PHÁP
TU TRONG BA THÁNG AN CƯ
HT.THÍCH
TRÍ QUẢNG
Theo
luật Phật, mỗi năm chư Tăng đều có ba tháng an cư kiết
hạ. Tháng thứ nhất, chúng ta thường chủ yếu thúc liễm
thân tâm. Sở dĩ thực hiện pháp này trong tháng đầu vì trải
qua 9 tháng còn lại của năm, chư Tăng đi vân du giáo hóa,
tiếp xúc với ngoại duyên, nên thường bị xã hội chi phối,
làm cho cuộc sống bị lẫn lộn nhiều việc vui buồn. Từ
đó, tâm chúng ta không được thanh tịnh, thân tướng không
hiện nét giải thoát. vì vậy, tháng đầu an cư, chúng ta bắt
đầu tự kiểm xem tâm có thanh tịnh không, tướng có trang
nghiêm chưa.
Tôi
nhớ lại tác phẩm Cửa tùng đôi cánh gài, tuy câu chuyện
đơn giản, nhưng nhắc nhở tôi nhiều trên bước đường
hoằng pháp. Nội dung câu chuyện là vị Tăng xuống núi giáo
hóa chúng sanh. Trước khi đi, vị này được thầy đưa cho
một cái kính chiếu yêu và một thanh bảo kiếm trí tuệ để
vào trần thế cứu người và trừ tà.
Khi
thầy Tăng xuống núi rồi, đi đến đâu thấy có người nào
dáng khả nghi, thầy liền lấy cái kính rọi lên họ thì thấy
được hình ảnh thật sự của họ là gì. Một hôm, thầy
dùng kính chiếu vào ông quan tri phủ thì thấy ông này hiện
ra con heo và chiếu vào thầy tu thì thấy là con hổ. Điều
này gợi chúng ta cần suy nghĩ rằng trên cuộc đời này có
thầy tu như hổ, có quan như heo.
Và
vị Tăng nọ liên tục dùng kính soi chiếu mọi người trên
đường đi thì cứ thấy toàn là heo, hổ, rắn, sói, ma qủy
…, tất nhiên là vị này đã dùng gươm trí tuệ để giết
sạch mọi thứ xấu ác trên cuộc đời.
Một
bữa nọ, thầy trở về núi, nhưng cánh cửa tùng đã đóng
kín. Thầy dùng gươm chém đứt cánh cửa thì cửa vẫn liền
lại như cũ. Thầy mệt quá nên nằm xuống ngủ thiếp đi.
Đến lúc chú tiểu đồng đi ra, đánh thức thầy dậy. Huynh
đệ gặp nhau mừng rỡ và tiểu đồng nói với vị Tăng xuống
núi rằng sư phụ bảo huynh lấy kính chiếu yêu rọi vô mình,
đừng rọi ai khác. Liền lúc ấy, vừa soi mình trong kính,
thầy thấy mình là hung thần.
Chúng
ta kiết hạ an cư hay cũng có nghĩa là chúng ta đã trở về
núi, về chùa, về tịnh nghiệp đạo tràng để soi lại bóng
mình có bị biến chất hay chưa. Giữ nguyên vẹn tư cách người
tu quả là khó vô cùng, còn thoái hóa thì dễ như chơi; vì
Phật đạo dài xa, không biết bao giờ tới đích, nên dễ
ngã lòng.
Thật
vậy, khi chúng ta ngã lòng, thì hoàn cảnh bên ngoài cám dỗ
hay đe dọa. Cám dỗ và đe dọa là hai thế lực làm chúng
ta càng dễ sai lầm, thay lòng đổi dạ, ngày nay gọi là biến
chất, thoái hóa. Điều này rất nguy hiểm cho người tu; chính
vì vậy, xưa kia Tổ sư dạy chúng ta là sơ tâm học đạo
rất tốt, phải cố giữ gìn tâm này, đừng để tâm thay
đổi theo hoàn cảnh.
Tháng
đầu an cư, qúy vị nên dành thì giờ soi chiếu tâm mình,
lấy gương tâm mà soi sáng. Nhớ lại thuở xưa Tổ Hoằng
Nhẫn dạy đệ tử làm kệ ngộ đạo là ngộ tâm gương hay
bản tánh sáng suốt. Bản tánh sáng suốt được ví như gương
sáng, dùng gương này chiếu vào tâm để trong sạch hóa tâm,
giúp chúng ta trở thành biểu tượng cho người soi bóng, chuyển
đổi thân tâm họ thành tốt đẹp trong cuộc sống của chính
họ.
Ngài
Thần Tú thể hiện tấm gương của ngài qua bài kệ trình
lên Tổ :
Thân
tợ bồ đề thọ
Tâm
như minh cảnh đài
Thời
thời thường phất thức
Vật
vi nhá trần ai
Việc
quan trọng trong tháng đầu mùa an cư là cần lau gương tâm
chúng ta cho sạch, đừng để bụi trần ảnh hưởng làm nhơ
bẩn. Thầy nào tự kiểm mình trong tháng đầu an cư, tâm hết
buồn phiền, không còn so đo, hơn thua, phải trái, hoàn toàn
thanh thản và thân ăn uống đạm bạc, nhưng sức khỏe vẫn
tốt. Như vậy là đã tiến được trên con đường giải thoát,
trần lao nghiệp chướng không còn. Tại sao có thể khẳng
định như vậy.
Chúng
ta nhìn vào gương Thế Tôn ắt biết được. Ngài có hai đặc
thù mà người thường không có. Một là cấu trúc cơ thể
đặc thù, không đói khát, không mệt mỏi, đau yếu và trí
tuệ sáng suốt siêu tuyệt. Đó là thân kiểu mẫu để tiến
tu giác ngộ, giải thoát.
Đức
Phật có được thân tướng trọn lành như vậy vì từ vô
lượng kiếp, từ khi phát tâm Bồ đề cho đến ngày thành
Vô thượng Đẳng giác, Ngài không tạo ác nghiệp, hay nói
khác là Đức Phật đã sạch nghiệp. Một trong những điểm
đặc biệt siêu việt của Đức Phật là ba nghiệp thân khẩu
ý trong sạch. Thân nghiệp sạch, nên Ngài không bệnh hoạn,
có sức khỏe phi thường và hảo tướng hiện đủ 32 tướng
tốt, 80 vẻ đẹp. Chúng ta tu hành, có được một số tướng
hảo nào là biết mình đã sạch được một phần thân nghiệp.
Hoàn toàn không có tướng hảo nào, tự biết chúng ta còn
nghiệp nặng.
32
tướng tốt, 80 vẻ đẹp của Đức Phật phát xuất từ việc
không phạm 4 điều sai lầm căn bản là sát, đạo, dâm, vọng.
Thường ốm yếu, bệnh hoạn là do sát nghiệp đời trước
nhiều, hôi dơ xấu xí là gốc từ tham dục.
Đức
Phật dạy Tỳ kheo muốn đi trên con đường giải thoát thì
không được phạm 4 trọng tội sát, đạo, dâm, vọng. Phạm
một trong 4 tội này mà Phật đã ví như cây dừa bị chặt
đứt ngọn, không lên được hoặc ví như hòn đá vỡ, không
thể nào hàn gắn lại được.
Tự
kiểm xem nếu còn phạm bốn trọng tội này là điều nguy
hiểm cho việc tu hành của chúng ta. Tuy nhiên, theo tinh thần
Đại thừa, Đức Phật cho phép sám hối. Nếu phạm tội căn
bản này mà quyết lòng sám hối, lạy Phật thì tội chúng
ta cũng tiêu lần.
Kinh
nghiệm bản thân tôi thấy rõ tiền nghiệp mình sát sanh nhiều,
nên kiếp này thường đau yếu, nhất là lúc còn ở gia đình
hay lúc xuất gia thời niên thiếu trên dưới 20 tuổi. Mặc
dù còn trẻ, nhưng tôi vẫn đau yếu luôn. Tuy nhiên, nhờ siêng
năng lạy sám hối, thì tuổi càng lớn sức khỏe lại càng
tốt và đến nay đã 64 tuổi mà vẫn thuyết pháp liên tục
được. Tôi lấy kinh nghiệm mình mà nhắc qúy thầy phạm
tội đời trước nhiều, nên siêng năng lạy Phật sám hối,
lần lần cũng sạch nghiệp.
Ngoài
ra, lúc trẻ tôi đau yếu nhiều, nên lười tắm, mồ hôi ra
nhiều thì đứng gần đại chúng tụng kinh, họ khó chịu
với cái mùi hôi của mình. Biết vậy, tôi siêng năng tụng
kinh Pháp Hoa, lạy sám hối Hồng danh Phật một mình. Khoảng
thời gian sau, tự nhiên tôi không ra mồ hôi nữa. Từ đó,
tôi tâm đắc câu khai kinh Pháp Hoa : Giả nhiêu tạo tội quá
sơn nhạc, bất tu diệu pháp lưỡng tam hàng. Dù cho tội nhiều
hơn núi, chỉ cần thực tu diệu pháp cũng được sạch nghiệp.
Nhiều
kiếp trước đã tạo quá nhiều tội lỗi, nên ngày nay bệnh
hoạn, xấu xí, hôi dơ, nghèo khổ, bốn thứ ác nghiệp này
đeo bámmình. Ta hạ quyết tâm tu, cuộc sống nhất định sẽ
thay đổi. Nhờ pháp Phật lau được gương tâm trong sáng,
từ đó, nhìn về pháp, về cuộc đời sáng lần. Tôi nhắc
qúy thầy nên dành tháng đầu an cư để kiểm tra toàn bộ
quá khứ của chúng ta, gần nhất là những việc diễn tiến
trong 9 tháng truyền giáo vừa qua của mình.
Bước
thứ hai khi đã sạch nghiệp thì chúng ta tham Thiền. Không
phải lúc nào cũng áp dụng Thiền pháp được, không đủ
tiêu chuẩn thì không thể nhập Thiền. Người bệnh hoạn,
tật nguyền không thể tham Thiền, vì không có khả năng làm
được như người khỏe mạnh.
Tham
Thiền đòi hỏi tiêu chuẩn sạch nghiệp, tức thân khỏe,
trí sáng. Nếu thiếu trí sáng suốt và không có minh sư hướng
dẫn, dễ rớt vào cảnh ma. Phải có trí bén nhạy để nhập
Thiền, trụ Thiền.
Trên
bước đường tu, tôi thí nghiệm pháp này thấy rõ là sám
hối sạch nghiệp, cầu Phật gia bị, nói theo kinh Pháp Hoa
là ta đã trồng căn lành ở các Đức Phật và được Phật
gia bị thì gia công Thiền quán nhằm tưới cây bồ đề của
chúng ta lớn nhanh.
Bước
đầu phải sạch nghiệp và bước thứ hai vô Thiền dễ, vì
thân không bệnh, tâm yên ổn, nên ngồi là nhập Thiền liền.
Trái lại, lúc nghiệp còn nặng, tức thân bệnh, tâm buồn
chán, mỏi mệt thì làm cách nào nhập Thiền được.
Ngài
Trí Giả dạy muốn tu Thiền phải dứt tất cả duyênvụ.
Khi chún gta kiết giới, có phân chia chúng nội Thiền hay thanh
tịnh Tỳ kheo và chúng ngoại Thiền hay chúng duyên vụ. Dù
tu lâu, làm lớn cũng là chúng duyên vụ nếu lo làm việc cho
đại chúng, cho cuộc đời.
Chúng
duyên vụ hy sinh cho người nội thiền, như tôi trong ba tháng
an cư phải đi thăm tất cả trường hạ, sách tấn đại chúng,
nên không ở yên được, khó thanh tịnh. Hoặc Thượng tọa
trụ trì chùa Long An phải lo việc ăn ở cho đại chúng, làm
sao vô Thiền được; dù có Thiền thì tiền bạc, cơm gạo
đủ thiếu đều hiện ra đầy đủ.
Tôi
đã từng hành Thiền, nên biết rất rõ điều này, nếu là
tri khố thì cứ thấy rau cải, thức ăn trong lúc Thiền. Nuôi
chúng, lo cho chúng, làm cho chúng … có phước báo thật; nhưng
thực sự cũng phải gánh phần thua thiệt vì tâm gương chúng
ta toàn là gạo nếp, nước tương, đậu hũ … làm sao sáng
nổi. Muốn tâm trong sạch, chỉ còn cách dùng pháp Phật quét
sạch hoàn toàn những việc dính mắc này cho đến mức đạt
được vô tâm.
Các
thầy ở nội Thiền nhờ chúng ngoại Thiền lo việc ăn ở
đầy đủ, thì phải nỗ lực tu hành đạt được thành quả
nhất định để đáp đền công ơn đại chúng. Trái lại,
chỉ lo hưởng thụ, không tu đắc đạo, đời đời kiếp
kiếp cũng không trả hết món nợ sâu nặng này.
Tháng
thứ hai an cư, nỗ lực đi sâu vào Thiền định để phát
huy trí tuệ. Tỳ kheo mà tâm không tập trung, trí không sáng
suốt, không phải đệ tử Phật. Bước đầu phải tập tâm
bình ổn trước, chưa nói đến Thiền định, gọi là tĩnh
tâm hay tập trung tư tưởng. Đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, ngủ
phải tập trung; xin nhắc lại đây mới là tập trung, chưa
phải Thiền.
Muốn
tập trung, chúng ta phải tìm một đối tượng hay một điểm
tựa để tập trung; nếu không thì tâm tán loạn. Và điểm
tựa phải có sức thuyết phục, hấp dẫn, mới tập trung
được. Tôi học pháp tập trung ở Nhật Bản là tập trung
vô mũi kiếm. Thiền sư Nhật thường là những kiếm khách
lỗi lạc. Cách tu Thiền của họ khởi đầu bằng tập luyện
võ thuật, lấy đó làm pháp tu Thiền; mới nghe chúng ta thấy
lạ, nhưng điều này rất thực tế và đúng đắn.
Lúc
còn sinh viên, tôi chơi thể thao hơn người vì có sức tập
trung cao, nên bắn tên rất chính xác. Từ tập trung, đến
nín thở và đứng thần, tức mắt nhìn trùng trùng vô tiêu
điểm; đôi mắt gần như hai tia lửa, vì tập trung mạnh,
người nhìn thấy phải sợ. Đầu tiên, Thiền sư dạy tập
trung vô hồng tâm là chấm đỏ ở giữa để bắn trúng vô
điểm ấy . Về sau, tập trung vô đấu pháp, nhìn thẳng vô
mũi kiếm của đối phương để đỡ. Đứng trước đối
thủ có tầm cỡ, nếu lơ đễnh là chết liền.
Sức
tập trung tạo ra hiệu lực phi thường, tôi phát hiện điều
này trên thực tế là có một thầy bị cọp đuổi, ông nhảy
lên ngọn cây liền lập tức; nhưng sau đó, hoàn hồn rồi,
không còn cọp nữa; thì không thể leo xuống được. Hoặc
có người bị giặc rượt, họ tức tốc chui vô bụi tre một
cách dễ dàng; nhưng sau đó thì ra không được. Có thể hiểu
rằng khi sợ quá, tâm họ đi thẳng mạnh vào một điểm,
tạo được những điều kỳ diệu. Người đắc thần thông
cũng ở dạng này vì lực tập trung cao, làm được việc phi
thường mà bình thường không làm nổi.
Thiền
sư dạy đấu kiếm, bắn cung và sau cùng bắt ngồi yên tĩnh
tâm thì tôi vẫn thấy đường kiếm của đối thủ di động
trong đầu tôi, thấy được đấu pháp, mới có sáng tạo.
Như vậy Thiền sư ấn chứng là đạt kết quả.
Tiến
thêm bước nữa, không phải nghĩ đến đấu pháp; vì đã
tập trung được rồi thì bắt đầu tham Thiền là tham thoại
đầu, tức tìm một ý trong kinh để tập trung tư tưởng vô
đó và trí sẽ theo sức tập trung đó mà sáng ra. Thiền sư
đắc đạo cho chúng ta một thoại đầu hay một chữ để
chúng ta chú ý vô chữ này, việc này cho đến khi ý sâu xa
trong kinh được bừng sáng.
Riêng
tôi, tham thoại đầu trình cho Thiền sư, tôi thường lấy
kiến giải về kinh Pháp Hoa. Vì trong lúc tham thoại đầu,
tôi cứ nghĩ đến các vị Phật trong kinh. Nhờ tập trung mạnh
vào các vị Phật mà tôi có nhân duyên, tôi cảm giác như
được Phật phóng quang gia bị, như Phật hiện trước mặt
tôi hay có tia sáng vô hình làm tâm tôi sáng lên.
Trước
kia luyện kiếm thì phát hiện được đấu pháp mới và nay
tham thoại đầu cũng thấy ý nghĩa mới trong kinh, thấy Phật
dạy một câu, một kệ ngộ rồi thì ca ngợi công đức Như
Lai cùng kiếp không hết.
Có
thể nói tháng thứ hai của mùa an cư quan trọng vì chúng ta
đã đi sâu vào Thiền định, tham quan Tịnh độ của chư Phật
mười phương và tiếp nhận sự gia bị của các Ngài. Được
như vậy, thì tháng thứ ba, chúng ta làm gì ?
Mục
Kiền Liên sau khi tu tập, đắc được huệ nhãn, đạo nhãn,
Ngài quan sát lục đạo tứ sanh, thấy mẹ mình sanh trong loài
ngạ qủy đói khát mà cơm dâng đến miệng cũng không ăn
được.
Ý
này cho thấy khi bị đọa ngạ qủy, dù có nhiều của báu
mà chỉ vài hạt cơm, họ cũng không hưởng được; ví như
người bị bệnh nặng không thể nào nuốt thức ăn, không
phải cứ cúng là họ ăn được.
Người
đắc đạo nhìn sự việc và có cách sống khác người thường,
nên Mục Kiền Liên mới hỏi Đức Phật. Hiểu biết không
đến nơi đến chốn thì phải cầu Phật là ngưòi hiểu biết
tất cả chỉ dạy. Trên bước đường tu của chúng ta cũng
thế, việc nào chúng ta thấy biết, làm được là đơn giản;
những việc chúng ta không biết thì phải trở về nhập định,
hay nói cách khác, phải tu để hỏi Phật. Nếu Phật hiện
hữu trên cuộc đời, Ngài là bậc minh triết chúng ta đến
cầu học; nhưng Ngài không còn hiện diện thì ở đâu có
thiện tri thức tài giỏi, chúng ta tìm đến để học hỏi,
không mắc cỡ. Nếu mắc cỡ, không dám học với người nhỏ
hơn mình thì phải ôm cái dốt suốt đời. Thiết nghĩ ở
trên cuộc đời, học hỏi lẫn nhau là bình thường, vì không
ai hiểu biết trọn vẹn. Nhất là những thầy trẻ ngày nay
được hưởng điều kiện văn minh tốt hơn, nên dễ hiểu
biết hơn chúng ta, chẳng có gì đáng mắc cỡ khi phải học
cái mình chưa biết với thiện tri thức nhỏ tuổi và nhỏ
địa vị hơn mình. Không biết mà nói càn thì hại cho ta và
người. Cái người chưa biết mình dạy họ và cái mình chưa
biết thì học với người. Học và dạy để phát huy hiểu
biết của chính mình và người là việc tốt cần thực hiện
suốt đời.
Ngoài
việc học hỏi thiện tri thức, chúng ta còn hỏi Phật, nghĩa
là nhập định hỏi Phật trong mười phương. Vì Đức Phật
Thích Ca có giới thiệu chư Phật mười phương, mỗi vị Phật
có một việc làm khác nhau. Muốn biết việc cầu siêu thì
xem kinh Di Đà, chúng ta thấy Đức Phật Thích Ca giới thiệu
Đức Phật A Di Đà có 48 lời nguyện, trong đó có nguyện
độ sanh. Trong kinh nói rõ muốn được sanh về thế giới
Tây phương Cực lạc của Đức Phật Di Đà phải có tâm nguyện
thế nào, phải làm những việc gì, thì theo đó mà thực hiện
ngay trong cuộc sống này. Làm đầy đủ những điều ấy,
chắc chắn khi mãn duyên Ta bà, sẽ đi về cảnh giới Cực
lạc của Ngài. Hoặc muốn được Phật Di Đà, Bồ Tát Quan
Âm, Thế Chí tiếp độ vãng sanh lúc lâm chung thì phải nhất
tâm niệm Phật, còn cô hồn các đảng không bao giờ niệm
Phật và cũng không thể niệm Phật được thì làm sao mà
Phật rước được.
Theo
tôi chúng ta còn có cách là hết lòng nghĩ đến người quá
cố, nếu ta có đức hạnh thì khuyên họ dễ nghe. Phải nghĩ
cho đúng về họ để gặp được họ ở thế giới tâm linh,
mới cứu được.
Có
thể khẳng định rằng người tu cần có lực tập trung mạnh,
định lực cao và dùng sức định tĩnh ấy mà nghĩ về người
chết đang ở thế giới nào giống như chúng ta đang nghĩ về
Phật. Nghĩ đến Phật để tâm chúng ta thanh tịnh và nghĩ
về chúng sanh để giúp họ vơi bớt nghiệp. Thực tế cho
thấy người bị sa cơ thất thế, sắp chết hay sắp bị tù
thì chúng ta bảo gì họ cũng nghe. Còn người giàu có sung
sướng, chúng ta khuyên không được. Kinh nghiệm tôi lúc còn
ở Nhật Bản, có một học sinh lớp 12 nhờ tôi bảo lãnh
sang Nhật học, vì sợ ở Việt Nam bị đi lính chết. Tôi
trả lời bảo lãnh thì được, nhưng không có phước đức
thì cũng không đi được. Tôi bảo anh ta tụng kinh Pháp Hoa,
lạy Phật, ăn chay; anh nghe lời làm theo răm rắp. Nhưng đến
khi sang Nhật được rồi, thì tháng đầu còn ăn chay, niệm
Phật; tháng thứ hai coi bộ lơ là và tháng thứ ba thì không
thấy mặt anh ta đâu.
Tôi
nghĩ độ chúng sanh ở địa ngục, ngạ qủy, súc sanh thì
dễ hơn độ người ở cõi phước. Cầu nguyện và cứu độ
được người đau khổ thoát khỏi chốn tam đồ, khi họ gặp
lại ta, chắc chắn là mừng lắm. Tôi tu Pháp Hoa có nhiều
đệ tử là vậy, vì họ tái sanh nhớ ơn cứu khổ nên hết
lòng với tôi.
Các
thầy độ thế giới âm không cho bằng cấp, chỉ cần có
tấm lòng thương tưởng họ và nhờ nương đức độ của
các thầy mà họ giải thoát được và tái sanh trở thành
quyến thuộc một lòng một dạ theo các thầy.
Trong
tháng thứ ba của mùa an cư, ta tu được vài đạo phẩm, dùng
đó để cảm hóa người đau khổ, đưa họ trở về nhân
gian và tiếp tục giáo hóa họ tu hành. Đó là quá trình tu
trong ba tháng an cư kiết hạ mà tôi nhắc nhở chư Tăng nên
áp dụng pháp nào tu cho đạt kết quả thực sự. Dùng thành
quả tu chứng để độ sanh, đền trả bốn ơn trong mùa Vu
Lan.
Cầu
nguyện chư Phật gia hộ qúy Thầy luôn an lành trong chánh pháp.
Down
Load " Word Document" (WinZip File 458 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân