12. Hữu
tình
Hữu
tình.
Bản
thể hữu tình được đề cập trong hai bài kinh, số 1202 và
số 1203, Tạp A hàm, Đại tạng Việt Nam, qua câu chuyện ma
Ba Tuần hóa thân thành một thanh niên dung mạo đoan chánh đến
quấy nhiễu hai Tỳ kheo ni, Vajirà và Selà, tọa Thiền ở rừng
An Đà.
Trong
kinh số 1202, Ma hỏi Tỳ kheo ni Vajirà: "Chúng sinh sanh thế
nào?,/ Ai là người tạo tác?/ Chúng sinh khởi chỗ nào?/ Đi
đâu và đến đâu?//"
Tỳ
kheo ni Vajirà biết chắc đó là ác ma muốn đến nhiễu loạn,
bèn nói kệ:
"Sao
Ngươi lại nói hoài,/ Đến hai chữ chúng sinh?/ Phải chăng,
này Ác ma,/ Ngươi rơi vào tà kiến? Đây quy tụ các hành,/
Chúng sinh được hình thành.//
Như
bộ phận quy tụ,/ Tên xe được nói lên./ Cũng vậy, uẩn
quy tụ,/ Thông tục gọi chúng sinh.//
Chỉ
có khổ được sanh,/ Khổ tồn tại, khổ diệt./ Ngoài khổ,
không gì sanh,/ Ngoài khổ không gì diệt.//"
Trong
kinh số 1203, Ma hỏi Tỳ kheo ni Selà: "Tại sao có thân này?/
Ai là người tạo tác?/ Thân này có từ đâu?/ Thân đi đến
chỗ nào?//"
Tỳ
kheo ni Selà đáp:
"Thân
này không tự tạo,/ Cũng chẳng phải tha tạo./ Nhân duyên
hòa hợp sanh,/ Duyên tan thời hoại diệt.//
Hột
giống gieo vào ruộng,/ Được nẩy mầm sinh lộc,/ Khi nhiễm
thấm cả hai,/ Vị đất và khí ướt.//
Cũng
vậy, uẩn và giới,/ Cùng với sáu xứ này,/ Do nhân duyên
quy tụ,/ Chúng sẽ được hình thành./ Do nhân duyên tán ly,/
Chúng bị hoại, tiêu diệt.//
Ta
biết Ngươi, Ác ma./ Hãy tự biến mất đi.//"
Sau
này, thí dụ cỗ xe của Đại đức Na Tiên (Nagasena) nói về
vô ngã luận cho vua Di Lan Đà chính đã phát xuất từ bài
kệ có tiếng của Tỳ kheo ni Vajirà. Chúng sinh chỉ do chư
hành tập hợp lại mà thành, trong đó không có cái gì có
thể được gọi là hữu tình. Cũng như các bộ phận tập
hợp lại mà gọi là xe, cũng thế, chỉ dựa vào năm uẩn
mà tạm có cái tên chúng sinh mà thôi. Thật ra, sự kết hợp
của các yếu tố hữu tình không thể xem giống như sự kết
hợp cơ giới của cỗ xe. Các bộ phận của cỗ xe được
chế tạo trước, rồi đem sắp ráp với nhau thành một cấu
trúc có thành phần nhất định, không thay đổi. Về hữu
tình hữu cơ thời trước là toàn thể rồi sau mới là bộ
phận. Theo Phật, hữu tình tuy là một hợp thể gồm nhiều
thành tố tụ tập, chứ không phải là một thể thuần nhất,
đơn độc, và cố định, nhưng bất cứ thành tố nào cũng
đều niệm niệm sinh diệt. Nhất là hiện tượng tâm lý luôn
luôn lưu chuyển biến đổi, trong đó không có cái gì được
gọi là ngã thể thường trụ cả. Sinh mệnh chỉ là một
hiện tượng quan hệ. Không dễ dàng hợp thành và tiêu hoại
như cỗ xe, hữu tình được thành lập do kết hợp nhiều
yếu tố hoạt động lại với nhau thành đơn vị hữu cơ,
rồi cá thể hóa, đặc thù hóa, tích tụ tất cả kinh nghiệm
ở quá khứ, và lấy đó làm cơ sở quy định và sáng tạo
quá trình cho những hoạt động đặc thù trong tương lai. Do
đó, sự kết hợp các thành tố được nối tiếp, không gián
đoạn. Chính nhờ sự tương tục bất đoạn, vô thủy vô
chung ấy mà sinh mệnh được liên tục.
Đức
Phật thường đứng trên nhiều lập trường khác nhau để
phân tích và quan sát các yếu tố cấu tạo hữu tình. Phương
pháp phân tích của Phật cực kỳ tinh tế và chặt chẽ. Mục
đích chia chẻ hữu tình thành nhiều yếu tố không những
là để biết rõ tổ chức tâm lý và tình hình hoạt động
của nó mà cốt yếu là để chuyển mê khai ngộ, chuẩn bị
nó cho mục đích tu dưỡng. Nói theo nghĩa hẹp, tu dưỡng là
nhằm ức chế tâm ác và bồi dưỡng tâm thiện. Nói rộng
ra thời có nghĩa là ức chế phiền não, phát huy trí tuệ
để cuối cùng đạt đến giải thoát. Thiện, ác, mê, ngộ,
rốt ráo không ngoài những hoạt động tâm lý. Bởi vậy,
nếu muốn tiến tu thời trước hết cần biết rõ những hoạt
động tâm lý một cách như thực.
Lục
đại.
Chẳng
hạn, trong kinh Giới phân biệt (Dhatuvibhangasuttam), Trung Bộ
140, khi đức Phật chú trọng thuyết minh về tổ chức
của thân thể tức về yếu tố vật chất thời Ngài nói
đến sáu đại (giới): đất, nước, lửa, gió, không, và
thức. Năm đại đầu biểu hiện các cơ quan của thân thể
và tác dụng của chúng. Thức giới (thức đại) biểu hiện
các hoạt động tinh thần. Ngài chia chẻ và thuyết minh về
tổ chức thân thể một cách rất chi li tường tận. Sau đây
là những đoạn kinh mô tả năm đại đầu.
"Này
Tỷ kheo, thế nào là địa giới? Có nội địa giới và ngoại
địa giới. Thế nào là nội địa giới? Cái gì thuộc nội
thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ, như
tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim,
gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử,
phân, và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá
nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ. Như vậy, này Tỷ
kheo, được gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội
địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc
về địa giới.”
“Này
Tỷ kheo, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới và ngoại
thủy giới. Thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc nội
thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị
chấp thủ như mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ,
nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mũi, nước ở khớp
xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác, thuộc nội
thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị
chấp thủ. Như vậy, này Tỷ kheo, được gọi là nội thủy
giới. Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc
ngoại thủy giới đều thuộc về thủy giới.”
“Này
Tỷ kheo, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới và ngoại
hỏa giới. Thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc nội
thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp
thủ. Như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại,
khiến cho thiêu cháy, cái gì khiến cho những vật được ăn,
uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những
vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa,
thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Như vậy, này Tỷ kheo, được
gọi là nội hỏa giới. Những gì thuộc nội hỏa giới và
những gì thuộc ngoại hỏa giới đều thuộc về hỏa giới.”
“Này
Tỷ kheo, thế nào là phong giới? Có nội phong giới và ngoại
phong giới. Thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc nội
thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp
thủ. Như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió
trong bụng dưới, gió thổi ngang các đốt, các khớp, hơi
thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật gì khác, thuộc nội
thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp
thủ. Như vậy, này Tỷ kheo, được gọi là nội phong giới.
Những gì thuộc nội phong giới và những gì thuộc ngoại
phong giới đều thuộc về phong giới.”
“Này
Tỷ kheo, thế nào là hư không giới? Có nội hư không giới
và ngoại hư không giới. Thế nào là nội hư không giới?
Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc hư không, thuộc
hư không tánh, bị chấp thủ. Như lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng,
do cái gì người ta nuốt, những gì được nhai, được uống,
được ăn, được nếm, và tại chỗ mà những gì được
nhai, được uống, được ăn, được nếm, được giữ lại,
và ngang qua chỗ mà những gì được nhai, được uống, được
ăn, được nếm, và được tống xuất xuống phần dưới
để ra ngoài, và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc
cá nhân, thuộc hư không, thuộc hư không tánh, bị chấp thủ.
Như vậy, này Tỷ kheo, được gọi là nội hư không giới.
Những gì thuộc nội hư không giới và những gì thuộc ngoại
hư không giới đều thuộc về hư không giới.”
Sau
mỗi lần mô tả một giới, Ngài luôn luôn nhấn mạnh: “Giới
ấy phải được quán sát như thực với chánh trí tuệ như
sau: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi,
cái này không phải tự ngã của tôi.' Sau khi như thực quán
sát mỗi giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm
ly đối với giới ấy, tâm từ bỏ giới ấy.”
Tuy
phân loại Sáu giới không trọng yếu bằng thuyết Ngũ uẩn,
nhưng cách phân loại này đã có nhiều ảnh hưởng trên chủ
trương Lục đại duyên khởi của Chân Ngôn tông.
Tứ
thực.
Một
cách phân loại khác: thuyết Bốn loại thức ăn. Thuyết này
đứng trên lập trường duy trì sinh mệnh tức hữu tình thể
chia sự thành lập hữu tình làm bốn yếu tố để quan sát.
“Này
các Tỷ kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại
sinh vật hay các loại chúng sinh được tồn tại hay khiến
cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế, hai là xúc thực, ba
là tư niệm thực, bốn là thức thực.” (Moliya Phagguna. Tương
Ưng Bộ XII.12)
Đoàn
thực là yếu tố nhục thể, bộ phận nhờ vào thực vật
để nuôi sống, tương đương với cái gọi là "nhờ ăn mà
sống". Xúc thực là do sáu căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
và ý tiếp xúc với sáu trần, sắc, thanh, hương, vị, xúc,
và pháp. Tư niệm thực là những nỗi ước ao ta muốn thực
hiện cho đời ta. Để hiểu thế nào là thức thực, cần
biết rằng chúng ta là sự biểu hiện của thức, gồm có
y báo và chánh báo. Chánh báo là con người gồm năm uẩn của
ta và y báo thuộc hoàn cảnh chung quanh ta. Vì hành động từ
nhiều kiếp xưa nên bây giờ ta có chánh báo này, với y báo
này. Chánh báo và y báo đều là sự biểu hiện của tâm thức.
Khi nhận thức, tâm cũng giống như cơ thể đón nhận các
món ăn. Món ăn đó gọi là thức thực. Như vậy, xúc thực,
tư niệm thực, và thức thực là nhũng yếu tố tinh thần,
từ thô đến tinh. Chúng sinh nhờ bốn cách ăn nói trên mà
được cấu thành. Ngoài ra, cũng nên nhớ rằng câu kinh nói
“hết thảy chúng sinh nhờ ăn mà sống” rất tương đồng
với câu “hết thảy chúng sinh nhờ vào hành mà sống”.
Bởi thế, không nên chấp chặt vào văn tự một cách thái
quá. Tuy nói là ăn, nhưng không nên cho đó là trung tâm của
mùi vị.
Đức
Phật dùng thuyết Tứ thực để nói về tổ chức của hữu
tình nhưng cốt yếu là để giải thích tứ thực là do nhân
duyên sinh. Điều này thấy rõ trong đoạn văn kế tiếp.
“Tôn
giả Moliya Phagguna bạch Thế tôn:
- Bạch
Thế tôn, ai ăn thức thực?
- Câu
hỏi ấy không thích hợp, Thế tôn đáp. Ta không nói: ‘Có
ai ăn’. Nếu Ta nói: 'Có kẻ ăn', thời câu hỏi: ‘Có ai
ăn’ là câu hỏi thích hợp. Nhưng Ta không nói như vậy. Và
vì Ta không nói như vậy, nếu có ai hỏi Ta: 'Bạch Thế tôn,
thức thực là duyên cho gì?', thời câu hỏi ấy thích hợp.
Ở đây câu trả lời thích hợp là: 'Thức thực là duyên
cho sự sanh thành, cho sự tái sanh trong tương lai. Khi cái ấy
hiện hữu, có mặt, thời sáu xứ có mặt. Do duyên sáu xứ,
xúc có mặt.'
- Bạch
Thế tôn, ai cảm xúc?
- Câu
hỏi ấy không thích hợp, Thế tôn đáp. Ta không nói: 'Có
kẻ cảm xúc'. Nếu Ta nói: 'Có kẻ cảm xúc', thời câu hỏi:
'Ai cảm xúc?' là câu hỏi thích hợp. Nhưng Ta không nói như
vậy. Và vì Ta không nói như vậy, nếu có ai hỏi Ta: 'Bạch
Thế tôn, do duyên gì xúc sanh khởi?', thời câu hỏi ấy thích
hợp. Ở đây câu trả lời thích hợp là: 'Do duyên sáu xứ,
xúc sanh khởi. Do duyên xúc, thọ sanh khởi.'
...
... ...
- Bạch
Thế tôn, ai chấp thủ?
- Câu
hỏi ấy không thích hợp, Thế tôn đáp. Ta không nói: ‘Có
kẻ chấp thủ’. Nếu Ta nói: 'Có kẻ chấp thủ', thời câu
hỏi: ‘Ai chấp thủ?’ là câu hỏi thích hợp. Nhưng Ta không
nói như vậy. Và vì Ta không nói như vậy, nếu có ai hỏi
Ta: ‘Bạch Thế tôn, do duyên gì thủ sanh khởi?’, thời câu
hỏi ấy thích hợp. Ở đây câu trả lời thích hợp là: 'Do
duyên ái, thủ sanh khởi. Do duyên thủ, hữu sanh khởi.' ...
Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Nhưng
này Phagguna, do ly tham, đoạn diệt một cách hoàn toàn sáu
xúc xứ nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ
diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt
nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên
già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ
khổ uẩn này đoạn diệt."
Thập
nhị xứ và Thập bát giới.
Đứng
trên căn bản nhận thức luận, A tỳ đạt ma Phật giáo áp
dụng phân loại thập nhị xứ và thập bát giới. Thập nhị
xứ bao gồm sáu căn xứ: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, và ý
căn xứ, và sáu cảnh xứ: sắc, thanh, hương, vị, xúc, và
pháp xứ. Sự phân loại này căn cứ vào quan hệ giữa sáu
căn và đối tượng của chúng. Năm căn đầu đều có ý nghĩa
vừa tâm lý vừa sinh lý. Căn không phải là mắt, tai, .. biểu
hiện bên ngoài thường được gọi là phù trần căn mà có
nghĩa chỉ vào tác dụng tiềm ẩn bên trong được gọi là
thắng nghĩa căn hay tịnh sắc căn, tương đương với hệ
thần kinh nói theo ngôn ngữ khoa học. Đức Phật giảng: "Nội
nhập sở (căn) là gì? Mắt là nội nhập sở, là tịnh sắc
do tứ đại tạo thành mà không thể thấy được, vì có chướng
ngại (hữu đối). Nội nhập sở của tai, mũi, lưỡi, thân
cũng thế." (Tạp A hàm, 13)
Như
vậy, năm căn là do bốn yếu tố: đất, nước, lửa, gió
tạo thành. Tuy chúng là những cơ quan nhận thức ngoại giới,
nhưng đối tượng của chúng đều hạn định trong phạm vi
nhất định: nhãn căn chỉ đối với sắc cảnh, không thể
đối thanh cảnh, tỷ căn với hương cảnh chứ không thể
thông sắc cảnh, v.v… Cơ quan thống nhiếp toàn thể năm căn
và tiếp thu hết thảy nhận thức là ý căn (mana). Trong Đại
kinh Phương quảng, Trung Bộ 43, có đoạn:
"Này
Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới
sai khác, không có lãnh thọ cảnh giới, hành giới lẫn nhau,
tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, giữa năm
căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không
có lẫn lộn cảnh giới, hành giới với nhau. Ý làm sở y
cho chúng, và ý lãnh thọ cảnh giới và hành giới của chúng."
Ý
căn ở đây đồng nghĩa với ý thức thứ sáu và được gọi
là căn, được xem như một cơ quan nhận thức đối tượng.
Quan hệ giữa ý căn thứ sáu và pháp cảnh được gọi là
pháp, có nghĩa như là hết thảy pháp, bao quát tất cả nhận
thức do năm căn trước đưa đến. Đồng thời, nếu là vật
đối tượng của nhận thức chủ quan thời bất cứ hiện
tượng tâm hay là vô vi, thời ý căn lấy đó làm hiện tượng
khách quan để làm sáng tỏ quan hệ nhận thức. Như vậy,
pháp xứ không phải là đối tượng của năm căn đầu mà
chỉ là đối tượng của ý thức mà thôi. Về mặt nhận
thức luận, pháp xứ bao gồm vô vi pháp, bất tương ưng hành
pháp, và những hiện tượng tinh thần khách quan, do đó có
nghĩa là bao hàm hết thảy. Ngoài quan hệ tương đãi và tương
thành giữa sáu căn và sáu cảnh hầu như bao hàm hết thảy
mọi nhận thức, tất cả đều là vô thức. Theo Phật, cái
gọi là thế giới chẳng qua chỉ thành lập trên quan hệ nhận
thức giữa sáu căn và sáu cảnh. Hãy nghe đức Phật giảng
thế nào là hết thảy: "Hết thảy nghĩa là mười hai nhập
xứ, mắt đối với sắc, tai đối âm thanh, mũi đối với
mùi, lưỡi đối với vị, thân đối với xúc, ý đối với
pháp, đó gọi là hết thảy." (Tạp A hàm. Kinh số 319)
Trên
hình thức, do sáu căn đối sáu cảnh mà sinh ra sáu thức.
Như vậy, sáu thức chẳng qua chỉ là tên gọi kết quả do
quan hệ sáu căn và sáu cảnh sản sinh trên phương diện hình
thức mà thôi.
“Các
Tỷ kheo! Hết thảy thức do nhân duyên sinh mà có tên gọi,
tức lấy nhãn căn làm duyên mà sinh sắc thức thời gọi là
nhãn thức; lấy nhĩ căn làm duyên mà sinh thanh thức thời
gọi là nhĩ thức; lấy tỷ căn làm duyên mà sinh hương thức
thời gọi là tỷ thức; lấy thiệt căn làm duyên mà sinh vị
thức thời gọi là thiệt thức; lấy thân căn làm duyên sinh
ra xúc thức thời gọi là thân thức; lấy ý căn làm duyên
sinh ra pháp thức thời gọi là ý thức; lửa nhờ cây
làm duyên thời gọi là lửa cây; lửa nhờ rơm làm duyên thời
gọi là lửa rơm…” (Tạp A hàm, 13)
Thuyết
Thập bát giới được thành lập do cộng sáu thức với mười
hai xứ. Mười tám giới bao quát hết thảy (sabba), và gồm
nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới, nhĩ giới, thanh giới,
nhĩ thức giới, tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới, thiệt
giới, vị giới, thiệt thức giới, thân giới, xúc giới,
thân thức giới, ý giới, pháp giới, và ý thức giới. Có
sự sai khác giữa ý giới và ý thức giới. Ý giới chuyên
chỉ tâm ở phương diện bị động, còn ý thức giới, thời
phán đoán, suy lý, v..v..., không nhiều thời ít, bao hàm phuơng
diện chủ động của tâm. Nền tảng của sự phân loại này
thuần là nhận thức luận. Những quá trình mà hình thức
nhận thức luận phải trải qua để trở thành những hiện
tượng tâm lý phức tạp thường được đức Phật diễn
tả như sau.
"Mắt
và sắc làm duyên sanh nhãn thức, ba sự hòa hợp sanh xúc,
xúc cùng sanh thọ, tưởng, tư; ... Tai, mũi, lưỡi, thân, làm
duyên sanh thân thức, ba sự hòa hợp sanh xúc, xúc cùng sanh
thọ, tưởng, tư, ... Duyên ý và pháp sanh ý thức, ba sự hòa
hợp sanh xúc, xúc cùng sanh thọ, tưởng, tư. Những pháp này
gọi là người. Đối với những pháp này, tưởng là người,
chúng sinh." (Tạp A hàm. Kinh số 306)
"Thế
nào là duyên các thứ giới, sanh ra các thứ xúc ... ? Nghĩa
là duyên nhãn giới sanh nhãn xúc. Duyên nhãn xúc sanh nhãn thọ.
Duyên nhãn thọ sanh nhãn tưởng. Duyên nhãn tưởng sanh nhãn
dục. Duyên nhãn dục sanh nhãn giác. Duyên nhãn giác sanh nhãn
nhiệt. Duyên nhãn nhiệt sanh nhãn cầu. Cũng thế, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân, ý giới làm duyên sanh ý xúc. Duyên ý xúc sanh
ý thọ. Duyên ý thọ sanh ý tưởng. Duyên ý tưởng sanh ý
giác. Duyên ý giác sanh ý nhiệt. Duyên ý nhiệt sanh ý cầu.
Này Tỷ kheo, đó gọi là duyên các thứ giới nên sanh ra các
thứ xúc ... duyên các thứ nhiệt sanh ra các thứ mong cầu."
(Tạp A hàm. Kinh số 454)
Các
đoạn kinh trên nói nhãn căn duyên với sắc mà sanh thức,
tuy có vẻ như đối căn mà sanh thức, nhưng thật ra, tác dụng
ấy vốn đã có sẵn và phát động từ trong tâm thức. Nếu
không thế thời tâm lý luận Phật giáo sẽ mang khuynh hướng
duy vật luận và không phù hợp với sinh mệnh quan Phật giáo.
Đó là nhận xét rất có ý nghĩa của Kimura Taiken, tác giả
ba bộ sách Nguyên thủy, Tiểu thừa, và Đại thừa Phật giáo
tư tưởng luận. Sự hòa hợp ở đây chính là hiện lượng,
tác dụng năng động của thức lần đầu tiên, bắt đầu
sự tri nhận ngay ở sát na đầu tiên của quá trình nhận
thức, sát na hiện tại. Thật vật hữu xuất hiện trong hạn
kỳ rất ngắn này chính là tự tướng (svalaksana), đối tượng
của hiện lượng. Trong một sát na hiện tại có đủ cả
ba hình thức sinh diệt là sinh, trụ, và diệt. Hết thảy sự
vật đều là những chuỗi sát na sinh diệt, tức thời, riêng
biệt.
Tiếp
ngay sau sát na tri giác hiện tại là sát na tác ý, tác dụng
năng động của thức lần thứ hai, nhằm thức tỉnh giác
quan, làm cho căn chuyên chú vào cảnh, tức là gây nên sự
chú ý. Quá trình này mới chỉ là sự chuẩn bị cho tâm phát
sinh nhận thức cảm giác, chứ vẫn chưa đạt đến nhận
thức cảm giác đích thực. Vì cả ba căn, cảnh, và thức
hòa hợp mới sanh xúc tức cảm giác, thời thức đây phải
là thức có trước nhận thức cảm giác. Thức này một mặt
có ý nghĩa thụ động, mặt khác phát huy ý nghĩa chủ động,
do đó hoạt động tâm lý cụ thể mới thật sự khởi đầu.
Nói
cách khác, sát na tác ý là điểm khởi đầu của phân biệt
(kalpanà). Phân biệt hàm ngụ ý nghĩa so sánh, suy tầm, căn
cứ vào ấn tượng quá khứ và hiện tại. Tri giác phân biệt
sinh khởi đúng vào lúc trực giác hoàn tất nhiệm vụ cảm
nhận đối tượng. Nhờ kết quả tác ý của tác dụng năng
động của thức lần thứ hai này mà phát sinh nhận thức
cảm giác tức ý thức. Vào thời điểm nhận thức cảm giác
bắt đầu, tự tướng phân ngay làm đôi. Một bên là chủ
thể cảm thọ và bên kia là ảnh tượng của tự tướng,
đối tượng và nguyên nhân của sự cảm thọ. Tưởng (sanna)
là lấy những gì cảm thọ để cấu thành hình thức biểu
hiện tri giác. Những gì cảm thọ đồng thời làm duyên cho
ý chí hành động (cetanà; tư) sinh khởi. Đối tượng nhận
thức trở nên có tính cách đáng ưa thích hay không đáng ưa
thích. Cứ như thế những hoạt động tâm lý nội bộ bắt
đầu trở nên phức tạp. Vậy tâm của người ta là do nhân
duyên sinh. Sinh mệnh có khả năng tính trình hiện mọi tác
dụng của tâm. Tuy nhiên, hoạt động tâm lý trong thực tế
có chỗ bất đồng bởi tại cảnh ngộ và địa vị sai khác.
Ngũ
uẩn.
Ngoài
hai thuyết Thập nhị xứ và Thập bát giới, thuyết Ngũ uẩn
là phân loại pháp rất quen thuộc và có ưu thế từ thời
đại Phật giáo Nguyên thủy. Cả ba thuyết trở thành "tam
khoa phân loại", là những phân loại cơ bản và tiêu chuẩn
của A tỳ đạt ma. Thuyết Ngũ uẩn bao hàm một yếu tố vật
chất (sắc uẩn) và bốn yếu tố tinh thần (thọ uẩn, tưởng
uẩn, hành uẩn, thức uẩn). Đức Phật nói đến năm uẩn
lần đầu tiên cho năm vị Tỷ kheo ở tại Vườn Nai tiếp
sau thời pháp Tứ đế. Bài thuyết giảng được ghi lại trong
kinh Năm Vị hay Vô ngã tưởng (Anatta Lakkhana Sutta). Đức Phật
thường sử dụng thuyết Ngũ uẩn để giảng sâu vào lý Vô
ngã.
Uẩn
là chữ Hán do ngài Huyền Trang phiên dịch từ tiếng Phạn
"skandha". Uẩn có nghĩa là sự tụ tập, tích tập theo từng
loại, nhóm họp theo từng loại, cùng với tính chất giống
nhau. Uẩn thường mệnh danh là "thủ uẩn", bởi vì uẩn luôn
luôn gắn liền với chấp Thủ, với Ái thủ. Truyện kể lại
rằng đức Phật dùng những đống hạt để hình dung các
uẩn trong lần đầu tiên nói đến năm uẩn.
Ngài
Cưu Ma La Thập dịch chữ skandha là "ấm". Ấm có nghĩa là
ngăn che chân tánh, không cho nhận thức được tánh của pháp
giới là vô thường, vô ngã. Đó là dịch ý, vì năm thứ
đó có tính cách ngăn che làm cho người ta không liễu đạt
thực tánh bình đẳng của vạn pháp. Trong kinh, thỉnh thoảng
gặp chữ "thọ ấm". Chẳng hạn, trong Tạp A hàm Tập 1, kinh
số 61 có đoạn: "Thế nào là sắc thọ ấm? Những gì thuộc
về sắc, tất cả đều là bốn đại và bốn đại tạo sắc.
Đó gọi là sắc thọ ấm. Lại nữa, sắc đó là pháp
vô thường, khổ, biến dịch...
Thế
nào là thọ thọ ấm? Nghĩa là sáu thọ thân. Những gì là
sáu thọ thân? Nghĩa là thọ sinh ra bởi nhãn xúc, thọ sinh
ra bởi nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc. Đó gọi là thọ thọ
ấm…”
Thọ
ấm cùng nghĩa với "thủ uẩn".
Bốn
nhóm thọ, tưởng, hành, thức thuộc về tâm. Sắc là vật
chất. Theo A tỳ đạt ma, sắc hay vật chất, được định
nghĩa là "những cái biến hóa hình thể và có chất ngại
tính". Sắc là "biến ngại vi nghĩa", lấy sự biến ngại làm
nghĩa. Biến là biến dịch, thay đổi, không đứng yên một
chỗ, chuyển biến vô thường. Ngại là đối ngại. Ngăn
ngại giữa cái này với cái khác, giữa căn và trần, giữa
trần này với trần kia. Chữ tâm và chữ sắc dùng ở đây
tương đương với hai chữ danh sắc trong Mười hai nhân duyên.
Khi phân tích thời gọi là ngũ uẩn, gom lại thời gọi là
danh sắc hay sắc tâm. Theo ngôn ngữ thông thường, sắc pháp
và tâm pháp chỉ vào hai phương diện thể chất và tâm hồn
của con người. Mục đích của sự phân chia theo loại là
nhằm quán thấy rằng những gì chấp là bản ngã thật ra
chỉ là những yếu tố sắc pháp và danh pháp, "tất cả đều
chẳng phải ngã, chẳng phải ngã sở" .
Theo
lý duyên khởi, mọi hiện tượng đều do quan hệ hỗ tương
mà thành lập. Vì nhân duyên chỉ sự quan hệ giữa những
yếu tố cấu thành và nguyên động lực làm chất keo dính
những yếu tố ấy lại với nhau, nên tự nhiên đưa đến
câu hỏi: "Nguyên động lực nào đã kết hợp năm uẩn?" Về
vấn đề này, đức Phật đã dùng nhiều danh từ để biểu
hiện, như là nghiệp, vô minh, dục, ... Ngài đặc biệt hay
gọi tổ chức của hữu tình là năm thủ uẩn, tức là năm
yếu tố do chấp trước làm nhân mà được kết hợp.
Trong
Tạp A hàm, 13, có đoạn nói đến vô minh làm nhân tích tụ
các uẩn như sau: "Các nghiệp ái lấy vô minh làm nhân mà tích
tụ các ấm (uẩn) của đời khác." Một đoạn khác trong kinh
số 58 nói đến dục làm gốc, làm tập, kết hợp năm thọ
ấm: "Năm thọ ấm này lấy dục làm gốc, do dục tập, dục
sanh, dục xúc."
Ái
trược, dục, hay chấp trước, tất cả là phiền não. Nguồn
gốc của phiền não là vô minh. Trong thuyết Mười hai nhân
duyên, vô minh được gọi là hành, tức căn để của
ý chí. Thuyết Tứ đế lại gọi cái nguyên lý tương đương
với vô minh là ái, tức khát ái. Như vậy, ái dục hay chấp
trước chẳng qua chỉ là phiên dịch vô minh thành ý chí, cùng
một tác dụng nhưng khác nhau về cách thức quan sát mà thôi.
Tóm lại, nguyên động lực thứ nhất để kết hợp năm uẩn
là vô minh, là ý chí sinh tồn. Dựa vào ý chí nguyên thủy,
tức năng lực vô minh, hoạt động ý thức phát khởi. Những
hoạt động này không phải là vật ngoài tự thân tác dụng
khiến cho hiện tượng sinh mệnh phát khởi, mà chính từ trong
tự thể cơ quan triển khai ra, rồi tạm y theo cái đặc trưng
ấy mà chia thành những yếu tố để quan sát và phân tích.
Nói cách khác, trong bản thân vô minh đã có đầy đủ khả
năng tính tương đương để trở thành những yếu tố năm
uẩn. Khi cái đương thể của trạng thái nguyên thủy chưa
được triển khai thời gọi là vô minh. Khi được triển khai
rồi thời gọi đó là năm thủ uẩn.
Hoạt
động ý thức hình thành tính cách của tự thể hữu tình,
tạo ra những mẫu hình tổ chức đặc trưng của sinh vật,
quy định quá trình mà tự thể ấy trải qua trong vị lai.
Đó tức là nghiệp. Bởi thế, bảo rằng y vào nghiệp mà
hữu tình tương tục lưu chuyển, tức là y vào bốn thức
ăn, sáu đại, và năm uẩn mà thành lập đơn vị hữu tình,
cá thể hóa nó, chấp chặt lấy tính cách đặc thù, tích
tụ tất cả kinh nghiệm ở quá khứ rồi dựa vào đó để
quy định và sáng tạo quá trình trải qua trong vị lai. Đó
là nguyên động lực thứ hai. Bởi vô minh và nghiệp là nhân
duyên căn bản của năm uẩn nối tiếp không ngừng, chẳng
bao giờ đoạn tuyệt, cho nên sự kết hợp của năm uẩn cũng
nối tiếp vô thủy vô chung, tương tục bất đoạn. Chính
do sự biến hóa bất tuyệt ấy mà hình thức và vận mệnh
của hoạt động sinh mệnh lưu chuyển như "dòng thác".
Cùng
một chiều hướng giải thích như vậy, theo thuyết tiến hóa
hiện đại, nguyên động lực của sự sống tiến hóa không
tìm thấy được trong các biến cố đột biến ngẫu nhiên
(random mutations), mà ngay trong xu hướng tạo tác tân phẩm của
sự sống, qua sự xuất hiện tự phát mẫu hình tổ chức
(pattern of organization) đổi mới của sinh vật với phức độ
và trật tự gia tăng. Lịch sử của sự sống được đánh
dấu bằng một chuỗi cải cách đổi mới. Mỗi lần đổi
mới là một lần phức độ và trật tự của các cấu trúc
sinh học biến chuyển tăng gia. Và các nhà khoa học có nhiệm
vụ phải tìm ra những định luật vật lý và hóa học thích
hợp để giải thích. Xu hướng tạo tác tân phẩm chính là
vô minh hay ý chí sinh tồn của sự sống. Mẫu hình tổ
chức đổi mới của sinh vật tương ứng với khái niệm nghiệp
của Phật giáo. Con người là sản phẩm giai đoạn trong quá
trình tiến hóa của sự sống. Những sinh học cấu trúc là
dấu tích của các tiến hóa biến cố xa xưa. Chúng là những
hình tướng của nghiệp.
Sắc
uẩn.
Trong
kinh điển, dụng ngữ phổ thông nhất để giải thích sắc
uẩn là "tứ đại chủng cập tứ đại chủng sở tạo". Nghĩa
là, sắc uẩn là tứ đại chủng và tứ đại sở tạo. Tứ
đại là đất, nước, lửa, gió. Chủng là hạt giống. Tất
cả sự vật, tất cả vật chất đều do tứ đại mà có
nên gọi là chủng. Tứ đại là cái gốc, từ đó sanh ra tất
cả sự vật khác, vật chất khác, nên gọi là tứ đại chủng,
gọi tắt là tứ đại. Các luận sư A tỳ đạt ma chủ trương
bản chất của tứ đại: cố (cứng), dịch (lỏng), nhiệt
(nóng), và động, là những yếu tố thực thể, chứ không
phải là do tính chất của đất, nước, lửa, gió mà ra, nên
xem chúng là tứ đại thật, còn đất, nước, lửa, gió hiện
thực là tứ đại giả. Gọi là "đại" bởi vì bốn yếu
tố thực thể ấy có công dụng lớn lao nhờ đó mà hết
thảy mọi vật mới được tạo thành. Nghiệp dụng của tứ
đại là nắm giữ (đất), thu nhiếp (nước), thành thục (lửa),
trưởng dưỡng (gió). Tất cả mọi hiện tượng vật chất
đều lấy đặc chất cứng, lỏng, nóng, động, trì, nhiếp,
thục, trưởng làm khả năng tính, duy chỉ căn cứ vào những
đặc chất hiển trứ ấy mà trở thành những hiện tượng
đặc thù.
Tứ
đại sở tạo bao gồm năm căn, năm cảnh. Thực chất của
năm căn và năm cảnh là do bốn đại tạo ra nên năm căn,
năm cảnh được gọi là sắc sở tạo. Vấn đề được nêu
lên là tại sao cùng là tứ đại mà lại phân hóa thành năm
căn? Theo Đại tỳ bà sa luận, sự cấu thành năm căn là do
sự bất đồng về cách phối trí cũng như hình trạng của
các tế bào cực vi.
Song
năm căn và năm cảnh đồng thời cũng lại là cơ quan cảm
giác (năm căn) và đối tượng của chúng (năm cảnh). Do đó,
căn vừa là tác dụng sinh lý cho nên căn có đặc trưng của
vật chất, vừa là cơ quan tâm lý cho nên căn có công dụng
siêu vật chất. Tóm lại, năm căn là những cơ quan thuộc
cả hai lĩnh vực sinh lý và tâm lý. Chúng là cái cửa chịu
sự kích thích từ ngoại giới, nhưng đồng thời, chúng cũng
có tác dụng nhận thức đối tượng.
Theo
Phật giáo Nguyên thủy, năm căn là sự tồn tại vật chất,
tác dụng của chúng dù có vi diệu đến đâu chăng nữa thời
cũng là vật hậu thiên và có thể hủy hoại. Vả lại, có
thể dùng sự dinh dưỡng sinh lý để tác thành, bởi vậy
năm căn là một trong những bộ phận của nhục thể, cùng
chung với thọ mệnh trong một kỳ hạn, là năng lực của
chính bản chất sinh mệnh. Do đó, Xá lợi phất đã giải
thích rất đúng khi ông nói với Đại Câu hy la: "năm căn do
duyên tuổi thọ mà chúng an trú" (Trung bộ kinh 43. Đại kinh
Phương quảng).
Nói
một cách thông thường, sắc uẩn là thân thể và môi trường
sống bao quanh. Theo Duy thức học, A lại da thức là bản chất
hiện hữu của sinh mệnh và của môi trường trong đó sinh
mệnh tồn tại. Vì vậy, sinh mệnh và môi trường sinh hoạt
của sinh mệnh là những phát hiện của A lại da thức tùy
thuộc theo bản chất và giá trị của nghiệp. Nghiệp là hành
động. Hành động tức là nhân. Có nhân thời có quả. Nghiệp
quả hay nghiệp báo là sự phát hiện. Trước hết là căn
thân (chánh báo), nghĩa là thân thể có giác quan từ đó năm
thức đầu và ý thức có thể phát hiện. Nhưng thân căn chưa
phải là tổng thể của nghiệp báo. Thế giới trong đó thân
căn sinh hoạt (y báo) cũng là một phần của nghiệp báo ấy.
Đây là thế giới hữu chất tánh cảnh, tướng phần của
A lại da, là sở duyên, nghĩa là đối tượng cho kiến phần.
Sinh mệnh và thế giới là do hai loại phát hiện tựu thành:
phát hiện cá nhân, tự biến, và phát hiện tập thể, cọng
biến. Trong thế giới hữu chất tánh cảnh, hiện tượng tồn
tại hoặc trên căn bản tự biến, hoặc trên căn bản cọng
biến. Có những hiện tượng thuần tự biến, không có ảnh
hưởng gì đến tha nhân, như tịnh sắc căn chẳng hạn. Những
pháp như mắt, tai, mũi, lưỡi, óc, v..v... thời vừa tự biến
vừa cọng biến. Người khác có thể trông thấy chúng và
chúng có thể ảnh hưởng tới họ. Còn những hiện tượng
trời, mây, sông, núi, thời gian, không gian, mặt trăng, sao,
... thời được xem hoàn toàn cọng biến.
Khi
cá nhân chết đi, thế giới tánh cảnh vẫn còn tồn tại
như là sự phát hiện cộng đồng của tất cả A lại da thức
khác. Sinh mệnh của người chết cũng như phần tham dự của
người ấy trong thế giới tánh cảnh bây giờ trở về trạng
thái chủng tử, tức là trạng thái hạt giống tại A lại
da. Thân thể, năm căn, năm trần đều trở về A lại da thành
chủng tử. Năm thức cảm giác và ý thức cũng đều trở
về thành chủng tử tại A lại da. Tất cả những nghiệp
cá nhân đã tạo bây giờ đều hiện hữu trong A lại da trong
thế tiềm tàng. Tuy nhiên, những chủng tử đó vẫn tiếp
tục biến chuyển, nghĩa là tiếp tục sinh hoạt dưới định
luật nghiệp báo. A lại da là tổng thể của tất cả các
thứ đó và ở đây, được nhận định là bản thân của
nghiệp. Tất cả nghiệp nhân đều ở trong A lại da, ngầm
chuyển tác động trong A lại da. Khi các nghiệp nhân ấy chín
tới, một giai đoạn phát hiện mới sẽ được bắt đầu.
Thuận theo tổng thể và giá trị của mọi nghiệp nhân, tất
cả các chủng tử phát hiện thành một hình thái đời sống
gồm có một thân mạng mới và một sự tham dự hoặc phát
hiện mới vào thực tại cọng nghiệp.
Theo
ngôn ngữ khoa học, sắc uẩn có thể mô tả như là cấu trúc
(structure) của sinh vật, hình thù vật lý hóa thân của mẫu
hình tổ chức (pattern of organization) của sinh vật gồm những
giao liên tương tác giữa các bộ phận tạo nên sinh vật.
Mô
tả cấu trúc của sinh vật tức là mô tả cấu trúc của
các bộ phận vật lý tạo nên sinh vật, hình thể, thành phần
hóa học, ... của những bộ phận ấy, cùng với quan hệ giữa
các bộ phận và chức năng của chúng.
Mẫu
hình tổ chức sinh vật còn được gọi là mạng lưới sống
(living network), là cấu hình các mối quan hệ xác định những
tính chất đặc thù của sinh vật. Có thể áp dụng định
nghĩa cổ điển của chữ "pháp" vào trường hợp mẫu hình
tổ chức sinh vật: "nhậm trì tự tánh quỹ sinh vật giải",
nghĩa là: tất cả những gì có đặc tính của nó, không khiến
người ta lầm lẫn với cái khác, có những khuôn khổ riêng
của nó để có thể làm phát sinh trong óc ta một khái niệm
về nó. Đặc điểm của mạng lưới sống là nó liên tục
tự tạo tự sanh (autopoiesis; self-making). Nghĩa là luôn luôn
tự duy trì, tự thay thế đổi mới. Chẳng hạn, dạ dày chúng
ta cứ năm ngày là đổi mới lớp lót. Cứ hai tháng, ta có
một lá gan mới. Mỗi sáu tuần qua là lớp da cũ được thay
bởi lớp da mới. Sau mỗi năm, 98% các nguyên tử trong thân
thể chúng ta được thay thế. Thực hiện được sự tự duy
trì, tự thay thế đổi mới là nhờ hiện tượng chuyển hóa
(metabolism) trao đổi chất qua các phản ứng hóa học phát
sinh trong cơ thể sinh vật.
Một
cơ thể tự tạo tự sanh luôn luôn chuyển hóa, do đó, tiêu
thụ năng lượng, trao đổi vật chất, và tống xuất đồ
phế thải. Hiện tượng chuyển hóa một mặt bảo toàn tính
đồng nhất của sinh vật, và mặt khác, liên tục hay gián
đoạn bố trí lại, hủy diệt và tái tạo, phá vỡ và sửa
chữa các thành phần của sinh vật. Theo định luật thứ hai
của nhiệt động học, sự liên tục tự tạo tự sanh như
vậy bảo toàn hay gia tăng trật tự nội giới nhưng phải
trả giá đắt là làm tăng gia sự rối loạn ngoại giới,
do tống xuất đồ phế thải và nhiệt vô dụng.
Một
hệ quả quan trọng của quan điểm sinh mệnh liên tục tự
tạo tự sanh là sinh vật và môi trường sinh hoạt của sinh
vật kết dệt vào nhau rất chặt chẽ, hỗ tương giao tiếp
rất mật thiết, không thể độc lập riêng biệt. Điều này
cho thấy mạng lưới sống của sinh vật là một hệ thống
tự trị, kín về phương diện tổ chức, nghĩa là nó tự
phối trí tự tổ chức lấy nó, trật tự và tập tính không
do môi trường áp đặt mà do chính nó dựng lên. Tuy thế,
mẫu hình tổ chức không cô lập với môi trường. Nó cần
trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường để
tồn tại. Sự trao đổi ấy không xúc phạm đến tính tự
trị của sinh vật. Sinh vật bảo dưỡng mình và đổi mới
nhờ vào năng lượng và vật chất trao đổi. Ngoài ra, khả
năng đặc biệt liên tục tự sanh của sinh vật còn có thể
tạo nên nhiều cấu trúc mới, nhiều mẫu hình tập tính mới.
Nhờ vậy, sinh vật mới phát triển và tiến hóa.
Cấu
trúc của một cơ thể liên tục tự tạo tự sanh tất nhiên
phải là một cấu trúc tiêu tán (dissipative structure). Danh từ
cấu trúc tiêu tán là do Ilya Prigogine, nhà khoa học gốc Nga,
giáo sư tại Đại học Free ở Bỉ, giải Nobel 1977, đặt tên
cho một loại hệ thống hở, tuy không cân bằng (non equilibrium)
nhưng vẫn tạm thời tồn tại, giữ được trạng thái bền
vững (stability) trong một thời gian do thu nhận những dạng
năng lượng hữu ích từ ngoài vào và phóng xả hay tiêu tán
những dạng năng lượng xuống cấp, nhiều nhất là nhiệt.
Do đó, các cấu trúc tiêu tán không có tuổi thọ lâu dài.
Thực trạng sinh diệt của cấu trúc tiêu tán theo thuật ngữ
Phật giáo có thể gọi là phần đoạn sinh tử. Thuyết cấu
trúc tiêu tán được áp dụng để giải thích tập tính không
những của sinh mệnh mà còn của những hiện tượng vô tri
như xoáy nước, cơn lốc, ngọn lửa.