Ý
NGHĨA ĐẠI LỄ VU LAN
Cư
Sĩ : Nguyễn Đức Can
Mỗi
năm cứ gần đến trăng tròn tháng 7 âm lịch và cũng là cuôi
mùa hạ, bát dầu sang thu lá vàng rụng xuống, lá xanh trồi
lên, bông hoa lá bát dầu chớm nở, sau một mùa oi bức, nóng
nực của cái nóng mùa hè. Thời tiết thay đổi thì lòng người
cũng đổi thay để chuẩn bị tổ chức đại lễ Vu Lan, đó
là mùa “Báo ân cha Mẹ”, lễ Vu-Lan đã để lại từ ngàn
xưa mà Đức Mục-Kiền-Liên là tiêu biểu, gương mầu,
suốt cả nghìn đời mà Đức Phật đã để lại, cho hàng
Phật tử để lấy đó làm gương noi theo.
Danh
từ Vu Lan là phiên âm từ chữ Phạn Ullambana, người Trung
Hoa dịch là Giải Đảo Huyền, có nghĩa là giải cứu tội
khổ bị treo ngược. Người Trung Hoa còn gọi lễ này là VU
LAN BỒN, chữ Bồn nghĩa là chậu đựng thức ăn dâng cúng.
Còn gọi là Ô-lam-ba-noa. Dịch là đảo huyền, chỉ nỗi đău
khổ cùng cực. Kinh Vu Lan Bồn do ngài Trúc Pháp (Dharmaraksa)
dịch từ chữ Phạn ra chữ hán vào thế kỷ thứ ba. Vậy
lễ Vu Lan hay Vu Lan Bồn có nghĩa là lễ dâng cúng thức ăn
lên Tam Bảo để xin chú nguyện cho ông bà, cha mẹ những người
quá cố trong bẩy đời gọi là cửu huyền thất tổ, nếu
ai đã làm những điều tội lỗi ở trần gian, khi ngủ dấc
ngàn thu thì bị đầy vào ngã quỉ, sẽ nhờ ân đức
Tam Bảo được thoát khỏi cảnh địa ngục, được sanh về
các cõi an lành khác.
Trong
dân gian dựa vào đó, nên có một niềm tin vào các vong hồn
bị đầy đọa vào cảnh ngục tù ở dưới âm phủ đã được
cứu thoát ra khỏi địa ngục, nên các vong hồn này đang đói
ăn, khát uống, bởi vậy người trên trần gian có bổn phận
mua sám các lễ vật, thức ăn, cúng các vong linh đang bơ vơ
đói khát. Nhưng đây chỉ là một ý nghĩa còn ý nghĩa quan
trọng hơn hết đó là lòng hiếu thảo của những người
con đối với các bậc sinh thành.
Dân
tộc Việt Nam từ ngàn xưa đã truyền lại, để nhắc nhở
cho các con chắu của các thế hệ său này phải lấy chữ
“HIẾU” làm đầu, vì công ơn mẹ cha thăm thẳm như trời
cao, vằng vặc như sông dài, rực tỡ như mặt trời, tỏ rõ
như ánh trăng ràm. Lúc thiều thời tôi đã được học thuộc
lòng các câu ca dao, truyền bá trong dân gian như său :
“Ơn
cha cao như núi thái sơn
Đức
mẹ hiền sâu rộng biển khơi
Dù
cho dâng cả một đời
Cũng
không trả được ơn trời sinh ra.”
Hay
là : Công cha như núi thai sơn
Nghĩa
mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một
lòng thờ mẹ kính cha
Cho
tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Đức
Phật đã dậy cho ta ràng : “Tâm hiếu tức là tâm Phật .
Hiếu Đạo vô phi Phật Đạo”. Tâm hiếu là tâm Phật, đạo
hiếu là đạo Phật.” vì vậy mà đạo Phật xác định :
Cùng cực điều thiện không có gì hơn hiếu, cùng cực điều
ác không có gì hơn bất hiếu.
Đã
là con người, từ đấng thánh hiền đến người thường
dân ai ai cũng phải có một cha, một mẹ sinh ra, chính cha,
mẹ đã san sẻ một phần mắu, thịt để tạo nên hình hài
của mỗi người con. ï Công ơn sinh thành và dưỡng dục của
Mẹ, Cha không bút nào tả xiết.
Trong
kinh Mục-Liên Xám Pháp, Đức Phật đã nói. Trong con người
ta có 12 bệnh, bệnh căn sâu nặng không được thấy Phật.
A Nan hỏi Phật : Đó lá bệnh gì ? Đức Phật trả lời :
“Không kính cha mẹ, đó là một bệnh; Ngu si tạo ác, đó
là hai bệnh; Gian xảo điêu ngoa; đó là ba bệnh. Lời noi hại
người, đó là bốn bệnh. Hay tìm lỗi người; đó là bệnh
thứ năm. Giết hại chúng sinh; đó là căn bệnh thứ sắu.
Không biết hổ thẹn: đó là bệnh thứ bẩy. Ham mê sắc dục;
đó là bệnh thứ tám. Kiêu ngạo khinh người; đó là chín
bệnh. Phạm tội không hối; là bệnh thứ mười. Khen mình
chê người; là bệnh thứ mười một. Không biết lợi hại;
là bệnh thứ mười hai.”
Trong
kinh Thi Phụ cũng có một đoạn như său : Phụ hề sinh ngã,
Mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu sinh ngã cù lao, dục báo thiên
ân, hiệu thiên võng cực (Cha sinh ra ta, Mẹ bồng bế ta, thương
thay cha mẹ, sinh ta khó nhọc, muốn báo ân sâu, khác nào như
trời cao, khôn cùng) như một lời tuyên ngôn về Hiếu Đạo.
Còn khi đề cập đến công ơn từ mẫu thì đã có công thức
chín chữ Cù lao : “Sinh, Cúc, Phủ, Súc, Trưởng,
Dục, Cố, Phục, Phúc”.ïSinh (đẻ ra), cúc (nâng đỡ), phủ
(vuốt ve), súc (nuôi cho bú mớm), trưởng (nuôi cho khôn lớn)
dục (dạy dỗ), cố (trông nom), phục (là xem tính tình mà
chỉ bảo), phúc (là bảo vệ),. Ở Trung Hoa cũng đã có quyển
sách “Thập nhị tứ hiếu” (24 tấm gương hiếu thảo).
Ở Việt Nam ta cũng còn có những câu ru con của các bà mẹ
xưa kia như :
“Ru
hời, ru hỡ, ru hơi
Công
cha như núi ngất trời
Nghĩa
mẹ như nước ở ngoài biển đông
Núi
cao biển rộng mênh mông
Làm
con trước phải đền công sinh thành.”
“Đố
ai đếm được lá rừng
Đố
ai đếm được mấy tầng trời cao
Đố
ai đếm được những vì sao
Đố
ai đếm được công lao mẹ hiền>”
Lễ
Vu Lan nay không còn là một đặc thù riêng của người Phật
Tử mà là một nghĩa vụ thiêng liếng nhất của mọi người
con hiếu hạnh, ( không phân biệt tôn giáo, sác tộc) đối
với các bậc sinh thành. Từ các bậc Thánh Hiền đến người
thường dân đã là con người ai cũng có cha, mẹ sinh ra. Người
Mỹ họ có ngày Father’s day và ngày Mother’day, nhưng Việt
Nam ta có cả một mùa Vu Lan để các con, chắu có dịp báo
hiếu. Trong các hàng đệ tử của Đức Phật có Ngài Mục
Kiền-Liên tiêu biểu cho sự hiếu thảo vô biên, nên còn được
tôn xưng là “Đại Hiếu Mục Kiền Liên”, ngài có thần
thông cao nhất trong số 10 đại đệ tử đầu tiên
của Đức Phật.. Ngài đã chứng đươc sắu phép thần thông
: 1)-Thấy mọi vật trong vũ tru. (thiên nhãn thông). 2)-Nghe được
mọi thứ tiếng ở kháp nơi, (thiên nhĩ thông). 3)-Biết chuyện
đời trước, hiện tại và său này của mình cũng như của
mọi người, (túc mạng thông)- 4)-Biết trong lòng người khác
đang nghĩ gì, (tha tâm thông). 5)-Biết đi đến khắp nơi, biến
hóa nhanh như chớp mắt, (thần túc thông). 6)-Trong sạch hoàn
toàn, dứt bỏ hết các trìu mến, không còn chấp ngã. (lậu
tận thông).
Một
hôm Ngài nhớ đến mẹ, ngài dùng thiên nhãn thông tìm thấy
mẹ sanh vào ngã quỉ, không được ăn uống, ngài đem cơm
vượt qua chín tầng địa ngục để dâng cho mẹ, bà Thanh
Đề lòng vẫn còn bủn xỉn, lấy tay trái che miệng bát cơm,
tay phải bôc cơm ăn, nhưng cơm chưa đưa tới miệng thì cơm
hóa thành lửa, ăn không được. Ngài Mục Kiền Liên trở
về Bạch với Phật. Đức Phật dậy rằng, tội của bà Thanh
Đề quá nặng. Mục Kiền Liên “tự lực” không thể cứu
được, muốn cứu mẹ, con phải nhờ đến “ tha lực” của
mười phương chư tăng mới giải thoát được, muốn được
vậy phải làm như său :
Đến
ngày rằm tháng bẩy là ngày mãn hạn tự tứ của chư tăng,
hãy vì ông bà, cha mẹ bẩy đời nhiều kiếp hay các
bậc sinh thành hiện tiền, sám sửa trai soạn, hương hoa và
thức ăn tịnh soạn để vào trong BỒN, dâng cúng cho các chư
tăng, và lập đại giới đàn để các chư Tăng nhất tâm
đảnh lễ cùng hiệp lực cầu nguyện chư Phật mười phương,
thì mới giải thoát được cho mẹ.
Đức
Mục Kiền Liên vâng lời Đức Phật dậy về làm y như thế
, Bà Thanh Đề liền được thoát khỏi kiếp ngã quỉ, được
sanh lên cõi trời. Do đó, Đại lễ Vu Lan xuất phát từ thời
gian đó cho đến ngày nay hàng năm cứ đến ngày rằm tháng
bẩy là mọi người dân Việt, nếu những ai hiểu và sống
trong một gia đình có truyền thống dân tộc thì đều tham
gia tổ chức lễ Vu Lan để có dịp báo ân sinh thành, cha mẹ
hiện tiền, cầu nguyện cho tổ tiên, ông bà đã quá vãng
được siêu sanh cực lạc quốc và xoá tội vong nhân.
Theo
truyền thống của Phật Giáo hàng năm quí chư Tăng, Ni nhập
hạ trong thời gian ba tháng kể từ ngày Đản Sanh của Đức
Phật cho đến ngày rằm tháng bẩy âm lịch với mục đích
vân tập về một nơi để tu tập đó là mùa kiết hạ, trong
dịp ba tháng kiết hạ có dịp ôn tập lại các giới luật,
tu tập đạo hạnh và tu học kiến thức phật pháp. ngày hạ
nạp (mãn hạ) gọi là ngày Tự Tứ có nghĩa là Pravaranà
(thuật ngữ) tiếng Phạn là Bát-thích-bà cách dịch cũ là
Tự tứ, cách dịch mới là Tuỳ ý. Nghi thức vào ngày cuối
cùng của thời kỳ an cư kiết hạ, ngày đó mọi người đều
tự nêu ra các tội lỗi mà mình đã mác phải (tự kiểm)
trước các tỳ kheo khác và tự xám hối nên gọi là Tự Tứ.
Trên
đây là ý nghĩa của mùa Vu-Lan, một ngày lễ quan trọng
của dân tộc Việt Nam và nhất là những người phật tử
cần phải thể hiện ra chữ “HIẾU” trong dịp đại
lễ Vu Lan hàng năm để đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng
dục của cha mẹ hiện tiền và cửu huyền thất tổ nhiều
đời nhiều kiếp của mỗi người con hiếu hạnh../.
Cư
Sĩ, Tuệ Minh Đạo NGUYỄN ĐỨC CAN
E-Mail
:ndcan2000@yahoo.com
Down
Load " Word Document" (WinZip File 458 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân