III. Vô
thường và Phật tánh
8. Phật tánh
là Chuyển y
Phật
tánh là Tu hành Phật đạo.
“Hết
thảy đều có Phật tánh, tất cả đều thành Phật”. Đó
là tư tưởng chủ đạo do Thế Thân đề ra trong tác phẩm
Phật tính luận của Ngài, Chân đế dịch, căn cứ vào các
kinh Thắng Man, Như Lai tạng, Vô thượng y, Bất tăng bất giảm,
Đại bát Niết bàn, Lăng già, v..v... Ngay đầu sách, với mục
đích hướng dẫn sự tra tầm phân tích ý nghĩa của khái
niệm Phật tánh trên phương diện ngôn thuyết mà thôi, Ngài
đặt câu hỏi: “Vì lý do gì đức Phật tuyên thuyết Phật
tánh?” Ngài tránh không đặt câu hỏi “Thế nào là Phật
tánh?” Vì hỏi như thế thời thế nào cũng có người do
hiểu sai lầm Phật tánh về phương diện bản chất và siêu
hình mà cho rằng Ngài mặc nhiên chấp nhận Phật tánh “là”
“cái gì đó” rồi.
Theo
Ngài, đức Phật tuyên thuyết Phật tánh là nhằm trừ năm
thứ quá thất (khuyết điểm, lỗi lầm): trừ tâm hạ liệt,
tức tự coi rẻ mình, trừ cao mạn (tự cao), trừ hư vọng
chấp, trừ phỉ báng pháp chân thật, và trừ chấp ngã, và
phát sinh năm đức tính: tinh tấn, tôn kính, trí tuệ (prajnà),
trí (jnàna), và bi. Vậy đức Phật tuyên thuyết Phật tánh
là nhằm lợi ích chúng sinh, chỉ đường tu tập đoạn diệt
vô minh, và hiện thực giác ngộ. Tuy nhiên, Phật tánh không
phải là cái gì đó tự nó đã có thực hữu định tánh.
Có định tánh, thời một là thường còn, hai là đoạn diệt.
Nếu thường trụ, vĩnh viễn không biến mất, thời Phật
tánh dứt khoát không cần lệ thuộc vào các duyên mà hiện
hữu. Như vậy chúng sinh là Phật rồi, đâu cần phải khổ
công tu tập để làm Phật nữa. Mặt khác, cũng không thể
bảo rằng Phật tánh không có. Nếu Phật tánh không có thời
những nỗ lực hành trì Phật pháp có mục đích gì? Hơn nữa,
Phật tánh thường còn hay đoạn diệt đều không thể làm
nhân để thể hiện cái tướng vô thường của các pháp.
Bởi vậy không thể nói Phật tánh là có hay không có.
Hãy
để ý đến cách thức dùng ngôn ngữ trong luận chứng trên.
Khi phủ định cả hai cực đoan triệt để loại trừ hỗ
tương, có và không có, thời những quy luật cơ bản của
logic Aristotle: luật đồng nhất (A là A), luật phi mâu thuẫn
(A không thể vừa là A vừa là phi A), và luật triệt tam (hoặc
A, hoặc phi A, chứ không thể cái nào khác), không còn ích
lợi và đáng tin cậy nữa. Đây là lúc cần dùng đến một
định thức tư duy và phát biểu mới. Đó là biện chứng
pháp Trung quán của Bồ tát Long Thọ.
Tuy
nhiên, ở đây có điểm khác biệt với biện chứng Trung quán.
Biện chứng Trung quán dẫn đến tánh Không, có bề tiêu cực,
còn Phật tính luận thời dẫn đến một kết luận tích cực
hơn: “Theo Đạo lý, tất cả chúng sinh trong vũ trụ và từ
nguyên thỉ đều có Phật tánh thanh tịnh. Không có hạng người
vĩnh viễn thiếu khả năng đắc Bát Niết bàn. Bởi thế cho
nên Phật tánh căn bản vốn có (bản hữu), vì vậy mà không
liên quan gì đến có (hữu) hay không có (vô).” (Đại 31.
Tr. 788c)
Mấy
chữ “Theo Đạo lý” bắt đầu đoạn văn không những để
chỉ xuất xứ từ kinh điển (ở đây là kinh Như Lai tạng),
mà còn muốn nêu rõ cái tâm của chúng sinh tuy bị mọi phiền
não trói buộc, che lấp, nhưng trong đó vẫn có đầy đủ
đức tính của Như Lai, cái tâm tánh đó là “pháp tự nhiên
như thế” (pháp nhĩ như thị). Dù Phật có ra đời hay không,
nó vẫn y nhiên như thế chứ không đổi khác. Hai từ thông
dụng “có” (hữu) và “không có” (vô) chỉ vào trạng
thái có hay không có của các sự vật, như cây, đá, v.v...,
là những pháp sinh diệt hạn định trong không gian và thời
gian. Bởi vì Phật tánh không phải là pháp sinh diệt hạn
định trong không gian và thời gian như cây, đá,..., cho nên
cụm từ “căn bản vốn có” (bản hữu) mới dành để nói
đến sự hữu khác biệt của Phật tánh. Phật tính luận
hiểu tánh Không là Không và Bất không (Không hữu bất hữu).
Phật tánh là Bất không, là phát biểu tích cực của tánh
Không từ quan điểm tôn giáo và nhân cách. Đó là ý nghĩa
của một đoạn văn khác: “Chấp trước không thật, vì vậy
mới bảo chấp trước là rỗng không. Nếu để chấp trước
sinh khởi, thời chân trí không sinh khởi. Khi lìa bỏ chấp
trước là lúc nói đến Phật tánh. Phật tánh là Chân như
hiển lộ bởi hai Không (ngã không và pháp không)… Nếu không
nói đến Phật tánh, tức là không hiểu tánh Không.” (Đại
31. Tr. 787b)
Cũng
có thể giải thích Phật tánh là diệu hữu của Chân không,
như khi Thiền sư Thích Thanh Từ dịch và giảng câu “Không
nhi bất vô, tiện thành diệu hữu” trong Hiển tông ký, Thiền
sư Thần Hội soạn: “Không mà chẳng không liền thành diệu
hữu. Tuy Chân không là không, không mà có diệu hữu. Cái diệu
hữu này có hai ý, diệu hữu ở trong và diệu hữu ở ngoài,
hay diệu hữu của Thiền sư và diệu hữu của Bát nhã.
Cái
diệu hữu của Bát nhã là khi nhận được thể tánh các pháp
nó là Không. Đạt thể tánh là không, bởi duyên sanh mà nó
thành có. Vì nhân duyên hòa hợp nên nó không có thật tánh.
Không có thật tánh nên nói là Không, cũng gọi là Chân không.
Đạt được lý thể tánh Không của các pháp cũng gọi là
đạt được lý Chân không hay Thật tướng của các pháp.
Từ tánh Không của các pháp, nhân duyên hội hợp thành vô
vàn giả tướng của các pháp, gọi là diệu hữu. Đó là
diệu hữu bên ngoài, còn Chân không của các Thiền sư là
diệu hữu bên trong.
Chân
không tức là vô niệm, vô niệm là Chân như. Chân không, vì
trong đó không còn chứa những vọng tưởng điên đảo, những
niệm sanh diệt, cũng là Chân như. Nghĩa là khi đạt được
Chân như rồi thời Chân không đó trở về tánh Giác mà tánh
Giác là diệu hữu. Nói rộng hơn, Chân không là không có vọng
tưởng; không vọng tưởng, nên về chơn. Vọng tưởng thuộc
về thức, hết vọng tưởng, tức trở về chân như trí, là
trở về với Phật tánh. Trở về với Phật tánh gọi là
diệu hữu. Vậy cái diệu hữu này chỉ cho Phật tánh hay Bốn
trí (Thành sở tác trí, Diệu quan sát trí, Bình đẳng tánh
trí, và Đại viên cảnh trí) hay Chân như trí.”
Phật
tính luận chủ trương nhờ có Phật tánh mà tâm Bồ đề
nẩy nở, chí tu hành phát sinh, và quả báo của chí tu hành
mới được thực hiện. Luận nói đến tác dụng của Phật
tánh trên ba phương diên, gọi là ba “nhân”. Do đó, Phật
tánh được hiểu là ba loại nhân để tu thành Phật. Thuyết
Tam nhân Phật tánh được trình bày như sau.
“Ưng
đắc nhân (nhân cần được chứng đắc) là Chân như được
hiển lộ bởi hai Không (ngã không, pháp không). Do Không này
mà có thể chứng đắc Bồ đề tâm, và gia hành, v.v..., cho
đến đạo hậu Pháp thân (Pháp thân xuất hiện sau khi chứng
đạo).
Gia
hành nhân tức Bồ đề tâm. Bởi vì, do tâm này mà đạt được
ba mươi bảy phẩm (trợ giác hay bồ đề), mười địa, mười
ba-la-mật, và các pháp trợ đạo (hỗ trợ Thánh đạo, không
phải bồ đề), cho đến đạo hậu Pháp thân.
Viên
mãn nhân tức là gia hành (prayoga). Do gia hành này mà có thể
đạt được sự viên mãn của nhân và viên mãn của quả.
Viên mãn nhân là phước hành và huệ hành. Viên mãn quả là
trí đức (Vô phân biệt trí; tuệ giác cứu cánh), đoạn đức
(Vô trú niết bàn; giải thoát cứu cánh), và ân đức (Đại
tâm; hóa độ tất cả).
Trong
ba nhân này, nhân đầu lấy Như lý Vô vi làm thể. Thể của
hai nhân sau là pháp hữu vi hạnh nguyện. Trong ưng đắc nhân,
có đủ ba tánh: trụ tự tánh tánh, là [Phật tánh] phàm phu
trước giai đoạn thấy đạo (đạo tiền); dẫn xuất tánh,
là [Phật tánh] trong thời kỳ từ sau phát tâm trở lên cho
đến tận cùng địa vị Thánh giả hữu học; chí đắc tánh,
là [Phật tánh] trong thời kỳ đạt được Thánh vị vô học.”
(Đại 31. Tr. 794a. Tuệ Sỹ dịch)
Tóm
lại, Phật tánh là nhân, là cái nguyên động lực chán ghét
sanh tử, cầu mong Niết bàn thúc đẩy mọi hoạt động. Do
thấu triệt lý ngã pháp đều không mà Chân như hiển lộ.
Chân như được lấy làm bối cảnh để phát Bồ đề tâm,
thành tựu Pháp thân (ưng đắc nhân), rồi do Bồ đề tâm
mà hướng đến việc tu hành (gia hành nhân), rồi tu hành mà
cuối cùng thành tựu Pháp thân, được Vô phân biệt trí,
Vô trú niết bàn, và Đại tâm (viên mãn nhân).
Đoạn
văn trên nối kết Bồ đề tâm và gia hành thành một đẳng
thức theo luật đồng quy nhất (tàdàtmya; Principle of Identity):
“Bồ đề tâm = gia hành”. Bồ đề tâm và gia hành đồng
thể, cả hai đều quy hợp về cùng chung một căn bản hữu
pháp (dharmì; substratum) là Chân như.
Bồ
đề tâm là tâm cầu Vô thượng Bồ đề. Tâm ấy là thệ
nguyện, tức dục tâm sở, một trong năm tâm sở biệt cảnh:
dục, thắng giải, niệm, định, và tuệ. Bồ đề tâm cũng
có nghĩa là tâm có Bồ đề, tức là có tuệ giác thanh tịnh
tự nguyên sơ, vô thượng trí tuệ, cái chân trí giác ngộ
bản thể siêu việt một cách chính xác. Theo nghĩa thứ hai
này, Bồ đề tâm chỉ cho tất cả tâm vương tâm sở của
Bốn trí vì tất cả tâm này đều có cái tuệ giác Bồ đề.
Ngoài ra, phân tích riêng, thời Bồ đề chỉ cho tuệ tâm sở,
và tâm chỉ cho tất cả tâm vương tâm sở của Bốn trí.
Vì hệ thống tâm vương tâm sở của trí nào cũng có tuệ
tâm sở, cho nên hệ thống nào cũng gọi là Bồ đề tâm.
Gia
hành là tu hành Phật đạo để làm thanh tịnh trong sạch các
pháp. Gia hành là quá trình hoạt động tu tập trải qua các
địa vị tu chứng, tu tập thiền định về ba mươi bảy phẩm
trợ Bồ đề, mười địa, mười ba-la-mật, và các pháp hỗ
trợ Thánh đạo, v..v... . Hễ đoạn chướng chứng chân bao
nhiêu thời chân như thật tướng hiện hành, nghĩa là Bồ
đề phát hiện bấy nhiêu. Từ Sơ địa khi sự đoạn chứng
phát, các địa phát triển cho đến Phật địa thời viên
mãn được Pháp thân, tức là bản giác hay tâm thể chân như.
Với
đẳng thức “Bồ đề tâm = gia hành” lấy Chân như làm
nền tảng, Phật tính luận đã đồng nhất hoạt động tâm
lý (dục tâm sở; tuệ tâm sở; tâm vương tâm sở của Bốn
trí) và hoạt động tôn giáo (tu tập và thiền định) với
dụng ý thuyết minh cái diệu lý “tu tánh bất nhị môn”.
Tánh là cái bản tánh tự nhiên không biến đổi của chúng
sinh tức Phật tánh. Tu là sửa trị, tạo tác. Do sự tu mà
hòa hợp với tánh, mà trở về Chân như, mà thấy Phật tánh,
cho nên gọi là bất nhị. Nói cách khác, Phật tánh là tu hành
Phật đạo.
Tùy
theo giai đoạn tu tập, Phật tánh có ba. Một, trụ tự tánh
tánh hay tánh Phật tự tánh trụ, tức lý Chân như, tự tánh
thường trụ mà không biến đổi; hết thảy chúng sinh vốn
có tánh đó. Hai, dẫn xuất tánh, hay tánh Phật dẫn ra: Chúng
sinh nhờ nỗ lực tu tập trí tuệ thiền định mới dẫn phát
ra được cái tánh Phật vốn có. Ba, chí dắc tánh hay tánh
Phật tới khi đắc quả: Nhân duyên tu hành đầy đủ, tới
khi được quả vị, thời cái tánh Phật hiển hiện rõ ràng.
Phật
tánh là Chân thật tánh.
Ngoài
thuyết Tam nhân Phật tánh, Phật tính luận còn dùng thuyết
Tam tính Tam vô tính của Du già để thuyết minh bản thể của
Phật tánh. Trong Luận, danh từ dùng để chỉ tam tính và tam
vô tính có khác với danh từ thường dùng trong Duy thức, và
Như Lai tính có nghĩa là Phật tánh (sẽ bàn đến trong phần
“Phật tánh là Như Lai tạng”)
Trước
hết, Luận bàn đến ba vô tính của Phật tánh để xác quyết
ngay bản thể vô vi của Phật tánh là tánh Không. Dưới đây
là đoạn văn giải thích ba vô tính.
“Ba
vô tính là Vô tướng tính, Vô sinh tính, và Vô chân tính.
Ba tính này thâu nhiếp hết Như Lai tính. Vì sao? Vì ba tính
này thông làm thể.
Vô
tướng tính là sự kiện tất cả các pháp chỉ là những
cái được hiển lộ bởi danh ngôn, mà tự tính vốn không
có tướng mạo.
Vô
sinh tính có nghĩa là tất cả các pháp do nhân duyên mà sinh,
chứ không do tự nó mà sinh, tự và tha [sinh] đều không thành
tựu.
Vô
chân tính là vì tất cả các pháp lìa tướng chân; không có
thật tính nào khác nữa để có thể được nhận thức.”
(Đại 31. Tr. 794a-b. Tuệ Sỹ dịch)
Sau
khi phóng chiếu cái nhìn như thật (Yathabhùtam) vào bản thể
vô vi của Phật tánh trên quan điểm phi hữu, bây giờ Luận
bàn đến Phật tánh trên quan điểm hữu.
Có
ba tính: phân biệt, y tha và chân thật.
Phân
biệt tính là tùy giả thuyết của danh ngôn mà lập làm phân
biệt tính. Nếu không có danh ngôn này, thì tính phân biệt
không thành. Do đó, nên biết tính này chỉ là cái được
hiển thị bởi danh ngôn, thật không có thể tướng.
Y tha
tính là đạo lý được hiển thị bởi mười hai nhân duyên.
Vì nó làm y chỉ cho tính phân biệt, nên lập làm y tha tính.
Chân
thật tính là Chân như của hết thảy các pháp, cảnh của
trí vô phân biệt của Thánh nhân; vì để thanh tịnh hai tính
(phân biệt và y tha), giải thoát thứ ba (chân thật), hoặc
dẫn xuất hết thảy các đức, nên lập làm chân thật tính.”
(Đại 31. Tr. 794b. Tuệ Sỹ dịch)
Tính
có nghĩa là gì? Ba tính là ba tính cách có, do quan sát mọi
mặt của mỗi pháp hữu vi mà nói chứ không phải có riêng
ngoài mỗi pháp ấy. Giải thâm mật kinh, Thích Trí Quang dịch,
cho thấy Phật nói có thời cái có ấy là thế nào:
“Tánh
của các pháp đại lược có ba mặt: một là biến kế chấp
tánh, hai là y tha khởi tánh, ba là viên thành thật tánh. Biến
kế chấp tánh là thế nào, là tự tánh và sai biệt của các
pháp (nghĩa là đặc tính và cọng tướng), được giả thiết
bởi danh từ, cho đến làm cho theo đó mà phát sinh ngôn ngữ.
Y tha khởi tánh là thế nào, là đặc tính duyên sinh của các
pháp, cái này có thời cái kia có, cái này sinh thời cái kia
sinh, khởi từ 'vô minh duyên sinh hành', cho đến 'Như vậy
là toàn bộ khổ uẩn tập khởi'. Viên thành thật tánh là
thế nào, là Chân như nhất quán của các pháp, Chân như mà
Bồ tát phải do các duyên tố tinh tiến dũng mãnh, tác ý đúng
lý và tư duy không ngược mới thông đạt, bằng vào sự thông
đạt này mà tuần tự tu tập, cho đến vô thượng chánh biến
giác mới chứng ngộ viên mãn.”
Như
vậy, biến kế (Phân biệt tính) là vọng hữu, tức có một
cách sai lầm. Y tha (Y tha tính) là giả hữu, tức có một cách
tương đối, và viên thành (Chân thật tính) là thật hữu,
tức có một cách đích thực. Nhưng ba tính ấy là sắc thái
của tâm giới hay của vật giới? Nhiếp luận nói ba tính
là sắc thái của các pháp sở tri.
HT
Thích Trí Quang giải thích: “Sở tri nghĩa là được biết
đến. Pháp nghĩa là khái niệm, một pháp là một khái niệm.
Cây bút là một pháp, mà cây bút dài hay ngắn, trắng hay đen,
cũ hay mới, tốt hay xấu, cũng toàn là một pháp. Một ý tưởng
là một pháp, mà ý tưởng ấy thiện hay ác, đúng hay sai,
lợi hay hại, mê hay ngộ, cũng toàn là một pháp. Thế nên
pháp bao gồm tất cả có không, tâm vật, nhiễm tịnh, thiện
ác, mê ngộ, thánh phàm. Các pháp ấy là những đối tượng
được biết, và luận này (Nhiếp luận) nói là ba tánh, đó
gọi là các pháp sở tri.”
“Nay
hãy nói đơn giản nhất thời ba tánh là nói tính cách không
gian của các pháp. Mỗi pháp đều cùng lúc có ba tánh, và
được ví dụ như sau. Như sợi dây gai phải do chỉ gai mới
có, đó là y tha (y tha tính; do yếu tố mới có); sợi dây
gai ấy, trong đêm tối hay từ đằng xa, mắt nhìn không rõ
thì thấy là con rắn, đó là biến kế (phân biệt tính; đối
tượng chỉ tưởng tượng); sợi dây gai ấy nếu ban ngày
và mắt nhìn rõ thì thấy là chỉ gai, đó là viên thành (chân
thật tính; đối cảnh rất chính xác). Nhiếp luận nói sợi
dây gai ấy nếu được biết rõ là sắc hương vị xúc, đó
là viên thành.”
Bây
giờ đặt câu hỏi ngược lại như trong đoạn văn sau đây
trong Phật tính luận.
Hỏi:
Nếu không có Chân thật tính, thì có lỗi gì?
Đáp:
Nếu không có Chân thật tính, thì hết thảy một cách toàn
diện cảnh thanh tịnh không thể thành tựu được.” (Đại
31. Tr. 795b. Tuệ Sỹ dịch)
Chân
thật tính có thể nhận chân như chủ thể hay khách thể,
nên câu trả lời bao gồm hai nghĩa. Một, nếu không có chủ
thể Chân thật tính, thời không bao giờ thành tựu sự chứng
nghiệm sắc thái thanh tịnh của tâm thức. Hai, nếu không
có khách thể Chân thật tính, thời sắc thái thanh tịnh của
thế giới là phi hữu. Trả lời như vậy là không phân biệt
thực tại khách quan và tâm thức chủ quan. Đó là một thí
dụ điển hình về cách phát biểu kinh nghiệm quán tưởng
về sự không khác giữa thức và danh sắc, giữa tâm trong
định và ấn tượng được thấy trong định. Trong kinh Giải
thâm mật, có đoạn nói về sự không khác giữa kinh nghiệm
tâm linh với kinh nghiệm giác quan.
“Đại
bồ tát Từ thị thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, ấn tượng
chánh định của quán cùng với tâm thức chánh định ấy
nên nói có khác hay nên nói không khác? Đức Thế tôn dạy:
Thiện nam tử, nên nói không khác. Bạch đức Thế tôn, vì
sao không khác? Thiện nam tử, vì ấn tượng ấy chỉ là tâm
thức. Như Lai nói cái gì thức biết thì cái ấy chỉ do thức
hiện. Bạch đức Thế tôn, nếu ấn tượng tâm thức không
khác tâm thức thì làm sao tâm thức trở lại nhận thấy tâm
thức? Thiện nam tử, ở đây không có chút pháp nào nhận
thấy chút pháp nào, nhưng chính tâm thức khi sinh ra thế nào
thì hình thành đối tượng thế ấy. Như có kẻ nhờ mặt
gương trong sáng rồi chính thân mình làm duyên tố mà thấy
thân mình, nhưng bảo mình thấy hình ảnh, lại bảo hình ảnh
đó biệt lập với thân mình. Tương tự như vậy, khi tâm
thức sinh ra thì thấy như có ấn tượng chánh định biệt
lập hình thành. Bạch đức Thế tôn, như vậy thì chúng sinh
ở trong đặc chất của mình (chứ không phải ở trong chánh
định) mà nhận thức sắc thanh hương vị xúc pháp, ấn tượng
ấy với nhận thức ấy cũng không khác nhau chăng? Thiện nam
tử, cũng không khác nhau. Nhưng kẻ ngu ngơ thì vì ảo giác
thác loạn, không nhận thức ấn tượng một cách đúng như
sự thật của chúng chỉ là tâm thức, nên sinh ra ngộ nhận.”
Ba
tính chỉ cho thấy những cách thức sự vật biểu hiện tùy
theo hình thái nhận thức. Thật ra, sự vật trong thực tại
là thế (như thị), nghĩa là hiện hữu theo cách thức của
chúng. Nhưng khi được nhìn vào, chúng thường biểu hiện
ứng với cách ta lượng biết chúng. Vật lý gia Heisenberg cũng
công nhận như vậy. Ông viết: “Cái ta quan sát không phải
là thực tại mà là cái thực tại biểu lộ ứng với cách
ta đặt vấn đề.”
Trong
mỗi tính, đều có cả nhận thức lẫn đối tượng hòa hiệp
nhau. Trong một đoạn chú thích kinh Giải thâm mật, HT Thích
Trí Quang nói đến sự biểu hiện của đối tượng nhận
thức như sau.
“Thường
nói các pháp thời chính chữ pháp nghĩa là khái niệm; mỗi
pháp là một khái niệm, và khái niệm này phân tách mà nói
thời là nhận thức của đối tượng và đối tượng của
nhận thức, nhưng thật ra hai phần này là nhận thức hóa
đối tượng và đối tượng hóa nhận thức, hình thành lẫn
nhau và toàn là nhận thức. Trong đối tượng của nhận thức
gồm có đối tượng (tướng) và sự biểu thị của nó (danh),
cùng với nhận thức của đối tượng nữa (phân biệt).”
Như
vậy, phân biệt tính chỉ cho thấy một chủ thể vọng tưởng
phân biệt và một thực tại bị cắt thành từng mảnh vụn,
mỗi mảnh được chỉ định một vị trí trong không gian và
thời gian, khuôn vào một khái niệm, và gán cho một tên gọi.
Đối tượng chỉ tưởng tượng, không thật, mà biểu hiện
như thật có. Chủ thể đã lầm lẫn thời đối tượng cũng
sai lạc. Y tha tính chỉ cho thấy một chủ thể biết nhìn
thực tại dựa trên nguyên tắc vô thường và vô ngã và một
thế giới duyên sinh, do yếu tố mới có, trong đó không có
gì có thể tồn tại một mình. Tất cả mọi pháp đều nương
vào nhau mà tồn tại. Vạn vật không có tự ngã riêng biệt.
Chân thật tính chỉ cho thấy chủ thể là tuệ giác vô niệm
và vô phân biệt và thực tại là thực tại, không thể diễn
tả bằng khái niệm và ngôn từ. Thực tại không phải biến
kế chấp cũng không phải không biến kế chấp, không phải
y tha khởi cũng không phải không y tha khởi, không phải viên
thành thật cũng không phải không viên thành thật. Thực tại
viên mãn không thể phân biệt và bởi vì nó không viên thành
thật nên nó mới thực sự là viên thành thật, nó là nó.
Bàn
đến bản thể của ba tính, Phật tính luận nói:
“Trong
ba tính, mỗi tính đều có thật nghĩa của nó. Thật nghĩa
ấy là gì?
Thể
của phân biệt tính hằng không tồn tại (vô sở hữu). Nhưng
nghĩa này trong phân biệt tính không phải là không được
coi là thực. Vì sao? Vì danh ngôn không điên đảo (tức là
không mâu thuẫn với sự vật).
Thể
của y tha tính có mà không thật, nhưng do thức, căn và cảnh
bị (nhiễu) loạn mà có. Vì đó không phải là Chân như nên
không thật. Vì sao? Nghĩa nhân duyên không bị điên đảo,
do đó, đối với phân biệt tính thì nói là có; nhưng đối
với chân thật tính thì không thật có (phi thật hữu; hữu
bất chân thật).
Thể
của Chân thật tính, là có và không đều chân thật, vì thể
của Như như không phải có cũng không phải không (phi hữu
phi vô).” (Đại 31. Tr. 794c. Tuệ Sỹ dịch)
Theo
trên, mỗi tính đều có liên quan đến thực tại chứng nghiệm.
Trong trường hợp phân biệt tính, thực tại chứng nghiệm
chỉ là cái được hiển thị bởi danh tự giả tướng, không
thật. Thế giới sai biệt này có đó, trước mặt kẻ trí
cũng như người ngu. Kẻ trí không phủ nhận thế giới của
những giả tướng nhưng khác với người ngu ở chỗ là bác
bỏ tính chất khả thủ khả đắc của nó (vô sở hữu).
Nói
về y tha tính, Phật tính luận có đoạn: “Y tha tính có hai
mặt: tịnh và nhiễm. Mặt nhiễm là do duyên hư vọng phân
biệt mà sanh ra. Mặt tịnh thời hình thành y vào thể tánh
Chân như” (Tr. 794c) Nói cách khác, y tha là các pháp do nhân
duyên mà có, dầu là có một cách tương đối. Nơi y tha mà
thấy ngã thấy pháp thời đó là phân biệt, có mà chỉ có
với vọng chấp, gọi là tình có lý không. Nơi y tha mà ngã
pháp vọng chấp không còn thời đó là chân thật, có mà là
có với tuệ giác, gọi là tình không lý có. Tựu trung trong
ba tính, y tha là chính.
Cuối
cùng, Chân thật tính là Chân như, là tánh Không của hết
thảy các pháp. Tánh Không là phi hữu phi vô, là Không và Bất
không. Chân thật tính không tương ưng với nhiễm pháp, mà
chỉ tương ưng với tịnh pháp. Bởi vậy, đứng về đặc
tính xa lìa tất cả nhiễm pháp mà nói thời gọi là Không.
Nhưng đứng về tự tánh thanh tịnh mà nói thời thật thể
là Có tức Bất không. Do đó, không và có đều thật. Đây
là “như thật không” và “như thật bất không” được
đề cập trong Luận Đại thừa khởi tín. Theo Luận này giải
thích thời đứng trên phương diện lý tánh tuyệt đối, Chân
như không thể kêu gọi là gì được (ly danh tự tướng),
không thể dùng lời nói luận bàn (ly ngôn thuyết tướng),
và cũng không thể dùng tâm suy nghĩ được (ly tâm duyên tướng).
Song, nếu căn cứ trên văn tự lời nói mà luận, thời Chân
như có hai nghĩa.
Một,
thật không, tức là “chỉ nói cái thể tánh rốt ráo chân
thật của Chân như. Nghĩa là, từ hồi nào đến giờ, Chân
như không có các tâm niệm hư vọng, không có tất cả các
tướng sai biệt, nói chung là thật không có các pháp tạp
nhiễm.”
Hai,
thật có, “tự thể Chân như thật có đủ công đức vô
lậu (tức nhất thế pháp). Bởi Chân như không có các vọng,
nên tức là Chân tâm. Cái Chân tâm này thường còn không biến
đổi và đầy đủ các pháp thanh tịnh, nên nói là thật có
(bất không). Nhưng cái cảnh giới thật có này cũng không
có hình tướng gì để nắm lấy được, vì nó lìa các vọng
niệm, nên chỉ có người tu chứng mới biết được thôi.”
(Luận Đại thừa khởi tín. Thích Thiện Hoa dịch giải)
Như
vậy chân thật tính và y tha tính chẳng phải khác chẳng phải
một. Vì sao? Vì khác thời hóa ra Chân như không phải là thật
tánh của y tha, còn không khác thời thật tánh Chân như hóa
ra là vô thường như y tha. Chân như thời thuần tịnh, còn
y tha thời thông cả tịnh và phi tịnh, bởi thế cho nên Căn
bản trí duyên cảnh Chân như khác với Hậu đắc trí duyên
cảnh y tha. Nếu Chân như và y tha đều là cảnh tịnh cả
hoặc phi tịnh cả, thời hóa ra Trí căn bản và Trí hậu đắc
có công dụng giống nhau!
Giống
như thí dụ tánh vô thường với các pháp vô thường không
khác không một, vì nếu là khác thời các pháp kia chẳng phải
vô thường, và nếu là một thời tánh vô thường không phải
là cọng tướng của các pháp kia. Pháp và pháp tánh, lý phải
như thế. Thắng nghĩa và thế tục đối đãi với nhau mới
có được.
Nếu
không chứng thấy tính Chân thật thời không thể thấy tính
Y tha, vì nếu chưa đạt đến tính Phân biệt là Không thời
không thể như thật biết được tính Y tha là có. Trí Vô
phân biệt chứng Chân thật tính xong, Hậu đắc trí mới có
thể liễu đạt tính Y tha như là huyễn sự. Đó là những
giai đoạn tiến tu Bồ tát đạo mà Trung quán luận đã mô
tả một cách ngắn gọn nhưng rất đầy đủ trong bài tụng
XXIV.18: “Các pháp do Duyên khởi, nên ta nói là Không, là Giả
danh, và cũng chính là Trung đạo”. Đó cũng là quá trình
tu chứng đã được nói đến trong thuyết Tam nhân Phật tánh.
Theo thuyết Tam tính Tam vô tính, Phật tánh là Chân thật tính,
là Viên thành thật tính, “là Chân như nhất quán của các
pháp, Chân như mà Bồ tát phải do các duyên tố tinh tiến
dũng mãnh, tác ý đúng lý và tư duy không ngược mới thông
đạt, bằng vào sự thông đạt này mà tuần tự tu tập, cho
đến vô thượng chánh biến giác mới chứng ngộ viên mãn.”
Phật
tánh là Như Lai tạng.
Trên
phương diện từ nguyên, chữ Hán “Phật tánh” không dịch
từ chữ Phạn, bởi thế cho nên mới có vấn đề chọn chữ
Phạn đồng nghĩa. Lúc đầu các học giả tưởng rằng chữ
đó là buddhatà hay buddhatva, thông thường tiếng Anh dịch là
Buddhahood hay Buddhaness. Nhưng sau khi so sánh các bản văn chữ
Hán có chữ Phật tánh với các bản văn tương đương bằng
chữ Phạn và chữ Tây tạng thời biết hai chữ buddhatà và
buddhatva không cân xứng với chữ Phật tánh. Ogawa Ichijò đem
so sánh hai bản văn chữ Hán và chữ Phạn của Cứu cánh Nhất
thừa Bảo tánh luận (Ratnagotravibhàga) và thấy chữ Phật
tánh thường được dùng để dịch những từ ngữ ghép với
một trong ba chữ mà ông xem như đồng nghĩa, là chữ dhàtu
(giới), như Buddha-dhàtu, Tathàgata-dhàtu, chữ gotra (dòng dõi),
và chữ garbha (tạng). Ông đề nghị nên chọn duy nhất chữ
Tathàgatagarbha (Như Lai tạng) xem như tương đối có nghĩa tương
đương với chữ Phật tánh. Shinoda thời trái lại cho rằng
chữ buddhadhàtu thích hợp hơn vì theo ông, dhàtu có nghĩa tương
đương với dharmakàya, dharmatà, và tathatà, là những chữ
hàm nghĩa cả nhân lẫn quả. Hiện nay số đông chấp nhận
ý kiến của Shinoda và đồng ý chữ “Buddhadhàtu” tương
đương với chữ “Phật tánh”, bao gồm nghĩa cả nhân lẫn
quả của sự tu hành Phật đạo. Tuy thế, chữ Tathàgatagarbha
thường vẫn được dịch sang tiếng Anh là Buddha Nature tức
Phật tánh.
Để
thuyên giải đầy đủ ý niệm Phật tánh, Phật tính luận
đã sử dụng thêm thuyết Như Lai tạng ngoài thuyết Tam nhân
Phật tánh và thuyết Tam tính Tam vô tính. Điều này không
thể tránh được vì chữ Phạn Tathàgatagarbha (Như Lai tạng)
có ý nghĩa gần giống chữ Hán Phật tánh. Theo Phật tính
luận, Như Lai tạng có ba ý nghĩa: sở nhiếp tàng, ẩn phú
tàng, và năng nhiếp tàng. Ý nghĩa thứ nhất là tạng tức
sở nhiếp.
“Tạng
tức sở nhiếp: Tạng được gọi là sở nhiếp. Phật nói,
căn cứ trên sự an trụ nơi tự tính Như Như thì hết thảy
chúng sinh đều là Như lai tạng. Như ở đây có hai nghĩa:
trí Như Như và cảnh Như Như. Cả hai đều không điên đảo
nên nói là Như Như. Nói là lai, là muốn nói rằng đến từ
tự tính. Đi đến sự chí đắc, đó gọi là Như lai. Do đó,
Như lai tính tuy được gọi tên theo nhân, nhưng cần được
hiểu tên theo quả.” (Đại 31. Tr. 795c. Tuệ Sỹ dịch)
Trong
ý nghĩa “sở nhiếp tàng”, tàng hay tạng tức sở nhiếp,
là cái được nắm giữ, được duy trì. Phật gọi cái được
nắm giữ đó là “trụ tự tính Như Như”. Điểm này nhắc
nhớ lại trong thuyết Tam nhân Phật tánh, Chân như là ưng
đắc nhân, nhân cần được chứng đắc, là cái nguyên động
lực cầu mong Niết bàn thúc đẩy mọi hành động. Trong nhân
này, trụ tự tính tánh là Phật tánh vốn có sẵn trong mọi
chúng sinh. Đoạn văn trên cũng nói như vậy: “Hết thảy
chúng sinh đều là Như Lai tạng”. Tóm lại, Chân như là bản
tánh của mọi chúng sinh, là tự thể của Phật tánh, là sở
y căn bản của Như Lai tạng.
Ý
niệm Chân như có thể quảng diễn gồm hai phần không lìa
nhau, phần chủ thể Như Như trí và phần khách thể Như Như
cảnh. Trí Như Như hay Pháp trí, là cái trí tuệ lìa khỏi
các phiền não ô nhiễm, thong dong, tự tại, nhận thức trực
tiếp các cảnh giới hiện tiền. Theo Thắng Man phu nhân, “trí
của Như Lai tạng là Không trí của Như Lai”, tức là trí
nhận thức Không tánh của Như Lai.
Cảnh
Như Như là cảnh giới của Như Lai. Kinh Lăng già có đoạn:
“Cảnh giới của Như Lai chính là cảnh giới của Như Lai
tạng được gọi tên là thức a lại da”. Giới có nghĩa
là nhân. Theo Phật tính luận, “nhân, đó là nghĩa của tạng”.
Có thể hiểu cảnh Như Như là Pháp giới tạng, vì đó là
nơi cưu mang tất cả Như Lai, và vì Như Lai là nguồn của
tất cả Chánh pháp, của hết thảy Ba thừa. Tất cả Pháp
giới xuất sinh từ đó, và cũng tồn tại trong đó. Nhưng
Pháp giới tạng cũng có nghĩa là “kho tàng Pháp giới”,
kho chứa tất cả chủng loại pháp, tất cả thành tố và
mầm giống của hết thảy các pháp. Thêm một nghĩa nữa,
Pháp giới tạng là tự thể của Pháp giới đang bị bọc
kín trong vỏ cứng phiền não.
Do
quảng diễn Chân như gồm hai phần chủ-khách trí-cảnh bổ
túc nhau mà không rời nhau nên Chân như còn được gọi là
Như Như. Đó là ý nghĩa của chữ Như trong Như Lai tạng, nói
lên tánh bất nhị của trí và cảnh trong quá trình tu chứng
của Bồ tát. Cũng có thể nói, trí Như Như là sở hành của
Bồ tát; cảnh Như Như là sở chứng của Bồ tát.
Bàn
đến chữ “Lai” trong Như Lai tạng tức là đề cập vấn
đề lúc nào Như Lai tạng, và theo đó Phật tánh, được hiểu
là nhân hay quả Bồ đề. Lai là đến từ tự tính (Chân như).
Đã đến tức đi đến nơi, và cũng có nghĩa là đạt đến
mục đích. Bởi thế chỗ nào có đến, chỗ đó có sự chứng
đắc rốt ráo (chí đắc), chỗ nào có nhân, chỗ đó có quả.
“Như lai tính tuy được gọi tên theo nhân, nhưng cần được
hiểu tên theo quả.” Vậy Như Lai tạng là đồng thời Phật
nhân và Phật quả. Điều này giải thích câu nói hết thảy
chúng sinh, kể cả phàm phu, đều là Như Lai tạng.
Phật
tánh luôn luôn bất nhị và bất biến, nơi thánh không thêm,
nơi phàm không bớt, trước sau thường còn, không sanh không
diệt, đầy đủ muôn công đức. Tuy nhiên, đối với hành
giả, Phật tánh phát hiện từ đục qua trong chuyển biến
theo địa vị tu chứng từ Sơ địa đến Thập địa. Đó
là ý nghĩa của đoạn văn sau đây trong Phật tính luận.
“Chí
đắc (Như Lai tạng ở giai đoạn chứng đắc), thể của nó
là không hai. Nhưng khác nhau do bởi trong và đục. Trong giai
đoạn nhân, do trái với hai không mà khởi lên vô minh, bị
tạp nhiễm bởi phiền não, nên nói là nhiễm đục. Tuy chưa
được hiển lộ ngay nhưng chắc chắn sẽ có thể xuất hiện,
nên nói là ưng đắc (có thể chứng đắc). Khi đạt đến
quả, nó hợp với hai không, không còn lụy bởi mê hoặc,
phiền não không làm ô nhiễm, nên nói là lắng trong. Vì quả
đã được hiển hiện nên nói là chí đắc…
Hai
thứ Phật tánh này cũng như vậy. Cũng đồng một Chân như,
không có thể dị biệt (dị thể). Nhưng do trái với lý không
mà khởi lên nhiễm trước mê hoặc, bị ô nhiễm tạp loạn
bởi phiền não, nên nói là đục. Nếu không trái với hai
không, cùng một tướng với Như, thì không khởi vô minh, phiền
não mê hoặc không nhiễm, do đó mà giả danh là trong.” (Đại
31. Tr. 795c-796a. Tuệ Sỹ dịch)
Phật
tánh ví như tánh nước. Tánh nước thời không trong mà cũng
không đục. Sở dĩ nói nước trong hay đục là để nói đến
sự vắng mặt hay sự có mặt của bùn cặn ở trong nước
mà thôi. Cũng vậy, nói đến Phật tánh trong hay đục là để
nói đến sự lìa xa hay sự hiện hữu các ô nhiễm tạp loạn
gây ra bởi chấp chướng, ngã chấp phiền não chướng và
pháp chấp sở tri chướng. Phật tánh trong là do lìa bỏ chấp
trước thông nhập lý hai không. Phật tánh đục là do vọng
tưởng mà khởi lên chấp trước. Phật tánh đục hay trong
đều đồng thể tánh Chân như cho nên không sai khác.
Về
mặt ý nghĩa “tạng tức sở nhiếp”, tạng ví như hạt
nhân, như cái phôi thai, cái mầm giống để nảy sinh Như Lai
sau này. Phật tính luận giải thích: “Về chữ tạng, hết
thảy chúng sinh đều được chứa đựng bên trong trí tuệ
của Như Lai (tại Như Lai trí nội), vì thế gọi trí tuệ
của Như Lai là “tạng”. Bởi trí Như Như tương ưng với
cảnh Như Như, nên chắc chắn không một chúng sinh nào bị
xuất bỏ. Cảnh Như Như cũng là sở nhiếp trì của Như Lai,
do đó gọi là sở tàng. Chúng sinh “là” (chữ Hán: “vi”)
Như Lai tạng.” (Đại 31. Tr. 796a)
Trong
đoạn văn trên, tạng được ví với trí tuệ của Như Lai.
Bảo rằng “tất cả chúng sinh đều được chứa đựng bên
trong trí tuệ của Như Lai” là muốn nói tất cả chúng sinh
đều có Như Lai tạng, tất cả đều có trí tuệ Như Lai.
Bởi cảnh và trí Như Như tương ưng nhau và vì Như Lai cũng
nhiếp trì luôn cả cảnh Như Như, do đó không thể có một
chúng sinh nào lọt ra ngoài sự nhiếp trì phổ cập ấy. Như
vậy, chúng sinh là cái được duy trì, cái được nắm giữ
trong tạng và đồng thời cũng chính là cái tạng đó: Chúng
sinh là Như Lai tạng.
Phật
tính luận còn nêu ra ba ý nghĩa của tạng. “Một, chính cảnh
vô tỷ, tối thượng về cảnh giới, vì ngoài cảnh giới
Như Như, không tồn tại cảnh giới nào khác. Hai, chính hành
vô tỷ, tối thượng về hành, vì ngoài trí này ra không còn
trí nào cao hơn nữa. Ba, chính quả vô tỷ, tối thượng về
quả chứng, vì không có quả nào vượt qua quả này. Vì quả
ấy nhiếp tàng hết thảy chúng sinh, nên mới nói chúng sinh
là Như Lai tạng.” (Tr. 796a)
Vậy
ý nghĩa Như Lai tạng bao gồm cảnh Như Như, sự tu hành Phật
đạo, và quả chứng đắc. Trước nhất, vì một thành phần
là cảnh Như Như cho nên Như Lai tạng không xa lìa thực tại
chứng nghiệm để thuần túy trở thành một nguyên lý về
tự ngã nói trong các hệ thống triết học hay đồng với
cái ngã của ngoại đạo.
Thứ
đến, sự tu hành Phật đạo được đồng đẳng hóa với
trí tuệ trong câu “chính hành vô tỷ, tối thượng về hành,
vì ngoài trí này ra không còn trí nào cao hơn nữa.” Như thế,
trí tuệ không thể là cơ sở chủ quan tịch tĩnh hay có thực
chất. Chữ trí tuệ ở đây được dùng để biểu hiện một
thứ chủ thể có công năng tác dụng tiến trình tu tập. Nói
cách khác, tu hành là một phương cách hành động và trí tuệ
là một lối tu hành riêng biệt, gọi là chính hành. Theo kinh
Thắng Man, chính hành có thể hiểu là tu hành “y nơi minh
tín, bằng tùy thuận pháp trí mà đạt đến cứu cánh”.
Cứu cánh đây là cái cái giác tánh bản nguyên tức Phật
tánh bị phiền não ô nhiễm.
Cuối
cùng, thành phần thứ ba của Như Lai tạng là quả chứng đắc,
là thấy được Phật tánh với vô biên công đức. Quả này
nhiếp tàng tất cả chúng sinh; tất cả chúng sinh đều là
Như Lai tạng, nghĩa là xưa nay chúng sinh ai cũng có sẵn Phật
tánh, ai cũng là Phật.
Ý
nghĩa thứ hai của Như Lai tạng là tạng tức ẩn phú.
“Tạng
tức ẩn phú: Như Lai tự ẩn, không hiện, nên nói là tạng
hay tàng. Nói Như Lai, có hai nghĩa: (1) Có nghĩa là hiện Như
mà không điên đảo. Nhưng do vọng tưởng mà nói là điên
đảo; không vọng tưởng nói là Như. (2) Có nghĩa là hiện
thường trụ. Như tính này từ tính trụ tự tính mà đi đến
chí đắc. Thể của Như không hề đổi khác, đó là thường.
Như lai tính trụ trước giai đoạn kiến đạo thì bị phiền
não che lấp (ẩn phú), chúng sinh không nhìn thấy, do đó nói
là tạng.” (Tr. 796a. Tuệ Sỹ dịch)
Ẩn
phú là bị che dấu, nghĩa là Như Lai hay Chân như, vẫn thường
hằng hiện hữu ở đó theo nghĩa “chưa từng đến và cũng
chưa từng bỏ đi”. Nhưng phàm phu hoàn toàn không có chút
ấn tượng gì về sự hiện diện ấy. Hàng Nhị thừa thời
không hay biết, và cũng không tin là có. Hàng Bồ tát tùy theo
trình độ tu chứng mà tin nhiều hay tin ít. Hàng địa thượng
Bồ tát mới hoàn toàn tin là có. Tin chớ không thấy. Tin là
vì nghe theo lời Phật nói, và bằng vào sự quán sát của
mình mà tin.
Phật
tính luận nói, chính “Như Lai tự ẩn, không hiện, nên nói
là tạng”. Chữ “Như” về mặt nhận thức, có nghĩa là
không điên đảo [Phàm phu có bốn thứ điên đảo: vô thường,
khổ, vô ngã, và bất tịnh mà tưởng là thường, lạc, ngã,
tịnh. Tiểu thừa có bốn thứ điên đảo: Niết bàn vốn
là thường, lạc, ngã, tịnh nhưng lại thấy ngược là vô
thường, khổ, vô ngã, và bất tịnh].
Về
mặt tự thể, “Như” là tồn tại hiện tiền thường hằng
bất biến. Thầy Tuệ Sỹ viết trong Thắng Man giảng luận:
“Tổng hợp mà nói, Như Lai tạng ở đây tức là lý tính
duyên khởi, là Không tánh, quy luật mà từ đó các pháp tồn
tại và được nhận thức, tùy theo trình độ nhận thức.
Vì là lý tính, cho nên luôn luôn tàng ẩn. Và vì là lý tính
của tồn tại nên nó thường hằng tồn tại.
Tóm
lại, Như Lai tính thường hằng hiện hữu ngay hiện tiền,
trong mọi tồn tại, nhưng Như Lai tính ấy bị màng phiền
não che khuất nên chúng sinh không thấy.”
Ý
nghĩa thứ ba của Như Lai tạng là tạng tức năng nhiếp.
“Tạng
tức năng nhiếp: Đó là hết thảy công đức nhiều hơn cát
sông Hằng ở địa vị quả chứng, mà khi trụ nơi ưng đắc
tính của Như lai, thì được thâu nhiếp hết hoàn toàn. Nếu,
cho đến khi đắc quả (chí quả) mới nói là đắc tính (tính
do chứng đắc), thì tính này là vô thường. Vì sao? Vì không
phải là thủy đắc (chứng đắc về sau) cho nên biết rằng
nó là bản hữu. Do đó, nói là thường.” (Tr. 796a. Tuệ Sỹ
dịch)
Ý
nghĩa này chỉ địa vị quả chứng tức Vô thượng Bồ đề
hay Phật. Các đức Như Lai, chư Phật Thế Tôn cưu mang trong
đại bi tâm vô lượng của các Ngài tất cả phẩm tính siêu
việt, không phải chỉ riêng là những phẩm tính siêu việt
của Như Lai, mà của tất cả mọi chúng sinh. Không nên lầm
tưởng rằng những công đức của Như Lai phải đợi đến
thành Phật mới sanh, nếu thế thời hóa ra mang tính chất
vô thường! Nói cách khác, khi phát tâm Bồ đề thời đã
trưởng dưỡng công đức, nghĩa là công đức thường hằng
tăng trưởng từ khi mới phát tâm. Dù còn ở cương vị chúng
sinh, người phát tâm Bồ đề cũng đã có nền tảng nhiếp
trì vô biên công đức tánh. Như Lai tạng xứng tánh công đức
vốn có đầy đủ ở mỗi chúng sinh.
Bây
giờ hãy tóm lược những điểm trọng yếu về Như Lai tạng
được nêu ra trong Phật tính luận. Trước hết, Như Lai tạng
là Chân như. Giải thích: (1) Ý nghĩa của chữ Như trong từ
Như Lai tạng được giải thích là Như Như, tên gọi khác
của Chân như. (2) Ý nghĩa thứ nhất của Như Lai tạng là
tạng tức sở nhiếp. Phật gọi cái được duy trì là “trụ
tự tính Như Như”. Chân như bao gồm hai nghĩa, trí Như Như
và cảnh Như Như. (3) Như Lai tạng được đồng nhất hóa
với Phật tánh tức là với Chân như, vì dầu trong hay đục,
Phật tánh vẫn là Chân như. Sự đồng nhất hóa Như Lai tạng
với Chân như rất có ý nghĩa đối với thuyết Như Lai tạng.
Vì
Như Lai tạng là Chân như nên Như Lai tạng không thể là một
nguyên lý về tự ngã trong một cái ngã biệt lập với thế
giới. Lý do: Chân như là trí cảnh Như Như bất nhị, nên
chủ thể và khách thể hỗ tức hỗ nhập. Thêm nữa, đồng
nhất Như Lai tạng và Chân như có nghĩa là thể tánh của
Như Lai tạng là đối tượng trong sáng do tuệ giác trong sáng
nhận thức. Do đó, Chân như và Như Lai tạng đều là nguyên
lý của giác ngộ và của thực tại cứu cánh.
Thứ
đến, đem so sánh ba thành phần của Như Lai tạng là cảnh
Như Như, sự tu hành Phật đạo, và quả chứng đắc, với
ba nhân Phật tánh là ưng đắc nhân tức Chân như, gia hành
nhân tức Bồ đề tâm, và viên mãn nhân tức gia hành, thời
thấy ngay Chân như là tự thể của Phật tánh hay Như Lai tạng.
Như vậy, Chân như là nền tảng cho sự tu hành chuyển y của
Như Lai tạng, từ ô nhiễm trở thành thanh tịnh. Chúng sinh
là Như Lai tạng, nên ba loại tạng: chính cảnh vô tỷ, chính
hành vô tỷ, và chính quả vô tỷ, là ba giai đoạn trong quá
trình tu hành chuyển y ấy. Đó là chúng sinh, Bồ tát, và Phật.
Đoạn
văn nói về Phật tánh trong và đục nhắc lại sau đây hàm
ý vấn đề chuyển y.
“Hai
thứ Phật tánh này cũng như vậy. Cũng đồng một Chân như,
không có thể dị biệt (dị thể). Nhưng do trái với lý không
mà khởi lên nhiễm trước mê hoặc, bị ô nhiễm tạp loạn
bởi phiền não, nên nói là đục. Nếu không trái với hai
không, cùng một tướng với Như, thì không khởi vô minh, phiền
não mê hoặc không nhiễm, do đó mà giả danh là trong.” (Tr.
796a)
Hãy
so sánh với đoạn văn nói về y tha tính dùng để thuyết
minh tự thể của Phật tánh theo thuyết Tam tính Tam vô tính:
“Y tha tính có hai mặt: tịnh và nhiễm. Mặt nhiễm là do
duyên hư vọng phân biệt mà sanh ra. Mặt tịnh thời hình thành
y vào thể tánh Chân như” (Tr. 794c)
Cả
hai đoạn văn giống nhau ở chỗ đều đề cập cặp mâu thuẫn
đối nghịch, đục và trong của Phật tánh hay Như Lai tạng,
nhiễm và tịnh của y tha tính. Tu dưỡng là để chuyển đục
thành trong, chuyển bất tịnh thành thanh tịnh. Điều đáng
lưu ý là Phật tánh hay Như Lai tạng, cũng như y tha tính chỉ
có thể được nhận thức, được xác tín là hiện hữu,
bằng vào trí Như Như, là trí tuệ quán chiếu Chân như hay
Không tánh nơi hết thảy các pháp. Bằng trí tuệ quán chiếu
này, tuy nói Phật tánh bị ô nhiễm tạp loạn bởi phiền
não, hay nói nơi y tha tính mà có biến kế chấp, nhưng phiền
não vốn không có tự tính, không thực hữu, biến kế chấp
tính luôn luôn và vĩnh viễn không thật có và không đặc
tính. Nhận thức về sự hiện hữu của Phật tánh và của
Chân thật tính tức sự vắng mặt vĩnh viễn của biến kế
chấp nơi y tha tính trong trường hợp này được gọi là nhận
thức về Không tánh nơi tự thể Phật tánh hay nơi bản thể
y tha tính.
Cuối
cùng, điểm trọng yếu đặc biệt nhất về Như Lai tạng
là Phật tính luận đồng nhất chúng sinh và Như Lai tạng:
“Hết thảy chúng sinh là Như Lai tạng”. Phát biểu như vậy
có nghĩa là trước nhất đồng nhất hóa chúng sinh với Chân
như hiểu theo nghĩa trí cảnh Như Như bất nhị, rồi sau đó
mới có thể đồng nhất hóa chúng sinh với Như Lai tạng hiểu
theo nghĩa tạng tức sở nhiếp.
Phật
tính luận kê ra sau đây năm đặc tính của Phật tánh để
tóm lược những nhận định về Phật tánh tựa trên ba thuyết,
Tam nhân Phật tánh, Tam tính Tam vô tính, và Như Lai tạng.
“1.
Chân thật hữu.
2.
Y phương tiện thì có thể được thấy.
3.
Được thấy rồi thì công đức không cùng.
4.
Là vỏ (trứng) tương ưng của không tương ưng vốn không
có ban đầu. Giải thích: Không có ban đầu, vì phiền não,
nghiệp, báo thảy đều vô thủy. Nói là không tương ưng,
vì do ba cái này mà trái nghịch với Pháp thân. Nói là tương
ưng, vì do y pháp thân mà ba cái này được khởi. Nói là vỏ
(trứng) vì ba cái này hay tàng chứa Pháp thân.
5.
Thiện tính tương ưng vốn không có ban đầu là Pháp. Giải
thích: Không có ban đầu, vì tính đắc (đạt được do tự
tính) Bát nhã, Đại Bi, Thiền định, Pháp thân thảy đều
là bản hữu. Thể và dụng chưa từng rời nhau nên nói là
tương ưng. Tự tính của Pháp thân không biến cải, vì do
Bát nhã. Tính có oai đức, vì do Thiền định. Tính có khả
năng làm nhuần nhuyễn và trơn láng (nhuận hoạt), vì do Đại
bi. Do đó gọi thiện tính là Pháp.” (Tr. 811b-c. Tuệ Sỹ dịch)
Đặc
tính 1. Phật tánh được khẳng định là có một cách chân
thật, là nơi nương tựa, là chỗ thường trụ quy y của hết
thảy thế gian. Nhận thức về sự tồn tại bản hữu của
Phật tánh là động lực chính cho mọi nỗ lực mong cầu giải
thoát. Thường hằng hiện hữu, Phật tánh là chỗ điểm khởi
đầu của Bồ tát đạo, và cũng là nơi điểm cuối cùng
mà Bồ tát nhắm đến. Đó là cái đích cho những ai phát
tâm Bồ đề luôn luôn tin tưởng hướng về trải qua những
giai đoạn gian nan trên Con đường đến giác ngộ.
Đặc
tính 2. Y phương tiện thời có thể được thấy. Phương tiện
đây là tu hành Phật đạo.
Đặc
tính 3. Trong quá trình tu tập, sau khi được nhận biết, Phật
tánh hiện chứng trong sáng, thuần tịnh, đầy đủ trọn vẹn
vô biên công đức, phát hiện như là một tự thể mới, gọi
là thủy hữu. Kỳ thật, không phải là mới, vì vốn tàng
ẩn trong tự tính từ tiền tế. Theo kinh Thắng Man, Như Lai
tạng một mặt là Không, và mặt khác là Bất Không. Không
Như Lai tạng hay Phật tánh trụ tự tính là căn cứ vào đặc
tính của Như Lai tạng tuy bị phiền não ô uế trói buộc
nhưng không phải vì vậy mà hợp nhất với phiền não. Bất
Không Như Lai tạng có tất cả pháp bất tư nghị công đức
vô biên và phẩm tính siêu việt của Phật. Đó chính là Pháp
thân Phật hay chí đắc Phật tánh.
Đặc
tính 4. Như Lai tứùc Pháp thân là Phật tánh có sẵn trong
mỗi chúng sinh. Tự tính bản lai thanh tịnh ấy bị bao bọc
trong vỏ vô minh phiền não từ vô thỉ. Nếu phân tích tâm
thể, thời tâm thể sinh diệt trong từng sát na, dòng tương
tục của tâm chỉ tồn tại do vọng tưởng phân biệt. Chỉ
có dòng tương tục của tâm được nhận thức là có bị
nhiễm ô bởi vô minh phiền não, chứ tự thể của tâm là
tánh Không không hề chịu ảnh hưởng tác động gì của vô
minh phiền não ô nhiễm. Bởi thế mới nói tâm vốn không
tương ưng với vô minh phiền não. Cứ theo đặc tính này,
hành giả phải gia công tu tập phát sinh loại tuệ quán đặc
biệt phân tích tánh Không để quán chiếu vô minh phiền não
vốn không có tự tính, không thực hữu.
Đặc
tính 5. Phật tánh sẵn có trong mọi chúng sinh là bản thể
của chân tâm, từ đó lưu xuất tất cả các pháp diệu dụng,
Bát nhã, Đại Bi, và Thiền định. Đứng về mặt tánh thời
thể dụng bất tương ly nên chẳng phải khác. Do đó, chính
những tác động tác dụng Bát nhã, Đại Bi, và Thiền định
là tự thể tướng của Phật tánh và tất cả những tác
động tác dụng đó đều nhằm mục đích duy nhất là tự
giác, giác tha.
Tựa
trên ba thuyết, Tam nhân Phật tánh, Tam tính Tam vô tính, và
Như Lai tạng, Phật tính luận đã trình bày tư tưởng Phật
tánh như là cơ sở của triết lý hành động của Bồ tát
đạo. Nhờ vậy, ta hiểu rõ hơn tại sao ngay đầu sách câu
hỏi “Vì lý do gì đức Phật tuyên thuyết Phật tánh?”
đã được đặt ra.
Trước
hết, Phật tính luận giải thích Phật tánh là Như Lai tạng
và tất cả chúng sinh là Như Lai tạng. Như vậy, “Phật tánh
bình đẳng trong tất cả chúng sinh”, ngay đến Nhất xiển
đề là hạng người chấp trước trong ba cõi, phỉ báng Đại
thừa, cũng có Phật tánh.
Không
những hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh, mà hơn nữa,
hết thảy chúng sinh hiện là Phật. Phật là thể hiện cho
thật tướng, pháp tánh của tất cả pháp, thế nên Phật
xuất thế hay chẳng xuất thế giống nhau. Thật tướng, pháp
tánh, hay Phật tánh, tuy tất cả chúng sinh bình đẳng, nhưng
chỉ Phật mới hay viên mãn chứng giác. Tại sao? Kinh Hoa nghiêm
nói: “Tất cả chúng sinh đều có đầy đủ Như Lai trí tuệ
đức tướng, nhưng vì vọng tưởng chấp trước mà không
chứng đắc”.
Vậy
muốn chứng nghiệm Phật tánh, cần phải trải qua một quá
trình chuyển hóa từ thức ô nhiễm thành trí thanh tịnh. Kết
quả của sự chuyển hóa gọi là chuyển y. Do đó, trên phương
diện tu dưỡng, Phật tánh, Như Lai tạng, và chuyển y có thể
hiểu như gần đồng nghĩa. Bốn đặc tính sau đây của chuyển
y được đề cập trong Phật tính luận có thể áp dụng cho
Phật tánh: (1) Sinh y. Là điều kiện cho sự sinh khởi, làm
phát sinh dòng tương tục của Như Lai qua suốt vô tận thời
gian. (2) Diệt y. Là điều kiện cho sự diệt tận của tất
cả phiền não căn bản. (3) Thiện thục lượng quả. Là quả
sở tri đã được tư duy thành thục; sở tri tức đối tượng
nhận thức, ở đây là pháp Chân như. (4) Pháp giới thanh tịnh
tướng. Là tự thể của pháp giới vô cùng thanh tịnh.
Với
bốn đặc tính kể trên, Phật tánh biểu hiện quá trình tu
tập từ khi khởi tâm tu hành đến lúc chứng quả. Nhận định
này biện minh cho sự thành lập phương trình:
Phật
tánh = Tu hành Phật đạo
Phương
trình dẫn ra hai hệ quả quan trọng. Một, Phật tánh là hoạt
động chứ không phải là chủ thể tâm lý thường nghiệm,
không liên hệ gì với sự tồn tại của một tự ngã như
là tác giả, mà các triết gia ngoại đạo thường tin tưởng.
Hai, phương trình là một chứng lý để giải đáp thắc mắc
của một số đông thiền sinh: “Tất cả chúng sinh sẵn có
tánh Phật tức là nguyên sơ đã giác ngộ Chân tâm. Vậy chúng
sinh xưa nay là Phật, tại sao còn phải khổ công tu hành?”
Thắc mắc này tạo nên một mối nghi tình lớn đối với
cái đích của tất cả mọi sự tu hành theo Đại thừa và
cái bản thể của các sự tu hành ấy. Chính mối nghi tình
này đã mãnh liệt thúc dục thiền sinh trẻ tuổi Đạo Nguyên,
sau này là sáng tổ tông Tào Động Nhật bản, bạt thiệp
hiểm nguy tìm đến Thiền sư hướng dẫn Như Tịnh ở Trung
Hoa, tu tập cho đến khi chứng ngộ con đường tu hành chân
chính theo Trung đạo đệ nhất nghĩa đế.