13. Hữu
tình: Trí, tình, ý
Biến
dịch sinh tử.
Tế
bào là đơn vị cấu trúc cơ sở của mọi sinh vật. Chỉ
có tế bào, cơ thể tế bào cấu tạo, và sinh quyển do cơ
thể hợp thành là có đặc tính của sự sống: liên tục
tự tạo tự sanh (autopoiesis) và có khả năng chuyển hóa (metabolism).
Nếu một tế bào ngưng tự tạo tự sanh, tế bào ấy không
thể tồn tại. Đối với cơ thể đa bào như cơ thể con người,
nếu quá nhiều tế bào thành tố chết, phần cơ thể bao gồm
chúng sẽ không đủ khả năng chuyển hóa và sẽ chết theo.
Bất kỳ tế bào hay cơ thể nào còn đủ khả năng tự duy
trì thời sinh trưởng, và bắt buộc phải sinh sản. Bên trong
các tế bào của tất cả mọi sinh vật do tế bào hợp thành,
phản ứng hóa học liên tục phát sinh và trao đổi chất,
chuyển hoán năng lượng, tạo ra các axit nucleic DNA và RNA,
và các protein.
Thành
phần hóa học của tế bào trong cơ thể con người gồm hạt
nhân, ion, nguyên tử, hay phân tử, đến từ khắp nơi trong
vũ trụ. Nhiệt năng của tế bào là do chuyển động ngẫu
nhiên của các thành phần ấy, do tác dụng của cấu trúc
tiêu tán, và do các phản ứng thải nhiệt của tế bào. Sáu
nguyên tố cơ bản, cacbon, hydro, nitơ, oxy, photpho, và lưu huỳnh,
được xem như nền tảng từ đó sinh khởi vô số hợp chất
của tế bào hiện ra dưới mọi trạng thái, cứng, lỏng,
và khí. Từ 60% đến 80% thể tích của các tế bào là nước.
Nước là do oxy và hydro tạo thành. Số hạt nhân của hydro
chiếm 90% tổng số hạt nhân trong vũ trụ. Chính sự tổng
hợp các hạt nhân hydro ở trung tâm mặt trời đã tạo nên
các hạt nhân heli và phát sinh năng lượng ánh sáng mặt trời.
Một phần không đáng kể nhưng tối cần thiết của năng
lượng này được tế bào tàng trữ và biến đổi trong tác
dụng chuyển hóa, gia trì sự tăng trưởng, và dục phát sự
sinh sản. Cũng vậy, các chất liệu hóa học căn bản khác
của tế bào như oxy, cacbon, nitơ, và những nguyên tố nặng
khác, đều do sự tổng hợp hạt nhân tạo ra ở trung tâm
các vì sao có khối lượng lớn. Những vì sao này về già
nổ bùng khi hoại diệt (supernova) và phân tán các nguyên tố
nặng ấy trong không gian, góp phần tạo nên những yếu tố
cần thiết cho sự sống. Nói một cách triết lý, mỗi một
con người ngoài tính cách nó là nó, còn phản chiếu trong
nó tất cả vũ trụ, và đồng thời, nó chính là nó vì có
những cá thể khác nó.
Tế
bào có hai thứ: tế bào nhân sơ (prokaryotes) trong đó vật
liệu nhân không có màng tách biệt khỏi chất tế bào và
tế bào nhân chuẩn (eukaryotes) trong đó vật liệu nhân được
bao bọc bằng màng nhân. Vi khuẩn là sinh vật nhân sơ. Mọi
động vật và thực vật bậc cao là sinh vật nhân chuẩn.
Sự
sống hình như bắt đầu từ nơi những vật gì được coi
là tổ tiên của các vi khuẩn hiện đại. Đó là những hệ
thống hóa học đã biến thành những hệ thống sinh học.
Những hệ thống sinh học đầu tiên biết chuyển hóa, thu
nhiếp năng lượng, các chất dinh dưỡng, nước, và các chất
muối để sinh trưởng. DNA, hay RNA tự riêng nó không thể
tạo ra sự sống. Theo nhà sinh vật lý học Harold Morowitz, tất
cả những phương thức chuyển hóa và sự tổng hợp các protein
và các axit nucleic tiến hóa chỉ sau khi các tiền thể của
các tế bào có lớp màng bọc lại. Hãy xem đó là sự hiện
thực cá thể bắt rễ từ trong vũ trụ. Chắc chắn là màng
tế bào xuất hiện trước tiên, trước protein hay axit nucleic
trong tiến trình hình thành sự sống. Tế bào phát sinh từ
đó và sự sống bắt đầu ngay khi tế bào được thành lập.
Thường
nói đến vi khuẩn làm ta nghĩ đến nhiều bệnh hiểm nghèo
do vi khuẩn gây ra như dịch hạch, thổ tả, lao phổi, bệnh
hủi, v..v... Thật ra, số vi khuẩn gây bệnh không đáng kể
so với số vi khuẩn vô hại hay hữu ích hiện tràn lan khắp
nơi, từ ruột người, đến nước muối của những biển
khô cạn, và trong nước sôi núi lửa phun ra. Ngay từ đầu,
quả đất đã là nơi cư trú và sinh sôi nẩy nở đủ các
thứ vi khuẩn. Đất là nơi nhiều vi khuẩn nhất đang phân
hủy các thây chết, tái lập chu trình hoạt dụng của những
thành tố của sự sống. Đến nay, bất cứ một sinh vật
nào, nếu không phải là một vi khuẩn sống thời theo cách
này hay cách khác, đều thuộc dòng dõi của một vi khuẩn
hay của những kết hợp vi khuẩn thuộc nhiều loại. Tuy là
những dạng sống bé nhỏ nhất trên quả đất, nhưng vi khuẩn
đã thực hiện những bước tiến hóa khổng lồ. Chính vi
khuẩn đã phát minh tất cả những cơ sở hóa học cần thiết
cho sự sống: sự quang hợp (photosynthesis), sự lên men (fermentation),
sự hô hấp dưỡng khí, sự giữ chặt nitơ của khí quyển
vào trong protein, và nhất là sự kết hợp đa bào, từ đó
sinh khởi các loài động vật, thực vật, và nấm.
Nhiều
dòng dõi vi khuẩn đã phát triển vào trong nhiều loại cơ
thể sinh vật khác, kể cả cơ thể con người. Hiện giờ
trong tế bào của chúng ta đang sinh hoạt những vi khuẩn thời
trước, sử dụng oxy để sản xuất năng lượng. Những vi
khuẩn thời trước ấy nay gọi là ty thể (mitochondrion) hoạt
động bên ngoài màng nhân, liên quan chủ yếu với sự hô
hấp ưa khí. Ty thể là nơi sản xuất ATP (adenosine triphosphate),
nguồn năng lượng thiết yếu cho mọi phản ứng hóa học
thu nhiệt bên trong tế bào. Ty thể có vật liệu di truyền
riêng của chúng, có protein của ty thể tích trữ trong DNA chứa
trong ty thể, và những protein ấy được tổng hợp ngay trên
ribosom bên trong ty thể. Nhà sinh học Lynn Margulis cho rằng ty
thể nguyên là những vi khuẩn đã xâm chiếm vào bên trong
các vi sinh vật khác, rồi định cư vĩnh viễn ở trong đó.
Quá trình tiến hóa đã chuyển biến hai sinh vật hòa nhập
sống chung lâu ngày trong trạng thái cọng sinh (symbiosis) thành
một dạng sống mới, dạng sống hô hấp dưỡng khí. Hãy
nghĩ đến trường hợp nếu không có vi khuẩn sống chung trong
ruột của chúng ta thời không thể nào phát sinh sự tổng
hợp những vitamin B hay K trong cơ thể.
Hiện
tượng cọng sinh là một biến cố đổi mới trong quá trình
tiến hóa. Sự đổi mới ở đây kết hợp nhiều dạng sống
khác nhau, dạng này ở trong dạng kia, và lâu ngày biến thành
một dạng sống mới. Triết gia Arthur Koestler gọi sự hiệp
trợ chung sống các vật thể nhỏ bên trong những vật thể
lớn hơn như vậy là "holarchy", dịch là toàn hệ. Toàn hệ
có ý nghĩa khác với khái niệm tằng hệ (hierarchy). Trong toàn
hệ, không có thành tố cấp cao kiểm soát thành tố cấp thấp,
không có thành tố lớn chế ngự thành tố nhỏ. Thành tố
của toàn hệ có tên là "holons", là những toàn bộ (wholes)
đồng thời tác dụng như những bộ phận (parts). Tế bào
là một toàn bộ vì gồm trong nó những vi khuẩn, những hợp
chất hóa học. Nhưng tế bào cũng là bộ phận của cơ thể
con người. Cũng vậy, cơ thể con người là một toàn hệ.
Là toàn bộ, cơ thể con người là một sinh vật do tế bào
hợp thành. Đồng thời, cơ thể con người là một bộ phận
của toàn bộ sinh quyển.
Đúng
là một cách quảng diễn nguyên lý Tương dung Vô ngại, nền
tảng triết lý Hoa nghiêm. Sự hiệp trợ sống chung quả là
một bằng chứng hiển trứ của Mười huyền môn của Hoa
nghiêm tông. Cõi nào hoạt dụng trong cảnh giới của cõi ấy
và đồng thời tương quan giao thiệp hòa điệu với các cõi
khác. Nhất thể và phức thể bao hàm dung nạp lẫn nhau mà
không hề xảy ra sự ngăn ngại hay hủy diệt lẫn nhau. Tất
cả với một, lớn và nhỏ, cao hay thấp, cùng vận chuyển
nhịp nhàng với nhau. Bởi vậy, xin đề nghị dịch chữ "holon"
là "thuần tạp thể" đúng theo lý huyền diệu thứ hai: theo
Trí Nghiễm, "Chư tạng thuần tạp cụ đức", nghĩa là, từng
mỗi bộ phận vừa thuần vì giữ tính cá biệt của nó, vừa
tạp vì liên hệ các bộ phận khác, hoặc theo Pháp Tạng,
"Quảng hiệp tự tại vô ngại", nghĩa là, lớn rộng và nhỏ
hẹp tự do tương giao không ngăn ngại.
Một
điều khác đáng nêu lên về hiện tượng cọng sinh. Do phân
tích quan sát sự hiện hữu và tập tính của các ty thể trong
các tế bào mà nhà sinh học Lynn Margulis đưa ra chủ trương
hiệp trợ sống chung là một dấu chuẩn của xu hướng tạo
tác tân phẩm của sự sống. Đó là dấu tích của một biến
cố đổi mới trong quá trình tiến hóa. Nói cách khác, cấu
trúc và mẫu hình tổ chức của sinh vật trong hiện tại là
nghiệp quả, kết quả của tất cả nghiệp nhân tạo ra trong
quá khứ. Chúng mang ấn chứng các biến cố đổi mới qua
những giai đoạn tiến hóa của sự sống. Mỗi cơ quan (organ)
là một viện bảo tàng sinh hóa. Mỗi tế bào là một ống
nghiệm trong đó những tác dụng hóa học sinh khởi từ thời
xa xưa vẫn còn tiếp diễn. Đó thật là một điều rất may
cho các nhà khoa học đi tìm nguồn gốc của sự sống. Do kinh
nghiệm họ nhận thấy rằng các sinh vật đang sống giúp họ
hiểu biết quá trình tiến hóa của sự sống nhiều hơn là
các sinh vật đã chết, hóa thạch (fossils). Hầu hết lịch
sử của sự sống được ghi lại trong các cơ thể hiện đang
tồn tại và công việc của họ là tìm cách đọc và giải
thích những trang lịch sử đó. Lynn Margulis và Dorion Sagan đã
viết trong What is Life? (Thế nào là sự sống?): "Người và
tinh tinh (chimpanzee) có cùng chung hơn 98% gen, mồ hôi nhắc nhở
nước biển thuở trước, và đường ngọt là năng lượng
tổ tiên ta được cung cấp ba tỉ năm về trước, cho đến
ngày tiến hóa phát sinh trạm vũ trụ. Chúng ta mang quá khứ
chúng ta trong người của chúng ta."
Những
tế bào mới cần thiết cho sự sinh trưởng và tu bổ các
mô đều do sự phân bào (cell division) sinh ra. Cơ thể con người
có hai thứ tế bào: tế bào thân (somatic cells) và tế bào
sinh dục (sex cells), chứa số nhiễm sắc thể (chromosomes) khác
nhau. Nhân tế bào thân gọi là thể lưỡng bội (diploid) gồm
46 nhiễm sắc thể. Nhân tế bào sinh dục gọi là thể đơn
bội (haploid) chỉ có 23 nhiễm sắc thể, một nửa số lượng
nhiễm sắc thể của nhân tế bào thân.
Số
46 nhiễm sắc thể trong nhân tế bào thân được tổ chức
thành 23 cặp nhiễm sắc thể, gồm 22 cặp thể thường nhiễm
sắc (autosomes) và một cặp nhiễm sắc thể giới tính (sex
chromosomes). Mỗi cặp thể thường nhiễm sắc gồm hai nhiễm
sắc thể cùng dạng, có cấu trúc giống nhau. Một đến từ
cha, một đến từ mẹ. Riêng cặp nhiễm sắc thể giới tính,
thời đó là cặp XX, nếu là nữ giới. Nghĩa là, gồm hai
nhiễm sắc thể giống nhau, mỗi nhiễm sắc thể gọi là nhiễm
sắc thể X. Nếu là nam giới, thời đó là cặp XY, gồm hai
nhiễm sắc thể khác nhau. Một là nhiễm sắc thể X, nhiễm
sắc thể kia gọi là nhiễm sắc thể Y nhỏ hơn.
Hết
thảy các tế bào thân đều do nguyên phân (mitosis) sanh ra.
Nguyên phân là quá trình nhờ đó nhân tế bào và chất tế
bào được chia thành hai phần. Các nhiễm sắc thể nhân đôi
trước khi được phân chia. Sau đó, tách nhau ra, mỗi nhân
con được hưởng bộ máy di truyền giống hệt của tế bào
nguyên thủy, nghĩa là DNA trong mỗi nhân con có cùng số lượng
và cùng mẫu chuẩn như trong nhân nguyên thủy.
Tế
bào sinh dục là do giảm phân (meiosis) sanh ra. Khác với nguyên
phân, giảm phân quên nhân đôi số nhiễm sắc thể trước
khi được phân chia. Vì thế sự phân chia tế bào dẫn đến
sự tạo thành những nhân tế bào mới với nửa số lượng
nhiễm sắc thể của tế bào nguyên thủy mà thôi. Những tế
bào hình thành sau giảm phân phát triển thành các giao tử
(gametes) cần thiết cho sự sinh sản. Có hai loại giao tử:
tinh bào (sperm cells) của nam giới và tế bào trứng (oocytes)
của nữ giới. Sau đó, sự thụ tinh sẽ phục hồi lại bộ
nhiễm sắc thể chuẩn.
Giảm
phân không những giảm số lượng nhiễm sắc thể từ 46 xuống
23, mà còn là nguyên nhân gia tăng sự phát triển đa dạng
của sự sống. Bởi vì trong quá trình giảm phân, do sự phân
phối ngẫu nhiên các nhiễm sắc thể và do sự trao đổi chéo
(crossing over) các phân đoạn nhiễm sắc thể, số lượng giao
tử có vật liệu di truyền khác nhau trở nên vô hạn. Nói
cách khác, kết quả của sự thụ tinh là không hai cá thể
nào có vật liệu di truyền giống nhau.
Thực
vật và động vật sinh sản theo chiều thẳng đứng, nghĩa
là, cái và đực, mỗi phía cho một số gen cân nhau họp lại
thành một tân phẩm. Vi khuẩn tế bào không bao giờ hòa lẫn
với nhau như trường hợp thụ tinh do tinh bào và tế bào trứng.
Trái lại, chúng sinh sản theo chiều ngang, bằng phép tiếp
hợp (conjugation), tức là bằng cách trao đổi gen. Các vi khuẩn
tế bào thường có những dải DNA để dành, có thể đem trao
đổi với những vi khuẩn tế bào khác. Virut (virus; siêu vi
trùng) là những gen trao đổi có một lớp protein bao ngoài.
Tiếp hợp là quá trình một chiều không bao giờ đảo ngược
từ phía "vi khuẩn cho" đến phía "vi khuẩn nhận". Sự trao
đổi gen tạo ra những vi khuẩn mới, do sắp xếp lại các
vật liệu di truyền đến từ nhiều vi khuẩn cho. Với lối
sinh sản theo chiều ngang như vậy, nếu không bị nhiệt, chất
muối, sự sấy khô, hay sự đói bức hại thời tế bào thân
vi khuẩn sinh trưởng, phân chia, nhưng không già, bệnh, chết
như thân tế bào thực vật và động vật.
Được
nhận định qua tính cách tồn tại và hủy diệt của tế
bào thân trong cơ thể hữu tình, thực trạng sinh diệt của
tế bào có thể gọi theo thuật ngữ Phật giáo là biến dịch
sinh tử. Nói theo ngôn ngữ máy vi tính hiện đại, thời sự
chết đã được lập (chương) trình (programmed death) ngay trong
sự sống. Sự sai khác giữa những phần đang chết và những
phần có tiềm năng tái sinh của cơ thể là sự sai khác giữa
tế bào thân và tế bào sinh dục. Tế bào sinh dục (tinh bào
và tế bào trứng) là tế bào duy nhất sinh ra con để truyền
sự sống qua thế hệ kế tiếp. Còn tế bào thân thời sinh,
già, bệnh, chết. Tại sao vậy?
Tế
bào bắt buộc phải sinh sản; ngưng sinh sản thời chết. Chẳng
hạn, khi còn trong tử cung, não bộ phát triển đủ số tế
bào thần kinh (neuron) cần thiết cho đời sống con người
năm tháng trước khi đứa bé lọt lòng. Các neuron phát triển
thêm không thể làm gia tăng số đó nên phải ngưng sinh sản
và chết. Số tử bào lên đến hàng trăm ngàn mỗi ngày.
Hơn
nữa, các tế bào tham gia cấu tạo các cơ quan và mô thường
gia tăng biệt hóa (differentiation), nghĩa là thay đổi hình thái
và cách thức tác dụng, trở thành những tế bào chuyên hóa
(specialized cells), để thích ứng với hoàn cảnh, thích nghi
với chức năng mới, ví như để đáp ứng sự phân công trong
tổ chức một cơ thể đa bào. Thí dụ: tinh bào và tế bào
trứng đều là tế bào đơn bội chuyên hóa để hòa nhập
thụ tinh thành hợp tử lưỡng bội (zygote). Vì sự chuyên
hóa tế bào không ngừng tiếp diễn trong các cơ thể mà sự
tiến hóa gia tăng kích thước, trật tự, và phức độ, nên
khả năng tự tu bổ và tự tái tạo của các tế bào giảm
thiểu rất mau chóng. Cuối cùng, các tế bào chuyên hóa không
còn phân chia được nữa. Thay vì tự tái tạo nay chỉ còn
là những trường hợp tu bổ thay mới các mô khi cần chữa
trị các vết thương mà thôi. Tế bào mất khả năng tự tái
tạo tất nhiên đưa đến kết quả là cơ thể già yếu và
cuối cùng chết. Tuy nhiên, sau mỗi chu kỳ sinh, trụ, diệt,
một sinh mệnh mới lại hình thành từ một hợp tử duy nhất,
trứng thụ tinh. Sự sinh sản hữu tính (sexual reproduction) là
một phát minh của sự sống nhằm nối tiếp không ngừng hình
thức và vận mệnh của hoạt động sinh mệnh. Tế bào lưỡng
bội cuối cùng đã lấy sự chết để truyền lại các giao
tử đơn bội hầu tái tục sự sống.
Như
vậy, chính ngay khi đang diệt (mất khả năng tự tái tạo
vì chuyên hóa) có sinh (phát triển giao tử phối hợp phát
sinh sự sống) và khi sinh (trứng thụ tinh phát triển thành
phôi thành thai thành trẻ sơ sinh) đã có diệt (tế bào chuyên
hóa không phân chia được nữa). Đúng theo tư tưởng Phật
giáo Đại thừa, đương thể của Sắc bản tính là Không,
nghĩa là chính ngay trong khi sinh đã có diệt, vậy sinh ấy
không phải thật sinh, cho nên đương thể là bất sinh. Trong
khi diệt, kỳ thật trong diệt ấy có sinh, vậy diệt ấy không
phải thật diệt, nên đương thể là bất diệt. Vậy đương
thể của Sắc, cái thể đương thời, hiện tiền trong hiện
tại, là Không, là bất sinh bất diệt.
Tịnh
sắc căn.
Tế
bào chuyên hóa của não bộ nói riêng và của hệ thần kinh
nói chung có tên gọi là neuron (tế bào thần kinh). Neuron căn
bản là một chiếc máy thu phát tinh diệu, nhận kích thích
và truyền thế tác động (action potentials) đến các neuron
khác hay đến các cơ quan phản ứng [Thế tác động là tín
hiệu thay đổi điện thế do các xung động thần kinh gây
ra khi xuyên qua màng neuron]. Mỗi neuron có một thân (soma) với
chức năng "lo việc nhà" cần thiết cho sự tồn tại của
tế bào. Từ thân này duỗi tua ra những đọt nhánh (dendrites)
thu nhận kích thích. Sự truyền thế tác động phải nhờ
đến sợi trục (axon) chạy dài từ thân neuron đến các diện
tiếp hợp (synapse), tức là chỗ tiếp nối với neuron khác
hay với một cơ quan phản ứng như cơ (muscle cell), hay tuyến
(gland). Thân tế bào thần kinh tập trung ở não, tủy sống
(spinal cord), và các hạch thần kinh (ganglion), còn các đọt
nhánh thời tạo thành các dây thần kinh (nerve). Khi đọt nhánh
bị quấy nhiễu, màng tế bào bị khử cực (depolarization)
liền phát xạ (firing), tạo ra một xung thần kinh. Xung động
được sợi trục truyền dẫn đến diện tiếp hợp, nhả
ra những chất hóa học truyền tin, và gây phản ứng nơi cơ
quan thu nhận. Phản ứng có thể là một sự co rút (contraction)
nếu cơ quan phản ứng là cơ tế bào, một sự phân tiết
(secretion) nếu là tuyến tế bào (gland cell), một sự kích
thích hay ức chế phát xạ nếu là một neuron khác.
Đặc
điểm của não bộ là mạng lưới chằng chịt các đường
dây liên kết mà neuron thiết lập giữa chúng với nhau. Hàng
triệu tỉ đọt nhánh và sợi trục tìm đến với nhau, nối
kết nhau, tạo nên những diện tiếp hợp tác động có hiệu
quả. Trên đại cương cách nối đường dây liên kết neuron
trong các não bộ giống nhau một cách tổng quát, nhưng về
chi tiết thời hoàn toàn khác nhau. Không bao giờ có sự giống
nhau giữa mạng lưới não của hai cá nhân, dầu là một cặp
sinh đôi. Các đường dây liên kết biến đổi và phát triển
không ngừng từ khi còn ở trong thai cho đến khi sanh ra và
lớn lên.
Mặc
dầu chỉ có một hệ thần kinh duy nhất, nhưng để mô tả
một cách dễ hiểu nên thường hay phân biệt hai hệ, hệ
thần kinh trung ương và hệ thần kinh ngoại biên, làm tưởng
lầm như đó là hai hệ riêng biệt. Hệ trung ương gồm não
bộ và tủy sống nhận các thông tin cảm giác từ tất cả
các bộ phận của cơ thể và qua nhiều mối quan hệ nối
tiếp hình thành nên các xung động thần kinh truyền đến
các cơ và các cơ quan khác. Hệ ngoại biên gồm các dây thần
kinh tủy sống và dây thần kinh não bộ với các đọt nhánh
của chúng. Chúng chuyển các xung động từ các thụ quan về
để phân tích trong hệ trung ương và truyền các xung động
vận động phù hợp tới các cơ, các tuyến, v..v...
Vỏ
đại não hay vỏ não (cerebral cortex) là lớp vỏ của hai bán
cầu não chứa hàng tỉ thân neuron và được gọi là chất
xám. Vỏ não có chức năng điều khiển cảm giác: nhìn, nghe,
ngửi, nếm, xúc giác, và kích thích sự co bóp của các cơ
vân (skeletal muscle) cũng như các hoạt động thần kinh cao cấp
như tiếng nói và trí nhớ. Các quá trình truyền cảm giác
về não từ các bộ phận của cơ thể đều chiếu vào những
vùng chuyên biệt của vỏ não gọi là vùng nhận cảm sơ cấp
(primary sensory areas). Mỗi cảm giác như thị giác, thính
giác, khứu giác, vị giác, và cơ thể, chiếu vào một vùng
nhận cảm riêng biệt. Năm vùng nhận cảm này theo ngôn ngữ
Phật giáo, có thể xem như tương đương với năm căn. Mỗi
vùng xử lý đối tượng nhận cảm riêng của nó, như lời
Phật dạy: "Này Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới sai
khác, có hành giới sai khác, không có lãnh thọ cảnh giới,
hành giới lẫn nhau, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân." (Đại
kinh Phương quảng, Trung Bộ 43)
Chẳng
hạn, ảnh mắt nhìn thấy được xử lý tại vùng thị giác,
không phải trong cách thế toàn bộ, mà trái lại, mỗi yếu
tố của ảnh như màu sắc, hình dạng, và chuyển động, đều
được xử lý riêng rẻ. Mọi cảm giác tuy hợp nhất với
bên trong não nhưng được tri nhận phát xuất từ những vị
trí biểu hiện bên ngoài như mắt, tai, mũi, lưỡi, và da là
nơi tác nhân kích thích hỗ tương tác dụng với thụ quan
tức phù trần căn theo ngôn ngữ Phật giáo.
Sự
phối trí các vùng nhận cảm trong vỏ não giống như trong
một bản đồ địa hình đương nhiên được quyết định
bởi bộ gen, nhất luật như nhau đối với tất cả mọi người.
Nói theo Phật giáo thời đó là sự phối trí do nghiệp báo
nên có tính cách quyết định của luật nhân quả. Thí dụ,
vùng thị giác sơ cấp được chia thành những phiến mô xen
kế thu nhận xung động kích thích từ một con mắt. Hãy tưởng
tượng đó là mô hình các sọc trắng đen xen kế như trên
thân của một con ngựa vằn, các sọc đen nối kết với mắt
phải và các sọc trắng với mắt trái. Cũng vậy, vỏ não
của mọi người đều có các vùng thị giác bố trí theo cùng
một khuôn mẫu như thế. Nhưng giới hạn chính xác của các
vùng thị giác của mắt này hay mắt kia thời biến thiên tùy
theo trạng huống, bộ gen không chút liên can. Điều này được
hai nhà sinh học Hoa kỳ, David Hubel và Torsten Wiesel, giải Nobel
năm 1981, chứng minh bằng thí nghiệm trên những vùng thị
giác của mèo. Khi mí một con mắt bị khâu kín lại thời
vùng nhận cảm của mắt ấy tiêu biến, trong lúc vùng nhận
cảm của mắt kia mở rộng lớn thêm.
Như
vậy, sự phát triển các đường dây liên kết neuron, một
phần phát triển vô hạn chế của não, có tính cách vừa
quyết định vừa tùy duyên. Có những mạch dây neuron đã
hoàn thành ngay khi mới sinh ra. Chúng liên hệ đến sự bảo
dưỡng sinh mệnh và thực hành các chức năng cơ bản như
nuốt, thở, điều tiết huyết áp, v..v... Ta bảo đó là những
mạch chăng cứng (hard-wired) bởi vì chúng phản ảnh bản tính
tự nhiên của chúng ta. Trái lại, có những mạch chăng mềm
(soft-wired) dễ uốn, phản ảnh sự sinh trưởng theo cách nuôi
dưỡng. Nếu không có những mạch chăng mềm thời hoạt động
sinh mệnh không tiến triển đến hoạt động tâm lý, rồi
phát đạt mà thành lý tính trong đó con người tự sinh khởi
ý thức. Nếu không có những mạch chăng mềm thời các Thiền
sư không thể trải qua những kinh nghiệm tìm tòi, săn đuổi,
chín mềm, và nứt vỡ.
Vấn
đề thường được bàn cãi về mâu thuẫn giữa tự nhiên
và nuôi dưỡng (nature / nurture), hay nói theo thuật ngữ Phật
giáo, giữa tự nhiên và nhân duyên, được vi sinh vật học
hiện đại giải quyết phần nào ổn thỏa trên phương diện
khoa học tức theo tục đế. Tất cả những gì ta có thể
làm đều đã định sẵn trong gen của chúng ta. Tuy nhiên, những
gì ta làm với khả năng cho phép thời tùy thuộc tổng ảnh
hưởng của môi trường. Nhưng trên phương diện chân đế,
nếu đem những danh từ nhân duyên, tự nhiên mà tìm hiểu
tâm tính, thời rốt cuộc cũng chỉ luẩn quẩn trong vòng vọng
tưởng mà thôi. Tại sao như vậy?
Thật
tính của vạn pháp là trùng trùng duyên khởi. Do duyên khởi
mà sự vật có sinh ra (sinh), dừng lại (trụ), thay đổi (dị),
và tiêu diệt (diệt). Khi nói sinh và diệt thời hay nói đến
nhân duyên, khi nói đến trụ và dị thời hay nói đến hòa
hợp, nhưng ý nghĩa vẫn không khác nhau. Vì sinh, trụ, dị,
diệt đều là duyên khởi như huyễn không thật, nên Phật
bác các nghĩa nhân duyên, tự nhiên (Kinh Thủ lăng nghiêm. Tâm
Minh Lê Đình Thám dịch giải. Quyển Hai. Mục IV). Tâm tính
của chúng sinh thường trụ, không thay đổi, chỉ vì bệnh
bất giác lầm nhận có sinh có diệt, nên mới nhận có nhân
duyên hòa hợp mà sinh, có nhân duyên tan rã mà diệt. Trót
nhận cái sinh diệt là nhân duyên, thời nhận cái không sinh
diệt là tự nhiên. Do những nhận thức sai lầm như vậy,
mới sinh ra những danh từ đối đãi giả dối nhân duyên và
tự nhiên, không có gì là thật thể. Thật ra, sự vật duyên
khởi như huyễn nên khi sinh, không có gì đáng gọi là sinh,
do đó mà nói rằng không phải nhân duyên. Sự vật duyên khởi
không thật có, nên không có tự tính, do đó mà nói rằng
không phải tự nhiên. Nếu trực nhận bản tánh bất sinh bất
diệt, thời chính nơi sinh, không có gì gọi là sinh, chính
nơi diệt, không có gì đáng gọi là diệt. Thiết thực ra
ngoài các danh từ đối đãi giả dối, ra ngoài những cái
sinh diệt và không sinh diệt, thời không thấy gì đáng gọi
là nhân duyên và tự nhiên cả. Chúng sinh quanh lộn trong vòng
danh từ đối đãi, không nhận có sinh thời nhận có diệt,
không nhận có nhân duyên, thời nhận có tự nhiên. Chỉ khi
nào giác ngộ cả diệt lẫn sinh, cả nhân duyên lẫn tự nhiên
đều như huyễn như hóa, không có tự tính, thời mới thật
chứng pháp giới tính tuyệt đối, ra ngoài vòng danh tướng.
Các
neuron thường xuyên phát xạ để thiết lập sự nối kết
qua diện tiếp hợp với các neuron khác hay đúng hơn là để
duy trì những nối kết ấy. Nét đặc thù của sự phát triển
quan hệ giữa các neuron là lúc khởi đầu neuron tạo ra một
cách rất ngẫu nhiên vô số đường dây nối kết lỏng lẻo.
Nhưng sau đó lần hồi cắt bỏ những đường dây không cần
thiết và củng cố các đường dây thường hay được sử
dụng. Có nhà sinh học đã phát biểu: "Thuyết tiến hóa Darwin
về các diện tiếp hợp đã thay thế thuyết tiến hóa Darwin
về gen".
Để
giải thích câu nói ấy, tưởng cũng nên biết rằng cơ cấu
chọn lọc tự nhiên theo thuyết tiến hóa Darwin gồm ba giai
đoạn. Trong giai đoạn đầu, do đột biến ngẫu nhiên có
rất nhiều thể biến dị mới xuất hiện trong loài. Rồi
qua giai đoạn hai, những phần tử thích nghi với ngoại cảnh
được chọn lọc. Đến giai đoạn ba, các thể biến dị đã
được chọn lọc gia tăng số lượng nhờ sinh sản nhanh chóng.
Áp dụng ba giai đoạn ấy để xét đến sự phát triển quan
hệ neuron, thời giai đoạn đầu tương ứng với sự thành
lập vô số đường dây nối kết một cách ngẫu nhiên. Đến
giai đoạn kế tiếp sự chọn lọc tựa trên tiêu chuẩn hữu
dụng được thực hiện. Cuối cùng, trong giai đoạn ba, có
sự đổi khác: thay vì tăng cường số lượng như trường
hợp các gen, các nối kết neuron năng dụng được củng cố
thành các diện tiếp hợp thường trực. Điều đáng lưu ý
là cả ba giai đoạn đều nhằm thành tựu một phản ứng
tùy duyên thích nghi với cảnh huống để tồn tại và phát
triển, không chủ tâm, không theo một kế hoạch định trước,
và không có sự can thiệp hay chỉ thị của bất cứ quyền
lực nào. Đây cũng là quan điểm Phật giáo cho rằng vô minh
tức ý chí sinh tồn và nghiệp là nhân duyên căn bản của
sự biến hóa bất tuyệt.
Trở
lại với đề mục Sắc uẩn, hãy nghe Phật khuyên: "Cái gì
không phải của các Ông, này các Tỷ kheo, hãy từ bỏ nó.
Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
- Này
các Tỷ kheo, cái gì không phải của các Ông?
- Sắc,
này các Tỷ kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó.
Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông." (Kinh
Tương Ưng bộ. Phẩm Không phải của các Ông)
Theo
những điều vừa trình bày về Sắc uẩn trên đây, quả đúng
như lời Phật dạy: "Những gì thuộc về sắc hoặc quá khứ,
hoặc hiện tại, hoặc vị lai, hoặc thô tế, hoặc trong ngoài,
hoặc đẹp xấu, hoặc xa gần, tất cả chúng đều chẳng
phải ngã, chẳng khác ngã, chẳng ở trong nhau." Trong đoạn
kinh sau đây, Tương Ưng 22.99, đức Phật giảng rằng những
người nào chưa thấu hiểu bản chất vô ngã của năm uẩn
thời vẫn chịu sinh tử luân hồi như con chó bị cột bởi
sợi dây thừng và chạy vòng quanh cây cột đó.
"Ví
như, này các Tỷ kheo, có con chó bị dây thừng trói chặt
vào một cây cột hay cột trụ vững chắc, chạy vòng theo,
chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy. Cũng vậy,
này các Tỷ kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc
Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập
pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không
thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các
bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là
có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc....
... ...
Người
ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc, ...; người ấy
không giải thoát khỏi sắc, ..., không giải thoát khỏi sanh,
già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta tuyên bố rằng: 'Vị
ấy không giải thoát khỏi khổ đau'. "
Những
lời Phật thuyết giảng về sắc uẩn trên đây cũng lại
như vậy đối với tâm uẩn gồm bốn uẩn còn lại là thọ,
tưởng, hành, thức.
Trí,
tình, ý.
Trong
vỏ não, nằm kế cạnh các vùng nhận cảm là những vùng
liên hợp (association areas), liên can đến quá trình nhận
biết. Trong trường hợp con mắt chẳng hạn, mắt hình cầu,
phía ngoài có một màng cứng (sclera) bảo vệ màu trắng với
giác mạc (cornea) trong suốt ở phía trước. Phía trong, là
màng mạch mềm với thể mi (ciliary body) và lòng đen (iris)
ở phía trước. Thể mi bao quanh và gắn với thủy tinh thể
(lens) bằng các dây chằng chéo. Các cơ của thể mi rất quan
trọng trong việc thay đổi độ lồi lõm của thể thủy tinh
để điều tiết sự nhìn xa hay gần của mắt. Giữa lòng
đen là con ngươi (pupil), qua đó ánh sáng lọt vào trong và
hội tụ bởi thể thủy tinh trên võng mạc (retina). Lòng đen
có thể co giản như một màn chắn làm thay đổi kích thước
của con ngươi để điều chỉnh lượng ánh sáng đi vào mắt.
Võng mạc nằm ở trong cùng mắt, chứa những tế bào nhạy
cảm với ánh sáng (cone; thể nón, và rod; thể que). Thủy tinh
thể cùng với giác mạc tạo nên hình ảnh ở võng mạc.
Khi
các thế tác động hướng tâm phát xuất từ võng mạc truyền
đến vùng nhận cảm thị giác sơ cấp là nơi thọ nhận ảnh
mắt nhìn thấy, chúng liền được chuyển qua vùng liên hợp
thị giác. Tại đây, những thông tin hiện tại được đem
so sánh với kinh nghiệm quá khứ ("Vật này trước kia đã
được nhìn thấy chưa?"). Tựa trên sự so sánh đó, vùng liên
hợp thị giác quyết định có nhận biết hay không những
tín hiệu vào mắt và xác định ý nghĩa của những tín hiệu
vào ấy. Thí dụ: Một người không hề quen biết ở
trong một đám đông không làm ta chú ý nhiều cho bằng một
người ta quen biết từ trước.
Vùng
liên hợp thị giác giống như mọi vùng liên hợp khác đều
tương quan liên hệ với nhiều bộ phận khác của vỏ não
và chịu ảnh hưởng của các bộ phận này những khi quyết
định. Chẳng hạn, nếu tín hiệu vào mắt được truyền
từ thùy trán (frontal lobe) thời tín hiệu ấy gây xúc động
khi tri nhận. Vì quan hệ với nhiều bộ phận khác của vỏ
não và vì mỗi bộ phận gán một ý nghĩa riêng, nên mọi
thông tin mắt chuyển đến vùng liên hợp thị giác tất nhiên
mang theo nhiều ý nghĩa. Do đó, ta có thể hiểu vì sao hai người
chứng kiến cùng một biến cố mà tri nhận và giải thích
theo hai cách khác nhau về những sự việc xảy ra.
Trải
qua nhiều triệu năm tiến hóa, não người là một thuần tạp
thể (holon) phát triển từ thấp lên cao, những trung tâm cao
là toàn bộ đối với các trung tâm thấp. Quá trình tiến
hóa phát triển của não có thể suy ra bằng cách quán sát
sự sinh trưởng từng phần của não theo thời gian khi còn
ở trong phôi. Theo nhà thần kinh học McLean, não con người
tiến hóa hình thành từ não loài bò sát (reptilian), phát triển
thêm chung quanh não nguyên thủy một hệ viền (limbic system)
trở thành não loài cổ thú (paleomammalian), và sau đó, thành
hình não loài thú mới (neomammalian), do sinh khởi thêm một
bộ phận mới nữa từ hệ viền với nhiều nếp cuộn lớn.
Não hiện nay của con người là não loài thú mới, gồm ba
bộ phận nói trên, cân nặng đến 3 pao (gần một kilôgam
rưỡi) và kích thước lớn hơn ba lần so với não của loại
linh thú (primate) như đười ươi, anh chị họ hàng gần nhất
của loài người. Tất cả ba bộ phận đều dự phần cấu
tạo cái thế giới khái niệm (đới chất cảnh) mà vọng
tưởng tin là thế giới thực tại khách quan.
Não
nguyên thủy chỉ gồm cuống não (brain stem) là phần hiện
bao quanh phía đầu tủy sống. Đó là não của loài bò sát:
rắn, thằn lằn, ..., phú bẩm một hệ thần kinh tối thiểu.
Cuống não điều hòa mọi chức năng căn bản của sự sống
như thở, chuyển hóa, thân nhiệt, cảm đau, đói, dục tính,
và kiểm soát hầu hết phản ứng và chuyển động thông thường.
Bộ phận não này không suy tưởng, không học hỏi. Đó chỉ
là một tập hợp các chất điều hòa đã được lập trình
nhằm giúp cơ thể vận hành tồn tại và phản ứng thích
nghi với ngoại cảnh để thoát nạn. Người mà chỉ có não
loài bò sát thời khi thọ nhận cái vui chỉ biết vui, thọ
khổ chỉ biết khổ, thọ buồn chỉ biết buồn, chứ không
so sánh, phân biệt gì cả.
Từ
vùng viền quanh cuống não của loài cổ thú (paleomammal) là
loài động vật mới xuất hiện trong quá trình tiến hóa của
sự sống, sinh khởi những trung tâm thần kinh xúc động tạo
nên hệ viền (limbic system) hay não cổ thú. Não cổ thú xuất
hiện vào thời đại khủng long (dinosaur). Các đường dây
liên kết neuron của não cổ thú có phần phức tạp hơn đối
với não bò sát. Do đó não cổ thú có nhiều khả năng hơn
để ứng phó với hoàn cảnh thường xuyên biến đổi. Nhờ
phát sinh những năng lực mới như ghi nhớ và học hỏi, loài
cổ thú biết so sánh kinh nghiệm trong hiện tại với trong
quá khứ, do đó mà tránh không tái phạm những hành động
sai lạc. Cách thức vận hành và tác dụng của não cổ thú
trở thành cái mà ta gọi là tâm trạng hay tác dụng tâm. Nhờ
hệ viền, loài cổ thú phân biệt được những mức độ
khác nhau của sự sợ hãi hay phản ứng tùy cơ ứng biến.
Tuy
sinh trưởng bên trên não loài bò sát là não chỉ biết lãnh
thọ, não cổ thú tức là những trung tâm thần kinh xúc động
không hoàn toàn kiểm soát được não loài bò sát mà trái
lại chỉ có thể tác dụng trong vòng ảnh hưởng kiềm tỏa
của nó. Nghĩa là, chính do thọ khổ hay thọ vui mà ta ưa thích
hay ghét bỏ, chấp cái này như thế này, cái kia như thế kia.
Đức Phật thường dạy: "Danh sắc duyên lục nhập, lục nhập
duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, ...".
Do lạc thọ mà sinh tham, do khổ thọ mà sinh sân, và do xả
thọ mà sinh si. Mười loại tâm tiểu phiền não: phẫn, phú,
xan, tật, não, hại, hận, siểm, cuống, và kiêu, tất cả
đều do duyên thọ (não loài bò sát) mà sinh khởi.
Não
bộ tiếp diễn tiến hóa, trong sọ của loài thú mới xuất
hiện, loài linh thú (primate), nhiều lớp neuron sinh khởi thêm
bên trên não cổ thú tức những trung tâm thần kinh xúc động
và tạo thành một bộ phận mới gọi là vỏ não mới (neocortex).
Vỏ não mới là những trung tâm thần kinh suy tưởng. Rõ ràng
trong sự tương quan liên hệ giữa tư tưởng và cảm xúc,
não xúc động sinh khởi trước khi có não suy tưởng. Vỏ
não mới chẳng những phát triển khả năng ghi nhớ và học
hỏi, mà còn gây nơi linh thú một ý thức về mình là một
cơ sở hoạt động cá biệt. Đáng ngạc nhiên nhất là chỉ
cách đây mấy triệu năm thôi, khi loài người xuất hiện,
vỏ não mới bành trướng rất nhanh, sinh khởi thêm rất nhiều
nhóm tế bào, nhất là trong vùng thùy trán (frontal lobes). Sự
bành trướng của não bộ lần này mang lại cho con người
một lối nhìn và một quan niệm hành động mới, cách biệt
rõ ràng người với các linh thú khác. Do vỏ não mới, con
người biết sử dụng ngôn ngữ để phát biểu và truyền
thông, có khả năng lập kế hoạch lâu dài, thi thiết khái
niệm, và cảm nhận sự hiện hữu của mình như một cá thể
tách biệt với ngoại giới, ý thức khả năng đối phó và
khống chế cái thế giới bên ngoài ấy để tồn tại và
sinh trưởng.
Vỏ
não mới là trụ sở của tư tưởng, trong đó hoạt động
những trung tâm thống giác có chức năng tập trung, liên kết,
thống hợp, và xử lý tất cả dữ kiện cảm quan thu nhận.
Có thể dùng danh từ "tư" của Phật giáo để biểu thị mọi
phương diện hoạt động của những trung tâm thống giác này.
Trong Câu xá quyển 13, có đưa ra ba trạng thái của tư: thẩm
lự, quyết định, và động phát. Một cách tóm tắt, Phật
giáo gọi đó là nghiệp, và phân làm thân nghiệp, khẩu nghiệp,
và ý nghiệp. Kinh bộ chủ trương hai nghiệp thân khẩu chẳng
qua là sự sai biệt của ý nghiệp. Thành thật luận quyển
6, Tư phẩm 84, thời cho rằng tư lấy tham ái làm động cơ
(nhân) rồi sinh nguyện cầu mà khởi tạo tác. Bởi vậy, xét
về mặt biểu diện tư là một bộ phận của ý thức, nhưng
mặt khác do phương diện hoạt động ý thức mà có, cho nên
tư và ý cứu cánh chỉ là một. Nói một cách đại thể,
ái, dục, tư, hành, nghiệp, ... là những tác dụng tâm có
liên quan mật thiết với nhau, đại biểu cho quan niệm hoạt
động ý chí. Theo các nhà thần kinh học, vỏ não mới là
cơ cấu phát động của ý chí.
Nhiều
nhận xét tâm lý học được đưa ra vin vào sự sắp đặt
trên dưới của ba bộ phận trong não: não loài bò sát ở
dưới đáy, não loài cổ thú ở bên trên, và trên chóp cùng
là não loài thú mới. Có thuyết cho rằng do vị trí của nó,
não trên chóp có khả năng tiết chế bản năng hành trạng
của loài có máu lạnh và loài có vú. Nó được ví như cái
nắp đậy phần vô thức của con người mà Freud gọi là Id
(Di Ngã), tức là phần con người gồm những động lực bị
dồn ép, những dục vọng bản năng luôn luôn tìm cách giải
tỏa. Nhưng cũng có nhiều nhà tâm lý học nhận xét rằng
con người thường sử dụng bộ phận não chóp bu để biện
minh các hành động do hai bộ phận bên dưới gây ra. Đó là
vì con người không muốn có ý nghĩ thuộc loài bò sát hay
cổ thú nên thường rất bối rối những khi hành động giống
chúng.
Với
nhận xét sâu sắc và chính xác của một triết gia khoa học,
Thầy Tuệ Sỹ nói đến quá trình tiến hóa của con người
như sau.
“Trong
quá trình tiến hóa, từ một vi sinh vật tồn tại và phi hành
trong ánh sáng, xuất hiện vào một thời điểm nhất định
trong một chu kỳ thành trụ hoại không của thế giới, con
người cũng chỉ là một sinh vật trong các sinh vật khác,
nhưng do thừa hưởng kết quả quá khứ mà bẩm sinh với một
hữu thể tồn tại được phát triển dần thành hai yếu tố
vừa độc lập vừa bất phân là danh và sắc. Trên cơ sở
đó, ý thức được phát triển càng lúc càng cao do vừa lấy
ngoại giới làm đối tượng vừa phản chiếu trên chính nó
như là chuỗi tồn tại liên tục của một tự ngã.
Cho
đến khi ý thức về sự tồn tại của một tự ngã đuợc
hình thành, con người tự tách mình ra khỏi thế giới quanh
mình, phân biệt những gì thuộc về ta và những gì không
thuộc về ta. Cũng như để tăng lớn thể tích của thân xác,
con người, cũng như các sinh vật khác, cần hấp thụ các
dưỡng chất từ ngoại giới, cũng vậy, để tăng lớn tự
ngã, con người cần chinh phục và chiếm hữu. Từ đó hình
thành một ý thức về sự tích lũy. Tích lũy như vậy không
phải là một khái niệm tiên thiên, không phải là ý thức
tiên nghiệm, mà là một hình thái đặc biệt của ý thức
xuất hiện vào một thời điểm có ý nghĩa trong quá trình
tiến hóa.
Tích
lũy tất nhiên dẫn đến xung đột, cạnh tranh. Mâu thuẫn
xã hội bắt đầu, trật tự cũ bị đảo lộn. Một định
chế mới cần được thiết lập để điều hòa những mâu
thuẫn, xung đột, do hệ quả của cạnh tranh. Chính quyền
đầu tiên được gọi theo tiếng Pali là Mahàsammato, được
bầu lên bởi đại chúng. Người đứng đầu cơ cấu mới
này được gọi là Ràjà, mà sau này thường được hiểu
là vua, hay người cai trị. Nhưng theo định nghĩa của Pali,
ràjà có nguồn gốc từ động từ ràjati, “nó làm vui lòng”.
Như vậy, chính quyền hay vua là trọng tài xã hội, được
bầu lên và được ủy quyền điều hòa những mâu thuẫn
xã hội.” (Giới thiệu Duy ma cật. Chương IV: Thực tiễn
hành đạo)
Nhiều
nhà thần kinh học tin rằng hiện nay con người chưa sử dụng
trọn vẹn khả năng của não. Nếu quả thật như vậy, thời
hiện nay con người là một thuần tạp thể đang ở trong thời
kỳ biến dị. Quá trình tiến hóa đang tiếp diễn sẽ chuyển
biến con người thành một thuần tạp thể mới với một
mức độ ý thức mới tương ứng với cái phần khả năng
của não chưa tận dụng.