II. Pháp
giới duyên khởi
4. Viên dung
vô ngại
Hoa
nghiêm cảnh giới.
Trong
kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhã có đoạn: “Lấy tâm kính
trọng tu tập hạnh Không; tu tập hạnh Không nên xa lìa mọi
chỗ thấy, xa lìa mọi kiến hoặc, nên tu hành chính đạo;
tu hành chính đạo nên thấy được Pháp giới”. Nhưng thế
nào là Pháp giới?
Hỏi
hay trả lời đều là tác dụng truyền thông qua ngôn ngữ
và luận lý. Trả lời tức là tìm cách chia xẻ kinh nghiệm
cá nhân với người hỏi. Nhưng khi người hỏi không cùng
chung kinh nghiệm được san sẻ thời câu trả lời không mang
một ý nghĩa nào đối với họ. Trường hợp trả lời câu
hỏi “Thế nào là Pháp giới?” cũng vậy. Đứng trên lập
trường tu dưỡng thời về phương diện quả vị chứng ngộ
cứu cánh tuyệt đối, Pháp giới là cảnh giới tự thân của
đức Phật. Biết rõ chúng sinh không chia xẻ được kinh nghiệm
của Ngài, nên Ngài thường xuyên nhắc nhở các vị Bồ tát
tùy căn thức chúng sanh rộng nói kinh pháp, chẳng nên mắc
nơi ngôn thuyết. Nói ra là để khiến họ lìa cái hư ngụy
từ vô thủy, chuyển tâm, ý, ý thức, tự biết tự chứng.
Nhưng quyết không có nói chỉ bày chỗ tự giác thánh trí.
Bởi vì tự giác thánh trí lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng
tâm duyên, tự chứng được ở bên trong, chẳng phải chỗ
hiển bày của vọng tưởng ngôn thuyết.
Theo
Hoa nghiêm thám huyền ký, Pháp giới là sở nhập. Pháp ở
đây có ba nghĩa. Một, duy trì tự tính tức tất cả những
gì có đặc tính của nó, không khiến ta lầm lẫn với cái
khác. Hai, quỹ tắc, tức có những khuôn khổ riêng của nó
để có thể làm phát sinh nơi ta một khái niệm về nó. Ba,
đối tượng của ý. Giới cũng có ba nghĩa. Một, nghĩa là
nhân, vì Thánh đạo y trên đây mà sinh trưởng. Biện Trung
biên luận giải thích: “Do ý nghĩa là nhân của Thánh pháp
nên gọi là Pháp giới, vì hết thảy Thánh pháp duyên vào
đây mà phát sinh. Trong đây, giới có nghĩa là nhân, có nghĩa
là vô ngã.” Hai, nghĩa là tánh, nghĩa là tánh sở y của tất
cả các pháp. Ba, nghĩa là phân tề (giới hạn thực tế),
bởi vì tướng của các duyên khởi không hỗn tạp.
Kinh
Hoa nghiêm, một trong các kinh lớn của Đại thừa, miêu tả
Pháp giới vô cùng kỳ diệu dưới hình thức lầu các “Tỳ
Lô Giá Na trang nghiêm tạng” với những ánh sáng siêu nhiên
và tất cả những tráng lệ thiên đường rực rỡ. Hoa nghiêm
Pháp giới có những đặc điểm sau đây:
(1)
Pháp giới bao trùm vô lượng vô biên cảnh giới các cõi.
Một cõi trong Pháp giới có thể vô cùng lớn hay vô cùng
bé tùy theo nấc thang đo lường hay vị trí thực hiện sự
đo lường.
(2)
Bất kỳ cõi nào cũng bao hàm những cõi bé hơn, và được
chứa trong một cõi lớn hơn. Chẳng hạn như quả đất bao
hàm những nguyên tử, và là một thành phần của hệ mặt
trời. Tính cách các cõi của Pháp giới lớp lớp chồng chứa
nhau vô cùng tận trong cả hai chiều vô cùng lớn và vô cùng
bé như vậy được gọi là “trùng trùng duyên khởi”.
(3)
Một cõi bé, như một nguyên tử chẳng hạn, chẳng những
chứa vô lượng cõi nhỏ bé hơn, mà cũng còn chứa vô lượng
cõi rộng lớn hơn, như hệ mặt trời, và như thế tạo Pháp
giới thành một “toàn thể vô tận viên dung vô ngại”.
(4)
Trong Pháp giới, tất cả ba thời đều nhiếp nhập một cái
hiện tại miên trường nên khái niệm thời gian không còn
cần thiết để mô tả sự lưu chuyển theo dòng quá khứ,
hiện tại, và vị lai nữa.
(5)
Vô lượng vô biên cảnh giới các cõi trong Pháp giới là nơi
hiển bày những thần thông biến hóa, những lưu xuất năng
lực, sự quảng bá những nguyện và trí, niềm hoan hỉ tịnh
lạc, những công hạnh và giải thoát bất khả tư nghì của
hết thảy Bồ tát, vô số trang nghiêm cõi Phật, những thệ
nguyện vô thượng của các Như Lai.
Thật
ra, Hoa nghiêm Pháp giới cũng là Thế gian giới. Duy chỉ những
Bồ tát đã “sinh ra từ hạnh nguyện Phổ Hiền” mới có
thể chiêm nghiệm cảnh giới trang nghiêm tráng lệ Hoa nghiêm
với vô số hiện tượng mầu nhiệm kỳ bí, vượt ra ngoài
khả năng tư duy và diễn đạt của ngôn ngữ thông tục. “Sinh
ra từ hạnh nguyện Phổ Hiền” có nghĩa là siêng tu mười
pháp: tâm chẳng xa bỏ tất cả chúng sanh, xem chư Bồ tát
như Phật, chẳng hủy báng Phật pháp, biết các quốc độ
đều vô cùng tận, tin mến hạnh Bồ tát, giữ tâm bình đẳng
hư không pháp giới bồ đề, quán sát Chân tâm để nhập
trí lực Phật, siêng tu biện tài vô ngại, giáo hóa chúng
sanh không nhàm mỏi, trụ nơi tất cả thế giới mà tâm không
nhiễm trước.
An
trụ nơi mười pháp này rồi thời Bồ tát có đầy đủ mười
thứ thanh tịnh (chẳng hạn, thông đạt thậm thâm pháp thanh
tịnh, hay thân cận thiện tri thức thanh tịnh, hay tu hành tất
cả Phật pháp thanh tịnh), và mười thứ trí rộng lớn (chẳng
hạn, trí biết tất cả tâm hành và nghiệp báo của chúng
sanh, hay là trí biết tất cả văn tự biện tài, hay trí hiện
thân mình ở khắp trong tất cả thế giới).
Trụ
trong mười trí này rồi thời được mười thứ phổ nhập
(chẳng hạn, tất cả thân chúng sanh vào một thân, một thân
vào tất cả thân chúng sanh, hay tất cả Phật pháp vào một
pháp, một pháp vào tất cả Phật pháp, hay tất cả tam thế
vào một thế, một thế vào tất cả thế).
Quán
sát như vậy rồi thời an trụ mười tâm thắng diệu (chẳng
hạn, tâm thắng diệu tưởng niệm của tất cả chúng sanh
không chỗ y chỉ, hay tâm thắng diệu pháp giới vô biên, hay
tâm thắng diệu tất cả thế giới bình đẳng vô sai biệt).
Cuối
cùng, an trụ mười tâm thắng diệu rồi thời thành tựu mười
trí thiện xảo về Phật pháp (chẳng hạn, trí liễu đạt
Phật pháp thậm thâm quảng đại, hay trí khéo thuyết giảng
Phật pháp, hay trí khéo dùng tự tâm tự lực để không thối
chuyển khi tu tập Phật pháp).
Những
vị Đại Thanh văn như ngài Xá Lợi Phất, không có phước
quả, không có tuệ nhãn, không có tam muội, không có giải
thoát, không có thần lực biến hóa, không có uy lực, không
có tâm nguyện lớn lao như các Bồ tát vẫn chưa có thể chứng
kiến mọi diễn biến nhiệm mầu trong lầu các Tỳ Lô.
Đọc
kinh Hoa nghiêm, Phẩm 30 - A tăng kỳ, không thể không có cảm
tưởng là đức Phật đang dùng ngôn ngữ số lượng Thiên
văn học hiện đại để giải thích sự rộng lớn của Pháp
giới, khi Bồ tát Tâm Vương hỏi thế nào là vô lượng, vô
biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư,
bất khả lượng, bất khả thuyết, bất khả thuyết bất
khả thuyết. Đoạn kinh sau đây tỏ rõ tài năng toán học
của đức Phật khi đem “thế gian nhập vào nghĩa số lượng
mà đức Phật đã biết”. [Tài năng toán học của Ngài cũng
được Phổ diệu kinh (Lalitavistara) kể lại trong một cuộc
thi đếm số lượng mà Ngài đã thắng giải, đến độ vị
giám khảo phải quỳ xuống bái phục]
Phật
nói: “Mười lũy thừa mười nhân mười lũy thừa mười
bằng mười lũy thừa hai mươi; mười lũy thừa hai mươi nhân
mười lũy thừa hai mươi bằng mười lũy thừa bốn mươi;
mười lũy thừa bốn mươi nhân mười lũy thừa bốn mươi
bằng mười lũy thừa tám mươi; mười lũy thừa tám mươi
nhân mười lũy thừa tám mươi bằng mười lũy thừa 160; mười
lũy thừa 160 bình phương bằng mười lũy thừa 320; ... ...
... ; số đó bình phương bằng mười lũy thừa 101 493 292 610
318 652 755 325 638 410 240; số đó bình phương làm thành một
a tăng kỳ (incalculable); a tăng kỳ lũy thừa bốn làm thành
một vô lượng (measureless); vô lượng lũy thừa bốn làm thành
một vô biên (boundless); vô biên lũy thừa bốn làm thành một
vô đẳng (incomparable); vô đẳng lũy thừa bốn làm thành một
bất khả sổ (innumerable); bất khả sổ lũy thừa bốn làm
thành một bất khả xưng (unaccountable); bất khả xưng lũy
thừa bốn làm thành một bất khả tư (unthinkable); bất khả
tư lũy thừa bốn làm thành một bất khả lượng (immeasurable);
bất khả lượng lũy thừa bốn làm thành một bất khả thuyết
(unspeakable); bất khả thuyết lũy thừa bốn làm thành một
bất khả thuyết bất khả thuyết (untold); bất khả thuyết
bất khả thuyết bình phương làm thành bất khả thuyết bất
khả thuyết chuyển (a square untold).”
Điều
đáng lưu ý trong đoạn kinh này là Ngài đã dùng cụm từ
“bất khả thuyết bất khả thuyết chuyển” thay vì gọi
tên bằng một con số xác định để biểu tượng số lượng
vô cùng lớn tột bậc. Thật ra, cụm từ này mô tả một
kinh nghiệm quán tưởng. Nhưng tại sao Ngài lại làm như vậy?
Một số lượng vô cùng lớn hay vô cùng bé đều có thể
dùng trí óc suy đoán và dùng ký hiệu biểu diễn dễ dàng,
nhưng nếu muốn trực nhận nó bằng cảm giác thời quả thật
rất khó khăn. Đức Phật hằng tại chánh định nên “thấy”
chớ không “suy lý” hay “suy luận”. Vì vậy khi muốn truyền
đạt lại điều Ngài thể nghiệm thời ngoài cụm từ “bất
khả thuyết bất khả thuyết chuyển” thật không còn có
ngôn từ nào đúng hơn để chỉ vào một số lượng vô cùng
lớn tột bậc.
Tưởng
cũng nên biết cách đếm số của Hoa nghiêm là tựa trên hỗ
tương liên hệ giữa phần tử và tập hợp. Thí dụ tách
biệt một cá thể ra khỏi một nhóm gồm 100 cá thể thời
cá thể tách riêng đó vẫn còn xem như tương duyên với 99
cá thể kia. Số 99 cá thể này kể như một đơn vị cọng
vào 99 tạo thành nhóm một trăm mối quan hệ. Như vậy, khi
nhìn tập hợp có 100 hiện hữu như là những phần tử biệt
lập thời chỉ có 100 hiện hữu mà thôi. Nhưng nếu nhìn chúng
theo hỗ tương quan hệ thời mỗi hiện hữu đếm thành 100.
Do đó có đến một trăm lần một trăm, tức 10 000 hiện hữu.
Trong trường hợp các mối quan hệ trở nên phức tạp hơn
thời số lượng đếm được trở nên bất khả thuyết bất
khả thuyết. Bởi vậy, trong Hoa nghiêm hầu như câu kinh nào
cũng gắn liền với số lượng bất khả thuyết bất khả
thuyết.
Sau
đây xin trích một số lời chỉnh cú của đức Thế tôn về
tính cách “trùng trùng vô tận” của Pháp giới.
Trích
Phẩm 30 - A tăng kỳ:
“Bất
khả ngôn thuyết bất khả thuyết
Sung
mãn tất cả bất khả thuyết
Trong
những kiếp bất khả ngôn thuyết
Nói
bất khả thuyết chẳng hết được.
Nếu
bất khả thuyết các cõi Phật
Thảy
đều nghiền nát làm vi trần
Trong
một trần, bất khả thuyết cõi
Như
một, tất cả đều như vậy.
...
... ...
Ở
trên bất khả thuyết đầu tóc
Đều
có cõi tịnh bất khả thuyết
Nhiều
thứ trang nghiêm bất khả thuyết
Nhiều
thứ kỳ diệu bất khả thuyết.”
Hãy
tiếp tục đọc những đoạn kinh dưới đây miêu tả Pháp
giới với đầy đủ kỳ tích.
Trích
Phẩm 30 - A tăng kỳ:
“Chỗ
một đầu tóc cõi lớn nhỏ
Tạp
nhiễm thanh tịnh cõi thô tế
Tất
cả như vậy bất khả thuyết
Mỗi
mỗi rõ ràng phân biệt được.
Đem
một cõi nước nghiền làm bụi
Bụi
đó vô lượng bất khả thuyết
Trần
số vô biên cõi như vậy
Đều
đến đồng nhóm đầu một tóc.
Những
cõi nước này bất khả thuyết
Đồng
nhóm đầu tóc không chật hẹp
Chẳng
khiến đầu tóc có thêm lớn
Mà
những cõi kia chung đến nhóm.
Trên
tóc tất cả những cõi nước
Hình
tướng như cũ không tạp loạn
Như
một cõi chẳng loạn các cõi
Tất
cả cõi nước đều như vậy.”
Trích
Phẩm 36 - Hạnh Phổ Hiền:
“Chư
Phật tử! Đại Bồ tát trụ trong mười trí này rồi thời
được mười thứ phổ nhập:
Một
là tất cả thế giới nhập vào một điểm, một điểm nhập
vào tất cả thế giới. Hai là tất cả thân chúng sanh nhập
vào một thân, một thân nhập vào tất cả thân chúng sanh.
Ba là tất cả kiếp nhập vào một niệm, một niệm nhập
vào tất cả kiếp. Bốn là tất cả Phật pháp nhập vào một
pháp, một pháp nhập vào tất cả Phật pháp. Năm là bất
khả thuyết xứ nhập vào một xứ, một xứ nhập vào bất
khả thuyết xứ. Sáu là bất khả thuyết căn nhập vào một
căn, một căn nhập vào bất khả thuyết căn. Bảy là tất
cả căn nhập vào phi căn, phi căn nhập vào tất cả căn. Tám
là tất cả tưởng nhập vào một tưởng, một tưởng nhập
vào tất cả tưởng. Chín là tất cả ngôn âm nhập vào một
ngôn âm, một ngôn âm nhập vào tất cả ngôn âm. Mười là
tất cả tam thế nhập vào một thế, một thế nhập vào tất
cả thế.”
Trích
Phẩm 27 - Thập Định:
“Đại
Bồ tát nơi tam muội này,... một niệm nhập ức kiếp khởi,
ức kiếp nhập một niệm khởi; đồng niệm nhập biệt thời
khởi, biệt thời nhập đồng niệm khởi; vị lai nhập quá
khứ khởi, quá khứ nhập vị lai khởi; tam thế nhập sát
na khởi, sát na nhập tam thế khởi;...”
Theo
lời kinh vừa trích, không gian và thời gian bị tiêu giải
mất hết ý nghĩa và năng lực. Pháp giới không những chỉ
trùng trùng vô tận mà còn hoàn toàn được giải thoát khỏi
hết thảy mọi chướng ngại không gian và thời gian. Mỗi
hữu vừa bao hàm trong chính nó tất cả những hữu khác, và
những hữu khác cũng vậy. Những thực tại cá biệt được
bao hàm trong một thực tại bao la, và thực tại bao la này
lại thấy tham dự trong từng mỗi thực tại cá biệt. Vạn
hữu đồng thời đốn khởi và hỗ dung, hỗ tương giao thiệp
toàn diện trong Pháp giới. Sự dung nhiếp bao la của vạn hữu
đã làm cho Pháp giới trở nên một cảnh giới trong suốt
và ngời sáng, không hình tích, không bóng tối. Trên nguyên
tắc, hoạt cảnh châu biến hàm dung sinh khởi và xuất hiện
là do mọi pháp duyên sinh đều vô tự tính tức Không. Đúng
theo khẩu quyết lừng danh của Bồ tát Long Thọ, “Mọi pháp
do Không mà có”, chính do tánh Không mà hết thảy mọi cảnh
giới hỗ tương nhiếp nhập, nhất đa tương dung thành tựu.
Nhất
đa tương dung.
Vấn
đề khó hiểu nhất ở đây là lý thuyết nhất đa tương
dung. Một vi trần chứa đựng được vô vàn thế giới mà
không trương bùng ra, hay một thế giới có thể thu vào trong
hạt cát mà không thay đổi nhỏ lại. Cái một ở trong tất
cả thời còn dễ hiểu. Nhưng làm thế nào tất cả có thể
nhiếp nhập cái một? Một môn sinh tỏ bày sự hoang mang của
mình với Thiền sư: “Tuy biết rằng những điều kỳ lạ
nói đến trong kinh vượt ngoài khả năng hiểu biết của con
người, nhưng dẫu sao con vẫn cứ thắc mắc muốn biết có
thể nào xảy ra những hiện tượng kỳ lạ như vậy chăng.
Xác nhận những thành quả quán tưởng bất khả tư nghì của
các bậc Đại Giác tất phải tựa trên một căn bản lý trí.
Mong Thầy dẫn chứng bằng thí dụ hay ngụ ngôn làm sáng tỏ
những điều được xác quyết là không hoang đường.”
Thiền
sư khiến môn sinh nhắm mắt lại và bảo: “Hãy tưởng tượng
một bát cơm hiện ra trong trí con”. Sau một vài giây, Thiền
sư lại bảo: “Bây giờ hãy gợi lên trong trí hình ảnh một
con trâu đang ăn cỏ ngoài đồng... Xa mờ ở tận chân trời,
con tượng hình một ngọn núi cao với nhiều mây trắng đang
bay phủ tràn trên đỉnh”. Rồi sau khi được môn sinh cho
biết đã thực hiện dễ dàng mọi điều đúng theo ông bảo,
Thiền sư kết luận: “Cái đầu óc của con tuy nhỏ bé nhưng
vẫn có thể chứa nào là hình ảnh chén cơm, hình ảnh con
trâu ngoài đồng rộng, và ngọn núi xa với mây trên đỉnh
cao chót vót. Đầu óc con không phải vì thế mà bùng nở và
mọi vật con thấy không thu hình nhỏ lại chút nào. Đó là
một thí dụ về tính vô ngại của không gian. Để hiểu về
tính vô ngại của thời gian, con hãy mơ tưởng thấy một
người quen thuộc nào đó đã quá cố nay được con dẫn đi
xem một căn nhà mà con đang thu xếp trong đầu óc sẽ xây
cất nay mai. Đó là con đang nhiếp nhập quá khứ và vị lai
thoáng chốc vào giây phút hiện tại. Như vậy đối với người
thường như con còn bị nhiều hoặc nghiệp trói buộc mà còn
bứt bỏ được những chướng ngại không gian và thời gian
thời đối với các vị Bồ tát nhờ cái đức của Thiền
định tâm tuệ được giải thoát mà trở nên tự tại thấy
mọi chuyện như kinh nói, quả không có gì là huyền bí hay
hoang đường cả.”
Môn
sinh suy gẫm hồi lâu xin phép trình bày lại vấn đề: “Những
điều Thầy bảo con thực hiện chỉ là những tưởng tượng
mà thôi, chứ thật ra làm sao nhét cả một ngọn núi thật
vào một cái đầu óc thật, hay làm thế nào trong giây phút
đương thời con có thể làm sống lại một kẻ đã khuất
bóng dẫn đi xem một cái nhà con chưa xây cất.”
Thiền
sư giải thích: “Lúc con hỏi về căn bản lý trí tựa vào
đó mà xác quyết các hiện tượng nói đến trong kinh là không
hoang đường, không huyền bí, thầy đưa ra thí dụ thuộc
cảnh giới lý trí. Thầy chưa bao giờ nói là ở cõi trần
này chúng ta có thể nhét một ngọn núi lớn vào trong cái
đầu óc nhỏ bé hiện có của chúng ta. Nên nhớ rằng chừng
nào chúng ta giới hạn vấn đề bàn luận trong cõi trần thời
triết lý Hoa nghiêm không hề trái nghịch với những tắc
lệ của thế giới lý trí và thế giới thường nghiệm. Nhưng
nếu chúng ta đứng trên cảnh giới của Phật trí mà quán
sát phân tích theo Chân đế, thời vấn đề thay đổi không
còn như trước nữa. Hãy đọc lại đoạn kinh trích từ Phẩm
30 - A tăng kỳ:
“Những
cõi nước này bất khả thuyết
Đồng
nhóm đầu tóc không chật hẹp
Chẳng
khiến đầu tóc có thêm lớn
Mà
những cõi kia chung đến nhóm.
Trên
tóc tất cả những cõi nước
Hình
tướng như cũ không tạp loạn
Như
một cõi chẳng loạn các cõi
Tất
cả cõi nước đều như vậy.”
Và
đoạn kinh sau đây trích từ Phẩm 33 - Pháp bất tư nghì của
Phật.
“Tất
cả chư Phật hay làm cho tận hư không giới vô lượng vô
số các thứ trang nghiêm, tất cả thế giới chấn động sáu
cách. Làm cho thế giới đó hoặc cất lên, hoặc hạ xuống,
hoặc lớn, hoặc nhỏ, hoặc hiệp, hoặc tan, chưa từng não
hại một chúng sanh. Chúng sanh trong thế giới đó chẳng hay
chẳng biết, không cho là lạ.”
Suy
nghĩ kỹ về hai đoạn kinh trên, ta thấy không có điều gì
kỳ lạ cả. Vì trước tiên, kinh nói, một thí nghiệm thực
hiện trong một cảnh giới không ngăn ngại một thí nghiệm
cùng chung phạm trù được thực hiện trong một cảnh giới
khác, mặc dầu hai cảnh giới này chẳng những tương quan
liên hệ với nhau, mà hơn thế nữa chúng tương tại và tương
thị, cảnh giới này phản chiếu nằm trong cảnh giới kia
và ngược lại. Thứ đến, một nguyên lý hay một thí nghiệm
được công nhận chân thật trong một cảnh giới không cần
phải được công nhận là chân thật trong một cảnh giới
khác. Dẫu chân giả trái nghịch nhau đi nữa thời sự trái
nghịch đó không phủ định hay bác bỏ giá trị hay hiệu
năng của nguyên lý hay thí nghiệm nào trong chúng. Chúng cùng
hiện thực tương đồng, hỗ tương dung nhiếp, hỗ tương
giao thiệp toàn diện.
Khi
bảo một hiện tượng là có hay không, điều đó tùy thuộc
cảnh giới mà ta chọn làm khung ý niệm tiên khởi. Chính sự
đóng khung trong một cảnh giới riêng biệt để quyết đoán
ý nghĩa của sự vật tạo thành sự khác biệt căn bản giữa
cái nhìn quá hạn hẹp, quá thô kệch của chúng ta và cái
nhìn toàn thể vô tận viên dung vô ngại của Hoa nghiêm. Tóm
lại, mọi minh chứng và xác nhận ý nghĩa Hoa nghiêm tựa trên
sự thông đạt và thực chứng cảnh giới các cõi, bởi vì
viên dung là bao hàm toàn thể hết thảy cảnh giới các cõi
và vô ngại là khả năng tương dung nhiếp nhập vô tận của
cảnh giới các cõi.
Viên
dung vô ngại.
Nói
đến cảnh giới các cõi là hàm ý những khu vực có biên
giới. Lấy một cốc nước làm thí dụ. Nhìn nước trong cốc,
người thường cho đó là đồ giải khát; hóa học gia nghĩ
đó là hợp chất hydro và oxy; nhà vật lý thấy đó là trạng
thái lỏng do chấn động của các phân tử tạo thành. Đối
với một triết gia, nước biểu hiện các tương quan nhân
quả; đối với một bậc Đại Giác thời đó là hiện tướng
của Chân như...
Đáng
ghi nhận ở đây là điều nước có thể sử dụng để giải
khát không làm ngăn trở nước là một hóa hợp của hydro
và oxy, nước là thành quả phức tạp của chấn động phân
tử, nước là biểu hiện các tương quan nhân quả, hay là
hiện tướng của Chân như. Trên một bình diện, trong cảnh
giới cõi lỏng, nước là phương tiện để dập tắt lửa.
Trên bình diện khác, trong cảnh giới cõi hóa chất, nhiên
liệu hydro có thể tách riêng để đốt thành lửa. Cùng là
một sự vật, nhưng tùy theo khung ý niệm qui chiếu, hay tùy
theo góc độ của nhãn quan, ý nghĩa và giá trị gán cho sự
vật ấy hoàn toàn sai khác và có khi đối nghịch.
Như
vậy, cốc nước bao hàm nhiều cõi, mỗi cõi có cảnh giới
riêng biệt. Cảnh giới các cõi ấy đồng thời hiện khởi
và cộng đồng hiện hữu, trong quan hệ cả không gian lẫn
thời gian. Thuật ngữ Hoa nghiêm gọi đó là lý “đồng thời
câu khởi”.
Cõi
nào hoạt dụng trong cảnh giới của cõi ấy và đồng thời
tương quan giao thiệp hòa điệu với các cõi khác. Nhất thể
và phức thể bao hàm và dung nạp lẫn nhau mà không hề xảy
ra sự ngăn ngại hay hủy diệt lẫn nhau. Thuật ngữ Hoa nghiêm
gọi đó là lý “đồng thời vô ngại”.
Bây
giờ, hãy lưu ý rằng trong giây phút ta nghĩ đến nước là
đồ giải khát, thời đồng thời trong giây phút ấy ta không
thể nghĩ được nước là hóa chất H2O, nước là do các chấn
động phân tử, v.v... Mỗi lần nhìn ta chỉ có thể thấy
một cõi mà thôi và phải dịch chuyển từ cảnh giới này
qua cảnh giới khác theo trình tự thời mới có thể thay đổi
cõi thấy. Đó là phương cách con người nhìn thấy sự vật,
hoàn toàn trái nghịch với nguyên lý đồng thời câu khởi
của Hoa nghiêm. Phải có Nhất thiết chủng trí tức Bát nhã
của đức Phật thời mới có thể thấy toàn thể cảnh giới
các cõi của sự vật cùng trong một lúc, nghĩa là thấy chúng
trong hoạt cảnh châu biến hàm dung, hỗ tương nhiếp nhập,
tất cả đồng thời hiện khởi trong một toàn thể vô cùng
lớn vô cùng tận. Nói cách khác, nếu tâm trí không chứng
được lý vô ngại thời không thể nào nắm được cái nhìn
căn bản của tâm linh, “lối nhìn nhắm thẳng vào thế giới
và tâm linh, vốn từ đó vô số phép lạ và mầu nhiệm, hay
bất khả tư nghì, tiếp nối nhau hết sức kỳ diệu, trong
một phong thái mà tất cả có thể xuất hiện cùng lúc rất
ư kỳ ảo, vượt xa ngoài những giới hạn của tục thức.
Nhưng một khi chúng ta nắm được sự kiện then chốt của
kinh nghiệm tâm linh trong quá trình trọn vẹn của các vị
Bồ tát như được kể ở trong kinh (Hoa nghiêm), tất cả những
gì còn lại trong các hoàn cảnh được miêu tả ở đây sẽ
gợi lên bản tính tự nhiên kỳ cùng và sẽ không còn những
nghịch lý trong các hoạt cảnh đó.” (Thiền luận, D. T. Suzuki,
Tập Hạ) Hoa nghiêm gọi nhãn quan căn bản ấy là nguyên lý
Viên dung. Viên dung là nhìn hình tướng toàn thể các biệt
thể hợp thành tổng thể, vô ngại hàm ý tương quan giao thiệp
giữa các biệt thể bên trong cảnh giới các cõi được nhìn
từ quan điểm viên dung. Trên phương diện bản thể luận,
nguyên lý “đồng thời vô ngại” được xem như nền tảng
triết lý Hoa nghiêm, bởi vì không chứng nghiệm lý vô ngại
thời không thể nào thấy được hệ thống của quan hệ toàn
diện, cùng một lúc, tồn tại giữa những hiện hữu cá biệt
cũng như giữa những cá thể và phổ biến, giữa những sự
vật riêng rẽ và những ý tưởng tổng quát.
Thế
nào là chướng ngại? Chướng ngại thường có nghĩa là che
lấp, ngăn bít. Trong Hoa nghiêm, chướng ngại là ý niệm về
những tường thành tưởng tượng rào lũy phân cách cảnh
giới các cõi. Thí dụ như trường hợp cốc nước. Đối
với một người không có khái niệm khoa học về nước, thời
dẫu uống hằng ngàn cốc nước hay lặn sâu tận đáy biển
vẫn không thể nào thấu hiểu cấu trúc hóa học hay vật
lý của nước. Người ấy ví như bị giam hãm trong cõi ngu
dốt khoa học.
Muốn
thoát khỏi những tường thành giam cầm, đương sự không
thể tiếp tục hành động theo tập quán, mà phải tinh tấn
nỗ lực tu tập chỉ quán không những để phá đổ tường
thành vây hãm bấy lâu, mà còn để mở rộng cảnh giới cũ
hỗ nhập cảnh giới mới. Do quá trình thức tỉnh hay chuyển
y như vậy mà hành giả chứng nghiệm được cảnh giới vô
ngại, mục tiêu và cốt lõi của Hoa nghiêm.
Vì
số cõi là bất khả thuyết bất khả thuyết nên tường thành
ngăn bít các cõi cũng bất khả thuyết bất khả thuyết. Như
vậy, làm thế nào có thể triệt hạ toàn thể bất khả thuyết
bất khả thuyết chướng ngại? Câu trả lời là, tuy số lượng
chướng ngại vô cùng lớn, nhưng tất cả đều phát xuất
từ một căn nguyên: mặc dầu vạn hữu đều là những hiện
tượng ảo hóa khởi lên từ tâm, tất cả đều do duyên sinh
nên vô tự tính, thế mà mê lầm vọng chấp là có tự tính.
Bồ đề tâm luận nói rõ: “Cái pháp của đường mê là
từ nơi vọng tưởng mà sanh ra, nó lần lượt nảy nở ra
cho đến thành vô lượng, vô biên các phiền não”. Kinh Hoa
nghiêm chép lời Phật dạy: “Phật tử! Không một chúng sanh
nào mà chẳng có đủ trí tuệ (Phật tánh) của Như Lai. Nhưng
chúng chẳng chứng đặng để thật hiện ra là vì bởi chúng
còn vọng tưởng chấp trước”.
Do
đó muốn đả phá và bác bỏ mọi chướng ngại che lấp ngăn
bít con đường đến giải thoát và giác ngộ, hành giả phải
thực hiện một quá trình chuyển biến tâm thức trở nên
thấy biết như thật, thấy rõ cái (tự tính) không có là
không có. Khi tâm thức được chuyển biến tốt đẹp thời
đương nhiên hành giả biết ngay được thật tướng của
các pháp là Không. Kệ tán thán Phật, kinh Lăng già, có đoạn:
“Biết nhơn pháp vô ngã, phiền não và sở tri thường thanh
tịnh không tướng”. Kinh Hoa nghiêm cũng có câu tương tợ:
“Nếu rời vọng tưởng thời nhất thiết trí, tự nhiên
trí, vô ngại trí liền hiện tiền” (Phẩm 37: Như Lai xuất
hiện).
Về
pháp môn ly huyễn nhắm dứt trừ vọng chấp, có ông tăng
hỏi Triệu Châu: “Vạn pháp qui về một, một qui về đâu?”
“Một” đây có thể hiểu là cái nhân của phân biệt sự
thức, tức là những vọng tưởng chấp trước huân tập trong
tâm từ vô thủy, những cảm nhiễm thâm căn cố đế kết
thành tập quán vô minh trong sinh hoạt nhận thức sai lầm của
hành giả. Không thể nắm vững cái nhãn quan Viên dung nếu
chưa tận diệt cái “Một” ấy. Và khi chưa lìa điên đảo,
chưa ra khỏi triền phược để thấy “nhất thiết pháp Không”,
thời không thể nào chứng đắc Vô ngại trí. Bởi vì chỉ
có tánh Không, vô cùng rộng lớn, bàng bạc khắp nơi, không
có biên giới, mới có thể tiêu giải hết thảy mọi chướng
ngại. Tánh Không là trục chính của Vô ngại, và Vô ngại
là trục chính của Viên dung.
Như
vậy, Pháp giới, hình tướng tích cực của tánh Không, biểu
hiện động của Chân như, có thể mô tả một cách ngắn
gọn là Viên dung và Vô ngại. “Viên dung” hàm ý tất cả
đức tánh của tâm Chân như, như đại trí, đại bi, đạo
hạnh (giới), thệ nguyện rộng lớn, năng lực thần thông,
không mục đích, không mong cầu, phương tiện thiện xảo phát
sinh từ trí tuệ siêu việt. “Vô ngại” hàm ý giải thoát
khỏi mọi trói buộc của chấp trước và nghiệp chướng.
Trên phương diện bản thể học, thời Viên dung là nhân, Vô
ngại là quả. Nhưng đối với hành giả, Vô ngại là nhân,
Viên dung là quả, nghĩa là phải lìa bỏ chấp trước và dứt
đoạn nghiệp chướng thời mới chứng đắc Phật quả.