9. Vô thường
tức thị Phật tánh
Bản
giác và Thỉ giác.
Trong
kinh Vô thượng y, có ba từ được hiểu như gần đồng nghĩa:
Bồ đề, Như Lai tạng, và chuyển y. Phật tính luận lại
giải thích Phật tánh chính là Như Lai tạng, dẫn đến quan
niệm Phật tánh là chuyển y với bốn đặc tính được đề
cập trong Phật tính luận. Đó là (1) sinh y, nguyên nhân của
Phật đạo, (2) diệt y, điều kiện cho sự diệt tận tất
cả phiền não căn bản, (3) thiện thục lượng quả, biểu
lộ thành thiện hạnh, tôn kính, và trí Như Như, và (4) Pháp
giới thanh tịnh tướng, tự thể của Pháp giới chứng ngộ
là vô cùng thanh tịnh. Như thế, Phật tánh được nhận thức
một mặt là tự tính thanh tịnh của Pháp giới, và mặt khác
là quá trình hoạt động tu tập từ khi phát khởi tâm Bồ
đề đến lúc chứng đạt quả vị. Sau này, thuyết tu chứng
nhất đẳng của Đạo Nguyên có thể xem như bắt nguồn từ
đó.
Đạo
Nguyên là người truyền nhập tông Tào Động (Sôtô) từ Trung
Hoa vào Nhật bản năm 1127 và nhờ những nỗ lực đáng ghi
nhận của ông trong việc khai sáng và dẫn đạo nên ông được
tán dương như một sáng tổ xuất sắc của Thiền Nhật trong
thời đại Kiếm thương (Kamakura). Ông bác bỏ hết thảy mọi
hình thức sinh hoạt Phật giáo đương thời tại Nhật bản
mà ông cho là không đích thật đúng như lời Phật dạy. Thay
vào đó, ông truyền giảng giáo lý theo kinh nghiệm chứng ngộ
của bản thân trong thời gian tu học với Như Tịnh, một thiền
sư Trung Hoa đời Tống (1163-1228). Theo ông, giáo pháp mà ông
thể nghiệm và truyền bá là chánh pháp được đức Phật
và chư Tổ trực chỉ tâm truyền. Về phương pháp Thiền,
ông chủ trương “tọa thiền” (zazen) là con đường chân
chánh đưa đến chứng ngộ trọn vẹn lý tánh của pháp Phật.
Tọa thiền được thừa nhận như một pháp môn chân truyền
từ sơ tổ Thiền Trung Hoa là Bồ Đề Đạt Ma và bắt nguồn
từ giáo lý Giác ngộ của đức Phật Thích Ca. Trái ngược
với quan điểm của đa số đương thời đinh ninh đang sống
vào thời mạt pháp, ông tin tưởng thời đại của ông vẫn
là thời chánh pháp, có nghĩa là giáo lý Phật vẫn còn được
truyền giảng, vẫn có hành giả tinh tấn tu tập, đạt được
trí tuệ lớn, và chứng được Niết bàn. Tuy ý nghĩ có hơi
quá đáng, nhưng ta không thể không nghĩ rằng trong sự quyết
tâm tạo dựng một dòng Thiền hợp với đời sống tâm linh
của Nhật bản, Thiền sư Đạo Nguyên quả đã muốn noi gương
Tổ Bồ Đề Đạt Ma, sáng tổ của tông Thiền Đông Độ
ở Trung Hoa.
Để
biết rõ quan điểm của Đạo Nguyên về Phật tánh, tưởng
nên tìm hiểu những kinh nghiệm tự thân tu chứng của ông
từ khi mới xuất gia tu học theo Thiên thai tông (Tendai) ở
núi Tỉ Duệ (Hiei). Trong thời gian mới tu học, Đạo Nguyên
lúc ấy còn trẻ, phát hiện một mối nghi tình lớn đối
với cái đích của tất cả mọi sự tu hành theo Đại thừa
và cái bản thể của các sự tu hành ấy.
Tưởng
cũng nên giải thích ý nghĩa của những danh từ giác, bất
giác, bản giác, và thỉ giác liên hệ đến nghi tình của
Đạo Nguyên. Theo luận Đại thừa khởi tín, tâm sinh diệt
là mặt chuyển biến của Tâm chúng sinh. Nơi chúng sinh, mặt
chuyển biến (sinh diệt) là Như Lai tạng chuyển danh a lại
da thức, chủ thức làm căn bản y của các pháp. A lại da
thức có hai mặt: tuệ giác và bất giác. Tuệ giác là tâm
thể tách rời phân biệt, chỉ cho bản thể Chân tâm lìa các
vọng niệm. Chính là tánh Phật thuần chơn, gọi là Pháp thân
bình đẳng của Như Lai. Pháp thân này là tuệ giác tất cả
chúng sinh vốn có, nên gọi là Bản giác. Giác là tuệ giác
chính xác. Bất giác là tuệ giác sai lầm hay không phải tuệ
giác tức vô minh. Thỉ giác là tuệ giác mới có, hay tuệ
giác phản giác, hay tự giác, bởi vì giác ngộ cái bất giác.
Như vậy giác là giác ngộ tâm thể siêu việt phân biệt.
Nói cách khác, giác là chính tâm thể ấy. Bất giác là chính
phân biệt, là giác mà không giác tâm thể, giác mà giác sai.
Thỉ
giác có bốn trạng thái mà cũng là bốn giai đoạn tu hành.
Một là giả danh giác, cái giác chưa thật là tuệ giác, chỉ
mới là cái biết biết sự nghĩ xấu mà đình chỉ sự nghĩ
ấy đi. Hai là tương tợ giác, cái giác biết các phạm trù
đối kháng nhau là không phải tâm thể, nên chỉ phân biệt
tâm thể mà thôi. Ba là tùy phần giác, cái giác biết phân
biệt tâm thể là đối tượng hóa tâm thể, nên hủy cả
sự đối tượng hóa ấy. Bốn là cứu cánh giác, tách rời
phân biệt mà hội nhập tâm thể. Giả danh giác là cái giác
của chúng ta. Tương tợ giác là của Nhị thừa và Bồ tát
mới phát tâm. Tùy phần giác là của Bồ tát trong mười địa.
Cứu cánh giác là Phật địa.
Tóm
lại, do đối đãi nhau nên giả lập ra có nhiều tên: bản
giác (tuệ giác vốn có) là đối với thỉ giác (tuệ giác
mới có) mà lập, thỉ giác nhân bất giác mà có, bất giác
lại nhân bản giác mà sinh. Tựu trung chỉ có tánh giác mà
thôi.
Giáo
lý của tông dạy rằng từ ban sơ, tâm chúng sinh vốn không
bất giác nên gọi là bản giác. Phật nghĩa là giác, tánh
nghĩa là tâm. Do cái thể của tâm này không phải là bất
giác nên gọi là giác tâm hay Phật tánh. Đạo Nguyên thắc
mắc: “Tất cả chúng sinh sẵn có tánh Phật tức là nguyên
sơ đã giác ngộ Chân tâm. Vậy chúng sinh xưa nay là Phật,
tại sao còn phải khổ công tu hành?” Có thể hiểu ý ông
muốn nói: Phật tánh là pháp tánh đồng nhất, là thật thể
bất nhị, như vậy tại sao không chỉ nghĩ nhớ Phật tánh
mà còn cần phải tu học thiện hạnh?
Lật
ngược vấn đề, ông lại đặt câu hỏi: “Nếu ý chí và
tu tập quả thật cần thiết để diệt vọng duyên chứng
ngộ Chân tâm thời tại sao lại bảo chúng sinh sẵn có Phật
tánh? Tại sao lại giảng dạy Phật tánh là bản giác, là
tự tánh thanh tịnh tâm của hết thảy chúng sinh vốn không
bất giác?”
Câu
hỏi được nêu ra như vậy có thể là do nhận thức Phật
tánh hay Chân tâm như một thật thể tự hữu không nương
nhờ tu tập. Có thể là do lầm tưởng rằng bản giác là
một thật thể siêu việt thời gian và không gian, một cái
gì nắm bắt được mà không cần dùng vô số phương tiện
để dẹp trừ phiền não và tu các pháp lành. Trên quan điểm
nhận thức mọi hữu đều có tự tính, ngay cả ý chí mong
cầu và nỗ lực tu tập để giác ngộ cũng bị đối tượng
hóa thành những thật thể độc lập, đơn độc, tự hữu.
Do đó mới kết luận là các pháp đều thật cho nên cái trí
biết các pháp cũng thật, cần gì phải tu dưỡng.
Lỗi
lầm đối tượng hóa tu và chứng thành những thật thể có
yếu tính quyết định cũng là do muốn tìm hiểu và phân tích
cảnh giới thực chứng bằng ngôn thuyết (luận lý và ngôn
ngữ) của thế giới phân biệt chấp trước, thuộc vào hệ
thống nhân quả đối đãi nhị nguyên. Thế giới thực chứng
này là thế giới vô phân biệt, chỉ được nhận biết phần
nào qua hệ thống duyên khởi mà thôi. Tu và chứng không theo
con đường nhân quả, nhân tu sanh chứng, nhân chứng phát tuệ.
Cần hiểu rằng chúng được thể hiện qua định thức duyên
khởi, “cái này có thời cái kia có, cái này không thời cái
kia không, cái này sanh thời cái kia sanh, cái này diệt thời
cái kia diệt”. Đây là con đường của hiện khởi tùy duyên.
Thời tiết nào có tu hành giới-định thời thời tiết đó
có chứng ngộ Chân tâm. Thời tiết nào Phật tánh hiển thị
thời thời tiết đó có tu hành giới-định. Sự hiện hữu
của chúng luôn luôn tùy thuộc tất yếu vào nhau, không có
cái nào trước, cái nào sau cả.
Lại
nữa, lỗi lầm sinh ra là vì không phân biệt rõ ràng giữa
hai khái niệm, căn bản y hay nguyên nhân của sinh mệnh và
điều kiện hay thời tiết để thành Phật. Theo Đại thừa
Phật giáo, cả Phật tánh lẫn sự phát tâm Bồ đề và tinh
tấn tu hành đều tối cần thiết trong tiến trình tu tập
dẫn đến chứng ngộ. Tuy nhiên, cần thiết theo hai nghĩa khác
nhau. Phật tánh thời cần thiết như là cội nguồn hay nguyên
nhân, còn phát tâm Bồ đề và tinh tấn tu hành thời cần
thiết như là điều kiện hay thời tiết của sự chứng ngộ.
Vì quen thói thủ đắc theo nhị biên cho nên thường chỉ chú
trọng đến ứng dụng của nghĩa này mà không quan tâm đến
ứng dụng của nghĩa kia, hoặc hiểu lầm nghĩa này là nghĩa
kia hay ngược lại.
Chẳng
hạn như mối nghi tình của Đạo Nguyên phát xuất từ sự
chấp trước Phật tánh là Thực tại siêu việt thời gian
và không gian và căn bản y của sự chứng ngộ. Đạo Nguyên
không tin rằng sự cần thiết quyết tâm tu tập và tinh tấn
hành trì bị ràng buộc trong giới hạn thời gian và không
gian là điều kiện tất yếu để chứng nghiệm Phật tánh.
Đối với Đạo Nguyên, Phật tánh là đương thể hiện thành
của bản giác, tiên thiên chuyên cầu thành Phật, thời đâu
cần phải qua trung gian của sự quyết tâm và hành trì mới
giác ngộ được.
Đối
lập với thiên kiến bản giác của Đạo Nguyên là thiên kiến
thỉ giác cho rằng sự quyết tâm tu tập và tinh tấn hành
trì trong không gian và thời gian mới là nguyên nhân của sự
chứng ngộ. Phật tánh trở thành chỗ đến của một quá
trình tiến tu đầy thử thách, là mục đích mưu cầu của
sự quyết tâm và hành trì. Phật tánh tuy được chứng ngộ
nơi biên tế của không thời gian nhưng vẫn không được xem
là vượt ra ngoài giới hạn của không thời gian.
Mối
nghi tình về quan hệ giữa quyết tâm hành trì và Phật tánh,
giữa tu tập và chứng ngộ theo yếu chỉ Thiên thai tông đã
mãnh liệt thúc dục Đạo Nguyên bạt thiệp hiểm nguy tìm
đến Thiền sư hướng dẫn Như Tịnh ở Trung Hoa, tu tập cho
đến khi chứng ngộ con đường tu hành chân chính theo Trung
đạo đệ nhất nghĩa đế.
Trong
tập ký sự Hòkyòki ghi lại những lần đối thoại với tôn
sư Như Tịnh, Đạo Nguyên viết: “Tâm mong cầu giác ngộ
dấy khởi nơi tôi rất sớm. Trên đường tìm thầy học đạo
tôi đã đến gặp nhiều vị thiền sư trong nước tôi và
học hỏi biết thêm được phần nào bản tánh nhân duyên
sinh của thế giới. Nhưng đến nay mục đích trung thực của
tam bảo đối với tôi vẫn chưa sáng tỏ. Tôi đã uổng công
chấp vào chỉ danh và tướng mà thôi.” Nói như thế có nghĩa
là Đạo Nguyên tự nhận đã bị cùm xích trong khuôn khổ
nhận thức và ngôn ngữ văn tự của các giáo thuyết nên
không làm sao chứng đạt được Chân tâm và cảm thấy cách
biệt xa vời với cái thực thể của chính mình mà ông hằng
tâm nguyện thể nghiệm, tự chứng.
Tu
chứng nhất đẳng.
Ông
dứt được nghi tình khi bản thân thực chứng trạng thái
“thân tâm thoát lạc” (shinjin-datsuraku; thân tâm tan rã).
Để hiểu trạng thái tâm chứng này, hãy đọc đoạn văn
tiếng Phạn trong kinh Hoa nghiêm diễn tả tâm trạng của Thiện
Tài đồng tử thấy lâu các Tỳ Lô Giá Na Trang Nghiêm Tạng
có bất tư nghì cảnh giới tự tại và được Tuệ Sỹ dịch:
“Thiện Tài đồng tử tưởng chừng như thân và tâm của
mình hoàn toàn tiêu giải; thấy rằng hết thảy mọi tâm niệm
rời khỏi tâm thức của mình; tâm không chút vướng mắc,
và tất cả những ngây ngất tan biến hết” (Thiền luận.
D. T. Suzuki. Tập Hạ). Cảm giác này được nói đến trong
đoạn kinh Hoa nghiêm sau đây, bản chữ Hán, Phẩm 39: Nhập
Pháp giới, Thích Trí Tịnh dịch: “Thiện Tài đồng tử thấy
lâu các Tỳ Lô Giá Na Trang Nghiêm Tạng có bất tư nghì cảnh
giới tự tại như vậy, lòng rất vui mừng, hớn hở vô lượng,
thân tâm nhu nhuyến, rời tất cả tưởng, trừ tất cả chướng,
diệt tất cả hoặc, chỗ thấy chẳng quên, chỗ nghe đều
nhớ, chỗ nghĩ chẳng tạp, chứng nhập môn vô ngại giải
thoát, vận dụng tâm cùng khắp, thấy cùng khắp, kính lễ
cùng khắp.”
Nhà
hiền triết Liệt Tử hình dung tâm trạng ấy một cách bóng
bẩy hơn: “Tôi để tâm trí tôi mặc tình muốn nghĩ gì thì
nghĩ, miệng tôi mặc tình muốn nói gì thì nói; lúc ấy tôi
không còn nhớ cái này hay cái kia là của tôi hay của người,
không còn biết hơn thiệt thị phi gì nữa; thậm chí tôi không
biết nốt thầy tôi là ai, bạn tôi là ai. Trong và ngoài, tôi
hoàn toàn đổi khác hết; lúc ấy tự nhiên mắt biến thành
tai, tai biến thành mũi, mũi biến thành miệng, tất cả đều
giống nhau hết. Tâm trí tôi ngưng tụ lại, còn hình thể
thì tiêu tan, thịt xương hóa sương khói; tôi không còn biết
thân hình tôi dựa vào đâu, chân tôi đứng chỗ nào; tôi
cỡi gió mà đi, khắp chốn, đông tây, như chiếc lá lìa cành;
tôi không biết tôi cỡi gió, hay gió cỡi tôi”. (Thiền luận.
D. T. Suzuki. Tập thượng. Trúc Thiên dịch)
Muốn
hiểu trạng thái thân tâm thoát lạc một cách hiện thực,
hãy đọc một đoạn bài 'Pháp dạy người của Thượng sỹ
Tuệ Trung', trong đó Tuệ Sỹ giới thiệu Thượng sỹ Tuệ
Trung là người hướng dẫn chúng ta quét sạch các thế lực
vô minh đang bao phủ và thủ tiêu mọi kiến giải có được
về khái niệm, về nhị nguyên, về nhân quả, v..v... trong
cuộc sống trần gian này của mỗi chúng ta. Tuệ Sỹ viết:
“Vấn đề sai lầm của chúng ta là từ bỏ thế giới hiện
thực đang sống để đi tìm một thế giới vĩnh cửu nào
đó ở bên ngoài thế giới này. Từ đó chúng ta dựng lên
một thế giới ngăn cách giữa phiền não và Bồ đề, giữa
mê và ngộ, giữa phiền não trói buộc và giải thoát, giữa
Phật và chúng sinh, giữa sanh tử và niết bàn, giữa sắc
thân và pháp thân, giữa phàm phu và Thánh, cho nên đẻ ra quan
niệm nhị nguyên, và chấp nhận chúng như là một thực tại
cần phải vươn tới, mà không biết đó là giả danh do con
người phân biệt đặt ra. Ở đây Thượng sỹ mời người
đối thoại đi thẳng vào thế giới hiện thực đang sống
để thực chứng bằng cách tháo gỡ mọi bức tường phân
biệt chấp trước đang vây quanh. Ông bảo ranh giới phân biệt
là nguồn gốc của mọi sự ràng buộc sai lầm, nó là sợi
dây ràng buộc chúng ta trong sanh tử luân hồi đau khổ. Hãy
phá tung mọi ranh giới chấp trước phân biệt, và sống với
cái Đang-là hiện hữu, nghĩa là phải sống theo “Tùy duyên
pháp hợp, xứng vật dụng thành; tùy duyên pháp biến, theo
vật dụng thông”. Ông nói tiếp:
Từ
không hiện có, có-không thông,
Có
có, không không cứu cánh đồng;
Phiền
não Bồ đề vốn không khác,
Chân
như vọng niệm thảy đều không.
Thân
như kính huyễn, nghiệp như ảnh,
Tâm
như gió mát, tánh giống bồng;
Đừng
hỏi tử sanh, ma giống Phật,
Muôn
sao hướng Bắc, thủy triều Đông.”
Khi
còn học Thiền ở Trung Hoa, Đạo Nguyên thường được tôn
sư bảo cho rằng: “Thân tâm thoát lạc, thoát lạc thân tâm”
(shinjin-datsuraku, datsuraku-shinjin; thân tâm tan rã, tan rã thân
tâm). Ông lặp lại ý tưởng này trong các bài thuyết pháp
của ông: “Tan rã! Tan rã! Hết thảy các ngươi phải một
lần kinh nghiệm qua tình trạng này; nó như dồn trái cây vào
một cái giỏ lủng đáy; hay rót nước vào một cái bát thủng
lỗ. Dù các ngươi có dồn hay rót bao nhiêu, cũng chẳng thể
đầy được. Khi nhận ra thế, chúng ta có thể nói, cái đáy
thùng bị bể rồi. Bao lâu còn có một dấu vết tâm thức
khiến các ngươi nói rằng: 'Tôi lãnh hội như thế này hay
tôi nhận thức như thế kia', thì các ngươi vẫn còn đùa
với những cái bất thực.” (Thiền luận. D. T. Suzuki. Tập
Hạ. Tuệ Sỹ dịch giải)
Đạo
Nguyên giải quyết được vấn đề quan hệ giữa quyết tâm
hành trì và Phật tánh ngay trong giây phút thực chứng “thân
tâm tan rã, tan rã thân tâm”. Hai mặt đối nghịch: chứng
ngộ và tu hành, Phật tánh và Hiện thành Phật, đều cần
yếu như nhau, và hỗ tương tác động theo lý nhân duyên. Bởi
vậy, để mô tả theo định thức duyên khởi những quan hệ
tác động giữa những trạng thái đối nghịch và cần yếu
ấy, Đạo Nguyên thường nói “tu chứng nhất đẳng”, “đồng
thời chứng ngộ” Phật tánh và sự đắc Bồ đề, “sự
luân chuyển không ngừng của quá trình tu hành liên tục”.
Tóm lại, Hiện thành Phật thời mới thân chứng được Phật
tánh, và đồng thời, do vốn sẵn có Phật tánh nên mới có
thể Hiện thành Phật. Thấy được như thế thời chân đế
về tu chứng nhất đẳng mới hiển lộ.
Để
diễn tả một cách cụ thể hơn, ta có thể tưởng tượng
một con đường ngang nào đó chạy dài vô tận trên mặt đất
để hình dung căn bản y của thỉ giác. Nó biểu tượng sự
diễn tiến liên tục trong không thời gian của quá trình tu
tập khởi đầu từ sơ phát tâm, trải qua giai đoạn hành
giải, và cuối cùng là chứng ngộ. Mặt khác, ta có thể xem
mặt đất và bề sâu bên dưới tượng hình chiều sâu của
bản giác siêu việt không thời gian. Hoạt động tu hành ví
như bánh xe lăn trên Đạo lộ. Vào bất kỳ lúc nào, tại
bất cứ đoạn nào trên đường tu tập, bánh xe chỉ tiếp
xúc Đạo lộ tại một điểm và một mà thôi. Đó là điểm
gặp gỡ giữa hai chiều ngang và dọc, tu và chứng, biểu hiện
ý nghĩa của hai câu: “ly niệm cảnh giới, duy chứng tương
ưng”. Tánh Phật dẫn ra tùy theo sự nhiệt thành, chánh niệm
tỉnh giác, và nhiếp phục tham ưu ở đời của mỗi cá nhân.
Nói theo phàm tục, nỗ lực tu tập trí tuệ thiền định đến
mức nào thời chứng ngộ dẫn xuất Phật tánh đến mức
đó.
Đạo
Nguyên thời còn trẻ, mới xuất gia, nhận thức bản giác
là thực tại căn bản y của tự thân và nghi ngờ sự cần
thiết phải tu hành để chứng đạt. Nói cách khác, lúc bấy
giờ, Đạo Nguyên không quan tâm đến con đường ngang chạy
dài trên mặt đất mà chỉ chú trọng nhìn theo chiều dọc
xuyên thâu qua mặt đất mà thôi. Thật ra, cả hai chiều ngang
dọc tượng hình nói trên đều cần thiết để thông hiểu
về cơ sở của mọi sự tu tập. Tuy nhiên chiều dọc được
xem căn bản đối với chiều ngang. Nghĩa là, chứng ngộ là
căn bản y của quá trình tu tập, nguồn gốc mà từ đó hết
thảy mọi pháp tu tập được bao quát và phát sinh và bất
cứ điểm nào trong quá trình tu tập cũng quán thẳng đến.
Sau
này, khi bản thân thực chứng tình trạng thân tâm thoát lạc
thời Đạo Nguyên mới thông suốt rằng sự phát hiện tánh
Phật của mình là do nhân duyên hội đủ, bên trong nhờ tánh
Phật làm chánh nhân huân tập, và bên ngoài nhờ tu thiện
hạnh thuần thục làm duyên tố hỗ trợ. Dẫu có nhân tố
chính yếu là sức mạnh huân tập của Chân tâm, nhưng nếu
không quyết tâm cầu đạo và tinh tấn tu hành thời không
thể chứng ngộ. Ngược lại, dầu có duyên tố cần yếu
làm sức mạnh ở ngoài, nhưng nếu chưa đủ sức mạnh ở
trong là sự huân tập của Chân tâm thời không thể thẳng
đến tuệ giác vốn có.
Như
vậy, tu hành và chứng ngộ thật ra là hai mặt của một toàn
thể hoạt lực mà trọng tâm là điểm gặp của chiều ngang
(tu hành) với chiều dọc (chứng ngộ). Điểm ấy biểu tượng
sát na tuệ giác, tu và chứng tuy đồng thời nhưng phi thời.
Vì quá trình tu tập diễn tiến trên một đường ngang nên
không có khởi điểm, không có chung điểm. Bất cứ điểm
nào của quá trình tu tập cũng có thể là giao điểm với
chiều dọc chứng ngộ.
Có
thể nhìn vấn đề tu chứng theo hai phương diện. Trước hết
đứng trên mặt tướng mà nhìn thời chứng (giác ngộ, hay
Phật tánh) và tu (hành giải, hay Hiện thành Phật) đều cần
yếu. Tuy nhiên, chứng ngộ cần yếu như một nguyên nhân,
còn tu tập cần yếu như điều kiện hay thời tiết. Do đó,
chứng ngộ là nguồn gốc của tu tập, và mối quan hệ này
là quan hệ một chiều, không đảo ngược được.
Chính
vì hành giả trẻ tuổi Đạo Nguyên nhận thức Phật tánh
là nguyên nhân của sinh mệnh con người nên ông mới không
tin tu tập là điều kiện cần để thành Phật. Đó là vì
ông nhìn tu tập và chứng ngộ cùng trong một chiều, không
phân biệt nguyên nhân và điều kiện hay thời tiết. Dầu
ông phân biệt được chúng theo hai chiều khác nhau, một chiều
siêu việt, một chiều giới hạn bởi không thời gian, nghĩa
là dầu ông thấy quá trình tu thành Phật giống như sự chứng
ngộ là tự hữu, thời ông cũng phải nhớ rằng chúng liên
quan nhau theo quan hệ một chiều không thể đảo ngược: đối
với Hiện thành Phật thời Phật tánh là căn bản. Bởi vậy,
khi chứng đạt thân tâm thoát lạc, ông mới nói: “Pháp tánh
phổ biến vốn sẵn đủ ở nơi mỗi người, nhưng chỉ hiển
thị khi có tu hành, chỉ chứng đạt khi có chứng ngộ”.
Nếu
lật ngược vấn đề lại thời câu hỏi đặt ra là tại
sao trong khi công nhận phát tâm Bồ đề và tinh tấn tu hành
là nguyên nhân của sự chứng đạt Phật quả mà vẫn cứ
chú trọng chỉ dạy Phật tánh như là đối tượng căn bản
của mọi sự tu tập? Do tâm chứng trạng thái thân tâm thoát
lạc, Đạo Nguyên thấy rõ sự sai lạc của quan niệm lấy
tu tập làm nguyên nhân và Phật tánh làm mục tiêu. Đó cũng
chỉ là một thiên kiến sai lầm, đối nghịch với thiên kiến
xem bản giác như căn bản y và tu hành như điều kiện không
quan trọng.
Bây
giờ đứng trên phương diện tánh (bản thể) mà nhìn thời
Phật tánh là đệ nhất nghĩa Không, nghĩa là Phật tánh tức
thực tại cứu cánh là Không. Không đây là Chân không, tên
khác của Chân như. Trong đó, không tất cả hình tướng, không
tất cả vọng tưởng, nhưng không phải là không hẳn (không
ngơ). Nó tùy duyên mà khởi ra vô vàn diệu dụng. Thế nào
là diệu dụng của Chân không?
Câu
chuyện bà già hiện thần thông sau đây giải thích “trên
chơn thể diệu dụng hiện tiền, chẳng ngại mọi trường
hợp đều được diệu”, nghĩa là “trong tất cả thời,
động dụng thi vi, đi đông đi tây, ăn cơm mặc áo, v..v...
đều là diệu dụng hiện tiền” (Chơn tâm trực thuyết giảng
giải. Thiền sư Thích Thanh Từ)
Ba
vị Thiền sư vô quán uống trà. Bà nói: “Nếu quý vị hiện
thần thông cho tôi thấy thời tôi đem trà cho uống”. Ba vị
Thiền sư ngồi ngó nhau không đáp. Bà liền châm một bình
trà ra, bà nói: “Để già này hiện thần thông cho xem”.
Bà liền cầm chung, nghiêng bình trà châm vô từng chung. Đó
là hiện thần thông của bà già. Bà già quả đã ngộ nên
mới biết mọi hành động đều là thần thông, đều là diệu
dụng. Cũng nên nhớ rằng khi sáng thời mọi hành động đều
là diệu dụng. Khi mê thời mọi hành động đều là nghiệp
chướng, chớ không có diệu dụng. Tại sao? Bởi vì tất cả
những hành động đó gốc từ Tâm mà ra. Nếu Tâm ấy không
loạn, không nghĩ tưởng, không bị vọng dấy lên thời hành
động nào cũng là diệu dụng hết. Còn nếu hành động mà
chạy theo vọng tưởng,... thời đó không phải là diệu dụng
nữa, mà đó là nghiệp!
Từ
Không khởi lên hai diệu dụng. Những diệu dụng dấy lên
gọi là diệu hữu. Một, do Không mà có thế giới sum la vạn
tượng. Hai, từ Không mà khởi lên tất cả tác dụng viên
minh, tự tại, thực hành các hạnh nguyện ba la mật. Vậy
chứng ngộ (Phật tánh), nguồn gốc của tu tập, là Không
(Chân không), và tu tập, điều kiện để thành Phật, là diệu
hữu. Do đó, quan hệ giữa chứng ngộ (Phật tánh) và tu tập
(Hiện thành Phật) là quan hệ giữa thể và dụng. Nói về
dụng thời tùy duyên mà ứng hóa. Khi ứng hóa ra rồi thời
hình như có hình tướng. Vì dụng có tướng trạng mà thể
thời không có, cho nên thể và dụng chẳng phải một. Mặt
khác, dụng từ thể phát ra, dụng không lìa thể. Thể hay
phát dụng, thể chẳng lìa dụng. Nhằm vào cái lý bất tương
ly này nên thể và dụng chẳng phải khác. Như thế, đứng
về mặt tướng, chứng ngộ và tu tập không phải là một.
Quan hệ giữa căn bản y và điều kiện là quan hệ một chiều
không đảo ngược được. Nhưng đứng về mặt tánh, chúng
không phải là hai. Không còn có sự phân biệt giữa hữu tướng
và vô tướng, giữa chứng ngộ và tu tập, giữa căn bản
y và điều kiện hay thời tiết. Cái gì trước kia được
xem như là điều kiện nay được chứng nghiệm như căn bản
y và tánh bất khả đảo của quan hệ giữa chúng đã được
siêu quá. Bởi hữu tướng là vô thường, chỉ cho diệu dụng
hiện ra những hình tướng hư dối biến chuyển tùy duyên
và vô tướng là chỉ cho diệu thể Phật tánh bất biến,
cho nên Đạo Nguyên mới nói “Tánh vô thường của vạn hữu
là Phật tánh”.
Nói
cách khác, do thực chứng mà biết rằng tánh vô thường giới
hạn trong thời không gian chính là tánh Phật siêu việt thời
không gian. Như vậy, thỉ giác trong diễn trình từ sơ phát
tâm Bồ đề đến giác ngộ không những là điều kiện hay
thời tiết để hội nhập Phật tánh mà còn đồng nghĩa với
bản giác, nguồn gốc của chứng ngộ. Kinh Hoa nghiêm đặc
biệt chú trọng đến ý nghĩa trọng đại của sự phát tâm
Bồ đề. Mọi khóa trình tu tập thật ra đều đã được
xác định trọn vẹn và chắc chắn ngay khi phát khởi Bồ
đề tâm. Cho nên trên phương diện bản thể, quan hệ giữa
tu và chứng, hay đúng hơn, giữa khát vọng giác ngộ vì kẻ
khác và giác ngộ, trở thành một quan hệ hai chiều. Hãy đọc
đoạn văn Thiền sư D. T. Suzuki viết về quan hệ này (Thiền
luận, Tập Hạ. Tuệ Sỹ dịch):
“Khi
khảo sát về quá trình hiện thực của giác ngộ, Đại thừa
thấy ra rằng nó gồm có hai bước quyết định. Khởi đầu
cần phải tạo nên một khát vọng giác ngộ vì kẻ khác,
thì mục đích tối hậu mới có thể thành tựu được. Khát
vọng đó cũng quan trọng và rất có ý nghĩa như sự thành
tựu, vì không thể có thành tựu nếu không có khát vọng
kia; quả thực, sự thành tựu luôn luôn được xác định
bởi khát vọng; tức là thời gian, nỗ lực, hiệu quả, v..v...
của giác ngộ hoàn toàn dựa trên phẩm chất của ý nguyện
ban sơ được phát khởi cho sự thành tựu chủ đích tối
hậu. Động lực xác định diễn trình, cá tính, và năng lực
của hành động. Mong cầu giải thoát được thúc bách kịch
liệt có nghĩa rằng, quả vậy, cái phần lớn và khó khăn
của sự nghiệp đã được làm xong. Người ta cũng nói, khởi
sự tức là hoàn tất.
Dù
vậy, các nhà Đại thừa ý thức rõ giá trị của tâm nguyện
ban sơ, khát vọng chứng thành giác ngộ. Sau cuộc phát tâm
lần đầu này, vẫn còn nhiều cuộc tu tập; nhưng khóa trình
mà Bồ tát bấy giờ phải hạ thủ đã được xác định
trọn vẹn và chắc chắn. Công trình quả là tân khổ, nhưng
các ngài không còn ở trong bóng tối của nghi ngờ và ngu dốt.
Vì vậy, trong các kinh điển Đại thừa, sự trổi dậy ban
sơ của khát vọng giác ngộ đó được coi là một biến cố
trọng đại trong đời sống của một Phật tử, và được
nhắc nhở một cách đặc biệt.”
Trong
kinh Đại bát Niết bàn, Phẩm 23: Bồ tát Sư tử hống, có
đoạn Phật dạy về Phật tánh: “Tất cả chúng sinh đã
có Phật tánh, vì sao lại phải tu tập vô lượng công đức?
Người đời thường sử dụng ba cách đáp, một là chuyển
đáp như đáp câu hỏi tại sao giữ giới mà nói vì được
Đại Niết bàn, hai là nín thinh, ba là nghi đáp. Nay Ta chuyển
đáp rằng: có chúng sinh, có Phật tánh vì lẽ Phật tánh sẽ
được thấy, giống như Ta nói có sữa, là có chất mỡ sữa,
có đất sét là có cái bình.
Phật
tánh của chúng sinh chưa gọi là Phật. Phải do tu tập nhiều
công đức mới thấy được Phật tánh, sau đó mới thành
Phật. Sở dĩ chúng sinh, dù đã sẵn có Phật tánh, chưa thấy
Phật tánh là vì các duyên công đức chưa được đầy đủ.
Do đó ta mới nói có chánh nhân và duyên nhân. Chánh nhân gọi
là Phật tánh, duyên nhân là phát tâm Bồ đề. Có đủ hai
nhân duyên này mới được vô thượng Bồ đề.”
Chứng
đạt Phật tánh là siêu việt quan hệ hai chiều giữa tu và
chứng nên Đạo Nguyên nói: “Trong pháp Phật, tu tập và chứng
ngộ đồng nhất. Bởi tại tu tập trong hiện tại là tu tập
nơi sự chứng [Chứng là cái biết mà chính mình tự làm chứng
lấy, chứ không phải cái biết nghe thấy, suy luận. Sự chứng
thường được ví như “ẩm thủy lãnh noãn tự tri”, nghĩa
là khi uống nước lạnh hay ấm thời chỉ tự mình biết lấy
mà thôi, và thường định nghĩa là khế hợp: tuệ giác với
chân lý ăn khớp với nhau; còn gọi là tánh khế chứng], cho
nên sơ phát tâm Bồ đề (Thỉ giác) tự nó là toàn giác,
là tuệ giác vốn có (Bản giác). Do đó, ngay cả trong khi được
hướng dẫn tu tập, hành giả được nhắc nhở đừng dự
kỳ hành chứng riêng biệt, tại vì tu hành là trực chứng
bản giác. Vì là đã chứng trong khi tu tập nên chứng ngộ
là vô chung; vì là tu tập nơi sự chứng nên tu tập là vô
thỉ.”
Cùng
lý do trên, Đạo Nguyên xác quyết: “Trong Đạo lớn của
chư Phật và chư Tổ, liên tục tu hành luôn luôn là tối thượng.
Ngay một khoảng trống cực nhỏ cũng không chen vào giữa sự
phát tâm, tu tập, giác ngộ, và niết bàn. Con đường tu hành
liên tục luân chuyển không bao giờ ngừng.” Vậy tu là tu
nơi sự chứng, gọi là “bản chứng diệu tu” (honshò myòshu).
Đạo Nguyên giải thích như sau: “Không thấy được Phật
tánh trước khi chứng đạt Phật quả; thấy Phật tánh ngay
khi chứng đạt Phật quả. Phật tánh hiển thị đồng thời
với chứng quả. Chân lý này phải thiền quán thông nhập
một cách thâm sâu. Phải trải qua một quá trình tinh tấn
hành Thiền dài hai mươi hay có thể ba mươi năm.” Đạo Nguyên
gọi đó là chân lý về Phật tánh.
Tóm
lại, chính do thực chứng tánh vô thường là Phật tánh nên
mới khế hội được lý tu chứng nhất đẳng. Để chứng
nghiệm tánh vô thường là Phật tánh, cần phải quán quá
trình tu chứng trên hai phương diện tướng và tánh. Một,
quán sát rằng chứng ngộ (Phật tánh) là căn bản y và tu
tập (Hiện thành Phật) là điều kiện, cả hai đều cần
yếu và sai khác nhau. Hai, quán sát rằng chứng quả là khế
chứng được tánh vô thường là Phật tánh. Sau đó hành giả
mới thấy được trong quá trình tu dưỡng liên tục luân chuyển
không ngưng, chứng và tu, Phật tánh và Hiện thành Phật, chẳng
phải một, chẳng phải khác. Hành giả luôn luôn sống từng
sát na tuệ giác kế tục không ngừng, tựa hồ như bánh xe
đang lăn trên con đường Trung đạo, chạy theo giao điểm chuyển
động của chiều ngang thời không gian biểu tượng căn bản
y của tuệ giác mới có (thỉ giác) và chiều dọc siêu thời
không gian biểu tượng căn bản y của tuệ giác vốn có (bản
giác).