THIỆN
TRI THỨC
Diệu
Ngọc
(Ghi
chú trước khi vào bài: Bài này ghi lại một câu chuyện thật
nhưng tên các nhân vật đã được đổi khác. Tuy nhiên nếu
có một trùng hợp nào thì đó là ngoài ý muốn của người
viết.D.N.)
I
-
Ê! Bắt gặp tại trận có người đang hái hoa lén.....
Tôi
giựt mình quay lại, Ðạt đã đứng đó tự bao giờ... Tôi
cười chữa thẹn:
-
Xí !... Bộ người ta sợ lắm sao..?
Cả
hai đứa cùng cười, Ðạt hỏi:
-
Bữa nay nghĩ học, sao không theo Bác gái đi chợ ăn hàng mà
còn ở đây hái hoa?
Tôi
đáp:
-
Bộ tưởng người ta hay ăn hàng lắm sao... Thôi, tôi về đây...
-
Nói đùa chút cho vui, đừng giận... Ðây, cho thêm một cái
bông hồng màu vàng đây... Chịu chưa...?
Tôi
nhanh tay đón lấy cái hoa hồng vàng từ tay Ðạt rồi quay
lưng bỏ đi về phía lan can giữa nhà tôi và nhà Ðạt để
leo trở về nhà mà không nói tiếng nào....
Nhà
Đạt và nhà tôi là hai căn phố lầu sát vách nhau, sân thượng
nhà Đạt và sân thượng nhà tôi được ngăn ra bởi một
hàng lan can bằng song sắt tuy hơi cao nhưng tôi và Đạt vẫn
thường bắt ghế leo qua lại không khó. Tôi và Đạt học
cùng lớp, tuổi bằng nhau, nhà lại ở sát nhau nhưng chúng
tôi không thân nhau lắm dù Đạt nuông chìu tôi hết lòng...
Biết tôi thích bông hồng, Đạt đi xin ở đâu đó đem về
mấy chậu bông hồng và cho quyền tôi leo qua cắt đem về
cắm ở bàn học bất cứ khi nào... Cho nên dù có mặt Đạt
ở đó hay không tôi vẫn có thể hái hoa mà không phải e ngại.
Có
một lần tôi hỏi Đạt:
-
Hôm qua thấy một cái bông hồng vàng sắp nở ở đây sao
bây giờ đâu mất rồi?
Đạt
cười:
-
Cắt cho má Đạt cúng Phật rồi, hôm nay là ngày rằm mà....
Sau
này có khi tôi nghĩ lại, lúc đó chúng tôi đều ở cái tuổi
mười bốn, mười lăm mà sao Đạt đã mang vẻ... “một ông
cụ non” vậy? Ít khi nào tôi thấy Đạt ra khỏi nhà để
gọi là... đi chơi... mà bạn bè của Đạt thì chả mấy khi
tôi thấy có ai đến với Đạt... Đi học thì thôi nhưng
về nhà là ngồi riết ở bàn học, hoặc là nằm trên ghế
xếp kê ở sân thượng say mê đọc sách. Trái ngược lại
với tôi, tôi lại thích đi chơi, đi phố ăn quà, đi cinê,
đi tắm biển, những lúc theo gia đình bạn đi picnic tận ngoài
mấy cái đảo nhỏ ngoài khơi là tôi thích nhứt. Hai chúng
tôi tánh ý trái ngược nhau như thế cho nên việc học cũng...
trái ngược.!
Đạt
lúc nào cũng nhất lớp về tất cả các môn, ngoại trừ môn
thể dục là hắn ta đứng bét mặc dù hắn cũng thuộc hạng
lớn vóc. Còn tôi thì... trong số mười người đứng đầu
trong lớp chả bao giờ có tên tôi.!
Má
tôi sợ tôi học hành thua súc bạn nên có nhờ một cô dạy
kèm, một tuần ba lần, tôi ớn nhứt là khi bà cô này họp
lại với Bà vú của tôi, hai người cứ lấy gương “Cậu
Đạt” ra mà... “lên lớp” tôi mãi không thôi. Mấy lúc
như vậy tôi cứ nghĩ thầm là phải chi không có Đạt ở
gần bên thì đâu có bị rầy như vậy!
Nhưng
khi nghĩ lại thì... có Đạt ở gần bên vẫn hơn, vì tôi
còn có chỗ nhờ cậy khi làm bài không kịp để nộp hay bị
bí về một bài nào đó...
Có
một lần tôi vô tình nghe được Bà vú nói to, nói nhỏ với
cô dạy kèm cho tôi:
-
Tội nghiệp cậu Đạt, nhỏ vậy mà có chí, ham học lại
hiếu thảo với Mẹ... Hôm trước, tôi nghe bà Hai má cậu
ấy nói cậu ấy muốn vô chùa ở, bà ấy khóc quá chừng,
cậu Đạt là con trai duy nhứt mà... Dễ gì bà ấy chịu rời
ra... Tôi chưa có hỏi cậu ấy vô chùa để làm gì... Không
lẽ cậu ấy còn trẻ vậy mà lại muốn đi tu...? Dù sao thì
khi nghe vậy tôi cũng nghĩ thầm... Ông cụ non đó đi tu là
phải rồi...
Thời
gian rồi cũng qua nhanh, mới đó mà đã đến kỳ thi cuối
cùng của những năm học dài lê thê của bậc Trung học....
Rồi những ngày thi đầy căng thẳng cũng đã qua đi...
Bữa
đi xem kết quả, tôi và đám bạn không ai ngạc nhiên khi thấy
Đạt đã đậu với hạng ưu... Còn tôi, chỉ cần đậu là
tôi mừng... Nhưng người mừng hơn tôi có lẽ là bà vú của
tôi, còn má tôi lúc sau này đã về quê lo công việc làm ăn...!
Tôi đi thi nhưng bà vú lo còn hơn tôi vì bà ấy đã lỡ nói...
“Con mà thi rớt thì vú trốn luôn chớ không dám về quê
nhìn mặt má con đó...” Cho nên khi đã biết kết quả kỳ
thi bà hối thúc tôi chuẩn bị về quê để bà khoe thành tích
với má tôi...
Tôi
còn đang suy tính không biết có nên theo bà vú về quê nghĩ
hè trước khi vào Sàigòn học tiếp hay không thì một tin...
có thể nói là tin động trời do bà vú báo cho tôi biết:
Bà Hai, Má Đạt cho biết là Đạt sắp cưới vợ mà lại
cưới gấp...
Lúc
đầu tôi tưởng là bà vú nói phỉnh tôi cho vui, nhưng khi
hỏi lại thì đó là sự thật. Tôi nghĩ, còn một tuần nữa
là làm lễ cưới thì chắc người ta đã trù tính lâu lắm
rồi... Vậy mà mình ở sát một bên nhà lại không hay biết...
Mà người Đạt sắp cưới làm vợ lại là Nga, người học
cùng lớp với tôi và Đạt... Đồng ý là tôi và Đạt lúc
đó đã ở vào cái tuổi mà mấy bà má thường nói là
tuổi có thể dựng vợ gã chồng được rồi nhưng sao người
ta lại gấp rút vậy...! Cũng đồng ý là nhà Đạt thuộc
hạng khá giả nhưng chưa có công ăn việc làm mà cưới vợ
về ăn bám gia đình thì chắc chắn không phải là chuyện
tốt mà Đạt thì chả lẽ lại không biết điều đó?...
Nhưng
thắc mắc của tôi đã được bà vú giải toả sau đó vài
ngày: Cô Nga đã có mang cho nên phải cưới gấp chớ không
thôi thì cái bụng lớn lên càng khó coi và chắc chắn là
không nên...
Trước
đó, có một thời gian tôi thấy hai người... có vẻ thân
nhưng tính tình của Nga hoàn toàn trái ngược lại với Đạt,
chắc vì vậy mà lúc sau này tôi thấy hai người không còn
thân thiết như lúc đầu. Nga là con của Bà Năm bán bánh canh
ở con hẽm phía trong nhà tôi và nhà Đạt chừng một trăm
thước, tôi và các bạn kể cả Đạt, cũng đều biết Nga
thường đi chơi với mấy cô cậu con nhà có tiền, thường
đi ăn, đi nhảy đầm, gần như những buổi dạ vũ của các
Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân bọn Nga đều
có mặt... Có lẽ chính vì vậy mà thứ hạng của Nga trong
lớp không khá lắm!
Đám
cưới Đạt diễn ra trong sự ngạc nhiên của tất cả bạn
bè trang lứa, nhưng bà vú và cô giáo dạy kèm tôi thì thất
vọng ra mặt. Tôi nghĩ, vậy cho bà hết nói... “Cậu Đạt
cao lớn đẹp trai, tính tình điềm đạm lại học giỏi”
để lên lớp tôi...
Như
vậy trong cái việc Đạt cưới vợ có hai người hả dạ
là Má Đạt và... tôi... Má Đạt thì mừng vì con trai của
bà không còn lý do gì để đòi vô chùa nữa, còn tôi thì
hả dạ khi thấy bà Vú và cô giáo bị Đạt làm cho.... quê
độ....
Ngày
mai là ngày cưới của Đạt, ngày hôm sau tôi và bà vú sẽ
về quê, tôi đã có nói với bà vú nhắn tin về cho má tôi
hay là chờ dự đám cưới Đạt xong rồi chúng tôi sẽ về.
Tôi dự định sẽ ở suốt ba tháng hè với má tôi vì khi
tôi đã vào Sàigòn rồi thì có lẽ phải lâu lắm mới về
thăm được. Dĩ nhiên, cho dù tôi đi đâu thì nếu má tôi
không bảo bà vú cũng sẽ tự nguyện theo sát một bên để
làm... “thần hộ mạng” cho tôi. Nói gì thì nói, vú gần
gũi tôi nhiều hơn má tôi cho nên tôi thương vú như thương
má tôi không khác...
Chiều
đó tôi lên sân thượng đưa mắt nhìn bâng quơ qua sân thượng
nhà Đạt thì... Ô kìa, “cậu Đạt” vẫn nằm trên ghế
xếp đọc sách như không có chuyện gì.Tôi thật bái phục
con người điềm tỉnh quá mức đó. Ngày mai đám cưới mà
bây giờ còn có thể bình tỉnh để đọc sách, kể cũng lạ!
Năm
tháng trôi qua...
Trai
lớn lên thì cưới vợ, gái lớn lên thì lấy chồng...
Ngày
cưới của tôi, tôi không mời được Đạt vì khi đó má
Đạt đã theo người chị lớn của Đạt về sống ở ngoại
ô thành phố. Còn Đạt đã dời đi nơi khác trong thời gian
tôi ở xa, nhà Đạt bây giờ do người cậu của Đạt ở,
tôi và Đạt không còn liên lạc nhau. Sau này, khi có dịp về
lại ngôi nhà cũ, tôi thường ra sân thượng để ngắm trăng
và nhớ lại những ngày thơ ấu, trong đó có tôi và Đạt...
Rồi nhớ lại chuyện đám cưới Đạt, thật là một bất
ngờ cho mọi người. Quả thật, trên đời thường có những
việc xảy ra mà chúng ta không thể ngờ được mà tôi thì
hay gặp phải những bất ngờ như vậy!
Rồi
mấy năm sau, trong một dịp nghĩ phép, tôi dẫn con về quê
chồng để thăm ba má chồng tôi, lại đúng vào dịp lễ Vu
Lan, rằm tháng bảy. Sau một hồi hàn uyên tâm sự má chồng
tôi bảo:
-
Ngày mai sẽ có một buổi thuyết pháp ở chùa, con có muốn
đi đến đó để nghe với má không?
Tôi
chưa kịp đáp thì bà tiếp:
-
Ở chùa gần nhà mình bây giờ có một ông thầy đi học Phật
từ Ấn Độ mới về, ông ấy còn trẻ mà giảng pháp hay
lắm, ai cũng thích nghe, má đã được nghe mấy lần rồi,
sẵn dịp rằm tháng bảy, ông ấy thuyết giảng về Vu Lan,
hai mẹ con mình đi nghe cho biết.
Tôi
đáp nhanh: - Dạ, ngày mai con đi với má.
Đường
từ nhà đến chùa không hơn nữa tiếng đồng hồ đi bộ,
nhưng tôi nghe bà nói ở chùa có một cái hồ sen rất to, tôi
ngõ ý muốn đi sớm để ngắm sen nở trong hồ vào buổi sáng.
Tôi tưởng tượng, còn gì đẹp cho bằng những cánh sen màu
trắng tinh anh với nhụy vàng điểm mấy hạt sương còn lung
linh đọng...
Hai
mẹ con tôi tới chùa thì mặt trời chưa lên khỏi ngọn cây,
vừa qua khỏi cổng chùa tôi đã sửng sờ vì một vườn hoa
hình tròn, đủ các loại, hoa hồng, hoa cúc, hoa lài,
hoa thược dược, hoa huệ...v...v... mà cây nào cũng trĩu
nặng với những chùm hoa đã nở hết độ, như thi nhau khoe
sắc để mong được cắt dâng lên cúng Phật. Tánh tôi đã
mê hoa nay nhìn thấy một rừng hoa, tôi mê mẩn, hết vuốt
đóa hồng nhung đỏ thẫm đến nâng niu cành huệ với những
búp hoa to làm oằn nhánh. Đi vòng theo con đường lát gạch
chung quanh vườn hoa để vào sân chùa, sát mặt tiền chùa
là một khoảng sân rộng lát gạch đỏ đã rêu phong với
thời gian, người ta chưng bày những con thú được uốn bằng
cây kiểng thật to, thật đẹp và rất sống động.
Ngoài
những khóm hoa đang khoe sắc rực rỡ ở mặt tiền, hơi chếch
về bên phải là một cái hồ rất rộng toàn hoa sen. Giữa
hồ sừng sửng một tượng Phật Bà Quan Âm màu trắng thanh
thoát đứng trên một hòn non bộ, soi mình trên mặt nước
hồ sen trong như gương. Có lẽ hòn non bộ này cũng có tuổi
bằng với ngôi chùa cho nên trên những gộp đá đã phủ
màu xanh rong rêu, từ xa nhìn không khác cảnh thật với những
tượng đá nhỏ xinh xinh mang hình ngư, tiều, canh, độc.
Trước
một rừng sen trắng đang phơi mình trên mặt hồ, tôi không
còn để ý đến má chồng tôi đang đi nhanh vào hậu điện
vì có ai đó đang vẫy tay gọi.
Còn
hơn một tiếng đồng hồ nữa mới đến giờ thuyết pháp
cho nên tôi có quá nhiều thì giờ để đi vòng quanh hồ, hết
ngắm cái hoa này lại nhìn cái hoa khác, rồi nhìn toàn cảnh
ngôi chùa. Cảnh trí quanh đây có vẻ tịch mịch và trang nghiêm
làm sao...
Vì
đây là một ngôi chùa cổ, cổng tam quan và tiền đình chùa
được chạm trổ những hoa văn và hình tượng của lối kiến
trúc xa xưa. Đặc biệt là chùa tọa lạc trên một khu đất
thật rộng, hai bên hông chùa người ta trồng đủ lọai cây
ăn trái. Nằm cuối về phía sau còn có một nơi có thể gọi
là cái nghĩa trang nho nhỏ với năm bảy ngôi mã đá được
quét vôi trắng. Có lẽ là nơi an nghĩ của các vị sư đã
có công lập nên ngôi chùa này từ thời xa xưa.
Tôi
còn đang miên mang ngắm nhìn những đóa sen trắng tinh anh đang
bị cơn gió nhẹ buổi sáng làm lung lay trên mặt hồ thì bổng
giựt mình vì mấy tiếng chuông vang lên từ chánh điện, tôi
đi vội vào vì đoán đã đến giờ thuyết pháp, mọi người
đã ngồi đâu vào đó. Vì lạ người lạ chỗ, tôi đang đứng
xớ rớ ở phía sau thì nghe tiếng má chồng tôi gọi, tôi
nhón chân lách người đi lên phía trước để ngồi gần bà.
Bà chưa kịp giới thiệu tôi với một bác ngồi kế bên có
lẽ là quen thân với bà thì bổng mọi người im tiếng và
đồng loạt đứng lên. Tôi đứng dậy và ngước mắt nhìn
lên kịp lúc thấy một vị sư từ trong hậu điện bước
ra trong dáng điệu thật khoan thai. Tôi trố mắt:
-
Ô kìa... sao lại là Đạt? Vị sư trẻ vóc dáng cao to với
gương mặt trắng hồng đang đứng vào phía sau bục thuyết
trình, tươi cười chào đám đông, đó không phải là Đạt
thì ai vào đây?
Vừa
lúc đó thì Đạt cũng trông thấy tôi, mặc dù cố trấn tỉnh
trước đám đông nhưng trên gương mặt Đạt tôi đọc được
sự ngạc nhiên bất ngờ. Phải rồi, Đạt làm sao ngờ được
tôi từ miền Trung xa xôi đã lưu lạc đến tận xứ sở của
sông Tiền sông Hậu này. Có lẽ Đạt cũng thấy được vẻ
ngạc nhiên của tôi cho nên Đạt nhìn tôi cười thật nhẹ
mà tôi nghĩ, ngoài tôi không ai nhận ra được Đạt đang cười
với tôi. Không ngạc nhiên sao được vì gần mười năm trước
tôi đã dự đám cưới Đạt và vợ Đạt đã có mang trước
khi cưới rồi cơ mà...
Mặt
đối mặt mà trong lòng tôi còn ngờ. Đạt đang đứng trên
bục giảng trước mặt tôi uy nghi đạo mạo đúng là dáng
dấp của bậc chân tu. Với cái dáng dấp đó tôi sẽ không
đủ can đảm để xưng hô bằng hai tiếng “tôi” và “Đạt”
như thường tình trong thế tục ngày nào mà một sự kính
trọng lẫn thân thiết từ đâu chợt dâng lên trong lòng làm
tôi đã không ngượng miệng mà xưng hô hai tiếng “Thầy”
và “con” khi Đạt tiếp tôi trong văn phòng cũng là phòng
tiếp khách của Đạt sau thời giảng pháp.
Đầu
óc tôi còn đang chật cứng bởi những hình ảnh thời xa cũ
thì tiếng Thầy vang lên kéo tôi về với hiện tại.
Vì
bây giờ là mùa Vu Lan nên Thầy giảng và nhắc nhở các Phật
tử về công ơn của các đấng sinh thành. Thầy giảng về
gương hiếu thảo của ngài Mục Kiền Liên và những lời
Phật dạy về phương cách báo đáp ơn dưỡng dục của cha
mẹ khi cha mẹ còn tại thế cũng như khi đã quá vãng...
Lời
Thầy rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu nhứt là những thí dụ
Thầy đưa ra thật gần gũi với đời sống hiện tại, ai
cũng có thể hiểu được một cách dễ dàng. Trong thời đại
này, do nhu cầu tiện nghi vật chất, do tập quán xã hội đương
thời, người ta mãi bon chen vì danh, vì lợi mà có thái độ
quá hời hợt về những gì gọi là hiếu kính ông bà, cha
mẹ....
Tiếng
Thầy vang lên thật trầm ấm, dễ lôi cuốn người nghe. Rồi
trong một phần của bài giảng, Thầy có đề cập đến “Phép
lễ lạy sáu phương” trong đó ý nghĩa của lễ lạy hướng
về phương Đông là để lễ kính, tưởng nhớ đến công
lao dưỡng dục của các đấng sanh thành. Vì phép “Lễ lạy
sáu phương” không phải là chủ đề chính của buổi thuyết
pháp hôm nay cho nên Thầy chỉ nói phớt qua mà tôi hiểu và
còn nhớ đại ý là:
Khi
còn tại thế, có một lần Phật dạy cho một thanh niên Bà-La-Môn
về ý nghĩa của “Sáu phương lễ lạy”... Lễ lạy phương
Đông là để lễ kính, tưởng nhớ công ơn của cha mẹ; Phương
Nam là Thầy dạy; Phương Tây là vợ con; Phương Bắc là bạn
bè; Phương dưới là những người lao công và phục vụ cho
mình; Phương trên là hàng Tu sĩ, các bậc xuất gia.
Thầy
nhấn mạnh, lễ lạy Phương Đông không có nghĩa đơn thuần
là quay mặt về phương Đông mà làm lễ, lễ lạy về hướng
Đông là để nhắc nhở chúng ta về cách đối xử có đạo
đức đối với cha mẹ... Kinh dạy, con cái đối với cha mẹ
phải chu toàn những bổn phận như: Nuôi dưỡng cha mẹ chu
đáo; Giữ gìn tốt gia phong và truyền thống gia đình; Làm
tròn bổn phận đối với cha mẹ; Giữ gìn, bảo quản, không
phun phí tài sản do cha mẹ để lại; Khi cha mẹ qua đời,
cử hành tang lễ cho chu đáo.
Đối
lại, cũng theo trong kinh Phật dạy, cha mẹ cũng có bổn phận
và trách nhiệm đối với con cái, dạy dỗ cho con biết điều
thiện lẽ ác, khuyến khích làm điều tốt, ngăn chận không
cho làm điều xấu, ác; Hướng dẫn con học nghề để nuôi
thân; Cưới vợ gả chồng khi con đã khôn lớn....
Lễ
phương Nam là để nhắc nhở chúng ta cách đối xử có đạo
đức với các bậc thầy dạy của mình, gặp Thầy chào
hỏi một cách nghiêm trang, kính cẩn; Phục vụ Thầy hết
lòng nếu cần; Siêng năng học tập để không phụ lòng Thầy...v...v...
Ngược lại, Thầy cũng phải có bổn phận và trách nhiệm
đối với học trò, đem hết kiến thức của mình tận tình
trao truyền cho học trò; Dạy cho học trò biết sử dụng kiến
thức đó một cách có lợi; Cố gắng chỉ dẫn tận tình
cho học trò thực hành thật tốt những nghề đã học..v...v.
Lễ
phương Tây là để nhắc nhở chúng ta về cách đối xử có
đạo đức giữa vợ chồng: Bổn phận làm chồng phải biết
tôn trọng vợ, không nên tỏ ra bất kính đối với vợ; Để
cho vợ nắm giữ quyền hành trong nhà; Trung thành, chung thủy
với vợ....v...v...
Ngược
lại, người vợ cũng phải làm hết bổn phận của mình đối
với chồng; Đối đãi tốt với bà con họ hàng nhà chồng;
Giữ gìn tốt tài sản; trung thành, chung thủy với chồng;
Hoàn tất công việc nội trợ một cách tốt đẹp...v...v..
Lễ
phương Bắc là để nhắc nhở chúng ta về cách đối xử
với bạn bè: Đã là bạn bè thì phải biết hổ tương đối
đãi nhau cho có đạo đức như bố thí, giúp đở bạn khi
cần; Nói với nhau bằng những lời ôn tồn; Làm mọi việc
có lợi cho bạn; Không lường gạt bạn; khi gặp hiễm nguy
không né tránh; Kính trọng gia đình bạn...v...v...
Lễ
lạy phương dưới cho đúng cách là khi lễ lạy chúng ta phải
nhớ cung cách đối xữ có đạo đức với kẻ làm công, phục
vụ cho mình chẳng hạng như: Khi giao công việc phải
tùy theo sức cán đán công việc của người làm; Tạo điều
kiện ăn uống thích hợp, công bằng, trả tiền công hợp
lý; Biết chia xẻ vui buồn...v..v.. Ngược lại đối với người
làm công phục vụ cho người khác cũng phải biết khéo làm
mọi công việc được giao phó; giữ gìn thanh danh cho chủ;
Thức dậy trước khi chủ thức, đi ngủ sau khi chủ đã ngủ..v...v..
Sau
hết lễ lạy phương trên là để nhắc nhở chúng ta về phép
đối xử có đạo đức với các vị đã xuất gia, tu hạnh
xuất thế gian: Các hành động nơi thân, lời nói và
ý nghĩ phải thể hiện bằng lòng từ; Đem hết lòng thành
hiến dâng những vật dụng cần thiết để cúng dường...
Ngược lại các bậc xuất gia cũng có những bổn phận đối
với mọi người như: Ngăn chận, khuyên răn không làm điều
ác; Khuyến khích làm điều thiện; Thuyết pháp bằng tâm từ
bi; Chỉ bày phương pháp tu tập...v...v..
Buổi
thuyết pháp được chấm dứt, bằng những câu hỏi do các
Phật tử đưa ra, phần lớn đều liên quan tới Vu Lan và Báo
Ân. Thầy đã trả lời một cách thỏa đáng và dễ hiểu
làm mọi người rất hài lòng. Sau đó Thầy thay mặt nhà chùa
mời các Phật tử xuống trai đường dùng cơm chay.
Mọi
người lần lượt đi xuống trai đường, tôi nôn nóng muốn
hỏi thăm Đạt nhiều điều nên đã cố tình trì hoản để
được đi sau cùng và Đạt hình như đã hiểu được nên
bước về phía hai mẹ con tôi. Tôi chấp tay cuối đầu chưa
kịp lên tiếng chào trước thì Đạt đã nhanh miệng:
-
Không gặp lâu quá mà trông chị không thay đổi gì nhiều...
Tôi
lật đật cắt ngang lời Đạt để giới thiệu:
-
Đây là bà nội của mấy cháu....
Cả
má chồng tôi và Đạt đều ngạc nhiên nhìn tôi, Đạt cười
vui:
-
Không ngờ Bác đây lại là chỗ thân tình...
Má
chồng tôi cười:
-
Vậy cũng là chỗ quen biết, cũng may, tôi rủ nó đi nghe pháp
chớ nếu không thì nó đâu có biết Thầy đã về đây...
Đạt
hướng mắt về phía sau và nói:
-
Mời Bác và chị xuống trai đường dùng cơm chay rồi mời
chị lên văn phòng sẽ nói chuyện nhiều.
Tôi
và má chồng tôi cuối đầu chào Thầy rồi bước xuống trai
đường...
II
Vì
hôm nay là ngày lễ lớn, Phật tử các nơi trong vùng tựu
về chùa rất đông cho nên trai đường không đủ chỗ ngồi
cho mọi người, hai mẹ con tôi lại vào sau cho nên... mỗi
người một dĩa bưng ra ngồi ở các băng ghế đá trong vườn
sau chùa cùng với một số người khác, ngồi dưới các bóng
cây càng mát chớ có sao. Tuy trong lòng đang có nhiều thắc
mắc về Đạt nhưng tôi cũng còn thưởng thức được bữa
cơm chay thật ngon, mẹ chồng tôi thì tỏ ra rất quý Thầy,
luôn miệng tán thán thầy, trẻ mà rất đạo mạo, học cao
hiểu rộng nhưng tánh tình rất xuề xòa, gần gũi giúp đỡ
Phật tử tận tình. Tôi kể cho bà nghe về tuổi thơ của
tôi và Đạt...
Sau
bữa cơm mẹ chồng tôi bảo:
-
Con đi gặp Thầy, má cần bàn một số công việc với mấy
bà trong bếp...
Cửa
văn phòng không đóng cho nên vừa thấy tôi Đạt cười và
bảo:
-
Mời chị vào đây... và ra dấu cho tôi ngồi xuống chiếc
ghế duy nhứt trước bàn viết của Đạt.
Căn
phòng chưng bày đơn giản như tính tình của Đạt mà tôi
biết ngày xưa, ngoài cái tủ kinh sách và cái bàn viết chỉ
có một cái bàn nhỏ đủ để một khai trà và một bình bông
nho nhỏ mà ai đó vừa mới thay mấy cành hồng. Chỉ có một
chiếc ghế duy nhứt dành cho khách mà tôi đang ngồi, tôi biết
Đạt ít tiếp khách ở đây, tính Đạt là như vậy, Đạt
thích đến với người ta hơn là chờ người ta tìm đến
với Đạt.
Sau
một hồi xã giao, Ðạt như đọc được ý nghĩ của tôi,
Ðạt nhìn tôi cười nhẹ và nói lại điều mà Đạt đã
nói khi nãy:
-
Chị thật không thay đổi gì... dù đả có gia đình, có cháu
bé rồi, mà tánh vẫn nóng nãy như xưa. Nhìn chị, tôi biết
chị ngạc nhiên và nóng lòng muốn biết về chị Nga lắm
phải không?
Nghe
Đạt nói tôi nghĩ thầm: Sao lại là “chị Nga” ? Hồi trước
Đạt cưới Nga, tôi có dự đám cưới mà? Nhưng tôi
không phải thắc mắc lâu vì Đạt đã nói tiếp:
- Chị thắc mắc cũng phải thôi, vì tôi không tiết lộ cho
ai biết kể cả má tôi làm bà già giận và buồn tôi không
ít. Thình lình Đạt hỏi: - Chị có còn nhớ anh Trí không?
Tôi
gật đầu và nói:
-
Có phải anh chàng Trí ưa lái xe jeep mỗi chiều thường
đến cổng trường, tụi này thường quở cái mặt anh chàng
có vẻ như đểu đểu đó không ?....
Đạt
đua tay chận tôi:
-
Chị không nên xét đoán bề ngoài...
Tôi
tự mĩm cười với chính mình với cái ý nghĩ rằng không
hiểu sao từ hồi còn nhỏ cho đến bây giờ, đối với
Đạt, lúc nào tôi cũng cảm thấy bị lép vế. Đạt có thể
“rầy” tôi bất cứ lúc nào...
Chợt
có tiếng con chim sâu ríu rít trên cây mận ngoài kia, Đạt
đưa mắt mông lung nhìn ra cửa sổ như cố nhớ lại dĩ vãng
và kể tiếp:
-
Hồi đó anh Trí và chị Nga thương nhau, chị Nga đã có mang
với anh Trí gần hai tháng rồi mà gia đình anh Trí lại nhứt
quyết không chịu cưới chị Nga cho anh Trí... Chị cũng biết
mà, tánh tình như chị Nga thì mấy ông bà già đời nào lại
chịu cưới về làm dâu. Chuyện còn chưa giải quyết được
thì má chị Nga lại lâm bệnh nặng, nếu bà biết được
con mình vừa thi rớt, vừa có mang thì sợ bà không chịu đựng
nỗi, nên anh Trí và chị Nga có tìm tới và tâm sự với tôi,
có ý nhờ tôi tìm cách giúp nếu để càng lâu thì không thể
giấu. Vì dù sao thì tình bạn của tôi và chị Nga cũng còn
đó và sở dĩ trước kia tôi kết bạn với chị Nga cũng chỉ
vì muốn kéo chị ấy trở về với việc học, đừng chạy
theo những người ham vui mà thôi...
Sau
khi nghe họ kể lể, không hiểu sao lúc đó tôi lại có cái
ý nghĩ hơi ngộ nghĩnh là tôi sẽ làm đám cưới với chị
Nga rồi sau đó sẽ giải quyết tiếp.... Tôi bắt hai người
phải hứa chắc với tôi là phải cố gắng ăn ở với nhau...
Đám
cưới xong tôi đưa chị Nga vào Sài gòn còn anh Trí thì thu
xếp với gia đình rồi xin thuyên chuyển vào sau. Riêng phần
tôi thì tôi đã có chọn cho tôi con đường đi, cho nên khi
chuyện của anh Trí và chị Nga tạm ổn, tôi vào chùa xin xuất
gia... Tội nghiệp cho má tôi, tôi đã giấu bà.
Tôi
chận lời Đạt:
-
Sao thầy...
Không
cho tôi nói hết câu, Đạt đở lời:
-
Chị đừng trách tôi, tôi nói là tôi giấu bà tức là tôi
không nói chớ không phải là tôi dối bà, vì nếu phải nói
thì tôi sẽ nói thật cho nên trong hai năm sau đó tôi chỉ
liên lạc thơ từ chớ không về thăm. Còn chuyện tôi xuất
gia, tôi cũng không tiết lộ vì tôi biết bà cứ nghĩ rằng
nếu tôi xuất gia đi tu thì coi như bà đã mất tôi cho nên
trong những cái thơ gởi về, tôi đã chuẩn bị tinh thần
cho bà rất kỹ. Vậy mà bà cũng buồn và trách tôi nhiều
khi tôi về thăm bà trước khi lên đường sang Ấn Độ để
tu học...
Sau
đó có lẽ nhờ những lá thư dài của tôi từ Ấn Độ gởi
về nên bà đã có thay đổi, đến khi tôi tốt nghiệp trở
về thì bà đã không còn buồn nữa và bây giờ thì bà đã
trường chay, sớm tối kinh kệ tại gia...
Những
dịp lễ Tết anh Trí và chị Nga thường đưa cháu Bảo Châu
về thăm bà để tỏ lòng biết ơn đối với tôi... Nhưng
chị cũng nên biết chuyện ơn nghĩa để mãi trong lòng không
phải là một điều tốt...
Sau
lần gặp lại đó, tự nhiên tôi cảm thấy gần gũi và kính
phục Đạt hơn và cũng từ đó mỗi khi có dịp về thăm quê
chồng là tôi đến Chùa lễ Phật và thăm Ðạt, tôi học
hỏi ở Đạt thật nhiều. Chính Đạt đã mở cho tôi con đường
tìm về với giáo lý Phật, đó là một thiện trí thức của
tôi...
Thời
gian qua nhanh....
Tôi
đã dẫn hai con trở về quê cũ ở miền Trung cũng được
gần hai năm rồi...
Về
nhìn cảnh cũ tôi lại nhớ “Thầy Đạt” và những ngày
xa xưa thì....
Bổng
một hôm, sau khi đưa hai con đến trường trở về tới nhà
tôi thấy có một người mặc quân phục đang đứng trước
cửa nhà nhìn vào trong như đang tìm ai, tôi bước tới định
hỏi “ông tìm ai” nhưng chưa kịp mở miệnhg thì người
đó quay lại...
Tôi
sững sốt, sao lại là Đạt?
(Con
người này mang lại cho tôi hết ngạc nhiên này đến ngạc
nhiên khác.!!)
Không
để cho tôi ngạc nhiên lâu hơn nữa, Đạt lên tiếng trong
khi cả hai chúng tôi đi qua cái sân nhỏ để vào nhà:
-
Sẵn dịp đi công tác miền Trung, tôi ghé nhà thăm cậu thì
cậu tôi nói chị đã về đây từ năm ngoái, tôi sang đây
thăm chị...
Tôi
mời Đạt vào nhà, tận tay đưa cho Đạt ly nước mát, tôi
vẫn còn chưa hết ngạc nhiên và nghĩ thầm... Tướng Đạt
cao lớn, mạnh khỏe lại đóng bộ quân phục với hai bông
mai vàng óng ánh trên cổ áo, trông rất oai phong lẫm liệt,
nếu mà không có cái đầu trọc có lẽ khối cô mê mết...
Qua
câu chuyện tôi biết được Đạt đã vào quân đội và là
một Tuyên úy Phật giáo với quân hàm Trung úy. Lần này sẵn
đi công tác ngang đây nên ghé thăm nhà. Vì vậy chúng tôi
chỉ có đủ thì giờ hỏi thăm nhau qua loa rồi Đạt lại
đi, Đạt có gởi lời thăm má chồng tôi, Đạt từ giả ra
xe, Đạt đến và đi như một cơn gió thổi......
Việt
Nam mấy tháng đầu năm 1975 là thời gian rất căn thẳng, ai
cũng cảm thấy có một cái gì đó làm cho ngột ngạt, tình
hình chiến sự thật bi đát như mọi người ở lứa tuổi
của tôi đều biết nhưng đó không phải là đề tài của
bài viết này cho nên tôi xin trở lại với thiện tri thức
của tôi!
Trong
lúc mà muôn người như một đều bị dằn vật giữa hai tiếng
“đi” và “ở” thì Đạt đã tìm tới thăm tôi, thời
gian đó chồng tôi không mấy khi mà có mặt ở nhà vì anh
cũng là một sĩ quan trong quân đội.
Sau
một hồi trò chuyện Đạt có hỏi tôi là gia đình tôi có
tính chuyện gì không? Tôi hiểu ý Đạt cho nên tôi nói:
-
Chúng tôi không có ý định ra đi, chồng tôi nói, anh đã từng
sống ở nước ngoài nhiều năm nên anh thấy rằng sống ở
đâu đi nữa, cho dù vật chất có thừa thải cũng không bằng
sống trên quê hương của mình. Hơn nữa, nếu thật sự nước
nhà có hòa bình thì lại càng nên ở lại để đem tài sức
ra góp một tay xây dựng đất nước...
Đạt
cũng tán đồng ý đó.
Nhưng
tiếc thay! Khi đất nước đã có hòa bình (cứ cho là như
vậy) thì những tấm lòng yêu nước đặt không đúng chỗ,
những trái tim có nhiệt tình với đất nước bị coi là những
trái tim đập sai nhịp đó đã bị dồn vào những trại tập
trung để trở thành những người tù không có bản án..!!
Trong số đó có chồng tôi và Đạt.!.....
Sau
mấy tháng không nhận được tin tức của chồng, tôi bắt
đầu lo và cũng bắt đầu tập nói láo như họ (VC) để nói
với... các con, để an ủi chúng là ba chúng sẽ về.. sẽ
về...!
Rồi
vào một buổi chiều, có một người bộ đội VC đến gỏ
cửa nhà tôi, khi thấy tôi ra anh ta hỏi:
-
Có phải chị là người nhà của Thầy Giác Không không?
Tôi
nói “phải” thì người bộ đội đó đưa cho tôi một gói
giấy rồi lên xe đạp đi ngay... Tôi vội vã trở vào nhà
mở ra xem, thì ra trong gói giấy đó có một hộp sữa đặc,
nửa kí đường và mãnh giấy nhỏ có giòng chữ ghi vội:
“Quà này cho hai cháu, có gặp ba của Bé lúc đi lao động
bên ngoài, trông vẫn khoẻ”... như vậy rồi chấm hết...
không biết có phải vì vội vàng hay vì bị ra điều kiện
mà Đạt không cho tôi biết địa điểm để đi thăm, đó
mới là điều tôi cần...? Cũng có thể Đạt sợ rằng nếu
tiết lộ địa điểm rồi tôi sẽ nóng ruột rồi dẫn con
đi thăm thì sẽ rắc rối....?
Quả
thật, sáu năm sau, khi Thầy được thả về tôi có hỏi thì
Thầy nói đó là vì lý do an toàn cho tôi nhứt là không gây
nguy hiễm cho chồng tôi trong trại... và Thầy cũng cho biết
Thầy đã “tặng” cho tên bộ đội cái đồng hồ đeo tay
của Thầy nó mới chịu đem quà đi như vậy...
Tôi
trách Thầy sao không để lại mấy thứ đó mà dùng cho có
chất bổ thì Thầy cười bảo:
-
Các cháu cần hơn, ở nhà chùa tôi ăn chay quen rồi, vô tù
cũng ăn chay ngày hai bữa cơm rau và ... nước muối, đâu có
khác gì nhau nên tôi chịu được.
Ở
trên tôi đã không nói sai chút nào là trong bất cứ hoàn cảnh
nào Thầy đến với tôi Thầy đều đem cho tôi hết ngạc
nhiên này đến ngạc nhiên khác, từ chuyện cưới vợ giùm,
chuyện đi tu, chuyện vào quân đội cho tới chuyện... người
ở trong tù lại gởi quà thăm nuôi người ở ngoài...!!
Ngày
Thầy đến thăm mẹ con tôi khi Thầy vừa ra tù, tôi đã
mời Thầy ở lại dùng bữa cơm với ba mẹ con tôi. Thầy
vui vẻ nhận lời nhưng tôi không nghĩ Thầy nhận lời vì
câu nói của tôi:
-
Nhà con cũng chỉ cơm rau chớ không có thịt cá gì cả...
Thầy
đã ở lại với ba mẹ con tôi cho đến chiều, Thầy dặn
dò tôi đử thứ, nghe Thầy nói mà tôi có cảm tưởng là
tôi được Thầy ban cho một bài pháp...
-
Đã là người con Phật, dù có đi chùa hay không có điều
kiện để đi chùa cũng nên cố gắng giữ cho được
năm giới, đó là căn bản, giữ được năm giới thì không
khác nào có Phật ở bên mình.... Phải nhớ và coi câu niệm
Phật là cái phao sẽ giúp mình trong mọi cảnh trái lòng....Phải
đạy bảo con cái cho nghiêm, đừng vì chúng không có cha lúc
này mà chiều chuộng con quá đáng sẽ tạo thói quen không
tốt sau này.... Trong hoàn cảnh nào cũng phải chu toàn bổn
phận làm con, làm dâu. Nhứt là đối với bên chồng, đừng
để người ta nghĩ rằng người ta đã mất con bây giờ lại
mất dâu và mất cháu... Vắng chồng người vợ đau khổ một,
chứ bậc cha mẹ đau khổ 10.... ...Phải chung thủy và phải
biết an ủi chồng, mang thân tù tội đã khổ rồi nếu gây
thêm cái cảm tưởng bị vợ ruồng rẩy thì sẽ khổ đến
bực nào.... Nhứt là sau này khi anh ấy mãn tù về, hoàn cảnh
xã hội đã đổi khác, cái oai hùng của một Phi công khu trục
không còn, anh sẽ có mặc cảm là người sống bên lề xã
hội thì đừng gây tạo thêm cho anh ấy có cái mặc cảm anh
ấy người sống bên lề gia đình...
Thầy
nói rất nhiều, nghe Thầy nói mà xúc động trào dâng trong
tôi và nước mắt tôi đã chảy ra khi nào tôi cũng không hay
biết, nếu hai con tôi đi học chưa về tới thì có lẽ tôi
sẽ để như vậy chớ không buồn lau nước mắt... Tôi cảm
động quá...
Thầy
cho biết, vì hoàn cảnh của Thầy lúc này không trở lại
chùa được cho nên mai này Thầy sẽ tìm một nơi vắng vẽ
để mà tu, nếu có duyên thì sau này sẽ còn có cơ hội gặp
lại nhau... Trước khi chia tay Thầy trao cho tôi một số tiền
và nói là để tôi lo cho hai cháu. Thầy cũng cho biết đó
là tiền của gia đình Thầy từ ngoại quốc chuyển về để
Thầy làm phương tiện vượt thoát ra nước ngoài, nhưng Thầy
vẫn không có ý định ra đi và Thầy cũng không cần phải
giữ nhiều tiền bên mình. Thầy nói đùa:
-
Làm thầy chùa mà giữ tiền chi cho nhiều....
Nhìn
dáng Thầy thong dong bước ra khỏi cửa lòng tôi buồn vô hạn,
tôi cảm thấy như có một cái gì trân quý đang rời khỏi
tầm tay...
Thế
rồi từ đó về sau tôi không còn gặp lại Thầy hay nghe tin
tức gì về Thầy....
Bây
giờ thân mang cuộc sống ly hương có đủ điều kiện hằng
đêm tới chùa tụng niệm rồi nghĩ về những điều Thầy
đã dạy trước đây và lòng tôi vẫn còn bồi hồi khi nhớ
đến Thầy.
Hôm
nay ngồi ghi lại câu chuyện này để nhớ về một người
bạn thời thơ ấu và cũng là một người Thầy lúc trưởng
thành...
Tôi
thầm cám ơn chư Phật, tôi nghĩ chư Phật đã đưa duyên cho
tôi để những lúc gặp cảnh trái lòng, khổ sở đến cùng
cực đều có người tốt đến giúp đở và chỉ vẽ cho tôi
giữ vững tinh thần đi đúng con đường của người con Phật.
Đối
với tôi, Thầy Giác Không là một Đại Bồ Tát, đến không
hay, đi không thấy dấu...
Diệu
Ngọc
Mùa
Đông Quý Mùi 2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 458 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân