽ đọa vào trong
ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, hay súc sanh chịu báo
khổ đau, tùy theo nơi họ bị đọa vào.
Sự
tác hại liên đới hỗ tương lẫn nhau, nó cũng giống như
hai giới trên: có thể đưa đến chết người, có thể phá
hoại hạnh phúc mọi gia đình, có thể làm bất ổn một xã
hội và cuối cùng mang đến gánh nặng khổ đau cho mọi người
trong xã hội. Do đó vấn đề chúng ta sống có hạnh phúc
hay không có hạnh phúc ngay trong hiện tại hay trong tương lai,
luôn tùy thuộc vào hành động của chúng ta. Ở đây chúng
cũng như pháp thứ nhất, thứ hai trên mặt tác dụng hậu
quả, nhưng trên mặt hiện tượng thì chúng khác nhau. Trong
pháp này nếu người nào tránh xa dục tà hạnh thì theo tôn
giả Mục-kiền-liên, người ấy là vị Ưu-bà-tắc đạt được
học xứ thứ ba trong năm học xứ trên.
4.
Lời nói hư dối, hay tránh xa lời nói hư dối:
Đây
là pháp thứ tư, còn gọi là lời nói hư dối, hay tránh xa
lời nói hư dối. Ở đây, lời nói hư dối mang phong cách
lường gạt lừa đảo người khác để thủ lợi về mình
dưới mọi hình thức, mà người bị mình lừa gạt bị thiệt
hại mà họ không biết, hay có biết ra cũng đã muộn rồi.
Có một định nghĩa chung cho việc vọng ngữ là: không biết
nói biết, biết nói không biết; không thấy nói thấy, thấy
nói không thấy; không hay nói hay, hay nói không hay; không nghe
nói nghe, nghe nói không nghe. Và trong vọng ngữ còn gồm có
cả nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói thiêu dệt không đúng
nghĩa, tuy không thuộc tội bất khả hối, nhưng chúng cũng
thuộc gây ra bất hoà xáo trộn trong cuộc sống, đem đến
khổ đau cho nhau trong hiện tại, nên chúng thuộc vào tội
khả hối.
Lời
nói hư dối cũng như định nghĩa trên, nhưng trong Phật giáo
chia ra làm ba loại: Đại vọng ngữ[22] , tiểu vọng ngữ,
và phương tiện vọng ngữ. Đại vọng ngữ là lời những
nói hư dối không thật trên thực tế, như hiện tại mình
chưa chứng Thánh mà nói với mọi người là mình đã chứng
Thánh v. v…; tiểu vọng ngữ là ngoại trừ những lời đại
vọng ngữ ra, còn những lời nói không thật dùng để dối
gạt mọi người, nói chung tất cả mọi sự nói dối đều
là tiểu vọng ngữ; phương tiện vọng ngữ là những lời
nói nhằm vì cứu độ chúng sanh, Bồ-tát xuất gia tại gia
có thể phương tiện vọng ngữ như: Có kẻ say muốn giết
người đến hỏi có thấy người kia không, nếu có thật
thấy người kia đi nữa, nhưng vì muốn cứu người kia nên
nói không thấy thì không có tội.
Riêng
đại vọng ngữ ở đây phải hội đủ chín điều kiện[23]
, mới thành tội trọng bất khả hối, và cũng vì bất khả
hối cho nên sẽ đưa đến tội oán đối đáng sợ theo sau,
và cứ như vậy oán đối theo nhau như hình với bóng quấy
nhiễu trả vay nhau trong hiện tại, và tạo ra khổ đau suốt
nơi ba nẻo ác địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh trong luân
hồi:
1/
Nói với người.
2/
Tưởng là người.
3/
Không thực có chứng.
4/
Tự biết không thực có chứng.
5/
Có tâm dối gạt.
6/
Nói ra pháp thượng nhơn.
7/
Tự nói mình chứng pháp ấy.
8/
Nói rõ ràng.
9/
Nói người đối diện hiểu.
Đó
là chín điều kiện đủ để hoàn thành tội danh trong giới
nói lời hư dối này, nếu không hội đủ chín điều kiện
này thì chưa đủ cơ sở để kết án là mắc tội bất khả
hối, và như vậy chúng thuộc về tội khả hối. Ở đây,
đối với giới đại vọng ngữ này mới nghe ra trên mặt
biểu tượng ngôn ngữ chúng có vẻ vô thưởng vô phạt, không
có hại cho ai cả, nếu có hại đi chăng nữa thì cũng do đối
tượng tự nguyện. Còn đối với người nói, nếu ai đó
phát hiện ra được thì họ bị thiên hạ coi như là một
kẻ ngông cuồng tự cao tự đại thế thôi. Nhưng nếu chúng
ta nhìn sâu và kỹ một tí nữa, thì vấn đề này chúng không
đơn giản như chúng ta nghĩ, mà chúng là nhân đưa đến ba
đường khổ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vì sao? Vì theo
những lời Phật dạy trong luật Tứ phần thì đây là một
trong hai loại giặc[24] , lớn nhất không gì bằng. Vì chúng
ăn trộm đồ ăn thức uống của người. Ở đây tuy đức
Phật dạy cho các Tỳ-kheo xuất gia, nhưng giới này thuộc
Tánh giới dành cho cả xuất gia và tại gia, nên những người
nam nữ tại gia cũng không được phạm vào, nếu ai đã thọ
trì năm pháp. Tại sao phạm đại vọng ngữ mà ở đây đức
Phật gọi là giặc trộm? Vì như chúng ta biết, khi chúng ta
mở miệng ra để nói những điều đó thì đương nhiên người
nói luôn có mục đích, ngoại trừ những kẻ điên cuồng
loạn tâm, thì hầu hết người nói ra việc đó đều muốn
mang về cho mình một mối lợi lớn từ người nghe, có tín
tâm đối với tam bảo. Đây là một cách lừa đảo có hiệu
quả nhất, mà chính người nghe khó đủ trình độ trí tuệ
để phát hiện, vì chúng đem bậc Thánh ra để đánh động
lòng tin của người nghe, và như vậy là chính họ đã lừa
đảo chính họ mà họ không biết. Đây quả thật là một
việc làm buôn thần bán thánh để nuôi dưỡng cái ngã vô
minh.
Thật
ra trong giới đại vọng ngữ này, chỉ ngoại trừ những ai
vô liêm sỉ, không hiểu biết nhân quả mới phạm vào đại
vọng ngữa, chứ thông thường thì chúng ta dễ mắt phải
tiểu vọng ngữ trong cuộc sống. Do đó chúng ta là những
người nam nữ Phật tử tại gia đã quy y tam bảo, thọ trì
năm pháp này thì dứt khoát phải lánh xa chúng. Cho dù việc
nói dối đó mang lợi lại cho chính chúng ta hay người khác
đi nữa, thì việc làm đó cũng mang một hậu ý xấu là lừa
đảo lường gạt kẻ khác, chúng mang cái hại đến cho họ,
thì chúng ta không nên làm. Vì như trên chúng tôi đã nói,
một việc làm của chúng ta, nó tác động hổ tương liên
quan tới người vật khác chung quanh, gần cũng như xa qua liên
hệ trực tiếp và gián tiếp.
Sự
tác hại liên đới hỗ tương lẫn nhau, nó cũng giống như
ba giới trên: có thể đưa đến chết người, có thể phá
hoại hạnh phúc mọi gia đình, có thể làm bất ổn một xã
hội và cuối cùng mang đến gánh nặng khổ đau cho mọi người
trong xã hội. Do đó vấn đề chúng ta sống có hạnh phúc
hay không có hạnh phúc ngay trong hiện tại hay trong tương lai,
luôn tùy thuộc vào hành động của chúng ta. Ở đây chúng
cũng như pháp thứ nhất, thứ hai, thứ ba trên mặt tác dụng
hậu quả, nhưng trên mặt hiện tượng thì chúng khác nhau.
Trong pháp này nếu người nào tránh xa lời nói hư dối thì
theo tôn giả Mục-kiền-liên, người ấy là vị Ưu-bà-tắc
đạt được học xứ thứ tư trong năm học xứ trên.
5.
Uống các loại rượu hay xa lánh uống các loại rượu:
Đây
là pháp thứ năm, còn gọi là pháp uống các loại rượi nơi
phóng dật hay tránh xa uống các loại rượư nơi phóng dật.
Ở đây, Bản thân của rượu vốn không tội ác, vì vậy
giới uống rượu trong năm giới nó thuộc về Giá giới. Nhưng
vì sau khi uống rượu vào, tất cả chúng ta không ai có thể
làm chủ được chính mình, nên có khả năng tạo thành tội
ác lớn. Do đó đức Phật căn cứ vào những hiện tượng
và những hậu quả đã xảy ra do chất men rượu làm cho hệ
thống thần kinh hưng phấn, mật to xung động, làm mờ mắt,
không còn tự mình khống chế lấy mình được, có thể mắng
người, đánh người, giết người, hiếp dâm, phóng hoả,
làm mất anh ninh trật tự chòm xóm láng giềng và, bất cứ
hành động nào cũng có thể làm được hết, mà Ngài đã
chế giới uống rượu.
Cũng
như bốn giới trên, giới uống các loại rượu cũng phải
hội đủ ba điều kiện[25] sau đây mới thành tội khả
hối:
1/
Là rượu.
2/
Không vì bệnh nặng.
3/
Uống vào khỏi cổ.
Đó
là ba điều kiện đủ để hoàn thành tội danh của giới
uống các loại rượu khả hối này. Cho dù tội này không
phải là Tánh tội bất khả hối mà là giá tội khả hối,
nhưng vì tính liên đới sau khi hoàn thành tội danh thì theo
sau đó những tội khác xuất hiện như cướp của, giết người,
cưỡng dâm, và tất cả những tội khác có thể xảy ra, mà
bản thân người đó không tự chủ được. Do đó việc tạo
ra oán đối đáng sợ theo sau, và cứ như vậy oán đối theo
nhau như hình với bóng quấy nhiễu trả vay nhau trong hiện
tại, và tạo ra khổ đau suốt nơi ba nẻo ác địa ngục,
ngạ quỷ, và súc sanh trong luân hồi. Dưới đây, chúng tôi
sẽ trích dẫn hai mẫu chuyện về việc uống rượu say, và
đưa đến việc phạm những trọng tội khác:
“Vào
thời kỳ đức Phật Ca-diếp-ba[26] xa xưa, có một người
thọ trì năm pháp, luôn luôn giữ giới thanh tịnh. Một hôm,
từ bên ngoài trở về nhà, vì quá khát nước, nên thấy trên
bàn có một chén rượu màu trong như nước, vội vàng uống
một hơi vào bụng. Nào ngờ sau đó rượu ngấm, tính men rượu
kích thích phát tác, khiến ông ta phạm giới một cách liên
tục. Thấy gà hàng xóm chạy vào nhà, ông ta bèn bắt trộm
làm thịt, vợ người hàng xóm mất gà sang tìm, thấy vợ
người hàng xóm đẹp, ông liền cưỡng dâm. Sau việc này,
bị bắt đến công đường, ông ta chối cãi không nhận tội.
Chỉ vì uống nhầm một chén rượu mà ông ta liên tục phạm
đủ năm pháp cấm giới. Tội ác của rượu rất lớn như
vậy.”[27]
“Vào
thời đức Phật còn tại thế, có Tôn giả Sa-già-đà[28]
, thần lực của ngài có thể hàng phục được độc long.
Sau khi khất thực ngài uống rượu do Phạm chí cúng dường.
Uống xong ngài đi về bị say ói mửa, té ngã dọc đường.
Đức Phật nói với A-nan: ‘Sa-già-đà này là người si, trước
kia có thể hàng phục được độc long lớn, bây giờ, thì
không thể hàng phục được con rồng nhỏ!’”[29]
Qua
hai mẫu chuyện này cho chúng ta thấy, cái hại của việc uống
rượu là như thế nào rồi. Chúng làm mờ đi trí não của
con người, không còn biết gì nữa một khi đã say, và cũng
vì cái nhân gây ra tai hại đáng sợ ngay trong hiện tại, và
trong tương lai sau khi chết sẽ đoạ vào ba đường ác. Theo
Tứ phần luật thì người uống rượu có mười điều mất
mát:
1-
Nhan sắc xấu xí.
2-
Kém sức khỏe.
3-
Con mắt không sáng.
4-
Hiện tướng hung dữ.
5-
Phá hỏng sự sống của gia nghiệp.
6-
Đưa đến bệnh hoạn.
7-
Thích đấu tranh kiện tụng.
8-
Không ai khen, tiếng xấu truyền khắp.
9-
Trí tuệ giảm thiểu.
10-Thân
hoại mạng chung đọa vào ba đường ác.
Đó
là mười điều mất mát của chúng ta khi uống rượu say ngay
trong hiện tại. Đó là cái hậu quả không thể tránh được
của người uống rượu: nhân cách không còn, trí tuệ biến
mất, tác hại đến sức khẻo, tạo ra các thứ tội mà đáng
ra nếu chúng ta không uống rượu vào thì sẽ không xảy ra!
Từ đây tác động hỗ tương kéo rộng ra chung quanh mà gần
nhất là những người thân trong gia đình và rộng hơn là
xã hội.
Cũng
giống như bốn giới trên: có thể đưa đến chết người,
có thể phá hoại hạnh phúc mọi gia đình, có thể làm bất
ổn một xã hội và cuối cùng mang đến gánh nặng khổ đau
cho mọi người trong xã hội. Do đó vấn đề chúng ta sống
có hạnh phúc hay không có hạnh phúc ngay trong hiện tại hay
trong tương lai, luôn tùy thuộc vào hành động của chúng ta.
Ở đây chúng cũng như pháp thứ nhất, thứ hai, thứ ba , thứ
tư trên mặt tác dụng hậu quả, nhưng trên mặt hiện tượng
thì chúng khác nhau. Trong pháp này nếu người nào tránh xa
uống các loại rượu thì theo tôn giả Mục-kiền-liên, người
ấy là vị Ưu-bà-tắc đạt được học xứ thứ năm trong
năm học xứ trên.
Tóm
lại, qua năm pháp trên: Thứ nhất cho chúng ta một cái nhìn
về nhân quả, theo đó nếu người thiện nam kẻ tín nữ nào
phạm vào, có nghĩa là chúng ta giết hại sinh mạng con người
cho đến uống các thứ rượu, thì hiện tại sẽ bị khổ
đau vì tù tội, và oán đối trả vay theo sau, khiến cuộc
sống trở nên bất an, xã hội trở thành bất ổn, và sau
khi thân hoại mạng chung sẽ đoạ vào ba đường khổ địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh oán đối theo mãi. Còn nếu lánh
xa giết hại sinh mạng người cho đến xa lìa uống các thứ
rượu, thì chắc chắn hiện tại sẽ hạnh phúc tự do, cuộc
sống trở nên an lạc, xã hội trở thành cực lạc, và sau
khi thân hoại mạng chung sẽ sinh về cõi trời. Đó là một
thứ nhân quả tất yếu không thể không xảy ra. Thứ hai ngoài
giới thứ nhất sát hại sinh mạng ra, bốn giới sau giới
nào cũng có khả năng sau khi hoàn thành việc vi phạm chính
giới có thể đưa đến giết người, và những tội danh nặng
nhẹ khác nhau có sau đó. Thứ ba trong năm giới, giới nào
khi hoàn thành nghiệp nhân của nó cũng bắt đầu từ tâm
ý tham lam, sân hận, ngu si phát động, và kéo theo đó thân
và khẩu hành động theo, và tuỳ thuộc vào kết quả đã
thực hiện xong, tội danh bắt dầu hiện hữu, sau đó sẽ
bắt đầu nhận lãnh nghiệp quả ngay trong hiện tại, hay trong
tương lai, thì chúng còn tuỳ thuộc vào duyên đủ hay chưa
đủ của chúng. Thứ tư từ những hiện tượng duyên đủ
trên đủ để phát động những liên hệ duyên khởi tiếp
sau đó, và cứ như thế trái đất vẫn quay, mặt trời vẫn
chiếu sáng, các hành tinh vẫn hoạt động bình thường, theo
sự sinh diệt phải có của chính chúng. Con người cũng không
vượt khỏi qui luật này, và như vậy họ cũng phải sinh diệt
theo qui luật thành, trụ, hoại, không, trong chu trình biến
dịch sinh tử. Trong chu trình biến dịch sinh tử này, chúng
luôn mang theo những chất liệu đủ đề hoàn thành biến dịch
của sinh và tử, đó chính là những nghiệp nhân của nghiệp
quả trước đó hình thành những chuỗi liên hệ khác trong
chính nó, và như vậy khổ đau hay hạnh phúc cũng tuỳ thuộc
vào những chất liệu nghiệp nhân mà chúng ta đã tạo ra trong
quan hệ y báo và chánh báo.
Thích
Đức Thắng.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 08-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 338 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân