7. Tánh
khởi và Duyên khởi
Lối
nhìn phân toái.
Trong
Tựa Nhận thức và tánh Không, thầy Tuệ Sỹ viết: “Phục
Hy phát hiện khái niệm nhị phân bằng hai hào. Ông chồng
ba bit-hào thành một quẻ; thu hoạch được tám quẻ. Rồi
chồng nữa, ông có bộ nhớ 6 bit-hào, nhận được 64 ký tự-quẻ,
nói đủ để ghi tất cả mọi hiện tượng, từ thiên nhiên,
xã hội, con người. Ghi bất cứ cái gì mà con người có thể
suy nghĩ và tưởng tượng.
Nhưng
phát hiện của Phục Hy được thấy là hữu ích cho việc
bói toán hơn là hỗ trợ bộ óc của con người, như vi tính
ngày nay. Tại sao?
Người
học Phật chỉ có thể nói: căn, cảnh, thức; ba sự hòa hiệp
xúc. Duyên xúc phát sinh thọ. Xúc dị biệt nên cảm thọ dị
biệt. Không cùng môi trường “thức ăn” thì không thể
nhìn giống nhau được. Hai bờ sông Ngân có hai chòm sao. Từ
Đông hay Tây, nhìn lên đều thấy. Ở bên này Thái bình dương
nhìn lên, đó là Ngưu lang, người chăn bò, và Chức nữ, cô
gái dệt lụa. Và một thiên tình sử não lòng. Còn bên kia
Đại tây dương nhìn lên, đó là con thiên ưng và cây đàn
bảy dây. Không có dấu hiệu gì chứng tỏ con chim đang cố
vượt sông Ngân để sang bờ bên kia nghe đàn, mà được thấy
là đang đi tìm trái tim của vị thần ăn cắp lửa. Cách nhìn
khác nhau vạch ra định hướng lịch sử khác nhau, và tạo
dựng những nền văn minh khác nhau.” Quả vậy, cách nhận
thức thực tại ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến hành động
của con người, đúng như ngài Pháp Xứng nói ngay đầu sách
Chánh lý nhất trích luận (Nyàya-bindu): “Mọi hành động
thành công là nhờ trước đó nhận thức đúng”. Từ trước
đến nay cách nhìn ấy như thế nào mà hiện nay phát sinh vô
số vấn đề nguy hại hoàn cầu phải đương đầu cần giải
quyết cấp bách mới mong cứu nguy kịp thời sinh quyển và
đời sống nhân loại.
Trên
thế giới hiện nay, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, và
mọi công trình nhân loại nói chung đều bị phân chia thành
nhiều lãnh vực chuyên khoa riêng biệt khác nhau về bản chất.
Đến lúc thấy sự phân chia như vậy đem đến lắm trở ngại,
thời mới nghĩ cách thiết lập thêm những bộ môn tổng hợp,
nhưng tựu trung chỉ làm sự phân tán càng thêm phân tán. Xã
hội bị chia cắt thành những quốc gia biệt lập, thành nhiều
nhóm sai biệt về mặt tôn giáo, chính trị, kinh tế, chủng
tộc,... cạnh tranh kình chống lẫn nhau. Môi trường sống
của con người cũng bị khu biệt thành nhiều giới vực để
dễ bề chia chác giữa những nhóm quyền lợi khác nhau. Cũng
vậy, con người chịu chung một lối nhìn. Chẳng những con
người bị ly cách ra khỏi chính nó, khỏi đồng loại, và
khỏi thiên nhiên, mà tư tưởng của nó được coi là hữu
lý cũng bị tách khỏi tình cảm, tự bản tính, vốn xem như
phi lý. Cái con người “tôi” bị chẻ ra thành một trí năng,
cấu thành cái ngã của tôi, và nó phải kiểm soát tôi cũng
như nó phải kiểm soát thiên nhiên. Mục tiêu tối thượng
của đời sống là sử dụng trí năng kiểm soát thiên nhiên
và sự sản xuất càng ngày càng nhiều phẩm vật tiêu thụ.
Với một lối nhìn như vậy, con người đã làm ô nhiễm môi
sinh đến mức tai hại diệt phá đời sống trên mặt đất
và tự biến mình thành một bộ máy sản xuất, đời sống
bị lệ thuộc vào tài sản, bị chi phối bởi “có”. Ba
độc tham, sân, si hoành hành, gây âu lo, chán nản, và tuyệt
vọng, dần dần phá hủy hoàn toàn đời sống con người mà
nó không hề hay biết. Cuộc sống trong sự hối hả, lo âu,
tâm thần mệt mỏi, vì thần kinh luôn luôn bị kích thích
căng thẳng, nguyên nhân của những chứng bệnh hiểm nghèo
như đau tim, ung thư, thần kinh, mất ngủ, tất cả là do lối
nhìn phân toái gây ra.
Đó
là một lối nhìn điên đảo, dẫn đến xung đột và sai lầm,
vì tìm cách phân chia một toàn thể vị phân hóa, cái thực
tại không thể phân chia, nhằm thực hiện những mục đích
riêng tư và hạn định. Hơn nữa, điều tai hại là cho rằng
các mảnh phần chia chẻ có bản ngã chân thực và tự tính
thường hằng.
Thực
ra, những lúc giải quyết một vấn đề, đầu óc suy luận
cũng cần chia cắt sự vật ra từng phần nhỏ để tiện bề
xét đoán. Trong chiều hướng nào đó sự tạo ra những môn
khảo sát riêng biệt và sự phân công thực hiện là một
tiến bộ đáng kể. Ngay thuở sơ khai khi con người nhận ra
mình không đồng nhất với thiên nhiên thời ý thức khác
biệt đó làm nảy sinh một tư tưởng tự do độc lập. Từ
đó, trước tiên do trí tưởng tượng và cuối cùng do hoạt
động thực hành con người vượt hẳn ra khỏi một số giới
hạn ràng buộc tức thì của thiên nhiên.
Tuy
nhiên, khả năng của con người tự xô mình ra biệt lập với
môi trường sống và khả năng suy tư chia cắt sự vật thành
mảnh nhỏ đã dẫn đến những kết quả rất nguy hại, tại
vì mọi tiến trình phân toái chỉ hữu hiệu trong một giới
hạn nào đó mà thôi. Thật vậy, tiến trình phân toái là
một lối nhìn, một phương thức suy tư về sự vật rất
tiện lợi, thường được thực hiện trong những cảnh giới
hoạt động có tính cách thực dụng và chuyên môn. Chẳng
hạn như trường hợp chia một diện tích đất thành vùng,
mỗi vùng trồng một thứ cây trái. Nhưng nếu áp dụng phương
thức suy tư ấy để nhận thức về mình và toàn thể thế
giới thời con người rất dễ quên mọi phân toái đều là
phương tiện do vọng suy, mà trái lại, lại đinh ninh lầm
tưởng chính mình và toàn thể thế giới gồm toàn những
thành phần vụn vặt riêng biệt. Từ quan niệm phân toái như
vậy, con người hành động tìm cách chia cắt mình và thế
giới thành mảnh nhỏ, tự gây ra cái ý thức mọi chuyện
xảy đến phù hợp với đường lối suy tư phân toái của
mình, rồi hiểu lầm quan điểm phân toái cá nhân được công
nhận là đúng. Thực ra, nó đã hành động theo cách tư duy
của nó và u mê không nhận ra chính nó là tác giả của sự
phân toái mà cứ tưởng sự phân toái ấy hiện khởi và tồn
tại độc lập ngoài ý muốn và mong cầu của nó.
Người
Tây phương từ xưa đã thấy rõ sự cần thiết phải có một
lối nhìn toàn diện thời đời sống mới đáng sống. Như
chữ “health” họ dùng để nói sức khỏe chẳng hạn. Căn
của nó là chữ “hale” nghĩa là toàn thể (“hale” meaning
“whole”). Như vậy, người Tây phương xưa đã quan niệm
khỏe mạnh quan hệ mật thiết với ý niệm toàn thể. Chữ
“holy” (thần thánh) cũng cùng một căn như thế. Thế mà
trải qua hằng chục thế kỷ người Tây phương vẫn duy trì
một lối suy tư về sự vật trên quan điểm phân toái!
Vậy
do đâu mà xuất sinh lối nhìn phân toái? Tại sao lối nhìn
phân toái có thể vô hiệu hóa mọi hối thúc trở về với
cái nhìn toàn diện đã có từ thời xưa? Nói một cách tổng
quát, quan điểm phân toái được chấp nhận là do thói quen
tưởng lầm nội dung tư tưởng là một sự miêu tả thế
giới đúng như thể cách hiện hữu “như thị” của nó.
Hay nói cách khác, là do lầm tưởng trí năng của chúng ta
trực tiếp tương ưng với thực tại khách quan. Trí năng thường
xuyên phân biệt có sai khác cho nên vì thói quen mà tưởng
lầm những sai dị biệt là có thật và do đó mà nhìn thấy
thế giới phân tán đầy sắc tướng sai khác, bị phân chia
thành mảnh vụn. Thật ra, quan hệ giữa tư tưởng và thực
tại mà tư tưởng suy diễn không đơn giản chỉ là một sự
tương ưng. Khoa học tìm cách diễn tả sự quan hệ ấy bằng
những lý thuyết (theory) hay mô hình (model). Lý thuyết hay mô
hình không phải là giả thuyết, cũng không phải để phô
diễn kiến thức về thế giới, mà là một phép quán chiếu,
một phương cách quán sát thế giới. Đó là một hình thái
nhận thức, một lối suy tư về thực tại.
Thí
dụ thời xưa, có thuyết phân biệt chuyển động của những
vật thể trên trời khác với chuyển động của những vật
thể dưới đất. Vật thể dưới đất thời rơi rụng, còn
vật thể trên trời như mặt trăng thời mãi mãi lơ lửng
trong không trung. Đến thời đại khoa học, không còn sự phân
biệt hai loại chuyển động như thế nữa. Nghĩa là người
ta nhìn nhận vật thể trên trời cũng rơi rụng như vật thể
dưới đất. Newton trong một chớp quán chiếu thấy quả táo
mà rơi thời mặt trăng, và tất cả vật thể khác cũng rơi
như vậy. Do đó, ông đề xướng thuyết hấp dẫn vạn vật
(theory of universal gravitation) theo đó mọi vật thể đều thấy
như rơi về hướng các tâm điểm khác nhau. Thí dụ, mặt
trăng rơi về hướng quả đất, quả đất về hướng mặt
trời,... Lối nhìn mới này cho thấy có thể diễn tả mọi
chuyển động của vật thể trên trời hay dưới đất giống
nhau bằng gia tốc rơi hướng về những tâm điểm riêng của
chúng.
Nhiều
thế kỷ sau, vào khoảng năm 1900, thuyết Newton không còn công
dụng giải thích rõ ràng các chuyển động khi đem áp dụng
vào những cảnh giới mới nên nhiều lối nhìn khác được
khai triển, dẫn đến thuyết tương đối và thuyết lượng
tử.
Theo
thuyết tương đối, thế giới không thể chia chẻ tận cùng
thành những khối kiến trúc (building blocks) bất khả phân
vì những cấu phần căn bản như vậy bắt buộc phải là
vật thể cứng rắn (rigid body). Nhưng vì vật thể cứng rắn
được định nghĩa là vật thể có tính chất tín hiệu giao
thông giữa hai điểm bất kỳ của nó truyền dẫn tức thời,
nghĩa là nhanh hơn vận tốc truyền dẫn của ánh sáng, nên
vật thể cứng rắn không thể hiện hữu.
Thuyết
lượng tử xác định không thể phân chia chủ thể quan sát
gồm có người và dụng cụ đo lường cách biệt với đối
tượng được quan sát và đo lường. Tất cả tương quan nhiếp
nhập trong một toàn thể vị phân hóa không thể dùng suy luận
mà phân tích được.
Cả
hai thuyết ám chỉ sự cần thiết nhận thức hết thảy mọi
phần tử của vũ trụ hỗ tức hỗ nhập theo một lưu động
vũ trụ (universal flux). Lưu động vũ trụ này có thể xem như
đã được đề cập trong Khế kinh: “Vô bất tùng thử pháp
giới lưu, mạc bất hoàn qui thử pháp giới” (Dịch: Không
có một pháp nào chẳng từ Pháp giới này mà lưu xuất, và
cũng không có một pháp nào chẳng trở về Pháp giới này).
Nếu
hiểu mọi lý thuyết khoa học đều là những phép quán chiếu
thời vấn đề sai đúng của một lý thuyết không còn có
ý nghĩa nữa. Ta chỉ có thể bảo thuyết này chiếu soi rõ
ràng trong những cảnh giới này, và không chiếu soi rõ ràng
khi đem quảng diễn ra ngoài những cảnh giới ấy. Lý thuyết
quyết định cách tổ chức các dữ kiện do trí năng và hành
động mang lại. Quả vậy, do cách ta suy tư về sự vật mà
phát sinh những phạm trù không gian, thời gian, vật chất,
thực thể, duyên khởi, cọng hữu, đặc thù,... là những
hình thức căn bản của lượng đoán (Judgment).
Muốn
trí năng và tư tưởng được sáng sủa, thời phải thông
hiểu sự quán chiếu tức phương cách nhận thức thực tại
đã tác dụng như thế nào để uốn nắn kinh nghiệm thấy
biết theo khuôn khổ các phạm trù do đường lối suy tư thiết
định. Cần lưu ý cụm từ “kinh nghiệm thấy biết” được
sử dụng để nói lên kinh nghiệm và trí năng là hai mặt
của cùng một tiến trình hỗ tương giao thiệp giữa thực
tại với trí giác và cảm giác. Thấy biết không phải là
thấy biết về một thứ kinh nghiệm nào đó. Kinh nghiệm thấy
biết nói ở đây là những hỗ tương tác dụng giữa người
với thiên nhiên và giữa người với tha nhân đồng hữu.
Theo luật tác dụng và phản tác dụng (law of action and reaction)
thời thiên nhiên hay tha nhân luôn luôn phản ứng tùy thuận
lý thuyết về hỗ tương giao thiệp. Nghĩa là khi tiếp xúc
với một người mà thành kiến cho là thù nghịch thời mọi
hành động của ta đều hướng về phòng ngự và phía kia,
người mà ta tiếp xúc cũng có phản ứng tương tợ. Thiên
nhiên cũng thế, phân tán thành mảnh phần riêng biệt để
phản ứng tùy thuận lối nhìn phân toái của con người. Như
Heisenberg đã nói: “Cái ta quan sát không phải là thực tại
mà là cái thực tại biểu lộ ứng với cách ta đặt vấn
đề”. Ta lầm tưởng như thế là kinh nghiệm đã xác chứng
lý thuyết tức cách nhận thức của ta.
Sở
dĩ chấp giữ không chịu đổi thay cách nhận thức phân toái
là vì đinh ninh lối nhìn như vậy nhận thức đúng thực tại
như thật. Và thực tại như thật ấy bất biến cho nên cách
nhìn không cần phải thay đổi. Trên thực tế, mỗi cách quán
chiếu đều soi thấy rõ những khác biệt và phân biệt thu
nhiếp trong cảnh giới riêng của nó. Chẳng hạn, trong lối
nhìn sự vật chuyển động ngày xưa, có sự phân biệt vật
thể trên trời và vật thể dưới đất. Trong thuyết Newton,
thời có sự phân biệt những tâm điểm khác nhau nơi hướng
đến của mọi chất rơi. Những khác biệt và phân biệt ấy
chỉ là một lối nhìn, một cách suy tư nhằm hướng dẫn
trí giác và cảm giác nhận thức thực tại. Nhưng nếu cho
rằng các lý thuyết đề xướng là trực tiếp miêu tả cái
đương thể của sự vật, thời dĩ nhiên, quan điểm đó xác
nhận các khác biệt và phân biệt là những phân chia thật
sự, tức là xác quyết những mảnh phần sai biệt căn bản
đề cập trong lý thuyết quả thật hiện hữu. Đó là nguyên
nhân gây sự nhận lầm thế giới là tập hợp các mảnh phần
tách ly và cách nhìn sai lạc đó lôi cuốn theo những hành
động nhằm biện minh cho quan điểm phân toái mê lầm ấy.
Phân
toái thật ra là cái nhìn mơ hồ lầm lẫn không phân biệt
được hai tướng đồng và dị của các pháp: phân chia sai
biệt cái vô sai biệt và thống hợp những cái không thể
kết hợp. Nhận thức đúng vấn đề đồng dị là tối cần
thiết để giải trừ mọi phiền não suốt quá trình cuộc
sống. Không nhận định và xác định được cái gì sai khác
hay không sai khác thời tất nhiên nhận thức điên đảo sai
lầm hết thảy mọi sự vật. Tất cả những cuộc khủng
hoảng trầm trọng hiện đang xảy ra cho cá nhân và xã hội
bắt nguồn từ đó mà phát sinh.
Thực
tại là một toàn thể vị phân hóa không thể chia cắt. Thế
mà vì mục đích riêng tư hẹp hòi nó bị đem chia chẻ thành
những sai biệt, rồi sau đó có những cố gắng liên hợp
lại những thành phần bất khả kết. Hãy lấy trường hợp
chia đoàn phân nhóm theo những tiêu chuẩn tôn giáo, kinh tế,
chính trị, ... ra làm thí dụ. Hành động thành lập đoàn
nhóm tạo nên tư tưởng phân toái phân cách theo tôn chỉ khác
biệt và tách ly các nhóm đoàn viên ra khỏi thế giới cộng
đồng. Nhưng trên thực tế đâu có thể phân cách và tách
ly được. Bởi tại bất cứ đoàn viên nào cũng tương quan
liên hệ toàn thể thế giới cộng đồng và sự liên hệ
ấy sai khác tùy theo từng mỗi cá nhân, cho nên không chóng
thời chầy, mỗi đoàn viên tự thấy mình dị biệt đối
với những đoàn viên khác trong cùng một nhóm. Do đó phát
sinh những quan điểm bất đồng giữa những người cùng nhóm
gây nên sự tan vỡ tất nhiên của nhóm. Điều này cũng xảy
đến cho bất cứ ai vì lý do chuyên nghiệp tìm cách tách ly
mình với tha nhân hay ra khỏi một phương diện nào đó của
thiên nhiên. Tự thân cá nhân ấy sẽ gặp phải những trạng
huống phân tán đầy mâu thuẫn, tổng biệt, đồng dị, thành
hoại, rất khó nhận định và xác định.
Vậy
có cách gì để đoạn tận lối nhìn phân toái? Đó là câu
hỏi rất khó trả lời bởi vì trước tiên phải thông hiểu
tiến trình suy tư và nội dung tư tưởng mà tiến trình ấy
tạo ra tương quan liên hệ như thế nào? Một nguyên nhân của
phân toái là lầm tưởng rằng tiến trình suy tư và nội dung
tư tưởng xuất hiện trong sự phân ly chủ thể khách thể.
Lý do là hiểu lầm rằng có riêng biệt và độc lập đối
với nhau thời quá trình suy luận mới diễn tiến một cách
có đường lối, có trật tự, và hợp lý, nhờ đó mới có
thể thẩm định tính cách sai đúng, hợp lý hay phi lý, phân
toái hay toàn diện,... của nội dung tư tưởng. Quan niệm phân
toái về chính mình và thiên nhiên biểu lộ không những trong
nội dung tư tưởng, mà còn trong mọi hành động của con người
đang tư tưởng, ví như vọng tưởng suy luận chẳng hạn.
Thật ra, thành quả suy tư và tiến trình suy tư luôn luôn xuất
hiện đồng thời trong cùng một dòng hiện tượng tâm lý
liên tục chuyển biến. Bởi thế cho nên muốn đoạn tận
lối nhìn phân toái thời cần phải cùng một lúc đoạn tận
cả nội dung tư tưởng phân toái lẫn tiến trình suy tư phân
toái.
Như
vậy, để dứt trừ lối nhìn phân toái, trước hết phải
hiểu đúng lý “nhị không” (ngã không, pháp không), theo
đó không một khách thể nội dung tư tưởng nào lại không
có chủ thể suy tư và ngược lại, không có một chủ thể
suy tư nào lại không có khách thể nội dung tư tưởng. Cả
hai đồng thời xuất phát từ “thức”, một sự hữu toàn
diện, một hậu trường tiềm ẩn. Nói theo thuật ngữ Duy
thức, hậu trường ấy là a lại da thức, là “tâm sanh diệt”,
nghĩa là chơn (không sanh diệt) vọng (sanh diệt) hòa hiệp,
không phải một, không phải khác. Thức này tóm thâu tất
cả các pháp và xuất sanh tất cả các pháp.
Ngoài
ra, phải thường xuyên tỉnh thức để thấy biết rõ ràng
hoạt dụng của suy tư là một hình thái nhận thức, một
phép quán chiếu, chứ không nhằm sao lục trung thực thực
tại “như thị”. Trong thực tế, mọi lối nhìn đều là
những cái nhìn phương diện (profile). Vấn đề ở đây không
phải là tìm cách thống hợp hết thảy mọi cái nhìn phương
diện để tạo ra một cái nhìn toàn diện, vì nhất thể tính
(unity) tạo ra như vậy cũng chỉ là một mảnh phần mới khác
áp đặt thêm vào tập hợp các cái nhìn phương diện. Mỗi
cái nhìn phương diện chiếu soi rõ ràng và đầy đủ một
cảnh giới nào đó. Có thể xem đó là một quan điểm riêng
về một sự vật. Mỗi quan điểm riêng cho thấy sắc tướng
của sự vật dưới một góc độ nào đó. Ý nghĩa toàn diện
của sự vật tuy không thể nắm bắt được với bất cứ
quan điểm riêng nào nhưng được hàm chứa trong hết thảy
mọi cái nhìn phương diện về sự vật ấy. Hiểu như thế
thời tất nhiên không còn hiểu lầm lý thuyết là trực tiếp
miêu tả thực tại đúng như thể cách hiện hữu như thị
của nó và không sa vào cái thói quen suy tư và hành động
một cách phân toái đối với thiên nhiên và tha nhân.
Lối
nhìn viên dung.
Theo
Pháp Tạng, đức Phật thuyết giảng kinh Hoa nghiêm dưới gốc
cây Bồ đề trong trạng thái hải ấn định vào tuần lễ
thứ hai sau khi thành đạo. Hải ấn định còn có ngôn danh
là Hoa nghiêm tam muội. Đó là một minh dụ về lối nhìn viên
dung, nhãn quan căn bản của Hoa nghiêm. Theo lối nhìn viên dung,
hỗ tương giao thiệp giữa mọi hiện tượng đồng thời hiện
khởi tạo thành một toàn thể nhịp nhàng giống như là toàn
thể vũ trụ phản chiếu trên mặt đại dương. Trong Hoa nghiêm
Du tâm Pháp giới ký, Pháp Tạng giải thích ý nghĩa danh từ
“Hoa nghiêm tam muội” và “hải ấn định” như sau.
“Nói
Hoa nghiêm Tam muội; giải rằng:
“Hoa”,
là muôn hạnh của Bồ tát. Vì sao? Vì hoa có tác dụng sinh
ra hạt (thật), có khả năng dẫn đến sự kết trái (cảm
quả). Tuy trong và ngoài khác nhau, nhưng sự phát sinh năng lực
cảm ứng thì tương tự. Tức là, lấy pháp mà ký thác sự,
cho nên nói là “hoa”. “Nghiêm”, là sự thành tựu của
hành, viên mãn của quả; khế hợp tương ưng; trần cấu và
chướng ngại hoàn toàn dứt sạch; chứng lý tròn đầy trong
sáng. Tùy dụng mà tán thán phẩm đức, nên nói là “nghiêm”.
“Tam
muội”, là lý và trí không hai, triệt để tương giao, hỗ
tương dung nhiếp; đây và kia đều mất; năng và sở vắng
bặt. Cho nên nói là “tam muội”.
Cũng
có thể nói, “hoa” tức là “nghiêm”, vì lý và trí không
chướng ngại nhau. Hoa nghiêm tức tam muội, vì hành thì dung
hóa (hay dung giải), xa lìa tri kiến (chỉ kiến chấp).
Cũng
có thể nói “hoa” tức “nghiêm”, vì khi một hành được
tu trong khoảnh khắc thì tất cả hành đều đồng loạt được
tu. Cho nên, Hoa nghiêm tức tam muội. Vì một hành tức là nhiều
mà không chướng ngại giữa cái nhất thể và đa thù.
Cũng
có thể nói, Hoa nghiêm tức là tam muội; vì định và loạn,
cả hai đều tiêu dung.
Cũng
có thể nói tam muội tức Hoa nghiêm. Vì lý trí vốn như như.
Như vậy tự tại, không có chướng ngại. Hoặc định hoặc
loạn; hoặc tức hoặc nhập; hoặc trí hoặc lý; hoặc nhân
hoặc quả; hoặc nhất hoặc dị; phẩm đức chân thật của
biển tính, vốn như vậy là như vậy, vốn tròn sáng; hãy
như lý mà tư duy, dứt tuyệt tri kiến...
Giải
hành này (nhận thức và hành động), theo ngôn danh, là Hoa
nghiêm tam muội. Căn cứ trên kết quả, cũng gọi là “Hải
ấn tam muội”. Đây là tên gọi để chỉ ý nghĩa trước
sau đồng thời; mà nội hàm thì chỉ cho sự đồng loạt hiển
hiện, hỗ tương dung nhiếp. Cũng như đại dương, trong đó
hiển hiện ảnh tượng bốn binh chủng. Từng loại ảnh tượng
khác nhau, cái trước và cái sau cùng lúc đột nhiên hiển
hiện. Nhưng, ảnh tượng và hình thể không phải là một.
Nước thì rốt ráo vẫn không phải đa dạng. Ảnh tượng
tức là nước, mà vẫn trong ngời. Nước tức ảnh tượng
mà thành phồn tạp. Trước và sau rạch ròi. Khởi thủy và
chung cuộc khó dò căn nguyên. Một cách minh nhiên xuất hiện
phồn đa. Nhưng lại tịch nhiên, vắng vẻ không tướng. Đồng
loạt bằng đầu nhau mà cùng lúc hiển hiện; ẩn và hiện
khó biết; hỗ tương nhiếp nhập mà không bị vướng mắc;
tiêu tan dung giải, dứt tuyệt tư lự...
Lại
nữa, “biển” tức là cái trùng trùng vô tận của các ảnh
tượng; giới hạn biên tế khó dò căn nguyên. Tận cùng là
nhất thể, mà vẫn không thể tận cùng. Tùy theo từng cá
biệt mà đồng loạt hiển hiện rành rành. Đó gọi là “biển”.
“Ấn”,
là các ảnh tượng đồng thời không phải trước sau, phẩm
loại muôn vàn sai biệt mà tương tức, tương nhập vô ngại;
nhất thể và đa thù, cả hai cùng hiện; cái này và cái kia
không mâu thuẫn nhau; tướng trạng bất đồng, dị biệt nhưng
không phải dị biệt. Đó gọi là “ấn”.
“Định”,
là chủng loại tuy đa thù sai biệt nhưng là duy nhất thể,
không sai khác. Muôn vàn ảnh tượng tranh nhau xuất hiện, nhưng
vẫn rành mạch. Do đó, Hải ấn tức tam muội; tác tức bất
tác.
Cũng
có thể phân tích thành bốn phạm trù: 1. Duy chỉ là “hải”
mà không là “ấn”, vì không hoại ảnh tượng mà nước
vẫn là nước. 2. Duy chỉ là “ấn” mà không là “hải”,
vì nước không ấn mà ảnh tượng vẫn là ảnh tượng. 3.Vừa
“hải” vừa “ấn” vì ảnh tượng và biển dung nhiếp
nhau toàn diện, nhất thể mà vẫn dị biệt. 4. Không là “hải”
cũng không là “ấn” vì biển và ảnh tượng tiêu tan, dung
giải, hình thành cho nhau và xâm đoạt lẫn nhau.
Cũng
có thể nói “hải” tức là “ấn”, vì tự tại vô ngại.
Cho đến, vừa tương tức, vừa không phải tương tức; không
phải vừa tương tức vừa không tương tức. Vì không có hai
tính. Hãy chuẩn theo đó mà tư duy.” (Hoa nghiêm Du tâm Pháp
giới ký, Đường Pháp Tạng soạn. Tuệ Sỹ trích dịch).
Hình
thái nhận thức thực tại từ hải ấn tam muội trực dụ
cái nhìn căn bản của tâm linh, một lối nhìn riêng của Hoa
nghiêm nhắm thẳng vào thế giới và tâm linh. Trong Ngũ giáo
chương, Pháp Tạng nêu ra quan điểm “thập thập pháp môn”
của kinh Hoa nghiêm là “xứng pháp bản giáo”, biểu hiện
sự giác ngộ của Phật vì được Phật chứng thực và chứng
ngộ. Các kinh giáo khác là “trục cơ mạt giáo” được
giảng dạy tùy theo cơ hội. Hơn nữa, Pháp Tạng tựa vào
một ví dụ nêu ra trong Phẩm 37: Như Lai xuất hiện: “Ví
như mặt nhựt lúc xuất hiện/ Trước chiếu núi cao kế các
núi/ Sau chiếu cao nguyên và đại địa/ Mà mặt nhựt vẫn
không phân biệt.//” để ví sự tuyên thuyết giáo lý Hoa
nghiêm với những tia sáng mặt trời đầu tiên chỉ chiếu
vào những đỉnh núi cao nhất. Nghĩa là theo Pháp Tạng, Viên
giáo của Hoa nghiêm tông là chân thật, hoàn toàn khác biệt
và cao hơn ba thừa kia được coi như là quyền biến (Tam quyền
nhất thật; Ba thừa kia là: Tiểu thừa, Đại thừa Tiệm giáo
gồm Thỉ giáo và Chung giáo, và Đại thừa Đốn giáo, như
Thiền của Đại thừa).
Tưởng
cũng nên biết phán giáo của Pháp Tạng đề ra trong Hoa nghiêm
Ngũ giáo chương gồm có năm giáo. Đó là:
(1)
Giáo lý Tiểu thừa (Hinayàna): phủ nhận một bản ngã cá
biệt nhưng thừa nhận sự thực hữu của tất cả pháp sai
biệt. Về duyên khởi luận, giáo lý này thuộc về nghiệp
cảm duyên khởi.
(2)
Đại thừa Thỉ giáo (Mahàyàna): có hai trình độ. Một, gọi
là Tướng Thỉ giáo, giáo lý nhập môn y cứ trên sai biệt
tướng của tất cả các pháp. Thí dụ: Pháp tướng tông.
Hai, gọi là Không Thỉ giáo, giáo lý nhập môn y cứ trên sự
phủ định tất cả các pháp. Thí dụ: Tam luận tông.
Pháp
tướng tông cho rằng tánh và tướng các pháp hoàn toàn khác
nhau. Do đó lý khác với sự. Tông này nêu lên thuyết A lại
da duyên khởi trên nền tảng pháp tướng và chủ trương sự
sai biệt căn để của năm hạng người (Thanh văn, Duyên giác,
Bồ tát, Bất định, Ngoại đạo) trong đó hạng ngoại đạo
nhứt xiển đề (icchantika) không bao giờ có thể trở thành
Phật.
Tam
luận tông, trái lại, thiên chấp về Không, căn cứ trên tính
vô tướng (svabhàva-alaksana) hay không có bản chất tồn tại.
Tông này thừa nhận nhất thể của hữu nên xác nhận mọi
người đều có thể đạt Phật quả.
(3)
Đại thừa Chung giáo tức giáo lý về Chân như: thừa nhận
tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và đều có thể đạt
Phật quả. Vì giáo lý Chân như xứng hợp với thực tại
nên cũng gọi là Thực giáo. Như Lai tạng duyên khởi là đặc
điểm của giáo lý này. Trong Chung giáo, lý và sự, cả hai
là một.
(4)
Đại thừa Đốn giáo: chủ trương tu tập không cần ngôn
ngữ hay luật nghi, mà gọi thẳng vào trực kiến để đạt
đến giác ngộ viên mãn tức khắc. Lý tính tự biểu lộ
trong thuần túy của nó, và hành động luôn luôn tùy thuận
trí tuệ và tri kiến. Hành giả thành Phật khi tư tưởng không
còn móng khởi trong tâm và thành đạt như vậy có thể gặt
hái qua sự im lặng như trường hợp cư sĩ Duy Ma Cật hay qua
thiền định, như trường hợp tổ Bồ đề Đạt ma. Giáo
lý này không giảng về lý duyên khởi đặc biệt nào bởi
vì không tự có riêng phương pháp giáo hóa nào cả.
(5)
Đại thừa Viên giáo: có hai trình độ. Một, Đồng giáo Nhất
thừa trong đó Nhất thừa của Hoa nghiêm tông bao gồm tất
cả ba thừa kia. Nhất thừa được giảng thuyết bằng phương
pháp đồng nhất hay tương tự với cả ba thừa. Hai, Biệt
giáo Nhất thừa tức là trường hợp giáo lý Hoa nghiêm được
Pháp Tạng nêu lên như khác biệt và cao hơn đối với các
kinh giáo khác. Giáo lý này lấy lý sự giác ngộ viên mãn
của Phật làm tâm điểm nhằm thiết lập một thế giới
hỗ tương dung nhiếp. Hoa nghiêm Ngũ giáo chương xác định
rằng pháp giới duyên khởi là đặc điểm của Viên giáo.
Pháp
giới duyên khởi có nghĩa là, vì hết thảy mọi hiện tượng
đều không có tự tính, cộng đồng hiện hữu, và đồng
thời hiện khởi, nên mỗi hiện tượng là một cơ quan trong
toàn bộ, và toàn bộ là hỗ tương giao thiệp nhịp nhàng
giữa hết thảy mọi cơ quan thuộc nó. Như vậy tính chất
của mỗi hiện tượng thành phần trong toàn bộ là do toàn
bộ xác định, và tính chất của toàn bộ là do mỗi và mọi
hiện tượng thành phần của nó xác định. Vì toàn bộ không
gì khác là hỗ tương giao thiệp giữa các thành phần, nên
mỗi hiện tượng có thể xem như tác dụng định đoạt tính
chất của tất cả các hiện tượng khác, đồng thời tính
chất của chính nó cũng do tất cả các hiện tượng khác
tác dụng định đoạt.
Pháp
Tạng sử dụng mười huyền môn để quảng diễn lý thuyết
pháp giới duyên khởi. Huyền môn thứ bảy, Nhân đà la võng
cảnh giới môn, là một minh dụ về hai nguyên lý hỗ tức
và hỗ nhập. Tấm lưới rộng lớn bao la của trời Indra (Hán
âm: Nhân đà la) biểu tượng toàn thể vũ trụ và các hạt
ngọc óng ánh ở các mắt lưới biểu tượng đủ loại hiện
tượng trong vũ trụ. Mỗi hạt ngọc vừa phản chiếu vừa
bị phản chiếu bởi mỗi và mọi hạt ngọc kia. Như vậy
mỗi hạt ngọc phản chiếu toàn diện tấm lưới và trong
mỗi tấm lưới phản chiếu này, lại có vô số hạt ngọc
và mỗi hạt ngọc đó lại cũng phản chiếu toàn diện tấm
lưới. Quá trình phản chiếu lẫn nhau tăng gia trùng trùng
vô tận, biểu tượng toàn thể hết thảy mọi tương quan
giao thiệp hỗ tức hỗ nhập dung thông vô ngại của tất
cả hiện tượng trong vũ trụ.
Sự
sự vô ngại hay lý sự vô ngại?
Trong
Hoa nghiêm Ngũ giáo chương, ngoài thuyết pháp giới duyên khởi
dùng định danh nghĩa Viên giáo, lý pháp tánh khởi cũng được
đề cập. Tuy danh từ “tánh khởi” phát xuất từ tên Phẩm
32: Bảo vương Như Lai tánh khởi chương, theo bản dịch Hoa
nghiêm 60 quyển của Phật đà bạt đà la (Buddhabhadra), ý nghĩa
danh từ “tánh khởi” được giải thích nương theo luận
Đại thừa khởi tín là bộ luận Pháp Tạng y cứ để thuyết
giảng về Đại thừa Chung giáo. Tánh khởi hay Như Lai tạng
duyên khởi là đặc điểm của giáo lý này. Pháp Tạng cho
rằng giáo lý Như Lai tạng là giáo lý về lý sự dung thông
vô ngại và thuyết tánh khởi làm sáng tỏ cái nhìn lý sự
dung thông vô ngại cũng giống như thuyết pháp giới duyên
khởi làm sáng tỏ cái nhìn sự sự vô ngại.
Về
Pháp giới, Pháp Tạng giải thích rằng trong danh từ kép “pháp
giới (dharmadhàtu)”, “pháp” cũng như “giới” mỗi chữ
có ba nghĩa. Ba nghĩa của pháp là: một, duy trì tự tính; hai,
quỹ tắc; ba, đối tượng của ý. Ba nghĩa của giới là:
một, nghĩa là nhân, vì Thánh đạo y trên đây mà sinh trưởng;
hai, nghĩa là tánh, tánh sở y của tất cả các pháp; ba, phân
tề, giới hạn phân biệt thực tế.
Theo
nghĩa thứ ba của giới thời pháp tương đương với giới,
và pháp giới bao gồm mọi hiện tượng sai biệt. Trong trường
hợp này, Pháp Tạng quy hợp pháp giới duyên khởi với sự
sự vô ngại, là cách nhìn đặc sắc nhất của Nhất thừa
Biệt giáo, khác hẳn với các tông phái Phật giáo khác.
Theo
nghĩa đầu và nhì của giới, pháp giới biểu tượng hoặc
là nhân của sự thành tựu Thánh đạo hoặc là nơi nương
tựa, là chỗ thường trụ quy y của hết thảy pháp thế gian.
Với hai nghĩa ấy, Pháp giới đồng nghĩa với Như Lai tạng.
Trong trường hợp đồng nhất pháp giới với Như Lai tạng
thời pháp giới duyên khởi có thể hiểu theo nghĩa tánh khởi.
Theo
nghĩa tánh khởi, Pháp Tạng đồng nhất Lý và Sự theo thứ
tự với tâm Chân như và tâm sanh diệt là hai tướng của
Tâm chúng sanh đề cập trong luận Đại thừa khởi tín. Thức
A lại da biểu hiện sự tương tác không ngăn ngại giữa hai
tướng này và được giải thích là do “Chơn (không sanh diệt)
Vọng (sanh diệt) hòa hiệp, không phải một không phải khác”.
Xét trên phương diện “tùy duyên”, A lại da thức chính
là Như Lai tạng bị phiền não che phủ, làm nhân cho động.
Thức này có hai trạng thái, tùy nhiễm duyên thời trạng thái
“Bất giác” hiện, tùy tịnh duyên thời trạng thái “Giác”
hiện. Cũng thế, Như Lai tạng là sở y của cả luân hồi
lẫn niết bàn. Như Lai tạng tuy bị phiền não trói buộc nhưng
không phải vì vậy mà hợp nhất với phiền não. Xét trên
phương diện “bất biến”, Như Lai tạng và Như Lai pháp
thân bản chất thanh tịnh giống nhau. Lìa phiền não trói buộc
thời gọi là Như Lai pháp thân, Như Lai pháp thân chẳng lìa
phiền não tạng gọi là Như Lai tạng. Pháp Tạng đồng nhất
hai mặt tùy duyên và bất biến của Như Lai tạng với hai
khía cạnh của Tâm chúng sanh, một nhìn theo tục đế và một,
theo Chân đế.
Pháp
Tạng hiểu “tánh khởi” theo nghĩa 'lý sự vô ngại': Tánh
khởi chỉ vào tác dụng của Tâm (Lý) làm sinh khởi thế giới
hiện tượng (Sự). Như thế, thế giới hiện tượng là biểu
tượng của Tâm, và vì bản tánh của Tâm là thanh tịnh, tự
tánh thường trụ, nên do đó mà toàn thể thế giới hiện
tượng xuất sanh từ Không đúng theo quan niệm lý sự vô ngại.
Chính do tánh Không mà các pháp mới có thể đồng thời hiện
khởi, cộng đồng hiện hữu, và hỗ tương giao thiệp tạo
thành một Nhất thể nhịp nhàng hòa điệu. Do đó, lý sự
vô ngại đúng ra là bản thể cấu trúc của sự sự vô ngại.
Nhưng trong Phẩm cuối của Ngũ giáo chương, Pháp Tạng không
xem ý nghĩa của lý sự vô ngại là quan trọng và cần thiết
trong sự giải thích ý nghĩa của sự sự vô ngại.
Về
sau, Trừng Quán, tổ kế thừa Pháp Tạng, vẫn chủ trương
sự sự vô ngại pháp giới tiêu biểu giáo lý Nhất thừa.
Nhưng khi thuyết giảng giáo lý Hoa nghiêm, Ngài nhấn mạnh
vào điểm lý sự vô ngại là căn bản cần thiết để thi
thiết sự sự vô ngại:
“Sự
sự vô ngại pháp giới là yếu chỉ của Kinh [Hoa nghiêm]...
Lý do mỗi sự sai biệt mỗi mỗi sự khác mà không bị các
sự khác ngăn ngại là vì Lý (tánh Không) châu biến hàm dung
khắp mọi sự. ... Bởi vì Sự xuất sanh từ Lý, nên một
và nhiều hiện khởi nương tựa tùy thuộc nhau. ... Sự sự
vô ngại thành tựu chỉ vì đó là kết quả của lý sự vô
ngại. ... Giả như Sự không tức Lý, thời Sự không xuất
sanh từ Lý và sự này ngăn ngại sự kia. Tuy nhiên, bởi Sự
tức Lý, nên sự sự vô ngại. ... Vì Sự xuất sanh từ Lý
nên sự sự hỗ tương nhiếp nhập vô ngại.” (Taisho T36.9a28-b7)
Đến
thời Khuê Phong Tông Mật, giáo lý của Phật được phân chia
từ cạn đến sâu theo một hệ thống khác với phán giáo
của Pháp tạng. Trong Hoa nghiêm nguyên nhân luận, Tông Mật
phân phán ra thành năm bực: (1) Nhân thiên giáo; (2) Tiểu thừa
giáo; (3) Đại thừa pháp tướng giáo; (4) Đại thừa phá tướng
giáo; và (5) Nhất thừa hiển tánh giáo.
Điều
đáng ngạc nhiên ở đây là Tông Mật tuy được truy tặng
là đệ ngũ tổ Hoa nghiêm tông, mà không đề cập Viên giáo
trong phán giáo mặc dầu theo truyền thống, Viên giáo của
Hoa nghiêm tông được xem như giáo lý chân thật biểu hiện
sự giác ngộ của Phật và nền tảng của tất cả kinh giáo
khác.
Tông
Mật cũng khác biệt với Trừng Quán khi luận giải về mười
phép quán trong phần “Châu biến hàm dung quán” ở cuối
sách Pháp giới quán môn của Đỗ Thuận. Tông Mật không sử
dụng và đi vào chi tiết mười huyền môn như Trừng Quán.
Ngài cũng tránh dùng hai chữ Lý và Sự và những danh từ liên
hệ mà Trừng Quán dùng để thi thiết bốn pháp giới. Tông
Mật giải thích chữ pháp giới hoàn toàn theo nghĩa Như Lai
tạng. Những lúc cần chỉ thị về bốn pháp giới, Tông Mật
quy chiếu một đoạn văn trong Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm
sớ của Trừng Quán mô tả Nhất chân pháp giới là bản thể
thực tại xuất sanh bốn pháp giới. Đoạn văn này có ý nghĩa
đối với Tông Mật là vì đã đồng nhất Nhất chân pháp
giới với Nhất Tâm, bao quát vạn hữu. Dựa theo đó, Tông
Mật đồng nhất Nhất chân pháp giới với Tâm chúng sanh tức
Pháp Đại thừa của luận Đại thừa khởi tín.
Nhất
thừa hiển tánh giáo.
Theo
Tông Mật, giáo lý Như Lai tạng là Nhất thừa hiển tánh giáo,
là giáo gốc nương đó mà theo thứ lớp gom bốn giáo ngọn:
Đại thừa Phá tướng giáo, Pháp tướng giáo, Tiểu thừa
giáo, và Nhân thiên giáo. Nghĩa là, bắt đầu từ giáo pháp
Như Lai tạng, liền chỉ ngay nói “nhất chân tâm thể”.
Với “tâm thể” thông suốt thời tự biết ngoài tâm ấy
ra tất cả đều là hư vọng. Chỉ vì mê lầm, nên hư vọng
gá nơi chân tâm mà sanh khởi. Để bỏ vọng về chân, phải
lấy cái Trí ngộ tâm để đoạn ác tu thiện. Hễ vọng hết,
chân tâm tròn, thời gọi là Pháp thân Phật.
Trong
Hoa nghiêm nguyên nhân luận, Tông Mật giải thích giáo lý Nhất
thừa Hiển tánh giáo là giáo lý trực hiển chân nguyên, tức
chân tâm bản giác: “Nhất thừa nói: tất cả chúng sinh đều
có cái chân tâm bổn giác. Từ vô thỉ lại nay, cái chân tâm
ấy thường còn trong sạch, rõ rõ chẳng tối, làu làu thường
biết. Cũng tên Phật tánh, cũng tên Như Lai tạng. Từ kiếp
vô thỉ, bị vọng tưởng che đi, nên chẳng tự xét biết,
vì chỉ nhận lầm xác phàm, đâm mắc kết nghiệp, chịu khổ
sanh tử! Đức Đại giác là Phật, Ngài thương xót thuyết
pháp rằng: tất cả bốn đại, sáu trần đều không; lại
mở chỉ ra cho cái chân tâm rất sáng suốt thanh tịnh, vì
toàn thể nó vẫn đồng chư Phật.” (Hoa nghiêm nguyên nhân
luận. HT Thích Khánh Anh dịch)
Để
giáo chứng quan điểm giáo lý Hoa nghiêm là giáo lý Như Lai
tạng, Tông Mật viện dẫn đoạn kinh Hoa nghiêm sau đây, Phẩm
37: Như Lai xuất hiện: “Chư Phật tử! Trí huệ của đức
Như Lai không chỗ nào là chẳng đến. Vì không một chúng
sinh nào mà chẳng có đủ Như Lai trí huệ, chỉ do vọng tưởng
điên đảo chấp trước nên không chứng được. Nếu rời
vọng tưởng thời nhất thiết trí, tự nhiên trí, vô ngại
trí, liền hiện tiền…
Bấy
giờ đức Như Lai do trí nhãn thanh tịnh vô ngại xem khắp
pháp giới tất cả chúng sinh mà nói rằng: Lạ thay, lạ thay!
Tại sao các chúng sinh này có đủ trí huệ Như Lai, mà ngu
si mê lầm chẳng hay chẳng thấy. Ta nên đem thánh đạo dạy
cho họ lìa hẳn vọng tưởng chấp trước. Từ trong thân,
họ thấy được trí huệ Như Lai quảng đại, như Phật không
khác.” (Kinh Hoa nghiêm. HT Thích Trí Tịnh dịch)
Tông
Mật trích dẫn như trên cốt yếu là để xác chứng giác
ngộ của Phật đưa đến sự thấy biết tất cả chúng sinh
đều có trí huệ Như Lai, tức Phật tánh và do đó tất cả
chúng sinh như Phật không khác. Tánh Phật ở nơi chúng sinh
thời gọi là Như Lai tạng, còn ở nơi Phật thời gọi là
Pháp thân thanh tịnh. Pháp thân này, tất cả chúng sinh đều
sẵn có, nên gọi là bản giác. Chẳng qua chúng sinh bị mây
vô minh che phủ, nên trăng Phật tánh chẳng hiện được. Khi
lìa xa vọng niệm thời tánh Phật sáng soi khắp giáp tất
cả, rộng lớn như thái hư. Lúc bấy giờ chỉ còn có tánh
Phật thuần chơn, gọi là Pháp thân bình đẳng của Như Lai.
Theo Thiền sư Huyền Giác nói trong Chứng đạo ca: “Pháp thân
giác liễu vô nhất vật. Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật”.
Dịch là: đối với người giác ngộ rồi thời thấy Pháp
thân không có một vật, nghĩa là không tướng sinh diệt, không
tướng mạo. Pháp thân mang những tên là bản nguyên, là tự
tánh, là thiên chân Phật. Bản nguyên là cái gốc, cái nguồn,
gọi là tự tánh. Tự tánh là tánh thật của chính mình, là
thiên chân Phật, tức là đức Phật chân thật sẵn có từ
muôn đời chớ không phải đức Phật mới tu thành.
Đó
cũng là ý nghĩa của câu “đoạn hoặc chứng chân” mà Tông
Mật giải thích là: “Tổn chi hữu tổn, dĩ chí vô vi” [Dịch:
Bớt đi, lại bớt nữa, bớt mãi cho đến không làm]. Ngài
mượn chữ ở Đạo đức kinh để nói do đoạn hoặc tập
mà dấy chứng; năng đoạn sở đoạn mất hẳn thời mới
thấy cái đạo lý vô vi, vô vi ở đây có nghĩa là tánh Chân
như hay tánh Không. Như vậy, thấy Đạo hay chứng Đạo là
thấy được thật tướng của Pháp thân, không còn thấy có
nhân và pháp, ngã và ngã sở, không còn thấy hai đối đãi.
Tông
Mật tường lược giáo lý Nhất thừa Hiển tánh trong Tựa
Thiền nguyên chư thuyên tập và thêm rằng giáo lý này được
tuyên thuyết trong các kinh và luận giảng dạy thuyết Như
Lai tạng. Như các kinh Hoa nghiêm, Nhập pháp giới (Ghanavyùha),
Viên giác, Thủ lăng nghiêm, Thắng Man, Như Lai tạng, Pháp Hoa,
Niết Bàn, và các luận Khởi tín, Phật tính, và Cứu cánh
Nhất thừa Bảo tính. Trong số các kinh vừa kể, Tông Mật
thiên trọng kinh Viên giác là kinh đã mở đường khai lối
cho Tông Mật chóng ngộ Chân tâm thấy được bản tánh.
Theo
lời kể lại của Bùi Hưu, một đồ đệ của Tông Mật,
Tông Mật lần đầu tiên biết đến kinh Viên giác là tại
tư thất của cư sĩ Nhâm Quyền trong thời gian học Thiền
với Thiền sư Đạo Viên (vào khoảng năm 804). Chỉ mới đọc
hai ba trang đầu mà Tông Mật hốt nhiên khai ngộ, không kiềm
chế nổi nhảy nhót vui mừng. Nghe Tông Mật kể lại chuyện
này, Thiền sư Đạo Viên liền xác nhận ngay kinh nghiệm chứng
ngộ và nói: “Ông sẽ truyền bá rộng lớn Đại thừa Viên
giáo và Đại thừa Đốn giáo. Chư Phật tuyên thuyết kinh
(Viên giác) này duy chỉ riêng ông.” (Tựa Viên giác kinh lược
sớ)
Tông
Mật xét thấy kinh Viên giác là một bộ kinh tương đối ngắn
chỉ có hai mươi tám trang mà bao gồm tất cả giáo pháp đốn
tiệm của thượng căn và hạ căn. Kinh nói đến đủ thứ
phương tiện mà Phật dùng để thuyết giảng các pháp tu chứng
và thiền bệnh. Giáo lý về Nhị không của Đại thừa Thỉ
giáo, tánh Không của Tướng tông và Không tông, tư tưởng
Như Lai tạng của Đại thừa Chung giáo, cùng phần dạy về
nhất chân pháp giới của Hoa nghiêm tông được giải thích
rõ ràng và đầy đủ. Tuy nhiên, thiếu phần giáo lý về hỗ
tức hỗ nhập. Nói cách khác, kinh Viên giác giảng dạy lý
sự vô ngại mà không đề cập sự sự vô ngại.
Về
đốn giáo, Tông Mật phân biệt hai loại. Loại đầu chỉ
riêng vào kinh Hoa nghiêm như một giáo pháp (phương pháp thuyết
minh), gọi là “hóa nghi đốn giáo” được đức Phật thuyết
giảng ngay sau khi thành đạo. Loại thứ hai chỉ vào các kinh
thuyết minh giáo lý, như Nhập pháp giới (Ghanavyùha), Thắng
Man, Kim Cang tam muội, Như Lai tạng, và Viên giác, gọi là “trục
cơ đốn giáo”, chỉ dành riêng cho bậc thượng căn. Ngoài
ra, Tông Mật nhận thấy nội dung của Đốn giáo không khác
nội dung của Chung giáo. Tóm lại, Nhất thừa Hiển tánh giáo
bao hàm yếu lĩnh của Đại thừa Chung giáo và Đốn giáo là
giáo thứ ba và thứ tư trong phán giáo của Pháp Tạng, nhưng
đối với giáo thứ năm, Đại thừa Viên giáo, là giáo lý
mà Pháp Tạng coi như có trình độ cao nhất, thời chỉ gồm
phần thuyết minh về Nhất chân pháp giới mà thôi. Tại sao
phán giáo của Tông Mật không coi trọng phần kia của Viên
giáo là phần giảng dạy giáo nghĩa của sự sự vô ngại?
Trước
hết, sự phân chia bình nghị giáo lý của Phật thành năm
giáo
trong tập Hoa nghiêm nguyên nhân luận cốt yếu là để giải
thích làm thế nào thân tướng sanh khởi từ chân tánh. Luận
y cứ nơi thuyết Nhất chân pháp giới của kinh Hoa nghiêm để
bàn xét cho rõ lý pháp tánh khởi, do đó mà thấy được sự
liên hệ giữa hai phương diện của Chân như pháp tánh, một
bên là tính tùy duyên sai biệt, một bên là tính bất biến
bình đẳng; do đó mà hiểu được làm thế nào cái tướng
trạng của thế giới luân hồi xuất sanh từ cái Chân tánh
thanh tịnh và thường trụ của thế giới giải thoát. Trên
bước đường tu dưỡng, pháp tắc tánh khởi được dùng
để chinh phục hiện thực giới và phát kiến giải thoát
giới. Do đó, cần đến giáo pháp về quán tưởng lý sự
vô ngại chứ không cần đến giáo lý về sự sự vô ngại.
Như vậy, Viên giáo không được đề cập trong sự phân loại
bình nghị giáo lý của Phật trong Hoa nghiêm nguyên nhân luận
là bởi tại cái lối nhìn hiểu của Tông Mật về tiến trình
tư duy dẫn đến Giác ngộ.
Cũng
có thể là do Tông Mật đến với Hoa nghiêm qua những tác
phẩm của Trừng Quán sau sáu năm kinh nghiệm học Thiền (từ
năm 804 đến 810) với thiền sư Đào Viên. Sau này, Ngài không
những được truy tặng là đệ ngũ tổ của Hoa nghiêm tông,
mà còn được sắc phong là Định Huệ thiền sư, tổ đời
thứ 5 dòng thiền Hà Trạch do Thần Hội sáng lập. Theo Ngài,
kinh Hoa nghiêm có thể cung cấp một căn bản hợp thời và
thích ứng để dựa vào đó mà giải thích một cách triết
lý về kinh nghiệm Thiền.
Đại
thừa giáo xác định rằng tất cả chúng sinh, hữu tình hoặc
vô tình, đều có Phật tánh, rằng tâm ta là Phật tâm, thân
ta là Phật thân. Chỉ cần nhìn thẳng vào tâm địa đó là
có thể đưa ta đến giác ngộ viên mãn. Như đã chép trong
Thiếu Thất lục môn: “Trực tiếp thấy tánh, đó tức là
Thiền. Bằng chẳng thấy tánh thì chẳng phải Thiền vậy.
Dầu có giỏi nói được ngàn kinh muôn luận, nếu chẳng thấy
tánh thì vẫn là phàm phu, chẳng phải là Pháp Phật. Đạo
lớn cao thâm, u huyền, không thể nói cho hiểu được. Kinh
điển không dựa vào đâu vói tới được. Chỉ nên thử thấy
tánh, dầu chỉ một lần, thì thông suốt hết, cả đến những
người chữ nghĩa dốt đặc. Thấy tánh tức là Phật.” (Thiền
luận. D. T. Suzuki. Tập thượng. Trúc Thiên dịch) Nhưng bằng
cách nào?
Chủ
ý chung của Phật pháp là để hành giả tự thấy đúng (Kiến
đạo) và đi đúng (Tu đạo). Theo Tông Mật, khi đến Trung
Hoa vào đầu thế kỷ thứ 6, Tổ Bồ Đề Đạt Ma thấy ở
đây hầu hết các người học Phật đều sa đà trong những
cuộc tranh luận siêu hình về giáo pháp vô thượng, hoặc
chỉ phụng trì giới hạnh, hay suốt ngày đắm say trong phép
quán vô thường. Nhận thấy thế đạo bi đát, hiểu theo danh
số, hành theo sự tướng, nên phản ứng lại Tổ mới chủ
trương “Đạo truyền riêng ngoài kinh điển, trực tiếp,
không qua văn tự, nhắm thẳng vào nội tâm, kiến chiếu vào
tự tánh để thành Phật”. Từ đó, Thiền có khuynh hướng
lơ là việc học hỏi kinh điển và các thứ siêu hình trong
kinh. Thái độ đặc biệt của Thiền đối với văn tự có
lẽ bắt đầu với những môn đệ trực tiếp của Lục tổ
Huệ Năng. Vì chỉ chú trọng thực hành, tức đi như thế
nào, nhưng lại sao lãng việc giáo hóa những hoạt động trí
thức để xác định con đường sắp đi có đúng hay không
nên người ta thường đi mà không thấy. Thiền lần hồi chuyển
hướng sang phản danh luận và sự phóng đãng trở thành lẫn
lộn với phong trào tự do của tâm linh.
Dòng
Thiền bị Tông Mật chỉ trích nhiều nhất là phái Bảo Đường
do Thiền sư Vô Trụ (714-774) sáng lập. Tông chỉ Bảo Đường
quảng diễn giáo lý Vô niệm của Thần Hội đến độ “thích
môn sự tướng, nhất thiết bất hành”, nghĩa là tất cả
sự tướng của Thích môn đều bỏ hết. Không tụng kinh,
không lễ bái, không thờ tượng Phật, không làm các Phật
sự, chỉ cốt “vô tâm”, cho đó là điểm cực diệu. Tông
Mật gọi phương cách thực hành thiền của hệ phái này là
một thứ pháp “diệt thức”.
Tông
Mật cũng bài bác phép hành thiền của Hồng Châu tông, hệ
phái Thiền của Mã Tổ Đạo Nhất. Tông chỉ của Đạo Nhất
tổng quát trong tám chữ: “xúc loại thị chân, nhiệm tâm
vi tu”. Nghĩa là, đụng chạm đến bất cứ sự loại gì,
thảy đều là Chân. Cứ tự nhiên theo tâm mà tu. Có thể diễn
rộng ra là những gì được làm đều là Phật tánh. Tham sân
phiền não cũng đều là Phật tánh. Nhướng mày, nháy mắt,
cười, ngáp, ho hen, thảy đều là Phật sự! Theo Tông Mật,
phép hành thiền theo lối này rất nguy hiểm, vì có thể làm
nảy sanh tham dục luyến ái sự vật vô thường và mở đường
cho những vọng động vị ngã. Phương pháp thực hành thiền
của dòng này chỉ quan tâm đến mặt tùy duyên dụng của
Chân tánh mà tưởng đó là toàn dụng của Phật tánh. Như
thế là bỏ quên mặt tự tính dụng căn cứ vào đó mới
có hoạt dụng tùy duyên. Tông Mật ví trường hợp này với
sự bỏ quên tánh sáng của gương mà chỉ biết đến những
phản ảnh, không hiểu rằng chính tánh sáng của gương mới
là nguyên nhân của sự phản chiếu.
Xét
sự chỉ trích như trình bày trên, ta không thể không nghĩ
rằng đối với Tông Mật, pháp tu thiền của dòng Hồng Châu
hiển nhiên thất bại là vì không thấu suốt chân nguyên của
sự tướng, là vì thấy biết phiến diện duy chỉ tính tùy
duyên sai biệt mà ngu muội không thấy được bản tính bất
biến thanh tịnh và thường trụ của Chân như là nguồn phát
xuất tất cả pháp thế gian và xuất thế gian. Thật chẳng
khác trường hợp chỉ một mực quan tâm đến sự sự vô
ngại mà không nhận chân được rằng cái nhìn sự sự vô
ngại bắt nguồn từ cái nhìn lý sự dung thông vô ngại.
Tông
Mật tin tưởng rằng thuyết Như Lai tạng soi sáng bản chất
của sự thực hành giáo pháp của Như Lai. Theo thuyết kiến
tánh của Thiền tông lấy lý Như Lai tạng duyên khởi tức
là tánh khởi, hay Chân như duyên khởi làm căn bản, cho rằng
vũ trụ vạn pháp đều là toàn thể chân tâm của ta hiển
hiện, không có một pháp nào ngoài tâm, mà chân tâm cũng duy
vạn pháp, cho nên chỗ cứu cánh là “xúc mục thị đạo”
(mọi đối tượng tiếp xúc đều là đạo), “tức sự nhi
chân” (ngay nơi sự tướng hư huyễn mà thấy thật tướng
các pháp), “nhất thiết hiện thành” (tất cả đều sẵn
sàng hiển lộ bản thể pháp thân). Khi không nhận ra được
cái chân tâm thời cái chân tâm ấy bị phiền não che lấp
gọi là Như Lai tạng, tức là Như Lai bị che khuất. Dù chân
tâm ở trần lao nhưng trần lao không nhiễm nó được là vì
nó đâu có hình tướng mà nhiễm. Nhưng làm thế nào để
nhận ra được chân tâm?
Trước
hết là căn cứ vào chánh tín như kinh Hoa nghiêm nói: “Tín
là căn nguyên của đạo, là mẹ của công đức, nuôi lớn
hết thảy thiện pháp, đoạn trừ lưới nghi, đưa chúng sinh
vượt qua dòng nước ái dục, khai thị con đường tối thượng
dẫn đến Niết bàn.” Trong kinh Thắng Man, đức Phật bảo
Thắng Man Phu nhân: “Nếu đệ tử của Ta là hạng tùy tín
tăng thượng, sau khi y vào minh tín, bằng tùy thuận pháp trí
mà đạt đến cứu cánh.” Tín là “tin ở tự mình xưa nay
là Phật, tự tánh thiên chơn người người đều đầy đủ.
Diệu thể của Niết bàn mỗi mỗi đều viên thành, chẳng
nhờ cầu nơi người khác, từ xưa đến nay nó tự đầy đủ.”
(Chân tâm trực thuyết. Thiền sư Phổ Chiếu. Thích Thanh Từ
giảng giải).
Chánh
tín đã sanh, cần phải thêm hiểu biết, vì theo ngài Vĩnh
Minh: “Tin mà chẳng hiểu biết thời thêm lớn vô minh. Hiểu
biết mà chẳng tin thời thêm lớn tà kiến.” Nhưng thế nào
gọi là hiểu biết chân tâm? Chân tâm là gì? Trong kinh Thủ
Lăng Nghiêm là một kinh Đại thừa, vin nơi thấy nghe thông
thường của chúng sinh mà chỉ ra tâm tánh, Phật dạy ông
A Nan: “Tất cả sự sự vật vật có danh có tướng là đều
do tâm tính biến hiện; sự vật dầu nhỏ đến đâu cũng
có thể tính thời làm sao tâm lại không có thể tính? Nhưng
nếu chấp cái phân biệt suy xét là tâm thời khi rời cảnh
vật hiện tiền, cái tâm hiểu biết phân biệt ấy cũng vẫn
còn, thế mới phải là tâm của ông. Nếu rời cảnh vật
hiện tiền mà tâm hiểu biết phân biệt ấy mất đi, thời
không phải là chân tâm của ông. Dầu cho bỏ tất cả các
sự thấy, nghe, hay, biết bên ngoài mà chỉ còn lưu lại cái
'thầm thầm phân biệt' bên trong (thức thứ sáu), thời đó
cũng là cái vọng tưởng phân biệt (ý thức thứ sáu) bóng
dáng pháp trần, không phải là chân tâm của ông.”
Phật
lại dạy rằng Phật không buộc ông A Nan chấp cái suy xét
phân biệt không phải là tâm, nhưng khuyên ông chính ở nơi
tâm, phải suy xét chín chắn, nếu tâm rời tiền cảnh mà
có tự tánh thời mới là tâm chân thật. Còn nếu tâm nương
với tiền cảnh mà có thời khi tiền cảnh biến diệt, tâm
ấy hình như cũng biến diệt theo, còn lấy gì mà tu chứng
đạo quả.
Kinh
Pháp Bảo Đàn kể lại khi nghe Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn nói kinh
Kim Cang đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” [Giải
thích: Không có chỗ trụ mới đúng là cái tâm thanh tịnh
chân thật], Lục Tổ Huệ Năng liền rất tỏ sáng, biết tất
cả muôn pháp chẳng lìa tánh mình, mới bạch với Tổ sư:
“Nào
dè tánh mình vốn sẵn thanh tịnh;
Nào
dè tánh mình vốn không sanh diệt;
Nào
dè tánh mình chứa đầy đủ (muôn pháp);
Nào
dè tánh mình vốn không lay động;
Nào
dè tánh mình có công năng sanh ra muôn pháp.”
Chân
tâm còn có đặc tánh chiếu soi ngoài các đặc tánh thường
hằng, thanh tịnh, năng sanh. Kinh Tăng chi bộ,1.10, thuật lại
lời Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, tâm này là sáng chói.
Và tâm này bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào. Kẻ
phàm phu ít nghe, không như thật rõ biết tâm ấy. Do vậy,
Ta nói rằng tâm kẻ phàm phu ít nghe, không được tu tập.
Này
các Tỳ kheo, tâm này là sáng chói. Và tâm này được gột
sạch các cấu uế từ ngoài vào. Bậc Thánh đệ tử nghe nhiều,
như thật rõ biết tâm ấy. Do vậy, Ta nói rằng tâm bậc Thánh
đệ tử nghe nhiều có được tu tập.”
Thiền
sư Phổ Chiếu cũng nhắc đến đặc tánh chiếu soi của tâm:
“Lìa vọng gọi là chân. Linh giám gọi là tâm. Trong kinh Lăng
Nghiêm đã nói rõ tâm này.” Linh giám tức là soi xét, chiếu
soi, không vọng mà có chiếu soi, nên gọi đó là tâm. Về
bản thể chân tâm, ngài Tông Mật nói: “Tâm ấy rỗng rang
mà thuần diệu, rực rỡ mà mầu sáng, chẳng đến chẳng
đi, thông suốt cả ba mé, chẳng phải trong ngoài, suốt khắp
mười phương. Chẳng sanh chẳng diệt, bốn núi [Bốn núi là
sanh, lão, bịnh, tử] nào có thể hại. Lìa tánh lìa tướng,
nào bị năm sắc [Năm sắc là ngũ uẩn] làm mờ.” Trong Tu
tâm quyết, Thiền sư Phổ Chiếu giải thích thêm về cái tâm
thể không tịch, hư trí, thanh tịnh này: “Tâm không tịch
này là cái 'thắng tịnh minh tâm' của ba đời chư Phật, cũng
là cái 'giác tánh bản nguyên' của chúng sinh. Ngộ nó và giữ
nó thời ngồi trên tòa giải thoát nhất như chẳng động.
Mê nó và trái nó thời trường kiếp luân hồi trong sáu thú.
Cho nên nói: Mê nhất tâm đến sáu thú, ấy là đi, là động.
Ngộ pháp giới trở về nhất tâm, ấy là đến, là tịnh.
Tuy mê ngộ có sai khác, nhưng bản nguyên thời chỉ có một.
Cho nên nói: Pháp ấy là tâm của chúng sinh, cái tâm không
tịch này nơi thánh không tăng nơi phàm không giảm. Lại nói:
Nơi thánh trí chẳng sáng, ẩn phàm tâm chẳng mê. Chẳng tăng
nơi thánh, chẳng giảm nơi phàm, Phật Tổ sao lại khác nơi
người? Sở dĩ khác hơn người, ấy là hay tự giữ tâm niệm
vậy.”
Về
các tên riêng khác của Chân tâm, thời theo Thiền sư Phổ
Chiếu: “Phật dạy trong Bồ tát giới gọi là Tâm địa,
vì hay phát sanh muôn việc thiện. Kinh Bát nhã gọi là Bồ
đề, vì lấy giác làm thể. Kinh Hoa nghiêm gọi là Pháp giới,
vì giao triệt và dung nhiếp. Kinh Kim Cang gọi là Như Lai, vì
không từ đâu đến. Kinh Bát nhã gọi là Niết bàn, vì là
chỗ quy hướng của chư Thánh. Kinh Kim Quang Minh gọi là Như
Như, vì chân thường bất biến. Kinh Tịnh Danh gọi là Pháp
thân, vì là chỗ nương của báo thân và hóa thân. Luận Khởi
tín gọi là Chân như, vì chẳng sanh chẳng diệt. Kinh Niết
bàn gọi là Phật tánh, vì là bản thể của ba thân. Kinh Viên
giác gọi là Tổng trì, vì mọi công đức từ đó mà lưu
xuất. Kinh Thắng Man gọi là Như Lai tạng, vì ẩn phú và hàm
nhiếp. Kinh Liễu nghĩa gọi là Viên giác, vì hay chiếu phá
mờ tối.”
Nếu
đã nhận ra được cái chân tâm rồi thời làm sao dứt vọng
để chân tâm hiện, làm sao thoát vọng để thành Thánh? Thiền
sư Thích Thanh Từ giảng: “Vọng tâm không chỗ nơi tức là
Bồ đề, Niết bàn và sanh tử vốn bình đẳng. Cho nên đây
là một phương pháp tu mà thường hồi xưa các Ngài dạy:
Nếu mình chưa thấy được tâm thời ngồi Thiền phải quán.
Thí dụ vừa khởi nghĩ tưởng cái gì đó, thời mình liền
hỏi cái tưởng cái nghĩ này ở đâu mà có? Xét cho kỹ, nó
không phải ở trong (tứ đại, ngũ uẩn), cũng không phải
ở ngoài (sáu trần), không phải ở chặng giữa, cuối cùng
biết nó là không. Biết cái vọng đó là “Không”, lúc đó
liền là Bồ đề, liền là Niết bàn. Niết bàn sanh tử đều
là bình đẳng.”
Chứng
được Chân như thời ngoài tâm không có pháp, ngoài pháp không
có tâm, tùy ý vận dụng pháp giới tánh, nhận biết theo mỗi
nghiệp chúng sinh mà không bị nghiệp nào ràng buộc cả. Đồng
thời, phá được ranh giới giữa tâm và cảnh, giữa người
và mình, phát lòng từ bi rộng lớn, phục vụ chúng sinh trong
vô lượng vô số kiếp, không hề mệt mỏi.
Xét
cho kỹ thời cái tâm duyên khởi ra sự vật (Tâm Chân như;
Lý) và cái tâm phân biệt các sự vật (Tâm sanh diệt; Sự)
vốn không hai không khác, nhưng chỉ nhận cái tâm phân biệt
các sự vật mà bỏ cái tâm duyên khởi ra sự vật thời cái
tâm phân biệt các sự vật sẽ theo sự vật mà dời đổi,
dầu có thấy, có biết các sự vật hay không thấy, không
biết, cũng vẫn bị tiền trần chi phối không có tự tánh.
Thuyết tánh khởi mô tả mối quan hệ giữa hai cái tâm ấy
được xem như thuyết dùng để giải thích ý nghĩa của lý
sự vô ngại. Tông Mật đồng nhất sự với tướng, do đó
sự sự vô ngại được ví như toàn thể các hỗ tương giao
thiệp giữa các sự tướng tạo thành một mạng lưới nhân
duyên vô cùng phức tạp và vô tận. Các hỗ tương giao thiệp
này chẳng qua chỉ là những ảnh tượng vô thường phản
chiếu trên tâm và biểu tượng cái tâm phân biệt các sự
vật trên phương diện tùy duyên dụng của Chân như. Đó là
lý do vì sao phán giáo đề ra trong Hoa nghiêm nguyên nhân luận
đem Hiển tánh giáo, giáo lý về tánh khởi, thay thế Viên
giáo, giáo lý về pháp giới duyên khởi.
Tánh
khởi.
Khác
với Trừng Quán dùng thuyết bốn pháp giới làm khung ý niệm
để giải thích tư tưởng Hoa nghiêm, Tông Mật chủ trương
rằng giáo lý Hoa nghiêm là giáo lý Như Lai tạng và Nhất chân
pháp giới mà Trừng Quán mô tả là bản thể thực tại xuất
sanh bốn pháp giới mới thật là yếu chỉ của kinh Hoa nghiêm.
Trong Hoa nghiêm nguyên nhân luận, Tông Mật đồng nhất Nhất
chân pháp giới với Tâm chúng sinh tức Pháp Đại thừa trong
luận Khởi tín bằng vào hai đoạn văn sau đây. Một ở trong
phần định danh nghĩa của luận Khởi tín: “Pháp Đại thừa
tức là tâm chúng sinh. Tâm này tóm thâu hết thảy các pháp
thế gian, xuất thế gian, và nói lên được nghĩa Đại thừa”.
Đoạn văn thứ hai thuật lại câu nói của Trừng Quán trong
Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm sớ: “Tuy trong kinh Hoa nghiêm
có bốn pháp giới, nhưng tựu trung chỉ có một là Nhất chân
pháp giới mà thôi. Nó bao quát hết thảy hiện hữu đa thù
và đồng nhất với Nhất tâm.”
Ngài
nhắc đến đoạn kinh Viên giác: “Hết thảy chúng sinh và
cái huyễn vô minh từ vô thỉ đều từ nơi tâm Viên giác
của các Như Lai để gầy dựng ra”, và nói rằng: “Những
lời trên đều nói rõ cái chân tâm nó tùy duyên để hiện
thành ra các việc chứ chẳng những chỉ không tịch (trống
vắng) mà thôi. Vả lại, hiện tiền đây, người ta đều
thấy biết rằng giữa cõi đời, những vật giả dối, chưa
có một vật nào chẳng nương nơi pháp chắc thật mà tự
nó có thể sanh khởi ra được đó. Như nếu không có nước
là thứ thật có tánh ướt chẳng biến đổi thời làm gì
có sóng là thứ giả hiện ra cái tướng luống dối. Nếu
không có gương là thứ thật có cái tướng sáng sạch chẳng
biến đổi, thời làm gì có cái bóng là thứ giả hiện ra
mỗi mỗi hư vọng. Dẫn hai lời dụ trên để tỏ rằng cái
giả ắt phải nương nơi cái thật.” Ngài nói thêm rằng
“chân tánh mặc dù làm gốc cho thân tướng, nhưng về sự
sanh khởi ra thân tướng ắt có nhân do, chứ chẳng phải không
mối manh gì hết, thoạt nhiên thành thân tướng đâu.” Ngài
trình bày sự lưu xuất và biến chuyển của thế giới huyễn
tướng qua năm thứ lớp.
(1)
Bắt đầu xét nói đến “Nhất tâm” là bản nguyên, như
kinh Hoa nghiêm nói “nhất pháp giới tâm”. Bàn nguyên là
Tâm chúng sinh của luận Khởi tín, là Viên giác của kinh Viên
giác, là tâm tánh theo ngôn ngữ thế tục. Tất cả những
danh xưng ấy đều đồng một nghĩa và là những phát biểu
khác nhau về Như Lai tạng.
(2)
Kế nương nơi Nhất tâm phân ra hai cửa: Chân như và Sanh diệt,
giống y nơi “một tâm pháp” mà có “tâm chân như môn”
và “tâm sanh diệt môn”. Tánh giáo gốc là “nhất chân
linh tánh”, chẳng sanh chẳng diệt, không thêm không bớt,
chả đổi chả dời, đồng nghĩa với “tâm chân như môn”
của Khởi tín luận. Chúng sinh đã như ngủ mê từ vô thỉ
nên chẳng sáng biết. Vì chân linh tánh bị che phủ nên tên
là Như Lai tạng. Do Như Lai tạng nên có tâm tướng sanh diệt,
đồng với nghĩa “tâm sanh diệt môn” của luận Khởi tín.
Cái chân tâm bất sanh bất diệt cùng lẫn họp với cái vọng
tưởng sanh diệt bằng cách chẳng đồng chẳng khác tạo thành
cái gọi là thức A lại da.
Chẳng
đồng chẳng khác, chính là nói rõ nghĩa Chân Vọng bất tức
bất ly. Lý do: Một mặt, trên Chân thời tùy duyên, trên Vọng
thời thể Không, nên Chân chẳng khác Vọng. Mặt khác, trên
Chân thời bất biến, trên Vọng thời thành Sự nên Vọng
chẳng đồng với Chân. Pháp Tạng theo ý chỉ kinh Lăng già
lấy Như Lai tạng làm “bất sanh bất diệt”, lấy bảy thức
trước làm “sanh diệt”, hai cái ấy hòa lẫn nhau thành ra
thức A lại da. Do đó, thức này đủ cả sanh diệt và chẳng
sanh diệt. Trong câu thường nói “Chân vọng hòa hiệp, các
thức theo duyên dấy”, có đủ bốn ý: (1) Chỉ “chẳng sanh
diệt” bảo đó là Như Lai tạng, tỷ như nước. (2) Chỉ
“sanh diệt” nghĩa là bảy thức trước, tỷ như sóng dợn.
(3) “Cũng sanh diệt, cũng chẳng sanh diệt” gọi là thức
A lại da, ví như biển bao hàm cả hai hiện tượng, động
và tĩnh. (4) “Chẳng phải sanh diệt chẳng phải chẳng sanh
diệt” tức là Vô minh, dụ như nhân gió nổi sóng.
(3)
Y nơi sanh diệt môn mở ra hai diện, giác và bất giác, đúng
theo luận Khởi tín giải thích là thức A lại da có hai nghĩa
“Giác” và “Bất giác”. “Giác” chỉ cho bản thể chân
tâm lìa các vọng niệm, khắp giáp tất cả, rộng lớn như
hư không. Do nơi “chân tâm bất sanh diệt” nên có diện
“giác”, là chẳng mê. Do nơi “vọng thức sanh diệt” nên
lập ra diện “Bất giác”, là mê. “Giác” là tánh Phật
sẵn có nơi chúng sinh nên gọi là “Bản giác”, mà vì mê
muội không hay biết nên gọi là “Bất giác”. Đến khi rời
vọng niệm rồi thời mới giác ngộ được tánh Phật khi
ấy gọi là “Thỉ giác”. Vì đối với Thỉ giác nên gọi
là Bản giác; song Thỉ giác chính là Bản giác. Nghĩa là từ
Bản giác mà có Bất giác; do Bất giác nên có Thỉ giác. Vậy
theo mỗi khía cạnh mà “Giác” có những tên khác nhau. Bồ
tát Long Thọ nói: “Nghĩa giác ấy là cái khí phận của Chân
như; nghĩa bất giác ấy là cái khí phận của Vô minh.”
(4)
Y nơi diện Bất giác sanh ra ba thứ tướng vi tế (Tam tế tướng),
cùng với Bất giác chẳng rời bỏ nhau:
(a)
Vì vô minh (bất giác) cho nên tâm năng động sinh ra vọng động;
động tức là nghiệp. Đó là tướng vi tế thứ nhất, gọi
là tướng năng động, cũng gọi là nghiệp tướng.
(b)
Vì nghiệp tướng nên mới có phân biệt, nghĩa là vọng động
chuyển thành nhận thức. Đó là tướng vi tế thứ hai, gọi
là tướng năng kiến, cũng gọi là chuyển tướng.
(c)
Vì có tâm năng phân biệt nên nhận thức hình thành đối
cảnh. Đó là tướng vi tế thứ ba, gọi là tướng năng hiện,
cũng gọi là hiện tướng.
Theo
Duy thức, đó là ba phần, Tự chứng phần, Kiến phần, và
Tướng phần, của thức A lại da, và trong các kinh thường
gọi là “Hoặc, Nghiệp, và Khổ”.
(5)
Nương nơi ba Tế tướng, tâm tiếp tục sanh ra sáu thô tướng
(Lục thô): Trí tướng, Tương tục tướng, Chấp thủ tướng,
Kế danh tự tướng, Khởi nghiệp tướng, và Nghiệp hệ khổ
tướng. Trí tướng là y nơi cảnh giới (hiện tướng), chẳng
biết là do nơi tự tâm sở hiện, nên mới sanh tâm phân biệt
tốt xấu, rồi sanh ra thương (tham), ghét (sân),... Tương tục
tướng là do tâm biết phân biệt nên các niệm thương ghét,
mừng giận, khổ vui, v..v... tiếp tục sanh khởi không gián
đoạn. Do các niệm thương ghét, mừng giận, khổ vui, v..v...nên
sanh tâm chấp lấy, gọi là tướng chấp thủ. Do sanh tâm chấp
cảnh nên giả đặt ra những danh tự để kêu tên, gọi là
tướng kế danh tự. Do có những danh tự kêu gọi đẹp xấu
v..v... nên sanh ra đủ loại hành vi, và vì thế mà tạo ra
nghiệp, gọi là tướng khởi nghiệp. Do tạo các nghiệp nên
buộc phải nhận lấy hậu quả, bị nghiệp kéo dẫn sanh tử
luân hồi trong ba cõi để thọ quả báo, không còn tự do,
gọi là tướng nghiệp hệ khổ.
Đoạn
văn sau đây trong Hoa nghiêm nguyên nhân luận có thể tóm lược
thứ lớp xuất sanh và biến chuyển của vạn hữu như vừa
trình bày trên: “Tâm ký tòng tế chí thô, triển chuyển vọng
kế, nãi chí tạo nghiệp; cảnh diệc tòng vi chí chí trứ,
triển chuyển biến khởi, nãi chí thiên địa.” Hòa thượng
Thích Khánh Anh dịch: Cái “tâm” nó từ chỗ rất nhỏ (tam
tế) đến chỗ rất thô (lục thô), lần lựa kể chấp bậy
bạ, nhẫn đến tạo ra nghiệp ác nghiệp thiện; “cảnh”
cũng từ nơi “kín nhiệm” đến nơi “rõ rệt” lần hồi
biến đổi dấy lên, cho đến nơi hiện ra trời cao đất thấp.
Thật
ra, trong lời mở đầu Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm sớ,
Trừng Quán đã gợi cho Tông Mật cái ý niệm sử dụng Nhất
chân pháp giới làm căn cứ thuyết minh sự tựu thành thế
giới sum la vạn tượng và tất cả tác dụng viên minh, tự
tại, thực hành các hạnh nguyện ba la mật. Trừng Quán đã
mượn lời thích nghĩa quẻ Kiền trong kinh Dịch (Đại tai
Kiền nguyên, vạn vật tư thủy) để viết: “Đại tai chân
giới! Vạn pháp tư thủy.” Dịch là: Lớn thay chân pháp giới!
Vạn pháp nhờ đó khởi đầu. Khai triển ý tưởng câu này
Tông Mật định nghĩa “chân giới” là Chân như pháp giới.
Ngài nói: “Mặc dầu pháp giới có đủ thứ đủ loại, nhưng
khi thật tướng của nó được hiển bày, thời duy nhất chỉ
có một là Nhất chân pháp giới, là thanh tịnh chân tâm, là
căn nguồn phát sanh của chư Phật và tất cả chúng sinh.”
Chân pháp giới là chỉ thể tánh, còn vạn pháp xuất sanh
từ đó là chỉ thể tướng của nhất pháp giới tâm. Ngài
nói tiếp: “Không một pháp nào là không biểu tượng của
bản tâm. Không một pháp nào là không nhân duyên sanh khởi
từ chân pháp giới.”
Theo
như môn sanh diệt có hai phần, một phần thuận dòng vô minh
(lưu chuyển; bất giác) sanh ra các pháp sanh tử tạp nhiễm,
phần kia y nơi pháp tạp nhiễm lưu chuyển mà tu tập trở
lại thanh tịnh (hoàn tịnh; giác), Tông Mật phân biệt hai
thứ nhân duyên sanh khởi: tánh khởi và duyên khởi. Tánh khởi
chỉ vào hai mặt, bất biến và tùy duyên, của vạn pháp.
Tánh tương ứng với Chân giới, khởi tương ứng với vạn
pháp. Tánh tức tánh thể của Pháp giới thời thanh tịnh bất
biến bất khả thuyết. Nếu có thuyết, tức là khởi. Theo
duyên mà nói là khởi. Khởi, không khởi từ đâu khác mà
khởi ngay từ tánh. Do đó mà nói tánh khởi. Cũng có thể
giải thích là: Khởi tuy tùy thuộc duyên, nhưng duyên thời
vốn vô tánh. Lý vô tánh hiển hiện nơi duyên. Do đó, căn
cứ nơi sự hiển hiện mà nói là tánh khởi. Hay là: Cái được
hiện khởi này tương tự với tướng của duyên, tức là
nó thuộc duyên khởi. Nay thuyết minh cái hiện khởi này duy
y theo mặt tịnh của dụng mà thuận chứng chân tánh, bởi
vậy cho nên thuộc tánh khởi. Ngài viết: “Vì tất cả pháp
thế gian và xuất thế gian đều câu khởi từ tánh, nên ngoài
tánh hẳn không còn pháp gì riêng. Bởi vậy chư Phật và chúng
sinh quan hệ mật thiết sâu sắc, thế giới Tịnh độ và
thế giới tạp nhiễm hỗ tương giao thiệp không trở ngại
nhau”.
Duyên
khởi chỉ vào hai cửa nhập đạo: đốn ngộ và tiệm tu.
Đốn ngộ tiệm tu, là đốn ngộ cái bản tánh cùng chư Phật
không khác. Tập khí từ vô thủy khó trừ hết liền, nên
phải y ngộ mà tu, lần lần huân tập mới thành công. Thiền
sư Phổ Chiếu giải thích: “Kẻ phàm phu từ vô thủy khoáng
kiếp cho đến ngày hôm nay, trôi lăn trong năm đường sanh
tử qua lại. Chấp cứng tướng ngã cùng vọng tưởng điên
đảo. Hạt giống vô minh tập lâu thành tánh. Tuy đến nay
đốn ngộ tự tánh xưa nay không tịch cùng Phật không khác,
nhưng cái cựu tập này rất khó dứt trừ. Cho nên gặp cảnh
thuận nghịch có giận có vui, chuyện thị phi lừng lẫy khởi
diệt. Khách trần phiền não cùng trước không khác. Nếu chẳng
dùng sức mạnh của trí Bát nhã thời làm sao đối trị được
vô minh đến được chỗ thôi hết dứt hết? Như nói: 'Đốn
ngộ tuy đồng với Phật, nhưng nhiều đời tập khí sâu.
Gió dừng nhưng sóng còn dậy, lý hiện nhưng niệm còn xâm'”.
Ngài lấy chăn trâu làm thí dụ: “Người học đạo khi đã
được chân tâm hiện tiền, nhưng tập khí chưa trừ, nếu
gặp cảnh quen thuộc có lúc thất niệm. Như chăn trâu, tuy
điều phục nó, dẫn dắt nó đến chỗ như ý rồi, mà còn
chẳng dám buông dàm và roi. Đợi đến tâm nó điều phục,
bước đi ổn thỏa, dù chạy vào lúa mạ cũng không hại đến
lúa mạ, lúc ấy mới dám buông tay. Đến lúc này chú mục
đồng không còn dùng dàm và roi nữa. Tự nhiên con trâu không
hại đến lúa mạ.”
Theo
trên, duyên khởi được Tông Mật giải thích là quá trình
tu tập hai môn đốn tiệm. Ngài nhận xét: “Đốn ngộ tánh
này nguyên không phiền não, vô lậu trí tánh vốn tự đầy
đủ cùng Phật không khác. Y đây tu tập gọi là tối thượng
thừa Thiền, cũng gọi là Như Lai thanh tịnh Thiền. Nếu hay
mỗi niệm tu tập, tự nhiên lần lần được muôn ngàn tam
muội. Môn hạ ngài Đạt Ma lần lượt truyền nhau là Thiền
này”. Đó là điểm hoàn toàn khác biệt với lập trường
chủ trương pháp giới duyên khởi xác nhận rằng người chứng
được sự sự vô ngại pháp giới là bực pháp thân Bồ tát
thành tựu nhất thiết chủng trí. Và viên mãn trí này chính
là Đấng Vô thượng giác tức Phật Thế tôn. Mặt khác, trên
phương diện bản thể luận, thuyết tánh khởi minh chứng
Như Lai tạng là căn bản hợp lý và thích ứng để tựa vào
đó mà giải thích triết lý về Thiền. Như vậy là thay vì
sự sự vô ngại, lý sự vô ngại đã được sử dụng để
tuyên giải đường lối tu hành của chư tổ Thiền tông.