MÙA
VU LAN NHỚ NGOẠI
Trần
Ngươn Phiêu
Triệu
mồ côi mẹ rất sớm, khi chưa tròn năm tuổi. Mẹ Triệu vốn
thuộc một gia đình công chức khá giả, lớn lên ở Sài Gòn
nhưng sau khi có chồng thì về làm dâu ở Mỹ Long, một làng
nhỏ thuộc quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Ðéc, ven biên Ðồng Tháp
Mười. Nơi đây là một nơi thực sự quê mùa, xa thành phố
Sa Ðéc cách hai nhánh sông lớn Hậu Giang. Từ Sài Gòn xuống,
đường bộ không đi ngang qua làng. Thuở đó con đường từ
An Hữu, sau khi qua bến Bắc Mỹ Thuận, đi đến quận Hồng
Ngự chưa được xây cất như trong thời Ðệ nhất Cộng Hòa.
Dân trong làng nếu không có dịp ra tỉnh thì chưa biết được
hình dáng một chiếc xe hơi ra làm sao!
Ông
nội Triệu là một nhà nho, quê ở Hà Tĩnh vào Nam để theo
ông Bác của Triệu bị Pháp xử lưu đày ở Nha Mân (Sa Ðéc)
vì tham gia hoạt động trong phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục.
Nhiều nhà cách mạng khác cũng bị Pháp chỉ định cư trú
như cụ Vũ Hoành ở Sa Ðéc, cụ Dương Bá Trạc ở An Giang,
cụ Phan Tây Hồ ở Ðịnh Tường... Từ Hà Tĩnh, ông nội
Triệu đã đi bộ vào Nam tìm người anh cả. Cuộc hành trình
này là một giai thoại được con cháu thường nhắc nhở trong
gia đình. Ông nội Triệu đã lãnh trách nhiệm dạy học ở
làng và đã lập nghiệp ở đây, vừa làm vườn vừa làm
ruộng. Cả làng đều gọi ông là Ông Giáo.
Cha
Triệu là một tư chức làm việc với Pháp có được cơ hội
giúp việc khi Pháp thành lập các khách sạn lớn như Continental,
Majectic ở Sài Gòn, Langbiang Palace, Hôtel du Parc ở Ðà Lạt.
Lúc Triệu ra đời thì cha Triệu đã trở thành chuyên viên
nên được chỉ định phụ trách các khách sạn ở Siemréap,
Ðế Thiên Ðế Thích và nhà hàng Bokor ở Campuchia. Mẹ Triệu
vì có hai con còn nhỏ nên chưa theo chồng được, phải về
quê làm dâu. Từ một nơi phồn hoa là Sài Gòn về chốn quê
mùa, mẹ Triệu vẫn thích nghi được với cuộc sống mới.
Từ một cuộc sống tương đối theo lối Âu tây trong một
gia đình công chức, mẹ Triệu vẫn sinh hoạt bình thường
trong một gia đình Nho giáo theo lề lối sống khắt khe.
Vì
mất mẹ khi còn quá nhỏ, Triệu chỉ còn nhớ mang máng được
hình ảnh mẹ như khi mẹ xắt chuối nuôi heo hay xay lúa, giã
gạo, sàng gạo với các cô... Chỉ có một lần được mẹ
tắm ở giữa sân, khi gội đầu bằng xà bông, Triệu đã
nhắm chặt mắt chờ khi mẹ xối nước xong mới dám vuốt
mặt, mở mắt ra. Nắng chiều chiếu qua các giọt nước còn
đọng trên mi, mặt mẹ Triệu cúi gần mặt Triệu, nên khi
mở mắt Triệu thấy hình ảnh mẹ lung linh tuyệt đẹp. Bảy
chục năm về sau, mỗi lần hồi tưởng nhớ mẹ, Triệu vẫn
còn giữ mãi nét mặt của mẹ qua ánh nước lóng lánh của
buổi chiều ngày đó.
Nhưng
rồi, một hôm, mẹ Triệu trở bịnh nặng, hôn mê nhiều ngày.
Triệu và em được cho ngủ riêng với các cô. Một buổi chiều,
mẹ Triệu hồi tỉnh lại, các cô đưa anh em Triệu khép nép
vào thăm mẹ. Nhưng đó có lẽ là những phút hồi dương ngắn
vì sáng hôm sau, các cô khóc sướt mướt đánh thức anh em
Triệu dậy và cho hay “Mẹ đã mất rồi”. Vào tuổi đó
Triệu thấy người lớn khóc nên cũng khóc theo, nào có hiểu
mất mẹ là gì! Cả nhà rộn rịp, rối rắm lo việc tẩm
liệm. Trưa hôm đó, không ai còn thì giờ lo cho anh em của
Triệu. Hai anh em đều thấy bụng đói cồn cào nhưng không
dám nói cho ai biết đành rủ nhau nằm vắt vẻo ở cầu thang
vì nhà ông nội Triệu được cất theo loại nhà sàn cao, theo
lối nhà người Miên. Sau cùng có người nhận thấy, nhớ
là quên cho anh em Triệu ăn mới lo cho hai đứa nhỏ vừa mất
mẹ. Ðó là lần đầu tiên Triệu mới nhận thức được
thân phận mồ côi của mình!
Mẹ
Triệu được chôn ở thửa ruộng trước nhà không xa. Chiều
chiều Triệu vẫn ngồi trước nhà nhìn ra mả mẹ. Bên mộ
thấy có trồng một cây chuối, vì hình như mẹ Triệu chết
trong lúc đang mang thai. Nghe người lớn bàn: khi chuối trổ
buồng, lúc đó là em Triệu sẽ được sanh ở cõi âm? Trước
mộ, Triệu còn thấy con chó tên Nết mà mẹ Triệu thường
chăm sóc cho ăn mỗi ngày đang nằm ủ rũ. Con chó trung thành
đó vẫn ra nằm nhiều ngày bên mộ mẹ Triệu!
Khi
mẹ Triệu trở bịnh nặng, ông ngoại Triệu được thông
báo nên hấp tấp về thăm, nhưng khi đến nơi đã thấy áo
quan đang được chuẩn bị sơn đỏ khiến ông đã ngất xỉu,
bộ Âu phục đang mặc bê bết màu sơn. Sau buổi chiều mẹ
Triệu đã được chôn cất, ông đã ở lại đêm để chờ
đến sáng đáp chuyến đò trở qua Sa Ðéc. Ðêm đó ông đã
thao thức không ngủ được, đưa mắt nhìn ánh đèn dầu trên
bàn thờ vừa mới dựng lúc ban chiều cho mẹ Triệu. Chiếc
đèn đó là một loại đèn dầu rất tốt, hiệu Hirondelles
mà ông ngoại Triệu đã mua của hãng Armes et Cycles de Saint
Étienne ở Pháp để tặng mẹ Triệu vì biết mẹ phải về
sống ở nơi quê mùa, không có ánh đèn điện. Ánh đèn tốt
như thế lại bỗng nhiên bị tắt. Ông ngoại Triệu đang thức
nên đã đốt lại đèn hơn hai lần trong đêm, nghĩ rằng có
lẽ bướm đêm đã lọt vào bóng đèn làm đèn tắt, nhưng
rồi ông lại nhớ khi chưa về nhà chồng, mẹ Triệu ngày
trước cũng thường hay tắt đèn như thế để ông được
ngủ an giấc. Cả nhà vì thế thường tin tưởng là mẹ Triệu
đã chết khi còn quá trẻ, chưa đến 24 tuổi, mà lại đang
mang thai nên rất linh hiển!
Năm
mẹ Triệu chết là lúc thế giới đang ở vào thời kỳ khủng
khoảng kinh tế trầm trọng. Thương mãi, mùa màng ruộng vườn...
đều không đem lại đủ lợi tức cho dân chúng. Cha Triệu
đang có được chỗ làm ăn tốt phải trở lên Cam Bốt tiếp
tục hành nghề. Ông, Bà ngoại Triệu đã thuyết phục bên
nội Triệu để đem hai anh em Triệu về nuôi nấng.
Thế
là Triệu có được cơ hội từ biệt nơi thôn dã để đến
sinh sống trong một môi trường mới, nhộn nhịp tiếng người
và xe cộ. Ông ngoại Triệu lúc ấy được thuyên chuyển về
tỉnh Vĩnh Long, không xa Sa Ðéc bao nhiêu nhưng đối với tuổi
thơ của hai anh em Triệu, đó là cả một cuộc thay đổi to
lớn.
Thành
phố Vĩnh Long không lớn lao gì, xe hơi không có được bao
nhiêu chiếc, phần nhiều là xe của các cơ quan chánh phủ
hoặc các xe lô, xe đò... Hai anh em Triệu rất thích ra trước
nhà ngắm các loại xe tự động, nhất là những ngày mưa
để nhìn các quạt nước nhịp nhàng đều đặn lau các kính
xe. Ðặc biệt vào thuở ấy, phương tiện di chuyển, ngoài
loại xe kéo, tư nhân còn có thể mướn một loại xe ngựa,
được gọi là xe song mã. Loại xe có hai ngựa kéo này trông
rất thanh nhã, nay còn được thấy ở Pháp hay Mỹ, nơi các
thắng cảnh có nhiều du khách muốn được ngồi xe rong chơi
theo lối nhàn hạ thời xưa. Loại xe này được trang bị loại
chuông báo hiệu do người lái xe đạp bằng chân, tiếng chuông
ngân lớn nhưng rất êm tai.
Triệu
không quên được buổi cơm chiều đầu tiên khi được đưa
về sống bên ngoại. Ông Tám, người bếp già của ông ngoại
Triệu, rất vui mừng khi thấy trong nhà có thêm hai đứa trẻ
thay vì chỉ toàn là người lớn như từ trước đến nay.
Triệu được cho ăn món súp đầu tiên, trong súp có bỏ thêm
nhiều miếng bánh mì nhỏ chiên; nhưng cả hai anh em Triệu
đều ngồi ngẩn ngơ, chỉ vớt ăn các miếng bánh mì nào
còn giòn, chưa thấm nước súp nhiều. Ông bếp Tám thất vọng
khi thấy hai thực khách tí hon không biết thưởng thức món
súp đặc biệt của ông. Triệu thú thật là ăn không được
vì vị quá lạ, nuốt không vô. Lúc ấy cả nhà mới vỡ lẽ
là hai đứa nhỏ nhà quê ở làng nên chưa bao giờ miệng lưỡi
lại được nếm mùi thịt bò và mỡ bò! Từ đó, cả nhà
thỉnh thoảng vẫn hay đùa gọi anh em Triệu là các cháu nhà
quê. Mà quả thật anh em Triệu quá quê vì đã sống trong một
làng nhỏ, ít khi được đưa đi chợ, mặc dầu là chợ làng.
Lần đầu tiên được bà ngoại dẫn đi ăn mì, Triệu thấy
món ăn này sao mà mùi vị ngon đến thế. Cả đến hôm được
dẫn đi mua sách vở và cặp để chuẩn bị nhập học, ông
chủ tiệm bán cặp da tặng cho một viên kẹo caramel sửa-cà
phê. Khi ngậm viên kẹo mới nhận thức được hương vị
thần tiên của viên kẹo ngoại quốc đầu đời!
Ba
năm theo học các lớp tiểu học ở Vĩnh Long là ba năm được
tiếp xúc với các bạn bè nhiều giới. Triệu lại có tánh
hay thích kết bạn, gặp ở lớp chưa đủ, ngày nghỉ thế
nào cũng tìm cách đến nhà để tiếp tục bày trò. Triệu
rất thích một anh bạn có cha làm nghề sửa xe hơi vì nhà
anh có bao nhiêu là viên đạn sắt đủ cỡ, bao nhiêu cơ phận
máy móc hư phế thải... Triệu còn một anh bạn khác tên Long,
cũng mồ côi mẹ, cha là một y sĩ phải đi hành nghề xa quê.
Long cũng như Triệu, được gởi ở với bà ngoại. Vì cùng
cảnh ngộ nên Long và Triệu thường gặp nhau trong các ngày
nghỉ. Thật ra, việc tình cảnh gia đình Long là do bà ngoại
Triệu tìm ra. Như đã nói ở trên, Triệu có tánh thích kết
bạn nên cuối tuần là tìm đến nhà các bạn. Vì tánh mê
chơi nên quá buổi trưa thường hay quên trở về nhà. Có lẽ
vì Vĩnh Long là một thành phố nhỏ, mà bà ngoại Triệu lại
có nhiều người quen nên những lần Triệu đi quá giờ như
vậy, tuy không cho nhà hay trước nhưng rồi bà ngoại Triệu
cũng tìm ra được nhà các bạn Triệu. Mỗi lần đi tìm cháu,
bà ngoại Triệu thường hay ở lại chuyện trò nên thường
biết thêm gia cảnh của các bạn Triệu.
Việc
người lớn quen nhau qua con cháu nhiều khi cũng giúp bạn bè
Triệu được thuận lợi. Như có một lần, Triệu đã tìm
cách lân la với một bạn học chỉ vì biết anh bạn này có
nuôi nhiều gà tre, loại gà rừng nhỏ con mà giới trẻ rất
thích. Có một lúc vào ngày lễ, thầy giáo lại cho một lô
bài toán cho học sinh phải làm trong các ngày nghỉ. Anh bạn
này vốn yếu về toán nên rủ Triệu đến nhà để cùng làm
bài. Anh cũng có hứa sẽ tặng cho Triệu một con gà để đem
về nuôi. Ðến mãi xế trưa, sau khi đã giúp làm xong các bài
toán, anh bạn này mới lựa cho Triệu một con gà bé tí teo,
mà lại là một con gà mái! Triệu thất vọng quá nhưng không
dám nói ra. Nhằm lúc ấy bà ngoại Triệu lại đi tìm cháu
và được hướng dẫn đến đúng nhà bạn Triệu. Như thường
lệ, bà ngoại Triệu bắt chuyện với gia đình bạn Triệu.
Trong câu chuyện ngoại Triệu có cho gia đình bạn biết là
sáng trước khi đi, Triệu có cho bà biết là hôm đó Triệu
có một bạn hứa đến nhà anh ấy “lấy gà”. Ngoại Triệu
đã dạy Triệu là phải nói “đến nhà bắt gà, chớ không
ai lại nói: đến để lấy gà”. Mọi người đều cười
ồ về việc dùng sai danh từ của Triệu và kết cuộc câu
chuyện là gia đình bạn Triệu bắt anh phải tặng thêm cho
Triệu một anh gà trống đàng hoàng cho “đủ cặp”!
Ông
ngoại Triệu là một trong những người được huấn luyện
đầu tiên về nghành họa đồ nên thường được đổi đi
rất nhiều tỉnh để đo đạc đất đai ở miền Nam. Vì vậy
nên Triệu tuy còn nhỏ tuổi nhưng trong các câu chuyện nghe
được trong gia đình, nhiều địa danh các làng mạc, sông
ngòi, kinh lạch... đã in vào tiềm thức Triệu. Sau này khi
phải di chuyển đó đây trong thuở Kháng chiến Nam bộ hay
trong thời gia nhập Hải Quân, những nơi như Cầu Kè, Cầu
Ngang ở Trà Vinh, Hàm Luông, Mõ Cày, Giồng Trôm ở Bến Tre,
Ðầm Dơi, Năm Căn, Cái Nước, Sông Ông Ðốc ở Cà Mau...,
các nơi đó đối với Triệu tưởng chừng như là những nơi
đã từng biết trước!
Khi
đáo tuổi hồi hưu, ông ngoại Triệu trở về quê quán ở
Biên Hòa. Từ nơi đô thị tỉnh nhỏ là Vĩnh Long, Triệu bắt
đầu làm quen với lối sống nửa tỉnh, nửa quê ở Phước
Lư, một ấp nhỏ bên dòng sông Rạch Cát, cách tỉnh lỵ Biên
Hòa khoảng bốn cây số. Ông ngoại Triệu quê quán nhiều
đời ở Cù Lao Phố, bên kia bờ Rạch Cát và được thừa
kế nhiều ruộng vườn ở đó. Tuy nhiên vì là một công chức
thường phải luân lưu sống xa quê nên ruộng vườn ông ngoại
Triệu đã nhường cho các cháu canh tác. Khi về hưu, ông tậu
một mảnh vườn ở Phước Lư, bên kia bờ của Cù Lao Phố,
một nơi gần tỉnh lỵ Biên Hòa hơn.
Khi
di chuyển từ Vĩnh Long về Biên Hòa, ông ngoại Triệu được
một người bạn có xe hơi riêng giúp cho mượn để về lại
quê. Lần đầu tiên được đi xe Citroen, Traction 15, hai anh
em Triệu sung sướng được ngồi xe có nệm êm, không như
lúc di chuyển từ Sa Ðéc qua Vĩnh Long bằng xe đò, phải ngồi
chật như nêm mà lại bị xốc nhảy dựng khi xe qua các cầu
nhỏ!
Triệu
học hết chương trình Sơ học ở trường tỉnh Biên Hòa.
Vào thuở đó, chỉ có ở tỉnh lỵ mới có đèn điện. Phước
Lư chỉ cách tỉnh có độ ba, bốn cây số nhưng ban đêm phải
thắp đèn dầu để học. Triệu được ông ngoại theo dõi
việc học hành và sáng sớm nào ông cũng bắt phải vặn đồng
hồ báo thức vào 5 giờ rưỡi để ôn lại bài trước khi
ăn sáng và lội bộ đến trường. Trong khi đó thì ngoại
đi hâm cơm, một phần để ăn sáng, một phần gói ép vào
một tấm mo cau để đem theo ăn trưa. Mỗi khuya thức dậy,
quẹt diêm thắp đèn học bài, diêm sanh cháy trong không khí
trong lành buổi sáng tỏa ra một mùi hương thật đặc biệt.
Biên Hòa là xứ núi đá nên buổi sáng nhiều khi rất lạnh.
Ép mo cơm nóng vào ngực khi đi đường vào sáng sớm, nghe
hơi ấm chuyền vào mình là một thú vị khó quên của Triệu.
Về
được Biên Hòa, khác với lúc ở Vĩnh Long, Triệu có được
cơ hội cùng với các bạn, đi xa hơn vào các thôn xóm, sông
rạch. Vớt cá thia thia thì được các bạn hướng dẫn đến
vớt ở con suối chảy quanh chùa Xóm Hóc Măng Tre vì cá ở
suối đá hay hơn cá vớt ở ruộng. Trái cây rừng như gùi,
bứa, sim, dâu... có thể kiếm ê chề nếu biết tháp tùng
các thợ đi đốn củi ở rừng Vĩnh Cửu. Nước sông Ðồng
Nai đặc biệt rất trong xanh, so với nước đục nhiều phù
sa của sông Cửu Long. Nhìn nước là đã muốn lội tắm rồi.
Nhà ở ven sông, đặc biệt khúc sông Ðồng Nai bao quanh Cù
Lao Phố rất hiền hòa nên Triệu đã mau chóng bơi lội khá
giỏi. Sau này vào Hải Quân, được huấn luyện thành thạo
hơn nên Triệu đã giúp trường Quân y Hải Quân Pháp đoạt
nhiều giải. Khi ở Biên Hòa, Triệu đã nhiều lần lén nhà
lội ra Cù Lao Rùa tìm các “lưỡi tầm sét” đem về nhường
lại cho các gia đình có con mắc bịnh kinh phong! Dân chúng
thường vẫn hay tin tưởng là đặt lưỡi tầm sét trên đầu
giường hay mài lấy nước uống sẽ giúp các trẻ tránh được
bịnh này? Cù lao Rùa trên sông Ðồng Nai là nơi trú ẩn an
toàn cho những người tiền sử sử dụng đồ đá làm khí
giới nên ở nơi đây, lưỡi tầm sét rất dễ tìm.
Cũng
vì mê đi chơi như vậy, nhất là đi bắn chim bằng ná thung
nên có một lần Triệu đã bị một trận đòn nhớ cả đời.
Vào thời ấy Triệu có một bạn là Lương Khánh Chí, có biệt
tài bắn ná. Ði bắn chim với anh đó thì không bao giờ trở
về tay không vì nếu Triệu bắn trật thì anh sẵn lòng tặng
chim lúc trở về nhà. Vào một thời nghỉ lễ Tết, hết việc
đi đánh bầu cua cá cọp Triệu lại chỉ lo vò đạn đi bắn
với anh Chí, quên lo việc làm bài thầy giáo đã ra đề trước
để làm trong các ngày nghỉ lễ.
Hôm
hết lễ đi học trở lại, bài không làm kịp nên sáng đó
Triệu than bị đau bụng để khỏi đi học. Bà ngoại cưng
cháu nên đồng ý nhưng ông ngoại đang làm việc ngoài vườn,
thấy Triệu còn nằm nhà nên hỏi lý do. Ông bảo đưa tập
vở ra xem, khi thấy Triệu chưa làm xong các bài, ông bắt Triệu
phải đi học ngay. Ông căn dặn khi đến trường phải ghi
sổ xin đi khám bịnh viện nếu thật sự còn đau. May thay
hôm đó thầy giáo không xét bài của Triệu nên Triệu cũng
khỏi xin đi “khám bịnh”. Chiều hôm đó về nhà, Triệu
tưởng là thoát nạn, đâu có ngờ ông ngoại vẫn hạch hỏi
xem thuốc nhà thương cho cất đâu? Triệu phải ăn một trận
đòn về hai tội: tội nói láo để trốn học vì không làm
bài và tội thứ hai là ham bắn chim, mê cờ bạc, đỏ đen
ngày Tết.
Nhờ
được uốn nắn như vậy nên sau này Triệu mới học đến
nơi đến chốn. Lúc còn là sinh viên ở Pháp, Triệu có một
bạn người xứ Ba Tư tên Charroki, rất thông minh, hoạt bát,
sành đời. Anh ta là một tay biết nhiều mánh lới cờ bạc
nhưng anh có chủ trương chỉ cốt ăn thua đủ để có tiền
đi coi Ciné với Triệu mà thôi. Anh đã truyền nghề cho Triệu
nhưng Triệu chỉ tham dự đánh bài nếu đó là cuộc chơi
để vui, không có ăn thua tiền bạc. Mặc dầu có thể bị
bạn chê là keo kiệt, nhát gan, Triệu đã giữ được lời
hứa với ngoại.
Sự
lo lắng theo dõi việc học hành của ngoại đã giúp Triệu
thi đậu trong kỳ thi tuyển vào Trung học Pétrus Ký. Vì đỗ
được hạng cao nên Triệu có được học bổng ở nội trú.
Sau khi thi đậu được bằng Thành chung, nhiều người trong
họ hàng khuyên Triệu nên đi kiếm việc làm để nuôi nấng
lại ông bà nhưng ngoại nhất định không chấp thuận, khuyên
hãy tiếp tục vì có đà học đang tiến. Ông bà chấp nhận
vẫn có thể sống với huê lợi ít ỏi của vườn bưởi!
Khi Triệu thi đỗ được bằng Tú tài, vì có cơ hội tiếp
tục lên Ðại học nếu chịu theo học nghành quân y hiện
dịch nên Triệu đã được ngoại khuyến khích đầu quân
vào Hải Quân.
Ðây
là một cơ hội hi hữu để được xuất ngoại sang Pháp du
học. Ông bà ngoại lúc ấy đã già, không thể qua Sài Gòn
đưa cháu nhưng đã tổ chức một bữa cháo vịt là món cháu
thường ưa thích để tiễn cháu ra đi!
Ba
năm sau thời gian đang du học, Triệu được tin ông ngoại
trở bịnh nặng. Sức ông càng ngày càng yếu vì đã phải
mang nhiều bịnh khi băng rừng, lội suối lo việc đo đạc
khi hành nghề họa đồ. Triệu được em cho hay là ngày ông
ngoại Triệu mất, ông vẫn nhắc đi nhắc lại là ông vẫn
chưa chết đâu, vì ông còn chờ cháu ông du học trở về!
Một tuần sau đám tang, bà ngoại vốn có bịnh yếu tim có
lẽ vì buồn não nên đã vĩnh viễn ra đi trong khi nằm nghỉ
trên võng!
Triệu
được tin buồn trong thời gian hè, đang đi thực tập học
môn học bắt buộc của Hải Quân về thuyền buồm ở Trung
tâm Huấn luyện ở Socoa, trong vịnh Gascogne miền Tây-Nam nước
Pháp. Thấy Triệu bỏ ăn trong nhiều ngày mặc dầu trong phiên
học phải có sức đương dầu với sóng, gió biển, Nguyễn
Sanh Nghĩa, một anh bạn người miền Trung rất am tường Phật
Pháp đã an ủi Triệu bằng cách nhắc lại những lời Phật
dạy về lẽ Vô thường. Anh đã đem các tư tưởng Phật giáo
dạy lại Triệu về Sinh, Lão, Bịnh, Tử, về thuyết Luân
Hồi, Nhân Quả, Tứ Diệu Ðế, v.v..
Vào
thời ấy ở miền Nam nước Pháp không có chùa Phật. Chỉ
ở Paris và ở Marseille mới có chùa mà thôi. Anh Nghĩa nhắc
lại Triệu về các lễ Cầu Siêu mà Triệu đã có cơ hội
tham dự lúc còn ở bên nhà. Anh đã theo lời hướng dẫn trong
quyển Kinh Nhật Tụng nhỏ anh vẫn thường đem theo bên mình
để cùng giúp Triệu làm một lễ Cầu Siêu đơn giản.
Sáng
sớm Chủ nhật trong tuần đó, Triệu đã lấy xe đạp đi
về phía Bắc, lên một cánh đồi ở Guétary. Trong cảnh mặt
trời lên buổi sáng, ngồi nhìn về phương Tây, để tâm hồn
lắng dịu, vượt qua Ðại Tây Dương và cả Thái Bình Dương,
Triệu chú lòng làm lễ Cầu Siêu cho ông và bà ngoại. Mặc
dầu biết rằng trong các lễ cầu nguyện nên cần có tha lực
của nhiều người cùng chú nguyện, nhưng cho đến nay, Triệu
vẫn tin rằng lần cầu nguyện đơn côi ấy là lần Triệu
thực sự được cảm thông trực tiếp với ông bà ngoại
của Triệu.
Sau
buổi cầu nguyện, Triệu tiếp tục ngồi lặng yên, tận hưởng
những giây phút hiện tại đang được sống giữa cây cỏ,
núi đồi, ánh sáng trong suốt buổi ban mai. Triệu lắng nghe
tiếng chim hót, Triệu nhìn những con dế hút nước sương
trên các cọng cỏ, lá cây... Triệu chợt thức tỉnh, nghĩ
đến những lời dạy của Ðức Phật về Luân Hồi, về Duyên
Khởi. Những cảnh vật quanh Triệu, từ ánh sáng ban mai đến
cơn gió lạnh ở đại dương thổi vào, từ côn trùng đến
chim chóc, từ hơi thở đến nhịp tim đang đập mạnh trong
Triệu... tất cả đều như hòa hợp duyên khởi nhịp nhàng.
Triệu cảm thấy hình ảnh của ông, bà ngoại Triệu vẫn
còn tiếp tục sống trong Triệu cũng như huyết mạch của
ông bà nhiều kiếp vẫn luân lưu trong thân thể Triệu.
Buổi
sáng tinh sương trên đỉnh đồi Guétary hôm đó đã đưa Triệu
đến con đường vào ánh sáng đạo Phật và kể từ đó,
đã giúp Triệu có một cuộc sống an lạc trong thân tâm.
Trở
về Việt Nam hành nghề, Triệu đã có dịp chứng kiến các
tàn phá, đổ nát, chết chóc trong cuộc chiến tương tàn vì
ý thức hệ. Triệu cũng phải như các đồng hương khác, bỏ
xứ sau sự thất bại ở miền Nam để ra đi tìm được cuộc
sống trong khung cảnh tự do. Trong nỗi đau lòng xa xứ, Triệu
nhận thức thấy trong sự rủi cũng có cái may khi chứng kiến
sự thành công vẻ vang của giới trẻ về học vấn, sự thành
đạt về phát triển kinh tế của những đồng hương đến
xứ người với hai bàn tay trắng, sự phát huy Phật Pháp và
Thiền Ðạo ở hải ngoại...
Sự
hủy hoại đau thương trong chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc,
sự bắt buộc đành bỏ xứ ra đi của dân chúng miền Nam,
phải chăng đấy là một cộng nghiệp mà Triệu phải cùng
gánh chịu với cả dân tộc?
Ðến
đất Mỹ, sau mười tám tháng làm lao công ở Bịnh viện Tâm
trí ở Austin, thủ đô Texas, vừa đi làm vừa tự học, nhờ
ân đức tổ tiên ông bà để lại, Triệu may mắn thi đậu
lấy lại được bằng hành nghề y sĩ. Cuộc sống trở lại
bình thường như lúc hành nghề ở Việt Nam ngày trước. Thực
ra nếu so sánh với điều kiện hành nghề tư trong 15 năm ở
khu xóm lao động Thủ Thiêm bên kia bờ sông Sài Gòn, một
khu phố nhỏ không có đèn điện, không có nước máy thì
các tiện nghi hưởng được ở Mỹ hơn trước cả trăm lần.
Tuy nhiên, tuy việc hành nghề ở Mỹ với những dụng cụ
tối tân, y dược hữu hiệu đã đem lại nhiều thích thú
chuyên môn nghề nghiệp nhưng không thể so sánh với sự mãn
nguyện tinh thần khi còn làm việc trong hoàn cảnh thiếu thốn
ở quốc nội.
Mặc
dầu biết mình không tài giỏi trong y nghiệp nhưng Triệu cũng
cảm thấy mãn nguyện đã cứu giúp được cho bao nhiêu trẻ
em gia đình lao động. Cha mẹ các em không được hướng dẫn
y khoa thường thức, nên khi các trẻ con bị chứng tiêu chảy
lại sợ không cho uống thêm nước. Bao nhiêu trẻ trước kia
đã không được cứu sống vì trạng thái mất nước trầm
trọng khi bị chứng tiêu chảy trong đêm. Cha mẹ không biết
cho các em uống để cầm cự cho đến sáng trong khi không thể
đem đến bịnh viện được trong giờ giới nghiêm, ghe đò
bị cấm đoán không được vượt qua sông Sài Gòn. Những
lúc may vá các thương tích cho bịnh nhân dưới ánh đèn dầu
“manchon” nóng bức lại đem lại nhiều mãn nguyện nghề
nghiệp hơn là những khi giải phẫu trong phòng mổ tối tân
ở Mỹ có điều hòa không khí vì trong lòng, Triệu vẫn áy
náy lo sợ có thể bị thưa kiện sau này...
Triệu
đã chọn một thị trấn nhỏ, có một bịnh viện 40 giường
để hành nghề. Làm việc ở một làng quê ở Mỹ kể ra cũng
có nhiều tiện lợi, ít di chuyển nên tránh được nhiều
phiền toái và tai nạn, mọi người đều biết nhau nên tình
người vẫn thấy còn được duy trì... Ðã từng được dạy
dỗ trong tinh thần “tri túc”, nếu “biết đủ là đủ
rồi” nên Triệu thích nghi dễ dàng với cuộc sống ở một
thị trấn thôn dã.
Trong
các bịnh nhân của Triệu có một em bé da đen, lễ phép, rất
dễ thương, thường được bà ngoại đem đến phòng mạch
chữa trị. Vì được hưởng chế độ xã hội “Medicaid”,
khám bịnh miễn phí nên em bé thường đến phòng mạch. Bà
ngoại của em bé là một người đàn bà cao niên, ăn nói lễ
độ, chững chạc, đầy phong cách. Khi nhận thấy tình trạng
y tế của cậu bé không có triệu chứng gì là bất thường
nhưng lại thường xuyên xin khám bịnh nên Triệu đã đoán
được là cậu bé chỉ mắc bịnh “sợ đi học”!
Biết
chắc là bà ngoại cậu bé vì thương cháu nên nuông chiều,
không trị được việc cháu trốn học nên một hôm Triệu
xin phép bà để “lên lớp giảng luân lý”. Triệu nói với
cậu bé da đen tên Robert Ford: “Cậu hãy trông tôi đây. Tôi
thuở nhỏ cũng được bà ngoại nuôi nấng và đã từng được
bà ngoại nuông chiều. Tôi cũng từng có dịp ngán đến trường
nên òn ỷ bà ngoại xin khai bịnh để được ở nhà. Ngày
nay tôi đã thành bác sĩ, vì tôi có được một ông ngoại
cứng rắn, bắt tôi phải đến trường khi không có bịnh.
Kể từ nay nếu tôi xét thấy anh thật sự bị bịnh thì tôi
sẽ trị bằng thuốc chích cho mau lành, thay vì cho thuốc uống!”.
Từ đó quả thật cậu bé ít thấy đến chữa bịnh hơn trước
và Triệu vẫn giữ lời hứa: mỗi lần đến chữa bịnh Triệu
vẫn tìm cách chích thuốc nhưng vẫn cho thêm toa thuốc uống.
Vào
khoảng năm 1997, lúc đó Triệu đã di chuyển phòng mạch đến
thành phố lớn Amarillo trên hơn mười năm. Một buổi trưa
sắp đến giờ nghỉ, y tá cho Triệu hay có một bác sĩ muốn
xin vào thăm. Trên danh thiếp thấy đề tên Robert Ford! Thật
đúng là cậu bé da đen của Triệu ngày trước. Vì có việc
qua ngang Amarillo nên anh đã tạt qua thăm Triệu. Hiện anh còn
đang phải thực tập chuyên khoa. Bà ngoại anh đã mất khi
anh chưa ra bác sĩ. Anh lại cho Triệu biết hôm nay anh đến
thăm Triệu tình cờ lại trùng với ngày ngoại anh đã mất,
ba năm về trước. Triệu cũng cho anh hay là ông, bà ngoại
Triệu cũng đã mất trước ngày Triệu tốt nghiệp trở về
xứ. Vì vậy, ngày nay mỗi lần ngồi lái xe, nhớ lại thời
sung sướng lần đầu tiên được đi trên chiếc xe Traction
Citroen 15 trên đường từ Vĩnh Long về Biên Hòa, Triệu vẫn
thấy lòng hối tiếc không được dịp đưa ông bà ngoại
Triệu bằng chiếc xe nhà để dạo chơi ngắm cảnh.
Triệu
mời Robert cùng đi dùng cơm trưa. Triệu cũng nhắc Robert là
ngày trước bà ngoại anh thích món bông cải cauliflower đút
lò với sữa tươi và cheese. Triệu biết như thế vì đã có
lần chữa trị cho bà. Bà đã phải khẩn cấp vào bịnh viện
vì không tiêu hóa được món đó khi ăn vào buổi tối nên
bị chứng nghẹn thở khi đi nằm. Triệu đã từng khuyên bà
chỉ được ăn món đó vào buổi trưa mà thôi vì theo lịch
sử y khoa, nhiều cụ già đã chết vì ăn cái món khó tiêu
ấy trước khi đi ngủ. Robert cũng đồng ý là bà ngoại anh
có bí quyết nấu món ấy rất ngon nhưng từ ngày suýt chết
vì món đó, bà đã ít khi nấu cho gia đình.
Triệu
đưa Robert đến một quán ăn Triệu thường đến và dặn
trước nhà bếp: khách có gọi món gì thì gọi, phải có thêm
món bông cải đút lò với phó mát. Triệu căn dặn người
dọn bàn là Triệu sẽ trả thêm cho một phần ăn và phải
dọn cho cả ba thực khách. Robert rất ngạc nhiên khi thấy
người dọn bàn sắp xếp muỗng, nĩa, khăn ăn cho ba thực
khách và hỏi Triệu về người thực khách thứ ba chưa thấy
đến.
Triệu
giải thích cho Robert biết rằng theo lề lối tín ngưỡng Việt
Nam, vì hôm nay đúng là ngày qua đời của bà ngoại Robert,
nên Triệu muốn làm lễ giỗ, cầu Bà về cùng ăn với Robert.
Anh chợt hiểu và khi nhà bếp đem đặt thêm trên bàn món
bông cải, anh đã phải cố nén giữ khỏi khóc khi Triệu lên
tiếng khấn mời Bà ngoại Robert cùng dùng bữa.
Sau
buổi ăn, Robert đã cảm ơn Triệu và hứa là trong tương lai
anh cũng sẽ làm lễ giỗ bà ngoại mỗi năm và anh sẽ tự
nấu thêm món bông cải đút lò theo phương pháp bí truyền
của gia đình anh.
Triệu
đã giải thích thêm cho Robert là chính Triệu mới là người
phải cám ơn anh. Việc thành công về sự nghiệp của anh là
niềm hoan hỉ của Triệu. Bà ngoại anh và anh đã giúp Triệu
có thêm được cơ hội trả ơn dưỡng dục của ông, bà Triệu.
Sự cố gắng học hành thành công của anh đã giúp Triệu
có được dịp thực thi hạnh Bố Thí của nhà Phật.
***
Năm
nay, ngày Ðại Lễ Vu Lan tháng Bảy cũng sắp đến. Phật giáo
Việt Nam nay đã tiếp nhận truyền thống Nhật Bản thực
hành Lễ Hoa Hồng Cài Áo trong ngày Ðại Lễ Vu Lan: Phật tử
có phúc còn được mẹ hiện tiền sẽ được cài một hoa
hồng màu đỏ vào áo, Phật tử đã mất mẹ sẽ được cài
một hoa hồng trắng.
Các
em trong Gia Ðình Phật Tử, tình nguyện phụ trách Lễ Hoa Hồng
Cài Áo cho các Phật tử tham dự Ðại Lễ Vu Lan, thường hay
thắc mắc hỏi lại khi Triệu xin các em gắn cho hai hoa trắng
thay vì chỉ một hoa: “Bác thật tình muốn gắn hai hoa trắng
thật sao?”.
Năm
nay chắc cũng lại có em hỏi Triệu như vậy và chắc Triệu
cũng phải cố gắng giữ khỏi khóc để trả lời: “ Cho
Bác xin hai hoa, một cho Mẹ và một cho Ngoại”.
(“Gió
Mùa Ðông Bắc”)
Down
Load " Word Document" (WinZip File 458 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân