14. Hữu
tình: Tâm, Tâm sở
Phân
loại tâm sở.
Các
luận sư A tỳ đạt ma gọi hết thảy tác dụng nội tâm một
cách tóm thâu là tâm sở. Vấn đề được đặt ra là mối
quan hệ giữa tâm và tâm sở như thế nào. Trước hết cần
phân biệt ý nghĩa của danh từ và khái niệm về tâm và tâm
sở trong Phật giáo và trong khoa thần kinh học. Đến nay, các
nhà khoa học chưa đạt được một sự thỏa thuận nhất
trí phải định nghĩa như thế nào những danh từ và khái
niệm chủ yếu về tâm và tâm sở, ngoại trừ trong phạm
vi tri giác (tưởng uẩn), nhất là thị giác, đa số đồng
ý về một số khám phá mới. Đối với các nhà khoa học
nặng óc duy vật, tâm chỉ là tác dụng của một guồng máy
không có tâm. Bấy lâu họ gia công thực hiện nhưng vô hiệu
quả nhiều chương trình rất tốn kém để thiết lập những
bộ máy tính hoạt dụng có ý thức gọi là thông minh nhân
tạo. Với sự hiểu biết rất hạn định về tâm, nhiều
nhà sinh học thiên hướng đang tự hỏi ý thức (consciousness)
có thật cần yếu cho cơ thể sinh hoạt và tồn tại hay không.
Một số chấp nhận ý thức chỉ do tưởng tượng mà có chứ
trong thế giới vật chất họ khảo sát không hiện hữu một
vật thể nào là ý thức cả.
Ở
Tây phương xưa kia đã có thời kỳ tôn giáo và khoa học sánh
đôi hòa hợp. Quan niệm chung cho rằng mọi sự vật trong vũ
trụ được cấu tạo, tồn tại, và biến hóa đều theo một
mục tiêu đã định trước (teleology; mục đích luận). Quan
niệm ấy phỏng theo cách giải thích của bộ môn sinh học
cho rằng chức năng của các bộ phận cơ thể là đóng góp
vào sự vận hành của sinh vật. Thí dụ: cấu tạo và tập
tính của tim là do chức năng góp phần vào sự tuần hoàn
máu. Chủ trương như vậy rất thích hợp với đường lối
thuyết minh về sự hiện hữu của một đấng tạo hóa có
đủ quyền năng tạo tác mọi sự vật và thống quản mọi
vận chuyển.
Đến
nay, kiến giải theo mục đích luận đã bị thuyết tiến hóa
đánh đổ. Khoa học càng tiến triển thời càng trở thành
đối lập với nhiều đạo giáo trong đường lối mô tả
cách thức vật thể hiện khởi không phù hợp với luận chấp
giải thích lý do tại sao. Khoa học cổ điển giáo điều quan
niệm thế giới và con người vận hành như máy móc, mọi
hiện tượng đều là hiện tượng vật lý, trái ngược với
chủ trương có một quyền năng siêu vật chất tác dụng tạo
tác, cứu rỗi, và phán xét mọi hình tướng sinh, thành, hoại,
diệt ở trong vũ trụ này.
Quan
hệ giữa tâm và vật thường được luận giải theo ba quan
điểm triết học sau đây. Một, phân biệt quá trình vật
lý khách quan và quá trình tâm lý chủ quan. Cả hai quá trình
đều được xem có yếu tính quyết định, tự hữu, độc
lập. Thuyết này không giải thích nổi làm thế nào hai tự
thể độc lập như vậy có thể hỗ tương tác dụng.
Hai,
thuyết duy tâm chủ trương tâm thức sẵn có định tánh nơi
tự tính của nó và là nguyên nhân của mọi hiện tượng
vật lý. Thuyết này không giải thích nổi làm thế nào các
hiện tượng vật lý tác dụng gây ảnh hưởng trên yếu tính
quyết định của tâm thức.
Ba,
thuyết duy vật chủ trương vật chất có tự tính, không cần
lệ thuộc các duyên mà hiện hữu và là nguyên nhân của mọi
quá trình tâm lý. Thuyết này bất lực không giải thích được
làm thế nào các hiện tượng tâm lý ảnh hưởng thân xác
vật chất.
Cả
ba thuyết không giải thích nổi sự hỗ tương tác dụng giữa
tâm và vật bởi tại một khi tâm và vật có bản ngã chân
thực và tự tính thường hằng thời chúng độc lập nhau,
không cách nào thiết lập một tương quan nhân quả đối xứng
giữa chúng. Cả ba thuyết đều đưa đến sự nhận định
một vũ trụ không có ý nghĩa, không có gốc rễ.
Phật
giáo không vướng vào duy tâm, chẳng mắc vào duy vật, nhưng
cũng không chủ trương một thuyết nhị nguyên. Năm uẩn tức
là toàn thể những hiện tượng vật lý, tâm lý, theo Duy thức,
đều là những thứ phát hiện của chủng tử tiềm tại trong
A lại da thức mà thôi. Chúng đều đứng về thế hiển phát
tức là hiện hành. Khi chưa hiển phát, trong thế tiềm tàng
thời chúng gọi là chủng tử. Mỗi hiện hành sinh diệt trong
từng sát na, nên hiện hành luôn luôn trở về chủng tử và
chủng tử luôn luôn trở về hiện hành. Các hiện hành sinh
khởi theo luật tương quan tương duyên. Chẳng hạn, ý thức,
lý trí, tình cảm sinh khởi nương nhờ vào các hiện tượng
sinh
lý vật lý. Nương vào để phát sinh mà thôi chứ không phải
các hiện tượng sinh lý vật lý sinh ra các hiện tượng tâm
lý. Nói cách khác, vật không sinh tâm, tâm không sinh vật.
Chúng nương vào nhau mà câu sanh câu hữu và do chủng tử ở
A lại da thức. Chủng tử là một thứ năng lực nguyên nhân
hay đúng hơn là bản chất của tất cả hiện tượng tinh
thần hay vật chất, nghĩa là của mọi hiện hành. Toàn thể
chúng là A lại da thức. Vậy A lại da thức là căn bản cho
mọi hiện tượng tâm và vật.
Mặt
khác, ngay từ thời kỳ A tỳ đạt ma, cả danh và sắc, hai
thành phần tâm linh và vật chất cấu tạo guồng máy phức
tạp của con người đều được phân tích rất tỉ mỉ. Tất
cả những trạng thái tâm hay tâm sở đều được ghi rõ từng
khoản. Thành phần cấu tạo của mọi loại tâm đều được
trình bày tường tận. Những tiến trình tâm phát sinh qua sáu
căn được mô tả với đầy đủ chi tiết. Tuy nhiên, sự
mô tả những tác dụng tâm lý trong Phật giáo không có tính
cách máy móc như trong khoa học. Chẳng hạn, khoa học mô tả
sự thấy là sự truyền dẫn xung động thần kinh từ các
tế bào của thủy tinh thể và giác mạc đến các tế bào
của võng mạc. Sau đó hình ảnh được chuyển đến vỏ não.
Ở đây, thông tin truyền đến được xử lý ngang qua rất
nhiều vùng nhận cảm thị giác và vùng liên hợp thị giác.
Mỗi vùng ví như một bản đồ. Có bản đồ vẽ màu sắc,
có bản đồ vẽ hình dạng, có bản đồ vẽ chuyển động,
hoàn toàn giống như những bản đồ về thời tiết, về dân
số, về địa chất của cùng một quốc gia. Các bản đồ
đó được sắp xếp thành tầng lớp, từ thấp lên cao. Càng
cao thời bản đồ biểu hiện càng phức tạp hơn. Trên cùng
là bản đồ của toàn thể vật bị thấy hiện ra với đầy
đủ khung cảnh bao quanh. Như vậy, hình ảnh nhận thấy nơi
bản đồ ở tầng lớp cao nhất là do sự thống hợp các
bản đồ ở các tầng lớp dưới, và sự thấy là kết quả
tác dụng của hệ thần kinh, chứ không do một chủ thể thấy.
Khoa học tựa trên những xung động điện kích thích những
đọt nhánh và được các sợi trục truyền dẫn qua nhiều
tầng lớp vùng nhận cảm thị giác và vùng liên hợp thị
giác để giải thích sự thấy do ánh sáng tác động trên
con mắt. Ánh sáng nhận vào từ con ngươi phát động những
chuỗi phản ứng hóa học trong hệ thị giác và phát sinh nhiều
hóa chất có nhiệm vụ truyền tín hiệu đến các tế bào.
Lối giải thích theo kiểu máy móc đó tuy rất khoa học, nhưng
tiếc thay không đủ khả năng phát đạt tận cùng để nắm
bắt tâm thức. Nói một cách tổng quát, khoa học giải thích
các hiện tượng tâm lý một cách máy móc và nghiên cứu phương
cách kiểm soát và chế ngự chúng.
Trái
lại, sự mô tả những tác dụng tâm lý trong Phật giáo chủ
yếu là nhằm mục đích giáo hóa. Hành giả trực quán phân
tích phê phán là để nhận thức về thể tính của vô minh,
thù hận, và dục vọng, để biết rõ chúng chính là chân
tính của giải thoát, và cuối cùng giác ngộ bốn pháp ấn,
chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, chư hành khổ, và nhất
thiết pháp không. Bởi thế hành giả không hề bận tâm đến
cơ cấu vật chất của sự biến chuyển mà chỉ chú tâm đến
hành động như thế nào để biến chuyển mà thôi. Như vậy,
Phật giáo đặc biệt chú trọng ở kết quả của những hành
vi, không phải những hành vi bên ngoài mà chú trọng ở phương
diện tâm căn, căn bản của hành vi đạo đức.
Về
quan hệ giữa tâm và tâm sở, đại khái có hai quan điểm.
Một cho rằng ngoài tâm ra không có tâm sở độc lập. Tác
dụng của tâm tuy có nhiều thứ, nhưng bất cứ thứ nào cũng
chỉ là sự sai biệt của cùng một tâm. Đó là chủ trương
của phái nhất thể luận. Phái đối lập chủ trương biệt
thể luận, tâm và tâm sở khác nhau. Tâm là tâm vương, tâm
sở là bầy tôi của vua. Lý do: Phật bảo tổ chức tâm lý,
sinh lý của người ta là năm uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành,
và thức. Như thế, trong bốn yếu tố tâm, thức là tâm vương,
còn ba yếu tố kia, thọ, tưởng, hành, là tâm sở. Nếu tất
cả tác dụng tâm đều là sự sai biệt của tâm, thời tại
sao ngoài thức là tâm còn kiến lập thêm những tâm sở là
thọ, tưởng, hành? Vả lại, tác dụng tâm có nhiều tướng
bất đồng. Tướng của thức là ở sự biết, tướng của
thọ là cảm thọ lạc, khổ, tướng của tưởng là sự nhận
thức sai biệt, tướng của hành là ở sự tạo tác. Tất
cả những cái đó không thể chỉ là sự sai biệt của cùng
một tâm.
Đa
số bộ phái thừa nhận tâm, tâm sở khác biệt. Tâm vương
là sở hữu chủ của tâm sở, tâm sở từ tâm vương mà ra,
là vật sở thuộc của tâm vương. Trên khái niệm thông thường
có thể phân biệt để khảo sát. Về phương diện tác dụng,
theo Câu xá luận, “Mỗi mỗi liễu biệt cảnh giới của
nó, thủ tổng cảnh tướng nên gọi liễu biệt. “ Nghĩa
là, tâm vương tác dụng thu nhận tướng chung (thủ tổng tướng),
còn tâm sở không những thủ tổng tướng mà còn thu nhận
tướng riêng (biệt tướng) của các pháp. Mặt khác, tâm vương
và tâm sở cùng y chỉ vào căn, tức có sở y, cùng có đối
tượng tức có sở duyên, và về phương diện kinh doanh hoạt
động thời cùng hòa hợp tức tương ưng. Tâm vương và tâm
sở khi kết hợp với nhau thời đồng nhất thể, không thể
tách rời. Nhưng tâm vương, nhất là ý thức thứ sáu, thường
là chủ nhân ông của những hiện tượng tâm lý, mà tâm sở
thời có loại tương ưng, có loại không tương ưng với tâm
vưong. Cuối cùng, đa số đồng ý chấp thuận rằng tâm sở
tuy khác loại với tâm vương nhưng vẫn được coi là vật
sở hữu của tâm vương.
Tâm
và tâm sở nói riêng và tất cả pháp nói chung được phân
loại như thế nào? Theo Câu xá luận, tất cả pháp trong vũ
trụ, cả tâm và vật, cũng như không phải tâm, không phải
vật, có thể quy kết trong năm loại là sắc, tâm, tâm sở,
tâm bất tương ưng hành, và vô vi. Trừ vô vi là pháp thường
hằng không biến hóa sinh diệt, bốn loại kia thuộc pháp hữu
vi nên đều câu sanh tức duyên sanh, nghĩa là không thể đơn
độc riêng sanh, mà phải có những pháp khác đồng thời nương
nhau mới phát sanh. Pháp hữu vi lại được chia thành bốn
loại.
(1)
Sắc pháp: có 11, gồm 5 căn (giác quan), 5 trần (những đối
tượng của tri giác), và vô biểu sắc. Duy thức thêm Pháp
trần, và nhiếp vô biểu sắc vào đó. Pháp trần là cái bóng
dáng của năm trần còn lưu lại trong ý thức. Nghĩa là khi
mắt không còn thấy sắc, tai không còn nghe tiếng, cho đến
thân không còn biết xúc, mà trong ý thức vẫn nhớ lại bóng
dáng của năm trần. Duy thức gọi đó là lạc tạ ảnh tử,
cái bóng rớt lại. Đây là cảnh bị biết của ý thức. Pháp
trần có 5 loại: cực lược sắc tức sắc rất nhỏ như vi
trần; cực hành sắc tức sắc rất xa, như thấy tăm tăm mù
mù; định quả sắc tức những sắc tướng do tu định hiện
ra; vô biểu sắc tức sắc không nêu bày ra được, còn gọi
là thọ sở dẫn sắc tức sắc do thọ giới dẫn sanh; và
biến kế sở chấp sắc tức sắc do ý thức vọng tưởng
phân biệt sanh, chẳng thật.
(2)
Tâm pháp: có 1. Dù chỉ có một nhưng nó hành sự qua 5 ngả
đường tương ứng với 5 căn. Duy thức nói có 8 món: nhãn
thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức,
Mạt na thức, và A lại da thức. Tâm pháp là pháp thuộc về
Tâm. Chữ Tâm có nhiều nghĩa, nhưng tóm lại có 6:
(a)
Tập khởi: Chứa nhóm và phát khởi. Nghĩa này thuộc thức
thứ tám, A lại da thức hay Tàng thức. Thức này có công năng
chứa nhóm chủng tử của các pháp rồi phát khởi ra hiện
hành.
(b)
Tích tập: Chứa nhóm. Nghĩa này thuộc về bảy thức trước,
vì chúng có công năng chứa nhóm các pháp hiện hành để huân
tập vào A lại da thức. Tuy nhiên, bảy thức trước cũng có
nghĩa tập khởi vì có công năng chứa nhóm các hiện hành
để huân vào A lại da thức, khởi thành chủng tử. A lại
da thức cũng có nghĩa tích tập vì chứa nhóm chủng tử của
các pháp.
(c)
Duyên lự: Duyên cảnh, khởi phân biệt. Tám thức đều tự
duyên cảnh tướng phần của mình rồi khởi ra phân biệt
(lự).
(d)
Thức: Hiểu biết phân biệt. Cả tám thức đều hiểu biết
phân biệt.
(e)
Ý: Sinh diệt tương tục không gián đoạn. Cả tám thức đều
niệm niệm sinh diệt tương tục không gián đoạn.
(f)
Tâm, Ý, Thức: Y theo đặc tánh của mỗi thức, thời thức
thứ tám về nghĩa “tập khởi” thù thắng nên gọi là Tâm.
Thức thứ bảy về nghĩa “sinh diệt tương tục” thù thắng
nên gọi là Ý. Sáu thức trước về nghĩa “phân biệt”
thù thắng nên gọi là Thức.
Tám
món Tâm kê trên có công năng thù thắng hơn hết như ông Vua
có oai quyền thế lực, thống trị thiên hạ, nên cũng gọi
là Tâm vương. Trong tám thức, ý thức “công vi thủ, tội
vi khôi”, nghĩa là nói về công suy nghĩ làm việc phải, thời
thức này hơn hết, còn luận về tội tính toán tạo tác việc
ác thời nó cũng đứng đầu. Về ý thức, bài thơ Bát thức
có câu: “Độc hữu nhất cá tối linh ly”, dịch là: riêng
có một cái thức này rất lanh lẹ.
Tại
sao thức thứ sáu và thức thứ bảy (Mạt na thức) cũng đều
gọi là ý thức? Theo Đại thừa bá pháp minh môn luận chuế
ngôn, thức thứ sáu nương ý căn mà khởi ra phân biệt nên
gọi là ý thức. Trong trường hợp này, thức là năng y và
ý là bị y, hai phần khác nhau. Về trường hợp thức thứ
bảy gọi là ý thức, chữ ý ở đây có nghĩa là sinh diệt
tương tục không gián đoạn. Vì thức thứ bảy sinh diệt
tương tục không gián đoạn nên ở đây “thức” tức là
“ý” không khác.
(3)
Tâm sở pháp: có 46, được chia thành 6 cấp, lấy ba tính thiện,
ác, và vô ký làm tiêu chuẩn. Cấp đầu tiên là đại địa
pháp. Chữ Phạn là mahàbhùmika, nghĩa là thuộc về căn cơ
phổ quát. Căn cơ tức địa ở đây chỉ cho Tâm. Thứ đến,
đại thiện địa pháp bao gồm những tác dụng tâm tổng quát
làm cơ sở cho thiện tâm. Sau đó, đại bất thiện địa pháp
và phiền não địa pháp bao gồm những tác dụng tâm kết
hợp ác tâm hay làm cơ sở cho mê vọng. Về cách phân loại
phiền não, ngoài đại phiền não còn có tiểu phiền não hay
tùy phiền não là muốn nói rõ các tác dụng tâm đã bị chinh
phục. Đó là cơ sở của lập trường chuyển mê trong Phật
giáo. Cuối cùng là loại bất định bao gồm hết thảy các
tác dụng tâm không biết xếp vào loại nào vừa kể. Sau đây
là chi tiết về 6 cấp tâm sở pháp.
(a)
Đại địa pháp, là những nhiệm vụ tổng quát, có 10 pháp.
Bất cứ khi nào tâm hoạt động thời những đại địa pháp
luôn luôn cùng xuất hiện. Về sau, Duy thức chia 10 đại địa
pháp thành 5 tâm sở biến hành: Xúc, tác ý, thọ, tưởng,
tư, và 5 tâm sở biệt cảnh: Dục (sự thèm khát ham muốn),
thắng giải (sự quyết tâm quyết định), niệm (sự tưởng
nhớ, hoài tưởng), định (sự định tâm định thần), huệ
(trí tuệ; prajnà).
Biến
hành nghĩa là đi khắp, khắp thời gian quá khứ, hiện tại,
vị lai, khắp không gian ba cõi, chín địa, khắp tám thức
tâm vương, và khắp ba tính thiện, ác, và vô ký. Biệt cảnh
là mỗi cảnh riêng khác, mỗi tâm sở biệt cảnh duyên mỗi
cảnh riêng khác. Điều đáng nêu lên ở đây là khi cắt đôi
loại 10 đại địa pháp của Câu xá thành hai thứ là biến
hành và biệt cảnh, Duy thức tông đã bỏ mati (huệ) trong
Câu xá tông mà thay thế lại bằng prajnà (trí tuệ). Mặc
dầu trong kinh Bát nhã Phật mẫu Bảo đức tạng (Ratnaguna-samcayagàthà),
tiền thân của Bát nhã Bát thiên tụng, có nói rõ: “Không
thể nắm lấy (na upalabdhi; bất khả đắc) Bát nhã tối thượng
ba la mật, không thể nắm được bằng tâm, cũng không thể
bằng trí (sattvabodhi; hữu tình giác)”, nhưng đây quả là
sự cố ý thiên chấp của Duy thức do phản ứng đối với
ý nghĩa của chữ Bát nhã (prajnà) mà đem xếp prajnà vào loại
tâm sở thứ yếu phụ thuộc. Prajnà đúng lý ra là pháp vô
vi thứ 100 trong Đại thừa Bách pháp của Duy thức tông, vì
prajnà là trí Bát nhã, là Chân như.
(b)
Đại thiện địa pháp, là những tác vụ tổng quát thuộc
thiện, có 10 pháp hiện hành với tất cả tâm sở thiện:
Tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, tinh tấn, khinh an, bất phóng
dật, hành xả, bất hại. Duy thức thêm vô si, vị chi tất
cả là 11 thiện pháp. Thiện tâm là tác dụng tâm xả ly ngã
chấp, ngã dục khiến cho tâm được trong sáng. Ba tác dụng
vô tham, vô sân, vô si được gọi là thiện căn. Kỳ thật,
nếu xét kỹ, thời tàm và quí mới đích thực là căn nguyên
của hết thảy thiện tâm. Tàm có thể nói là tâm trọng đạo
đức hay là tâm tự thấy hỗ với mình, quí là tâm sợ tội
ác hay là tâm thẹn với người. Quan niệm như vậy gần giống
tư tưởng lương tâm, theo cách nói thông thường.
(c)
Đại phiền não địa pháp, có 6 pháp là những thứ bị nhiễm
ô tham dục: Vô minh, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm,
trạo cử. Duy thức cũng nói 6 pháp giống Câu xá nhưng nội
dung hoàn toàn khác hẳn và gọi đó là Căn bản phiền não:
Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Tham có nghĩa là chấp chặt
lấy. Chấp trước đối với Dục giới là dục tham, chấp
trước đối với Sắc giới và Vô sắc giới là hữu tham.
Sân là sân hận, cơ bản của ác hạnh. Si là vô trí, có nghĩa
là tâm ngu độn. Mạn là tâm kiêu mạn. Nghi là sinh lòng nghi
ngờ đối với chân lý Tứ đế. Ác kiến là thấy biết sai
lầm, chia làm năm: thân kiến, tức chấp năm uẩn là ta, là
của ta; biên kiến tức chấp thường chấp đoạn; tà kiến
tức không tin lý nhân duyên; kiến thủ kiến tức là tin một
cách mù quáng không chân chính; giới cấm thủ kiến tức làm
theo những pháp kỳ quái mà cho đó là tu đạo.
Phiền
não chỉ toàn bộ tác dụng tâm lấy ngã chấp, ngã dục làm
cơ sở, lấy việc thỏa mãn ngã chấp, ngã dục làm mục đích
một cách ý thức hay vô thức. Theo Phật, sự tu dưỡng nói
một cách tích cực thời ở sự tăng trưởng trí tuệ, nhưng
nói một cách tiêu cực, lại ở sự đoạn trừ phiền não.
(d)
Đại bất thiện địa pháp, có 2 pháp cùng xuất hiện với
tất cả những tư tưởng xấu xa: Vô tàm và vô quí. Duy thức
loại bỏ Đại bất thiện địa pháp, đem hai pháp này xếp
vào loại trung tùy phiền não, sắp nói đến trong đoạn Tiểu
phiền não địa pháp sau đây.
(e)
Tiểu phiền não địa pháp, có 10 pháp, là những pháp thuộc
đặc chất tham dục thông thường: Phẫn, hận, não, hại,
phú, siểm, cuống, kiêu, tật, xan. Chúng luôn luôn đi theo tâm
xấu xa cũng như với tâm vô ký chướng ngại thánh đạo.
Chúng cần phải bị loại trừ dần dần trên đường tu tập,
chứ không đoạn trừ ngay do con đường của thị kiến tức
kiến đạo. Duy thức xếp 10 pháp tiểu phiền não vào loại
tiểu tùy phiền não, thêm vào đó 2 pháp trung tùy là vô tàm
và vô quí, cọng thêm 8 pháp đại tùy nữa và đem nhiếp tất
cả vào Tùy phiền não. Tám đại tùy gồm có: Trạo cử, hôn
trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn,
bất chánh tri.
Phẫn
là giận, hận là ấp ủ niềm giận tức trong lòng, não là
sinh buồn bực, hại là làm hại kẻ khác. Đó là những tướng
khác nhau của sân. Phú (che dấu), siểm (nịnh hót), cuống
(dối trá), có nghĩa là vì tư lợi mà che dấu sự thật, nịnh
hót và hùa theo người. Đó là tâm lý dối trá do tham si mà
ra. Kiêu là dương dương tự đắc. Tật là ganh ghét sự thành
công của người khác. Xan là tính bủn xỉn keo kiệt. Trạo
cử là trái với xả. Hôn trầm là tính khí nặng nề, trái
với khinh an. Bất tín là trái với tín. Giải đãi là lười
biếng, trái với siêng năng. Phóng dật là càn dỡ, trái với
bất phóng dật. Thất niệm, tán loạn, bất chính tri là trạng
thái của những tác dụng niệm, thắng giải, định trong Đại
địa pháp không được hoàn thành.
Nếu
phân loại một cách đơn giản thời tất cả phiền não không
ngoài hai loại. Một, kiến hoặc, tức trí mê chấp, phán đoán
sự thực một cách sai lầm. Hai, tư hoặc hay tu hoặc, tức
tình ý mê chấp. Nghĩa là, tuy đã hiểu biết về mặt trí
thức, nhưng không thể ức chế được về mặt tình ý.
(f)
Bất định địa pháp, có 8: Ố tác (truy hối, ăn năn), thụy
miên (tâm mờ mịt, thân không tự tại), tầm (sự quan sát
thô), tứ (sự quan sát tế), tham, sân, mạn, nghi, là những
pháp không thể sắp xếp vào bất cứ đâu trong năm tác vụ
nói trên. Duy thức loại bỏ tham, sân, mạn, nghi, vậy chỉ
còn 4: hối, miên, tầm, tứ. Trong thực tế, còn rất nhiều
tác dụng tâm loại này không thể kể hết.
(4)
Tâm bất tương ưng hành pháp, trong đó chữ hành pháp có nghĩa
là những pháp thuộc hành uẩn, một trong năm uẩn. Hành uẩn
gồm có hai loại. Một, tương ưng hành uẩn tức là các tâm
sở pháp vừa dề cập ở trên, “tương ưng” là ưng thuận
với Tâm vương. Hai, bất tương ưng hành uẩn là những pháp
không tương ưng với tâm, chỉ y ba phần: Tâm vương, tâm sở,
và sắc pháp mà giả thành lập. Có thể nói chúng không thuộc
Sắc mà cũng không thuộc Tâm. Theo Câu xá, có 14 món: Đắc,
phi đắc (Duy thức gọi là dị sanh tánh), chúng đồng phần,
vô tưởng quả, vô tưởng định, diệt tận định, mệnh
căn, sinh, trụ, dị, diệt, danh thân, cú thân, văn thân.
Đắc
là năng lực ràng buộc một vật thể đạt được với kẻ
đạt được nó; phi đắc là năng lực làm phân ly một vật
thể với chủ hữu của nó; chúng đồng phần, là năng lực
tạo ra những đặc loại hay một bộ loại để có những
hình thức tương tợ của sự sống. Vô tưởng quả, vô tưởng
định, diệt tận định, tất cả đều là những kết quả
không tư tưởng và không điều kiện, chỉ đạt được bằng
thiền định. Mệnh căn hay sinh lực là năng lực kéo dài đời
sống. Sinh, trụ, dị, diệt bao gồm sự sống và sự chết
của sinh thể, tức là những quá trình sinh hóa. Ba pháp cuối
cùng, là những bộ phần của danh, cú, và văn, tất cả đều
liên hệ với ngôn ngữ.
Duy
thức thêm vào 10: lưu chuyển, định dị, tương ứng, thế
tốc, thứ đệ, phương, thời, số, hòa hợp tánh, bất hòa
hợp tánh. Ngoài ra hai pháp lão, vô thường được Duy thức
đem thay vào hai pháp dị, diệt của Câu xá. Như vậy, đối
với Duy thức, tất cả có 24 pháp bất tương ưng hành.
Pháp
vô vi có 3: (a) Hư không, là pháp không chướng ngại và thâm
nhập qua tất cả mọi chướng ngại một cách tự do, và không
biến chuyển. (b) Trạch diệt pháp, là sự tịch diệt đạt
được bằng năng lực trí tuệ như Niết bàn. (c) Phi trạch
diệt pháp, là sự tịch diệt được tạo ra do khuyết duyên.
Duy thức thêm 3: bất động diệt, tức là trạng thái đệ
tứ thiền đã lìa được ba định dưới không còn bị mừng,
giận, thương, ghét,... làm dao động nơi tâm; thọ tưởng
diệt tức là được diệt tận định, diệt trừ hết thọ
và tưởng tâm sở; và Chân như tức thật tánh của các pháp
hay Viên thành thật.
Tất
cả pháp nói trên, 75 theo Câu xá, 100 theo Duy thức, mặc dầu
phân ly nhau trên phương diện phân tích khảo sát, hết thảy
đều liên kết nhau trong thế giới hiện thực.
Tâm
bất khả đắc.
Kinh
Bát nhã đã nói về Tâm như thế nào? Chữ Tâm (Citta) trong
Kinh Bát Nhã có thể hiểu theo hai bình diện, tục đế và
chân đế.
Theo
lối nhìn tục đế, Phạm Công Thiện viết: “Tâm (citta) chỉ
là cái tâm có tác dụng ý niệm hóa, cái tâm kiến thức ý
nỉệm, cái ý thức biệt biện, cái lý trí phán xét, cái
trực giác nhận thức, sự tự tri nhận, cái ý thức về bản
thân, sự tự ý thức ý tưởng tư tưởng, suy tưởng xúc
cảm, cảm giác, tư duy, tinh thần, tâm linh, thần thức, linh
thức, thông minh, thông tuệ, lý luận, diễn dịch, quy nạp,
linh hồn, tâm hồn, tâm trạng, tất cả những gì mình có
thể nghĩ, có thể ý niệm, có thể cảm biết, có thể định
đoạt, có thể cảm thông và thông cảm, những gì mình có
thể suy tư và trầm tư, có thể lãnh hội thấu dạt, tất
cả những gì mình có thể hiểu biết và ý thức, và chính
cái ý thức và vô thức hay cả hạ thức, tiềm thức, hiện
thức và thượng thức, tất cả những cái này đều thuộc
về Tâm (citta) hiểu theo nghĩa tục đế, cái citta này không
có tác động gì đến sự phát sinh Trí huệ Bát Nhã, như
chúng ta thấy trong kinh Bát Nhã Suvikràn-tavikràmì- paripricchà:
“Trí huệ Bát Nhã hoàn toàn không có tâm”; “Con đường
thực hành Trí huệ Bát Nhã thì không thể phát sinh từ cái
Tâm”; “Kẻ nào không hiểu được sự tách rời của tâm
và sự tách rời ra khỏi đối tượng của tâm thì mới bị
ràng buộc ám ảnh bởi cái tâm (citta) như vầy: tôi là citta,
cái citta của chính tôi, cái citta về cái này, cái citta là
cái này. Vì bị ràng buộc ám ảnh như thế bởi citta, họ
ám ảnh bởi cái mà họ cho là cái citta lành thiện, cái citta
bất thiện, cái citta dễ chịu, cái citta khó chịu, sự tiêu
diệt citta và sự tồn tại thường còn của citta, v.v... “.
Chúng ta thấy đoạn kinh này đã phủ nhận cái citta (tâm)
và những cái gọi là caitasika (tâm sở) của truyền thống
Câu Xá tông; 1 tâm vương và 49 tâm sở trong Thành Thật tông;
8 món tâm vương và 5l món tâm sở trong Duy Thức tông. Hiển
nhiên, hầu hết những trường phái Câu Xá (Abhidharma-Kosa)
đều xuất hiện có lẽ khoảng sau kỳ Kiết Tập của Asóka
(khoảng 240 trước Tây lịch), và kinh Bát Nhã lâu đời nhất
(kinh Astasáhasrikà) và những kinh kế tiếp của Bát Nhã đều
xuất hiện khoảng thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, cho
nên đoạn trích dẫn trên từ kinh Bát Nhã Suvikràn-tavikràmì-paripricchà
có tính cách phủ nhận tư tưởng về Tâm vương và tâm sở
của Câu Xá. Và sự phủ nhận này cũng có thể áp dụng vào
luôn cho cả những tông phái thành lập sau đó, như Thành Thật
tông (Satyasiddhi) và Duy Thức tông (Vijnapri-màtratà). “ (Trích
từ trang nhà Đạo Phật ngày nay: Sự chuyển động toàn diện
của tâm thức trong ánh sáng bất tận của Phật A Di Đà.)
Theo
nghĩa chân đế, Tâm (Citta) tức Chân tâm chính là Vô tâm.
Kinh Bát nhã Bát thiên tụng (Astasáhasrikà; 8 ngàn thính tiết)
trong đoạn nói về “Tâm Vô tâm”, về “tự tính của Tâm
Vô tâm bừng sáng lên một cách lộng lẫy trong suốt”, có
thuật lại khi Xá lợi phất đặt câu hỏi: “Vậy cái Tâm
ấy chính là Vô tâm, thế thời cái Vô tâm ấy có thực hay
không?”, Tu bồ đề mới hỏi lại: “Cái Tâm ấy có thực
hay không, hoặc có thể nào hiểu cái Tâm Vô tâm ấy là có
thực và không có thực?” Xá lợi phất liền trả lời dứt
khoát: “Không, không thể nào hiểu theo điệu như vậy.”
Vậy cái Tâm Vô tâm của Bát nhã không hữu thể, không vô
thể, không thực có, không thực không.
Đạt
Ma Tổ sư cũng nói Vô tâm là Chân tâm, Chân tâm là Vô tâm.
Thay vì Vô tâm, Huệ Năng và Thần Hội dùng chữ Vô niệm.
Đại châu Huệ Hải, đồ đệ của Mã Tổ, coi cả hai đồng
nghĩa và căn cứ theo đó giải thích Bồ đề và giải thoát:
“Bồ đề chỉ là giả danh, và không có (thực tại cá biệt
tương ưng làm đối tượng) chứng đạt. Trong quá khứ chưa
từng có ai chứng đạt, trong vị lai không hề có người chứng
đạt; vì nó là cái vượt ngoài tính cách chứng đạt. Như
thế không có gì để niệm, ngoại trừ chính Vô niệm. Đây
gọi là niệm chân chính. Bồ đề không có nghĩa là có một
tư tưởng gì về một vật nào đó (nghĩa là, không bận tâm
đến cái chi hết). Không bận tâm đến cái chi hết tức là
vô tâm trong mọi trường hợp. ... Khi đã hiểu như vậy, chúng
ta đạt được Vô niệm, và khi đã chứng đạt Vô niệm,
tức là đã giải thoát.” (Thiền luận. Tập Hạ. Tuệ Sỹ
dịch giải)
Thực
tại rốt ráo vượt lên hết thảy mọi phạm trù, và do đó,
vượt ngoài khả năng tư duy và sở đắc, do đó không thể
diễn tả, ngoại trừ gọi nó là “vô tâm” với hai ý nghĩa
là hình dung và danh tự. Tóm lại, Tâm bất khả đắc.
Huệ
Khả thiền sư đến cầu pháp với Đạt Ma tổ sư tưởng
rằng có tâm khả đắc, mà kỳ thật chỉ là mối tâm lo buồn
bất an không có tự tại. Thế nên khi Đạt Ma tổ sư hỏi:
“Tâm đâu, dem tâm đến đây ta an cho”, Tổ sư muốn đánh
thức Huệ Khả quán lại tự tâm, cầu tướng của tâm. Sau
một phút lưỡng lự, Huệ Khả thú nhận: “Tôi đã tìm nó
trong nhiều năm rồi mà vẫn chưa bắt được nó.” Nghĩa
là, do câu hỏi của Tổ sư mà Huệ Khả liễu đạt “Cầu
tâm không thể được”.
Đại
Huệ giải rằng: “Huệ Khả đã hiểu rõ tình cảnh của
mình sau khi đã học hết kinh điển và hay thay! Ngài đã trả
lời thích đáng cho Tổ sư. Ngài biết rõ là đừng đi tìm
“vật” vì một mục đích hay không mục đích, đừng đạt
đến bằng lời cũng không bằng suy nghĩ mà thôi; không bắt
bằng lý, cũng không giải thích bằng vô lý. Nó không ở đâu
cả. Đừng suy ra từ đâu hết. Nó không ở nơi năm uẩn,
nơi mười tám giới. Ngài đã trả lời khéo léo bằng cách
ấy.” Đây chính là Bất nhị pháp môn an tâm giải thoát.
Trong
kinh Bảo tích, đức Phật khuyên nhủ Bồ tát chuyên cần gia
công tinh tấn tu quán, quán tất cả pháp không mà cầu tâm
tướng, tức là quán sát tìm cầu tự tính của tâm: “Bồ
tát như thế mà cầu tâm. Những gì là tâm? Có phải tham dục,
sân hận, ngu si là tâm không? Hay là quá khứ, hiện tại, vị
lai là tâm? Nếu tâm quá khứ thời đã tận diệt rồi; tâm
vị lai thời chưa sinh chưa đến; tâm hiện tại thời không
thường trụ. Tâm này chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, cũng
chẳng ở chặng giữa. Tâm này không sắc, không hình, không
đối, không thức, không tri, không trụ, không xứ. Như thế
tâm này mười phương ba đời tất cả chư Phật đã chẳng
thấy, nay chẳng thấy, và sẽ chẳng thấy. Nếu tất cả Phật
quá khứ, vị lai, hiện tại đều không thấy, thời sao gọi
là có tâm? Ấy bởi vì vọng tưởng điên đảo vậy. Tâm
sinh các pháp sai biệt. Tâm này như huyễn, do vọng tưởng
phân biệt mà khởi các thứ nghiệp để rồi chịu lấy các
thứ thân (hình tướng).” (Kinh Bảo tích. Thích Đức Niệm
dịch giảng)
Thế
nào là cầu tự tính của tâm? Theo đoạn kinh văn trên, có
ba cách quán sát cầu tâm: tam độc cầu, tam thời cầu, và
tam xứ cầu. Trước hết, ba độc là tham dục, sân hận, và
si mê. Nếu như tâm là một trong ba độc thời hai độc kia
không phải là tâm. Giả sử tham si hoặc sân si có thể tương
ưng nhau đồng thời có mà không trở ngại, do đó tham và
sân hoặc si đồng thời tồn tại hiện khởi. Nhưng như vậy
thời không tránh khỏi lỗi lầm tham và sân chống đối nhau.
Vả lại, cả hai đều tương ưng cùng có thời đó là do các
duyên hòa hợp chứ chẳng phải là tự tính của tâm. Nếu
tự tính của tâm thời tự thể không hai. Vậy nếu từ tam
độc mà truy cầu thể tánh, thời bất cứ điều gì cũng
không thể nói là tâm. Áp dụng vào ba tánh thiện, ác, và
vô ký, ta thấy ngay tâm không thể hạn cuộc vào một tánh,
lại cũng không thể cùng một lúc thông cả ba tánh. Vì vậy
dùng ba tánh để truy cầu tâm thời tâm bất khả đắc.
Thứ
đến, y cứ vào thời gian để quán tâm, nếu tâm ở quá khứ,
thời quá khứ đã qua, tâm đã tận diệt nên bất khả đắc.
Nếu ở vị lai thời vị lai chưa sinh chưa đến chẳng khác
nào không? Nếu tâm ở hiện tại không lìa quá khứ và vị
lai, thời đó chỉ là giả danh. Hiện tại không có một niệm
an trụ bất động. Vì thế kinh nói: “Tức sinh tức diệt”.
Vậy hiện tại là tức sinh tức diệt, sinh sinh diệt diệt
không có tướng trụ. Do đó, tam thời cầu mà quán sát tâm
thời tâm bất khả đắc. Kinh Kim Cang nói: “Quá khứ tâm
bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm
bất khả đắc.”
Sau
cùng, nếu như tâm không có thực tánh thời tâm ở chỗ nào?
Truy tầm quán sát cho cùng trong ba xứ thời tâm không có ở
trong thân và cũng chẳng chỉ được tâm ở một chỗ nào
trong thân. Vả lại, nếu ở trong thân thời làm sao biết được
ngoại cảnh? Đương nhiên tâm không ở ngoài thân vì nếu
ở ngoài thời thân và tâm không liên hệ nhau, như vậy làm
sao biết được thân tâm mình? Nếu ở chặng giữa, thời
giữa là cái giả danh của sự đối đãi nên vẫn không chỉ
được đích xác chỗ nào là giữa.
Kết
luận: Ước cứ vào ba độc, ba thời, và ba xứ để quán
sát thời không có một định pháp nào gọi là tâm, không
thấy tâm có tự tính, khế nhập được tâm không.
Do
quán tánh của tâm vốn không mà thể nhập hiện chứng vô
phân biệt tánh. Ở đây phân làm bảy phần để hiển thị
tướng của tâm bất khả đắc: Tâm không sắc vì chẳng có
sắc căn, không có sắc tướng. Tâm không hình vì tâm không
giống năm trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Không có hình
tướng nên không có sự đối đãi. Tâm không thức vì vô
thức không phải là ý căn thức hay hiểu biết phân biệt.
Tâm không tri vì vô tri không phải là cái thức tạp nhiễm
hữu lậu hay biết. Tâm không trụ vì không phải y trụ nơi
căn mới có. Mà tự thân của tâm vốn là tâm. Tâm không xứ
vì không ở bất cứ chỗ nào, cũng chẳng nương tựa vật
nào trong thế gian.
Như
thế tâm không có chỗ sở đắc, bản tánh của tâm như như
vô phân biệt. Bởi vậy đức Phật mới nói không phải vì
trí lực yếu kém mà quán sát không đến nhưng là bởi chân
tướng của tâm bản lai vốn như thế. Mười phương ba đời
chư Phật quán tâm bất khả đắc, thế thời tại sao chúng
sinh nhất định rằng tâm khả đắc?
Trước
kia có ngài Đức Sơn Tuyên giám học kinh Kim Cang đọc thấy
câu, tâm quá khứ, hiện tại, vị lai bất khả đắc, rồi
nghĩ rằng chẳng có tâm, nên muốn đem sự hiểu biết của
mình xuống miền Nam Trung Hoa để vấn nạn đả phá Thiền
tông phương Nam. Đi giữa đường, Đức Sơn ghé vào quán hỏi
mua thức ăn điểm tâm. Bà chủ quán hỏi: “Kinh Kim Cang nói
ba tâm đều bất khả đắc, vậy thầy muốn điểm tâm nào?”
Đức Sơn hoang mang chẳng biết đáp làm sao. Vì lầm nhận
không có tâm, nên chân tục chẳng hay vô ngại, giải không
chẳng thể thông đạt, đành phải câm miệng không lời.
Đối
với vấn đề này, đức Phật giải đáp: “Do vọng tưởng
điên đảo nên tâm sinh các pháp sai biệt.” Và Ngài nói tiếp
một cách rõ ràng hơn: “Tâm này như huyễn, do vì ức tưởng
phân biệt nên tâm và phiền não đồng sinh khởi, theo đó
các nghiệp thiện ác sanh. Ở trong hư vọng huyễn hóa mà dệt
thành ba giới sáu đường huyễn hóa, sinh tử luân hồi.”
Nếu cho rằng nhất định có tâm khả đắc, là chân thật,
thời vấn đề đặt ra đến cùng là: Tâm là cái gì? Làm
sao có? Có từ lúc nào? v..v... Cứ như thế mà truy cầu quán
sát bất tận vẫn chẳng thấy tâm ở đâu. Một khi thông
đạt tâm bất khả đắc, tức là hiện chứng chân chánh,
giải thoát tự tại.
Trong
đoạn kinh kế tiếp, đức Phật đưa ra hai mươi bốn thí
dụ để nói về tính chất mê hoặc thấp kém của vọng tâm.
“Lại
nữa, này Đại Ca Diếp! Tâm thoáng đi như gió không thể bắt
được. Tâm như nước chảy sinh diệt không ngừng. Tâm như
đèn cháy do các duyên mà có. Tâm như điện chớp niệm niệm
sinh diệt. Tâm như hư không khách trần ô uế. Tâm như loài
dã nhơn vượn khỉ tham trước lục dục. Tâm như nhà họa
sĩ tài ba hay vẽ ra những cảnh vật hình tượng làm nên các
nghiệp nhân duyên. Tâm không nhất định, theo đuổi các thứ
phiền não. Tâm như vị đại vương làm chủ tăng thượng
tất cả các pháp. Tâm thường độc hành không hai không bạn,
không có hai tâm khởi cùng một lúc. Tâm như oan gia hay cùng
với tất cả khổ não. Tâm như voi điên dẫm đạp ruộng
vườn nhà cửa có thể phá hoại tất cả căn lành. Tâm như
nuốt lưỡi câu, vui trong khổ lụy. Tâm này như mộng ở trong
vô ngã mà tưởng có ngã. Tâm như ruồi xanh ở trong bất tịnh
mà tưởng là tịnh. Tâm như giặc ác hay cùng các thứ khổ
cướp đoạt. Tâm như ác quỷ tìm phá hoại người. Tâm thường
không cao thấp tham sân phá hoại. Tâm như trộm cướp, cướp
mất tất cả căn lành. Tâm thường tham sắc như kiến vào
lửa, như thiêu thân vào đèn. Tâm thường ham thích âm thanh
như quân lính ra trận thích nghe trống nhạc chiến thắng.
Tâm thường tham đắm mùi thơm, như heo thích nằm trong phân
bất tịnh. Tâm thường ham mùi vị, như bé gái thích đẹp,
thích ăn ngon. Tâm thường thích chạm xúc như ruồi thích đậu
vào đầu.”
Gió,
dòng nước, đèn cháy, điện chớp đều dụ cho vô thường,
nên không bền lâu. Còn riêng về hư không thời dụ cho chân
tâm thanh tịnh do trần duyên mà hóa bất tịnh. Bảy dụ kế
tiếp, từ dụ thứ 6, tâm như khỉ vượn đến dụ thứ 12,
tâm như voi điên, rộng nói về tác dụng của tâm. Đặc biệt
dụ tâm như đại vương, như họa sĩ, như kẻ độc hành là
những dụ kinh điển Phật giáo thường hay đề cập. Từ
dụ 13, tâm như cá nuốt câu đến dụ 15, tâm như ruồi xanh,
nói rõ tâm điên đảo. Bốn dụ từ 16, tâm như giặc ác đến
19, tâm như kẻ trộm cướp, hình dung sự tà ác của tâm.
Năm thí dụ cuối cùng chỉ rõ về tâm tham ngũ dục mà phải
lụy thân.
Tiếp
ý thắng nghĩa quán tâm vô tánh trong đoạn văn trước, giờ
đây đức Phật nói vô tánh tức tánh: “Như thế đó Ca Diếp!
Tìm cầu cái tướng của tâm nay không có được. Đã không
có được thời không có quá khứ, hiện tại, vị lai. Nếu
chẳng có quá khứ, hiện tại, vị lai thời siêu xuất ra khỏi
ba cõi. Nếu ra khỏi ba cõi thời chẳng có chẳng không. Nếu
chẳng có chẳng không tức là không khởi. Nếu là không khởi
tức là không tánh. Nếu không tánh tức là không sinh. Nếu
không sinh tức không diệt. Nếu không diệt thời không lìa.
Nếu không có lìa thời không khứ không lai, không thối không
sinh. Nếu không lai, không khứ, không thối, không sinh thời
không hành nghiệp. Nếu không hành nghiệp thời là vô vi.”
Kinh
Bát nhã giảng thế nào là tự tính các pháp: “Tất cả pháp
tự tính bất khả đắc, thế gọi là tự tính của tất cả
pháp.” Thường chúng sinh đối với tất cả pháp chấp có
tự tính, vì vậy pháp tánh không hiển bày. Chỉ có thông
đạt tất cả không tự tính, tất cả bất khả đắc, nói
giống như một vật thời không trúng mới khai hiển tự tính
của tất cả pháp.
Theo
đoạn văn trên, nếu rốt cùng tâm bất khả đắc thời pháp
không có quá khứ, hiện tại, vị lai. Như thế là vượt ngoài
ba giới, siêu việt thời gian. Do đó, chẳng có chẳng không.
Tại sao? Bởi vì có là do nhân duyên hòa hợp mà có. Từ nhân
duyên mà có tất phải có tướng thời gian. Nếu không rơi
mắc vào tướng thời gian thời không thể bảo là có. Nếu
đã chẳng có thời cũng chẳng không. Tiến thêm một bước
nữa, đức Phật bảo: “Chẳng có chẳng không thời không
phát khởi.” Khởi là từ không có đến có, từ không có
sở tri phân biệt đến sở tri phân biệt. Có và không đều
không thể nói, vậy còn có cái gì nữa để mà khởi? Không
khởi tức là vô tánh. Vô tánh nghĩa là không có tự tính,
tức tánh Không. Ngược lại, nếu có tự tính thời có sinh.
Sinh là không có mà được. Rốt ráo không sinh thời tuyệt
đối vô tự tính. Nếu tánh vô sinh tức là vô diệt. Không
diệt thời làm gì có ly? Mà không có ly thời không có cái
tướng đến đi sinh diệt. Đã không có cái tướng tấn thối
sinh diệt thời không thể nói thiện ác. Thối nghĩa là được
rồi lại mất đi. Như định huệ thế gian thối mất, hoặc
như nghiệp lực thiện ác có lúc hết. Đây là ý nghĩa của
vô lai, vô khứ, vô thối, vô sinh, nghĩa là vô hành nghiệp.
Vì không hành nghiệp nên nghiệp phiền não không khởi, nên
sinh diệt vô vi đều bất khả đắc.
Tóm
lại, Tâm là chủ của sự của nghiệp chịu quả báo. Nếu
không có tâm và tâm sở, thời không có gì để nói về nghiệp
và nghiệp báo. Đã không có nghiệp và nghiệp báo thời không
có quả báo khổ vui. Không có khổ vui tức là Thánh tánh.
Thánh tánh, Phật tánh, tánh Không chỉ là tên gọi khác của
Pháp tánh. Kinh Bảo tích cũng như kinh A Hàm đã từ quán tâm
bất khả đắc mà triển chuyển hiển bày hiển chứng tánh
Không, căn bản của tất cả thánh giả, của tam thừa thánh
quả, đúng với bổn ý của đức Thế Tôn là diệu dụng
các pháp hữu vi mà chỉ bày tánh Không của vạn pháp.