15. Hữu
tình: Xúc động và lý trí
Xúc
động tình cảm.
Đến
nay, càng ngày càng đông khoa học gia sử dụng kỹ thuật tính
toán để phát hiện các mối quan hệ giữa những tâm sở
và những vùng đặc thù của não. Dẫu có ghi thâu xung động
của các neuron suốt tháng, đo lường nồng độ của từng
phân tử, và quan sát hết thảy mọi mẫu hình cọng hưởng
của mạng lưới não phức tạp, họ cũng phải nhìn nhận
không thể vin vào đó mà giải thích khái niệm tâm thức rõ
ràng và đúng như thật. Dầu sao sự phát minh mạng lưới
quan hệ giữa hai hệ thống, hệ neuron và hệ tâm sở, không
phải là không cần thiết trong việc tạo dựng một thế nền
cho một học thuyết về tâm. Những khám phá mới chẳng những
giúp sáng chế nhiều liệu pháp mới để chữa loạn thần
kinh mà còn tiết lộ gốc rễ và sự diễn biến tiến hóa
của những hoạt động tâm lý không thể tách biệt với gốc
rễ và sự diễn biến tiến hóa của những hiện tượng sinh
lý vật lý trong cơ thể con người. Hệ viền hay não cổ thú
tức là những trung tâm thần kinh xúc động chiếm một vị
trí rất quan trọng trong cấu trúc của não vì các trung tâm
suy tưởng nảy chồi ở phía trên và phát xuất từ chúng,
mở rộng tầm hoạt dụng của chúng. Những trung tâm thần
kinh xúc động kết liên, bện chặt, và giao thiệp không ngừng
với vô số mạch nối của vỏ não mới. Do đó chúng có vô
hạn quyền năng chi phối sự vận hành của vỏ não, kể cả
những trung tâm thần kinh suy tưởng tức vỏ não mới.
Một
trong những thành quả quan trọng của thần kinh học hiện
đại là xác định được trong phần não loài cổ thú chỗ
ẩn trú của các tâm sở sợ hãi, sân hận, khát ái, và dục
vọng. Bất kỳ tâm sở nào trong số đó cũng luôn luôn sẵn
sàng nhảy ngay ra khỏi hang núp mọi khi có cơ hội. Hang ẩn
trú đó chính là amiđan (hạch hạnh; chữ Hy Lạp amygdala có
nghĩa là hạnh nhân), một bộ phận nằm dưới đáy sâu của
hệ viền, kế cạnh một bộ phận khác có tên là đồi hà
mã (hippocampus), ngay phía trên cuống não. Cả đồi hà mã và
amiđan là chỗ phát khởi não loài cổ thú và sau đó là vỏ
não mới. Chúng là nơi diễn ra các hoạt động học hỏi và
ghi nhớ. Nói riêng amiđan thời nó là chuyên viên về xúc động
tình cảm, là chủ thể theo dõi và kiểm soát hầu hết những
cảm giác và phản ứng cơ bản của não. Nó dẫn khởi hành
động đối ứng tùy theo sự nhớ lại những kinh nghiệm đã
qua cất giữ trong nó và trong đồi hà mã. Đã có trường
hợp một người trai trẻ bị chứng kinh giản trở thành thờ
ơ, lạnh lùng, tìm cách lánh xa mọi người sau khi được giải
phẫu cắt bỏ amiđan. Amiđan tham dự một phần lớn làm chảy
nước mắt khổ đau hay sung sướng. Thiếu mất amiđan, con
người hình như mất đi sự hay biết về cảm giác, không
còn cảm thấy những cảm xúc của mình nữa. Amiđan hoạt
động như kho tàng trữ ức niệm xúc động, do đó đời sống
thiếu amiđan là một đời sống không có ý nghĩa.
Thường
amiđan phối hợp với những vùng của não suy tưởng tức
não loài thú mới, trước khi giải thích hay báo hiệu một
phản ứng đáp trả lại một kích thích hay biến cố. Nhưng
amiđan cũng có khả năng tác dụng độc lập không cần chia
xẻ quyết định với những cơ quan suy tưởng, nhất là những
lúc sinh mệnh lâm nguy. Nhà thần kinh học Joseph LeDoux khám
phá ra mối quan hệ cấu trúc giữa amiđan và não suy tưởng
tức vỏ não mới. Mối quan hệ cấu trúc này giải thích nguyên
nhân vì sao amiđan trong nhiều cảnh huống cướp đoạt quyền
đoán định của não suy tưởng và đơn độc ra lệnh chúng
ta hành động. LeDoux là nhà thần kinh học đầu tiên tìm thấy
con đường phát khởì những xung động tình cảm thiếu lý
trí.
Theo
sự hiểu biết cổ điển, mọi tín hiệu truyền từ ngoài
vào qua các giác quan như mắt, tai, mũi,... đều được truyền
dẫn đến khâu não (thalamus), một “căn phòng” giữa cuống
não và vỏ não. [Chữ thalamus gốc Cổ Hy lạp có nghĩa là
phòng trước, thường là phòng đợi] Khâu não có chức năng
giống như một cửa kiểm soát, thâu nhận, và sắp xếp mọi
tín hiệu liên quan mỗì thứ cảm giác lại thành bó để
chuyển lên vỏ não đến những vùng nhận cảm tương hợp.
Những vùng nhận cảm này phối hợp với những vùng liên
hợp của vỏ não xử lý các thông tin truyền đến, và tựa
vào những ức niệm, gán cho những tín hiệu đã được chọn
lọc phân loại một ý nghĩa, tạo nên những cái gọi là tri
giác biểu tượng, tưởng tượng biểu tượng, hay ký ức
biểu tượng, hiện lên hình thái trong tâm tư.
Như
vậy, tác dụng của não suy tưởng có thể mô tả bằng danh
từ lục tưởng của Phật giáo. Lục tưởng chỉ cho tri giác
phát sinh từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Năm phần trước
chính là tưởng do sự kích thích từ bên ngoàì. Phần thứ
sáu là ý thời chính là ký ức hay tưởng tượng phát sinh
ngay từ bên trong. Tính chất của tưởng rất tương tợ tác
dụng của thức, mặc dầu có sự khu biệt giữa thức và
tưởng: “Cái biết tất cả thể của các cảnh giới đó
gọi là thức, cái thủ riêng danh tướng gọi là tưởng.”
(Thuận chính lý luận quyển 11) Tri giác, đại khái, là tác
dụng của thức. Biểu tượng cụ thể là ý nghĩa của tưởng.
Vậy tưởng chỉ vào tác dụng của vỏ não liên quan mật
thiết với suy lý, phân biệt, và phán đoán.
Theo
thần kinh học cổ điển, sau khi nhận định sự xuất hiện
và ý nghĩa của biểu tượng, vỏ não ra tín hiệu cho hệ
viền phát xuất những phản ứng thích nghi truyền qua não
bộ và thân thể. Thông thường những tín hiệu vào được
xửû lý theo lộ trình nói trên, từ giác quan chuyển đến
khâu não, rồi đến vỏ não tức là não suy tưởng, và cuối
cùng đến hệ viền là nơi amiđan tọa lạc, kết quả đưa
đến tác dụng đáp ứng của cơ thể tùy theo hoàn cảnh.
Nhưng
kích thích từ bên ngoài vào không phải luôn luôn được nhận
thức theo lộ trình xuyên qua não suy tưởng. LeDoux phát hiện
một chùm nhỏ neuron chạy dài từ khâu não xuống amiđan, ngoài
nhiều chùm neuron khác lớn hơn nối liền khâu não với vỏ
não. Chính chùm nhỏ neuron đó tạo ra con đường khẩn cấp
cho phép amiđan trực tiếp thu nhận các tín hiệu kích thích
giác quan và tự động phản ứng trước khi não suy tưởng
có thời giờ ghi nhận và phán đoán những thông tin liên hệ
từ khâu não chuyển đến. Do sự phát hiện của LeDoux, các
nhà thần kinh học không còn tin tưởng quan niệm cho rằng
amiđan phải hoàn toàn lệ thuộc các tín hiệu do não suy tưởng
chuyển đến mới thành dựng được các phản ứng xúc động.
Amiđan
tự nó dẫn khởi tác dụng xúc động qua ngã đường khẩn
cấp, dội phản lại song song với con đường giữa amiđan
và vỏ não. Ngã đường khẩn cấp ấy hình như biến amiđan
thành một kho tàng trữ những ức niệm xúc động mà chúng
ta không bao giờ có thể hoàn toàn thông suốt hiểu biết.
Nhiều công trình nghiên cứu thần kinh học theo chiều hướng
LeDoux cho thấy chúng ta bắt đầu tri nhận tự tướng của
một vật thể ngay ở trong khoảnh khắc đầu tiên của quá
trình nhận thức. Tuy vô thức, nghĩa là thấy vật thể ấy
một cách đơn thuần, không có phẩm tính, danh tính, thuộc
tính,... nhưng chúng ta đã quyết định thích hay không thích
nó. Như thế, cảm giác (xúc) chẳng những là hình thái nhận
thức tự tướng của sự vật, mà hơn nữa đưa tác dụng
tâm đến chỗ phức tạp, biến thành căn để của toàn thể
tâm, là cảm tình, tức thọ. Nhân thể nói về thọ, tưởng
cũng nên biết đến lời xác quyết của Kimura Taiken viết
trong Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận rằng: “Cứ theo
chỗ tôi biết, trong lịch sử tư tưởng Ấn độ, đức Phật
chính là người đầu tiên đã chia tình cảm con người thành
ba trạng thái là khổ, vui (lạc), và không khổ không vui (xả).”
Theo
trên, hết thảy xúc động tình cảm đều là tác dụng của
não xúc động, chính yếu là của amiđan. Amiđan luôn luôn
ở thế phòng thủ. Các tín hiệu từ ngoài không ngớt truyền
vào. Nếu một hình thấy hay một tiếng nghe đánh thức cùng
một loại cảm giác đã kinh nghiệm trước kia khi gặp nguy
biến, amiđan lập tức phát động một phản ứng xúc động.
Nếu là một sự đe dọa, thời trong thời gian chưa đầy nháy
mắt amiđan ra tín hiệu ngưng lại mọi chuyển động không
liên can đến trường hợp khẩn cấp, đồng thời ra lệnh
các bắp thịt nơi mặt tạo ra nét mặt sợ hãi hay giận dữ.
Mặc dầu amiđan hành động kịp thời trong mọi trường hợp
nguy cấp, nhưng rất tiếc là về phương diện đoán định
nó thường không nhận xét đúng một tín hiệu vào thật có
tính cách báo nguy hay không. Chẳng hạn, có khi tín hiệu vào
chỉ na ná giống chứ không thực sự là một sự hăm dọa,
nó vẫn quyết định đó là một trường hợp khẩn cấp cần
báo động. Vì amiđan thường báo động sai lầm cho nên nhiều
xúc động phản ứng của chúng ta thật ra không cần thiết.
Nói một cách khác, não xúc động có thể vô duyên cớ gây
ra nhiều tác dụng tâm, nhất là những tâm sở sợ hãi, sân
hận, hay đam mê.
Nằm
bên cạnh amiđan, đồi hà mã có chức năng ghi nhớ giống
như amiđan, nhưng chỉ ghi nhớ những dữ kiện khô khan từ
trạng huống phát xuất biểu tượng hay quan niệm, còn phần
xúc động tình cảm câu khởi cùng với những dữ kiện ấy
thời do amiđan đảm trách. Khi đồi hà mã tìm kiếm dữ liệu
thông tin, thời amiđan xác định dữ liệu thông tin ấy có
giá trị tình cảm xúc động hay không. Như LeDoux nói: “Đồi
hà mã rất cần thiết để anh nhận ra một cái mặt như cái
mặt của ngườì chị họ chẳng hạn. Nhưng chính amiđan nhớ
thêm rằng anh không ưa thích cái mặt đó.”
Trên
đây sự phát sinh những xúc động tình cảm được giải
thích tựa vào mô hình não vận hành như một mạng lưới
dây điện. Mạng lưới này chằng chịt các đường dây nối
kết neuron truyền dẫn các thế tác động (action potentials)
hay xung thần kinh do neuron phát xạ xuyên qua các diện tiếp
hợp. Đồng thời với hoạt dụng của mạng lưới dây điện,
các nhà thần kinh học phát hiện một dòng hóa chất chảy
sóng đôi tương ứng với tâm tình và tập tính của chúng
ta. Theo mô hình não hóa chất này, sự phối hợp mọi hoạt
động của các cơ quan là do các hợp chất hóa học khuếch
tán cùng khắp các dung dịch của cơ thể. Khuếch tán có nghĩa
là tất cả nguyên tử, phân tử, hay ion trong một dung dịch
mặc dầu luôn luôn chuyển động ngẫu nhiên nhưng có khuynh
hướng tự nhiên di chuyển từ vùng nồng độ cao đến vùng
nồng độ thấp đến khi nồng độ khắp dung dịch không còn
sai biệt nữa.
Mô
hình não hóa chất chuyên khảo một loại protein của màng
tế bào gọi là “phân tử nhận thu” (receptor molecules). Chúng
là tai mắt của thế giới nội tâm, rất nhạy cảm đối
với các tín hiệu phát ra từ các phân tử khác, những phân
tử này khuếch tán cùng khắp các dung dịch của cơ thể.
Các phân tử nhận thu còn được gọi là “lỗ khóa”, vì
khi có một hóa chất tương ưng được dung dịch ngoài tế
bào chuyển đến nơi chúng thời chúng thay đổi hình dạng
thành như một lỗ khóa để tiếp nhận cái chìa khóa là hóa
chất tương ưng đó. Quá trình thu nhận hóa chất tương ưng
theo kiểu ấy được chỉ danh là “hiện tượng liên kết”
(binding). Nhà thần kinh học Candice Pert nhận xét: “Đó là
cách làm tình ở tầng mức phân tử”.
Khi
thu nhận được tín hiệu hóa chất tương ưng, phân tử nhận
thu liền chuyển vào bên trong tế bào, khởi đầu một chuỗi
biến cố sinh hóa do đó tế bào chế tạo nhiều protein mới,
hay chế tiết một hóa chất đặc thù. Các hóa chất tương
ưng, gọi chung là hóa chất liên kết (ligand), phân làm ba loại.
Loại thứ nhất gọi là thần kinh dẫn truyền (neurotransmitter)
như dopamine, serotonin, và norepinephrine được giao phó nhiệm
vụ di chuyển các thông điệp băng qua các diện tiếp hợp.
Loại thứ hai là các thứ steroid như các homon dục tính testosterone,
progesterone, và estrogen. Cuối cùng, loại peptid chiếm phần
lớn trong số các hóa chất liên kết, có công dụng điều
tiết hầu hết mọi quá trình sinh lý căn bản của sự sống.
Tất cả phân tử nhận thu và hóa chất liên kết được xem
như là thông tin phân tử (information molecules) vì nhờ chúng
mà hết thảy mọi tế bào của cơ thể thường xuyên liên
lạc giao thiệp với nhau. Mạng lưới sinh hóa này có khả
năng truyền thông qua khắp các hệ, hệ thần kinh suy tưởng,
hệ tuyến nội tiết, hệ miễn dịch, hệ dạ dày-ruột, nhờ
vậy cơ thể mới có thể phối hợp và điều hành hết thảy
mọi sinh hoạt của nó.
Hệ
thần kinh hóa chất là một phần di vật do quá trình tiến
hóa lưu lại đến nay trong cơ thể con người. Nhiều loại
phân tử nhận thu và hóa chất liên kết trong cơ thể con người
được tìm thấy trong cơ thể của hết thảy động vật có
xương sống khác và của một số côn trùng.
Não
bộ áp dụng phương thức nào để amiđan ghi nhớ các xúc
động tình cảm một cách sâu đậm và lâu dài? Mỗì khi quá
lo âu hay mừng quýnh, những khi thần kinh bị căng thẳng, một
dây thần kinh chạy từ não đến các tuyến trên thận xúc
khởi sự tiết ra các homon adrenaline và norepinephrine. Các homon
này truyền tín hiệu khẩn cấp khắp thân thể và chuẩn bị
mọi cơ quan sẵn sàng ứng phó một nguy biến sắp xảy đến,
hoặc chạy trốn hoặc chống trả (fight-or-flight response). Chúng
kích động những cơ quan nhận cảm của dây thần kinh X (vagus
nerve) nơi sọ. Amiđan là bộ phận tiếp nhận những tín hiệu
khẩn cấp do dây X chuyển lại. Những tín hiệu này được
các neuron của amiđan biến cải thành những hiệu lệnh truyền
bảo các vùng não lân cận ghi nhớ kỹ lưỡng và sâu đậm
những xúc động cảm giác kinh nghiệm.
Như
vậy, não bộ có hai hệ thống ký ức. Một, về những biến
cố thông thường rất dễ quên. Hệ thứ hai, về những biến
cố gây những xúc động mãnh liệt lâu ngày vẫn còn nhớ.
Vấn đề ở đây là sự ghi nhớ xúc động tình cảm của
amiđan không được chính xác vì đường dây khẩn cấp từ
khâu não đến amiđan là một chùm nhỏ so với những chùm
neuron cỡ lớn gấp bội nối liền khâu não với não suy tưởng.
Bởi thế cho nên đường dây khẩn cấp không chuyển hết
mọi thông tin cần thiết. Mặt khác, trong đầu óc của một
đứa bé, đồi hà mã và não suy tưởng phát triển chậm so
với sự phát triển của amiđan. Amiđan của đứa bé sơ sinh
hầu như đã ở trạng thái chín muồi gần toàn vẹn. Nó bắt
đầu thâu nhận những xúc động tình cảm rất sớm, ngay
khi đứa bé chưa đủ khả năng nhận biết, chưa đủ khả
năng phát biểu. Những xúc động in dấu sâu đậm trong amiđan
của đứa bé vào thuở ban đầu sau này khi hiện khởi trở
lại thời không bao giờ có thể dùng trí năng và ngôn từ
của người lớn mà giải thích chúng được. Giải thích được
chăng là công nhận rằng mọi cảm giác và cảm tình của
chúng ta hiện giờ không thoát khỏi ảnh hưởng và sự ràng
buộc của các nghiệp tích tụ trong quá khứ.
Theo
như trình bày trên, ký ức của amiđan thiếu chính xác và
quá thời. Các tế bào của amiđan tuy hết sức nhanh nhẹn
trong cơn nguy biến nhưng thường rất mù mịt không phân biệt
rõ ràng lúc nào nên báo động và lúc nào không nên. Tính
chất này đối với loài thú như chim, cá, sóc, rắn thật
tối cần thiết, vì dù có lầm lẫn về tình hình khẩn cấp,
hiệu lệnh phát ra từ amiđan vẫn luôn luôn để báo nguy và
tạo nên những phản ứng bảo toàn sinh mệnh. Nhưng đối
với loài người thời sự ghi nhớ không chính xác của amiđan
đưa đến những tác dụng rất tai hại. Nếu amiđan tự động
quyết định không phối hợp với não suy tưởng thời sinh
hoạt tình cảm phóng túng của con người luôn luôn bị ba
độc tham, sân, si thống ngự. Ba độc này thích ứng với
ba trạng thái khổ, lạc, và xả. Đối với lạc, sinh tham,
đối với khổ, sinh sân, và đối với bất khổ bất lạc,
sinh si. Sự kích thích trên thận và vỏ não gây ra bởi một
xúc động mãnh liệt không biến đi ngay mà tiếp tục kéo
dải ảnh hưởng một thời gian rất lâu. Thần kinh hệ tiếp
tục ở trong tình trạng báo động, chực đón nhận thêm nhiều
mối đe dọa hay nhiều vấn đề khác phải giải quyết, sinh
ra một tâm trạng thường xuyên xao xuyến bất an. Do đó, tập
tính xao xuyến bất an của đa số đang sống tại các nước
tân tiến, nhất là ở các thành thị lớn, có thể giải thích
là do vỏ não của họ bị amiđan hoảng sợ kiếp đoạt.
Lý
trí và xúc động.
Dòng
tín hiệu giác quan đưa vào khâu não được chọn lọc, phân
phối, một phần chuyển đến amiđan nhưng phần lớn đến
vỏ não mới. Vỏ não mới hay não suy tưởng ở bên trên não
xúc động gồm hai bán cầu, trái và phải. Mỗi bán cầu được
chia thành nhiều vùng gọi là thùy (lobe). Tiền thùy trán (prefrontal
lobes) ở ngay đằng sau trán là một vùng liên hợp liên can
đến dẫn khởi động cơ và điều hòa tập tính xúc động.
Tiền thùy trán không những có mạch nối liền với amiđan
mà còn qua một mạng lưới quan hệ rộng lớn nó nối kết
với khắp hệ viền tức não xúc động. Chính qua các mạch
và mạng lưới này, tiền thùy trán hoạt động đối đầu
với amidan mỗi khi xảy ra sợ hãi hay phẫn nộ, nén lại hay
chế ngự xúc cảm để đối phó với tình hình có hiệu quả
hơn. Tiền thùy trán cũng đáp ứng rất nhanh chóng những lúc
ta thấy cần xét định lại cách ta phản ứng.
Vỏ
não mới tác dụng điều biến amiđan và những trung tâm xúc
động của hệ viền. Trong vỏ não mới có nhiều tầng nối
tiếp neuron đảm trách công việc thâu nhận, phân tích, và
tìm cách biểu tượng thông tin do khâu não chuyển tới. Với
sự tham gia của tiền thùy trán, vỏ não mới đề khởi một
phản ứng thích nghi. Mọi thông tin đã được xử lý cũng
như phản ứng của ta đối vớì chúng đều do tiền thùy
trán kiểm soát điều chỉnh. Tiền thùy trán là nơi trù liệu
kế hoạch và tổ chức các tác động có mục tiêu, kể cả
những tác động xúc cảm. Nếu cần một phản ứng xúc động,
tiền thùy trán luôn luôn phối hợp với amiđan và với những
trung tâm xúc động khác của hệ viền để quyết định phải
phản ứng như thế nào. Ngoại trừ những trường hợp xúc
động có tính cách khẩn cấp, vỏ não mới thường hoạt
động theo một quá trình hợp tác với amiđan, và phát khởi
những phản ứng đắn đo cân nhắc. Khi một xúc động kích
thích, tiền thùy trán trong khoảng thời gian rất ngắn tính
toán sự lợi hại của vô số phản ứng nên có hay không
nên có và quyết định đề bạt một trong chúng như là phản
ứng thích nghi nhất.
Vì
phải vận dụng nhiều mạch dây thần kinh hơn nên vỏ não
mới đáp ứng chậm thua cơ cấu kiếp đoạt của amiđan. Những
phản ứng nó đề khởi nặng lý tính hơn cảm tính. Mỗi
khi buồn rầu vì mất mát, hoặc sung sướng vì đắc thắng,
hoặc nổi giận hay cảm thấy tổn thương sau khi suy gẫm về
một lời nói hay cử chỉ của người đối thoại, đó chính
là do kết quả hoạt động của não suy tưởng. Nếu tiền
thùy tráng hay các dây thần kinh nối kết tiền thùy trán với
não xúc động bị cắt bỏ, như đã từng được thực hiện
để chữa bệnh loạn trí trước đây, con người mất hẳn
đời sống tình cảm của mình. Để chế ngự những xúc động
thiếu lý trí, tiền thùy trán chận đứng hay tắt lần những
tín hiệu do amiđan và các trung tâm thần kinh xúc động khác
phát ra.
Không
phải chỉ có một nhịp cầu neuron nối liền amiđan, các trung
tâm thần kinh xúc động khác của hệ viền, và tiền thùy
trán. Ngoài ra còn có một dòng sinh hóa nối kết chúng. Quả
vậy, cả tiền thùy trán lẫn não xúc động có một nồng
độ rất cao về các phân tử nhận thu liên kết với hóa
chất thần kinh dẫn truyền tương ưng là serotonin. Serotonin
ảnh hưởng nhiều chức năng cần yếu cho sự sống, trong
số đó đáng kể ở đây là tập tính hợp tác và phản ứng
kiềm chế xúc động.
Các
mạch nối vỏ não mới với amiđan và những cấu trúc hệ
viền liên hệ lưu chuyển các tín hiệu xung đột hay hợp
tác giữa tim và óc, giữa cảm tình và tư tưởng. Chúng cho
thấy nếu được kiểm soát thời xúc động tình cảm rất
cần thiết để suy tư xác đáng, có hiệu quả, và đi đến
những quyết định khôn ngoan. Bác sĩ Antonio Damasio, giáo sư
Y khoa ở Đại học Iowa, cho biết các bệnh nhân bị hư hoại
các mạch nối ấy mất hết khả năng quyết định về bất
cứ vấn đề gì. Lý do là vì các mạch nối ấy là con đường
dẫn họ đến các kho kinh nghiệm xúc động quá khứ nay bị
cắt đứt, nên trong hiện tại họ không có cách nào học
hỏi kinh nghiệm quá khứ để suy lường và chọn lấy một
quyết định. Họ vẫn nhận ra mọi sự vật quen thuộc, nhưng
những sự vật này không còn gây nơi họ những phản ứng
xúc động như trước. Trong cuộc sống hàng ngày ta thường
phải đối đầu vấn đề phải lựa chọn. Bạn trăm năm
của ta phải như thế nào? Ta phải đầu tư vào đâu để
chuẩn bị ngày hưu trí? Thường nhờ vào kinh nghiệm từng
trải, như nhớ lại đau khổ về một mối tình đổ vỡ hay
một lần bỏ vốn lỗ lã, ta trở nên khôn ngoan hơn trong sự
tính toán suy lường. Do đó, trước khi áp dụng luận lý khô
khan ta cần xúc động tình cảm chỉ đường dẫn lối. Mặt
khác, não suy tưởng thường giữ vai trò thực hiện và điều
hành các mối xúc cảm, ngoại trừ những khi bất lực không
kiềm chế chúng nổi và não xúc động giựt mất đi vai trò
tác dụng.
Tóm
lại, hệ viền và vỏ não mới, amiđan và tiền thùy trán
hoạt dụng bổ túc nhau. Theo Phật giáo, tình ý và trí tính
phải được điều hòa và cân bằng, nếu không thời rất
khó mà đạt đến chỗ an tâm lập mệnh. Lý tính mà Phật
giáo nói đến ở đây không phải là lý luận lý tính, mà
là thực tiễn lý tính. Mọi lý luận không ngoài tiêu chuẩn
thực tu và thể nghiệm. Vì thế muốn làm cho lý luận và
thực tiễn được nhất trí, tuy lý luận được tôn trọng,
nhưng cuối cùng phương diện tình ý vẫn chiếm phần quan
trọng.
Thực
vậy, lập trường của Phật giáo là lấy giải thoát làm
mục đích và đàng sau đó dự tưởng một cuộc sống tự
chủ tuyệt đối, một sinh mệnh vô hạn. Vì yêu cầu giải
thoát và lòng mong muốn một cuộc sống vô hạn, tất cả
đều phát sinh từ nội tâm nên sự giải quyết tối hậu
tất nhiên phải tìm ngay trong tự tâm. Đó là lời dạy cuối
cùng của đức Phật: “Hãy tự mình thắp đuốc lên. Hãy
tự mình nương tựa nơi mình, nương tựa Chánh pháp, chứ
đừng nương tựa vào một nơi nào khác.” Như thế, vô hạn
sinh mệnh chỉ được thể nghiệm nội tại chứ không biến
nó thành một hình thái nhất định để biểu tượng hóa.
Nghĩa là, tất cả đều quy về nhất tâm, do nơi tự tâm để
tìm cầu sự siêu việt và cái cảnh giới siêu việt đó nhất
trí với nội tâm. Do đó, tất cả lý luận đều nhằm hợp
lý hóa tiêu chuẩn thực tu và thể nghiệm, căn cứ vào yêu
cầu kết hợp giữa tự do và giải thoát.
Trong
kinh Bảo Tích, đức Phật bảo ngài Đại Ca Diếp rằng: “Lại
nữa, này Đại Ca Diếp! Các ông nên quán sát chính mình, chớ
nên dong ruỗi tìm cầu bên ngoài.” Phải tự kỷ nội tâm
mới thấy rõ phiền não của mình để hàng phục chúng. Phải
hay nội quán mới có thể tấn nhập Phật pháp, mới có thể
tu Tam học, Giới, Định, Huệ, đắc chơn giải thoát.
Về
vấn đề tu luyện cảm tình, đức Phật cực lực chủ trương
phải ức chế tình cảm. Bởi vì tình cảm vốn liên quan chặt
chẽ với ý dục. Ý dục được thỏa mãn thời vui, không
thỏa mãn thời khổ, thành thử ý dục càng bị những tình
cảm vui khổ ràng buộc bao nhiêu thời càng trở nên lớn mạnh
bấy nhiêu. Trong những phiền não căn bản là ba nọc độc
tham, sân, si, tham và sân thuộc phạm vi tình cảm. Đến cái
tôi, cái của tôi, nếu đứng trên bình diện lý trí mà quan
sát thời đó là một nhận thức sai lầm, nhưng chính đó
cũng lại là một loại tình cảm. Tuy một mặt hết sức chế
ngự tình cảm, nhưng đồng thời, mặt khác, lại cố gắng
bồi đắp những cảm tình cao thượng như cảm tình tôn giáo
(chí tâm quy y Tam Bảo), cảm tình đạo đức (Tứ vô lượng
tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả), cảm tình thẩm mỹ (ký thác tâm hồn
vào cảnh trời mây non nước mà tu luyện thiền quán), v..v...
Những tình cảm này tuy cũng lấy khổ vui làm bản vị mà
thành lập, nhưng khi chúng được tịnh hóa thời chúng siêu
việt cả khổ vui, và có khả năng đi tới chỗ siêu việt
cả ngã chấp, ngã dục.
Theo
các nhà thần kinh học, khát ái hay dục liên quan đến hạ
khâu não (hypothalamus), một bộ phận ở đáy não xúc động,
phía dưới khâu não. Do tiếp cận với cuống não tức não
loài bò sát nên nó thu nhiếp hết thảy mọi hoạt động sinh
mệnh như dục tính, đói, khát, sợ hãi, phẫn nộ, và lấn
lướt. Các tập tính tự nhiên này đã hiện thành mấy triệu
năm về trước trong quá trình tiến hóa của sự sống để
bảo toàn sự tồn tại của cá thể và sự tương tục của
nòi giống. Nhưng đến khi phát sinh não loài cổ thú tức não
xúc động thời chúng ảnh hưởng mọi hoạt động tâm lý
của não xúc động, làm duyên sinh mọi thứ phiền não. Tuy
nhiên, do sự phát triển vỏ não mới, các tập tính bản năng
không những có thể chế ước (conditioning) mà ngoài ra còn
phát sinh khả năng vong khước (unlearn) tức khả năng quên
mất mọi sở đắc, buông bỏ mọi tập tính tai hại do hoạt
động sinh mệnh gây ra.
Phần
hai bên của hạ khâu não có những mạch dây phân cực các
phản ứng. Nghĩa là, trong số các mạch ấy, có mạch đáp
ứng lạc thọ, có mạch đáp ứng khổ thọ. Những phản ứng
phân cực này tiếp chuyển lên não trên cuối cùng bám chặt
vào những khái niệm thiện hay ác, trái hay phải, được hay
mất, làm nguyên nhân biến đổi tập tính. Lấy thí dụ một
người nghiện thuốc lá muốn bỏ mà không được. Tại sao
bệnh ghiền đối với người ấy khó bỏ đến thế? Bởi
vì không chỉ riêng hạ khâu não mà còn vô số vòng mạch
khác ở não trên, ở não dưới vướng mắc với hạ khâu
não tạo thành một mạng rộng lớn, tăng cường và củng
cố các phản ứng phân cực. Muốn dứt bỏ bệnh nghiện thời
phải vong khước những mẫu hình thói quen đã trở thành cố
định, như quẹt lửa, chuyển động môi và miệng, hít khói
thuốc,... Do đó, phải biến đổi não theo ba cách. Một, cách
nó nhận thức các kích thích. Hai, cách nó đáp ứng kích thích
ở tầng mức cơ quan như chảy nước dãi, nhịp tim đập,
hay huyết áp. Và ba, cách những tầng lớp não khác tăng cường
và củng cố những hỗ tương tác dụng giữa hai cách đầu.
Cần
lưu ý rằng khoa học áp dụng phương pháp đối tượng hóa
để quan sát, tức là phân biệt chủ thể với đối tượng,
do đó khác hẳn với phương pháp thiền quán. Tuy nhiên, công
trình quan sát phân tích của các nhà thần kinh học như trình
bày trên vẫn có tác dụng quán chiếu cội nguồn các pháp.
Tác dụng này có ít nhiều tính cách của trạch pháp, yếu
tố giác ngộ trọng yếu của Thất bồ đề phần. Sáu yếu
tố kia của sự ngộ đạo là niệm, tinh tấn, hỷ, khinh an,
định, và hành xả. Trạch pháp là quyết trạch về các pháp,
nghĩa là nghiên cứu tường tận về cội nguồn và tự tính
của các hiện tượng, sinh lý cũng như tâm lý. Hiểu được
cội nguồn và tự tính các pháp tức là đạt đến tâm ý
không mê muội. Phần lĩnh vực đối tượng tâm thức, kinh
Bốn lĩnh vực quán niệm, có nói đến trạch pháp. Trong lĩnh
vực này, hành giả quán niệm về những yếu tố của sinh
mệnh là sắc, thọ, tưởng, hành, và thức, các giác quan và
đối tượng của chúng, các yếu tố gây chướng ngại cho
trí tuệ và giải thoát, các yếu tố đưa đến giác ngộ
và bốn sự thật về khổ đau và giải thoát.
Phương
pháp của kinh Bốn lĩnh vực quán niệm là thực tập hơi thở
ý thức để nhận diện những cảm thọ, tư tưởng, lời
nói và hành động của mình, nhất là những cảm thọ, tư
tưởng, lời nói và hành động phát khởi một cách tự nhiên
để phản ứng lại những sự việc đang xảy ra. Thần kinh
học cho biết rằng thở ra và tụng kinh giảm thiểu rất nhiều
hoạt động phát xạ (firing) của tế bào thần kinh trong khắp
hệ viền, nhất là trong amiđan. Vì vậy thân thể ta nhờ thiền
tọa và tụng kinh mà nhẹ nhàng và an lạc. Mặt khác, khi tâm
tĩnh lặng, thời các phân tử nhận thu trong hệ thần kinh
không còn bị kích thích quấy động quá mức. Theo các nhà
thần kinh học, khát ái biểu hiện một “nhu cầu” sinh lý.
Khát ái xảy ra khi ta ngưng kích động các phân tử nhận thu
trước kia đã bị kích thích quá mức bởi ma túy chẳng hạn.
Chính bản năng ngã chấp, ngã dục là nguồn gốc phát xuất
cảm giác có nhu cầu về một cái gì.
Bản
chất của thiền quán là nhìn và thấy được tự tính duyên
khởi của vạn pháp. Mọi hiện tượng trong vũ trụ đều
cần được quán sát như thế. Lúc thiền quán, tâm vừa là
chủ thể vừa là đối tượng quán sát, như vậy quán sát
đây không phải quán sát một đối tượng độc lập. Hãy
nhớ lại công án của thiền sư Bạch Ẩn: tiếng vỗ của
một bàn tay. Tâm thực nghiệm về tâm ngay chính trong bản
thân của tâm. Lẽ cố nhiên, tâm tánh không thể nắm bắt
bằng trí suy luận thông thường mà đặc tính là phân biệt
và chấp ngã, đặc chất là tán loạn và ưu tư. Chủ thể
quán chiếu là chánh niệm. Chánh niệm hay tâm quán chiếu tham
dự vào, soi sáng, và chuyển hóa đối tượng nó quán chiếu.
Chánh niệm là một trong những tâm hành quan trọng nhất vì
duy nhất nó mới có khả năng can thiệp vào quá trình nhận
thức. Điều này phù hợp với đặc tính tự tạo tự sanh
của não như trình bày trong phần trên. Não là một hệ thống
hở, thích nghi với sự biến chuyển của môi trường, học
hỏi, và thay đổi. Não tự tổ chức, nghĩa là tự thay đổi
chính nó.
Nhưng
bộ phận nào trong cơ thể chủ động tiến trình diễn biến
sự thay đổi của não? Đến nay không một nhà sinh học nào
tìm ra khắp các cơ quan nơi ngự trị của vị chúa tể điều
khiển quá trình nhận thức của con người. Hãy đọc các
đoạn văn sau đây trích từ Bồ tát hạnh (Bodhicaryàvatàra),
Thích Trí Siêu dịch, thuật lại lời của tôn giả Santideva
(Bình Thiên) thuyết giảng về sự không có thật của cảm
giác, của sáu thức, của tâm và vật.
“Cảm
thọ được xem là kết quả của một sự xúc chạm. Nhưng
giữa căn và trần có một khoảng cách, vậy chúng làm thế
nào xúc chạm được nhau? Và nếu không có khoảng cách thì
chúng là một, nói giao hội đâu còn nghĩa lý?
Không
thể nói đó là một sự xuyên nhập giữa các nguyên tử được,
bởi vì nguyên tử không trống rỗng, cũng không có khía cạnh
nên không có gì xuyên nhập được. Mà không có xuyên nhập
thì không có hòa hợp, nếu không có hòa hợp thì không có
cảm thọ.
Làm
sao có được sự xúc chạm giữa hai vật không khía cạnh?
...
Nói
tâm xúc chạm vật cũng vô lý, vì tâm vô hình chất, không
thể xúc chạm được với vật hữu chất.
Sự
xúc chạm không thể có thì lấy đâu ra cảm thọ? Cảm thọ
không có thật thì tội gì nhọc cầu khoái lạc? Lấy đâu
ra đau khổ, và ai đau khổ? Không có ai là người cảm thọ
và cũng không có gì là cảm thọ. Trước sự kiện này, ôi
lòng khát ái, sao ngươi chưa tan biến đi?
Ta
thấy và sờ mó được trần cảnh nhưng cảm giác chỉ là
những ý niệm phát xuất từ tâm, chẳng khác gì ảo ảnh,
giấc mơ. Nó không có thật!
Ta
có thể nhớ lại cảm giác quá khứ hoặc thèm muốn cảm
giác tương lai, nhưng đó không phải là một cảm giác mà
là sự nhớ tưởng.
Cho
nên không có người cảm thọ (thọ giả) nào có thật, cũng
không có một cảm thọ nào thật có. Làm sao cái đám uẩn
vô ngã này lại có thể có được cảm thọ khoái lạc hay
khổ đau?
Thức
không nằm trong căn, không ở nơi khác cũng không chính giữa.
Tâm cũng thế, không nằm trong thân, ngoài thân hay ở nơi khác.
Không
phải là thân cũng không phải khác; không phải trộn lẫn
cũng không phải khác biệt (với thân) nên tâm không có thật.
Do đó nói rằng tất cả chúng sinh đã Niết Bàn.
Ý
thức có thể không có thật, nhưng chẳng lẽ năm thức kia
(nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) cũng không có thật à? Muốn
biết thì hãy phân tích xem năm thức đó có trước, cùng lúc
hay sau cảnh vật? Nếu bảo có trước khi gặp cảnh vật thì
nó nương đâu mà khởi? Nếu thức và đối tượng của nó
phát sinh cùng lúc thì cũng thế, cả hai nương đâu mà khởi?
Vì nếu cùng một lúc thì không thể nói cái này nương cái
kia khởi. Và nếu thức phát sinh sau đối tượng thì nó nương
đâu mà khởi? Vì khi nó khởi thì đối tượng đã không còn.
Qua
sự phân tích trên, ta hiểu là không có pháp nào thực sự
phát sinh. Nhưng như thế làm sao có được Nhị Đế (Chân
Đế và Tục Đế)? Và làm sao chúng sinh đến được Niết
Bàn?
Thật
ra Niết Bàn thường hằng, nhưng vì không hiểu nên người
ta lầm lẫn (khái niệm) cho rằng nó sinh khởi và hoại diệt.
Chính sự khái niệm này là chân lý bao phủ (Tục Đế). Người
vào được tánh Niết Bàn vẫn hiện hữu qua sự ảo tưởng
của kẻ khác (nhưng y không còn ảo tưởng).
Tâm
năng quán và vật sở quán nương nhau hiện hữu, nếu vật
không có thật thì tâm cũng không có thật. ...
Thật
ra cả tâm và vật đều không có thật, nhưng không phải vì
thế mà sự phân tích bị coi là sai. Bởi vì tất cả những
tâm phân tích được xem là ý thức tương đối, dựa đặt
trên nền tảng lập luận chấp nhận bởi thế gian. Khi vật
sở quán bị phân tích và xác nhận là trống rỗng thì cái
tâm năng quán (phân tích) kia trở nên mất đối tượng. Không
có đối tượng thì tâm năng quán lấy đâu mà khởi? Trong
trạng thái yên lặng, không còn vật sở quán và tâm năng
quán, đó gọi là Niết Bàn.
Kẻ
nào cho tâm và vật có thật thì kẻ đó lâm vào tình trạng
khó xử. - Vật có thật vì căn (là nơi thức phát sinh) có
thật. - Nhưng sao một vật lại được xem là có thật nếu
nó tùy thuộc vào thức? - Mặt khác, có thể nói thức có
thật vì nó dựa trên vật. - Nếu cả hai nương nhau mà có
thì cả hai đều không có thật. Thí dụ: một người không
có con thì không thể được xem là cha; nếu không có cha thì
làm gì có con? Như vậy tâm và vật không thể hiện hữu độc
lập, riêng biệt.”
Cũng
như trong Bồ tát hạnh, trong Giáo tập yếu (Siksàsamuccaya),
ngài Santideva thường xuyên nhắc nhủ chúng ta cần trau dồi
trí huệ quán chiếu tánh không thật có của các pháp. Sau
đây là một đoạn văn giải thích thế nào là quán niệm
tâm ý, Thiền sư Thích Nhất Hạnh trích dịch. Nội dung của
tâm ý là những hiện tượng tâm lý được gọi là tâm hành
hay tâm sở. Cảm thọ cũng là tâm hành nhưng được xếp riêng
ra một loại, vì phạm vi của cảm thọ rất rộng. Tất cả
những hiện tượng tâm ý khác như tưởng (tri giác), hành
(tâm tư), và thức (nhận thức) đều là những tâm hành, đối
tượng của phép quán niệm tâm ý trong tâm ý.
“Hành
giả tìm tâm bên trong cũng như bên ngoài không thấy. Không
thấy tâm nơi ngũ uẩn, nơi tứ đại, nơi lục nhập. Hành
giả không thấy tâm nên tìm dấu của tâm và quán niệm: Tâm
do đâu mà có? Và thấy rằng: Hễ khi nào có vật là có tâm.
Vậy vật và tâm có phải là hai thứ khác biệt? Không, cái
gì là vật, cái đó cũng là tâm. Nếu vật và tâm là hai thứ
thì hóa ra tâm có hai từng. Cho nên vật chính là tâm. Vậy
thì tâm có thể quán tâm không? Không, tâm không thể quán
tâm. Một lưỡi gươm không thể tự cắt mình, ngón tay không
thể tự sờ mình, tâm không thể quán mình. Bị dằn ép tứ
phía, tâm phát sinh, không có khả năng an trú, như con vượn
chuyền cành, như hơi gió thoảng qua. Tâm không có tự thân,
chuyển biến rất chóng, bị cảm giác làm dao động, lấy
lục nhập làm môi trường, duyên thứ này, tiếp thứ khác.
Làm cho tâm ổn định, bất động, tập trung, an tĩnh, không
loạn động, đó gọi là quán niệm tâm ý.”
Nhờ
chánh niệm soi sáng, tự tính tức tánh Không của đối tượng
quán chiếu hiển lộ. Ngài Santideva xác quyết: “Khi luyện
tập, quán chiếu thành thói quen thấy được Tánh Không của
các pháp thì sự bám víu, cho rằng chúng thực có, sẽ tan
biến. Nhờ lập đi lập lại trong tâm: các pháp không thực
có, cuối cùng ngay cả ý niệm về tánh Không cũng tan biến.
Khi nói một vật không thực có (hiện hữu) có nghĩa là không
thể tìm thấy nó sau cuộc khảo sát tối hậu. Khi không còn
tìm ra được một sự hiện hữu nào có thể phủ nhận, thì
nói chi đến sự không-hiện hữu? Khi Có và Không không còn
khởi lên trong tâm thì không còn gì khác có thể khởi lên
được nữa là lúc đó tâm sẽ hoàn toàn vắng lặng.”
Khi
đó là Tri kiến Phật. Và nói theo Thiền sư Thần Hội: “Tri
tức tri tâm không tịch. Kiến tức kiến tánh vô sanh. Tri kiến
phân minh, bất nhất bất dị. Cố năng động tịch, thường
diệu lý sự giai như như, tức xứ xứ năng thông đạt, tức
lý sự vô ngại. Lục căn bất nhiễm tức định huệ chi công.
Lục thức bất sanh tức như như chi lực. Tâm như cảnh tạ,
cảnh diệt tâm không. Tâm cảnh song vong, thể dụng bất nhị.
Chân như tánh tịch, Huệ giám vô cùng.” (Hiển tông ký. Đại
tạng Hán quyển 51 trang 459)
Thiền
sư Thích Thanh Từ giảng: “Khi mình đạt được tri kiến
Phật là biết được tâm lặng lẽ, thấy được tánh vô
sanh. Có nghĩa là tuy ở trong lặng lẽ mà vẫn thấy biết
rõ ràng, nên không thể nói là hai cũng không thể nói là một.
Tuy có động có tịch mà thường ở trong diệu lý, tuy có
lý có sự mà thường được như như. Mỗi mỗi đều thông
suốt không ngăn ngại nhau. Do chúng ta có tu định, huệ, nên
sáu căn không nhiễm theo sáu trần, và sống được với sức
yên lặng. Tâm thể yên lặng nên sáu thức không sanh, không
dong ruỗi theo sáu trần, nên hằng sống với bản thể như
như.
âm
mà như thời bặt cảnh, cảnh mất thời tâm không. Cảnh và
tâm tương quan với nhau. Hễ tâm chạy theo cảnh thời cảnh
thành có. Nếu tâm không chạy theo cảnh thời cảnh thành không.
Đây là hai lối tu đặc biệt. Một là lối tu hướng vào
tâm, chỉ làm chủ nơi tâm; tâm lặng lẽ thời bao nhiêu cảnh
trở thành vô nghĩa, trở thành lặng lẽ. Hai là nhìn thấy
cảnh thấy người, biết là do duyên sinh, tự tính là Không.
Người cảnh đều không thời tâm còn đâu mà bám. Người
cảnh không thật thời hết phân biệt, hết phân biệt thời
tâm trở thành không.
Thấy
nghe hiểu biết là cái dụng của tâm thể. Một khi trở về
tâm thể rồi thời tuy cũng thấy, cũng nghe, cũng hiểu, cũng
biết mà thường vắng lặng không có chấp dính vào náo động
như phàm phu. Tức tâm cảnh vắng lặng thời thể dụng chẳng
khác. Trí tuệ soi sáng vô cùng vô tận, diệu dụng thấy nghe
hiểu biết vô lượng vô biên.”