V. Luận
giải
16. Nhân và
Duyên trong Phẩm I
A.
Phẩm I: Quán Nhân Duyên (Dịch Việt).
I.1.
Các pháp chẳng sinh ra từ tự thể/ Cũng chẳng sinh ra từ
một vật thể khác/ Chẳng sinh ra từ tự thể và vật thể
khác. Chẳng sinh ra không nguyên nhân/ Vì thế biết các pháp
vốn không sinh.//
I.2.
Như tự tính các pháp/ Không ở tại trong duyên/ Vì tự tính
không có / Nên tha tính cũng không.//
I.3.
Nhân duyên, thứ đệ duyên/ sở duyên duyên, và tăng thượng
duyên/ Đó là bốn duyên sinh ra chư pháp/ Không có duyên thứ
năm.//
I.4.
Quả sinh ra từ duyên/ Sinh ra từ phi duyên/ Duyên ấy có quả/
Duyên ấy không có quả.//
I.5.
Nhân là pháp sinh ra quả/ Pháp đó gọi là duyên/ Vậy nếu
quả chưa sinh/ Sao không gọi là phi duyên?//
I.6.
Quả ở trước trong duyên/ Có hay không đều không thể được/
Không có trước thời duyên cái gì?/ Có trước thời đâu
cần duyên?//
I.7.
Nếu quả chẳng có sinh ra/ Cũng chẳng không sinh ra/ Cũng chẳng
có và không sinh ra/ Thời sao bảo là có nhân duyên?//
I.8.
Quả nếu khi chưa sinh/ Thời chẳng nên có diệt/ Pháp diệt
thời đâu làm duyên?/ Cho nên không có thứ đệ duyên.//
I.9.
Như chư Phật đã dạy/ Pháp vi diệu chơn thật/ Nơi đây không
pháp duyên/ Làm sao có duyên duyên?//
I.10.
Các pháp không có tự tính/ Nên không có tướng Hữu/ Câu
nói “Có cái này, cho nên/ Cái kia có” không hợp lý.//
I.11.
Nơi nhân duyên mỗi mỗi hay cọng chung/ Không tìm thấy quả
được/ Nếu quả không ở nơi nhân duyên/ Sao bảo quả sinh
ra từ duyên?//
I.12.
Nếu quả không ở nơi duyên/ Mà sinh ra từ duyên/ Vậy sao
quả ấy không từ/ Trong phi duyên mà sinh ra?//
I.13.
Nếu quả sinh ra từ duyên/ Duyên ấy không có tự tính/ Sinh
ra từ cái không có tự tính/ Thời làm sao sinh ra từ duyên
được?//
I.14.
Quả không sinh ra từ duyên/ Không sinh ra từ phi duyên/ Vì quả
không có cho nên/ Duyên và phi duyên cũng không.//
B.
Luận giải.
Ngay
trong Phẩm mở đầu, Trung luận đả phá các thuyết về nhân
duyên. Từ nghìn xưa đã có rất nhiều luận thuyết giải
thích thế giới do đâu mà có, tồn tại như thế nào, và
liên tục ra làm sao. Đối với đức Phật, hết thảy hiện
tượng tuy là vô thường biến thiên, nhưng cái thiên biến
vô thường ấy không phải ngẫu nhiên mà có. Nhờ tự giác,
Ngài đã quán triệt được cái lý pháp nhất quán vĩnh viễn
bất diệt chi phối và thống nhất hết thảy mọi hiện tượng
trong thế gian. Đó là lý pháp nhân duyên: “Chư pháp nhân
duyên sinh”. Nghĩa là, sự thành lập của mọi hiện tượng
đều do quan hệ tương đối, ngoài mối quan hệ ấy ra không
một vật gì được thành lập. Kinh Đại duyên, Trường bộ,
Thích Minh Châu dịch, thuật lại đức Phật dùng nhiều danh
từ: nhân, duyên (điều kiện), tập,... để gọi tên mối
quan hệ ấy, như trong các đoạn: “Do vậy, này Ananda, như
vậy là nhân, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như
vậy là nhân duyên của danh sắc, tức là thức. ... ... ...
Do vậy, này Ananda, như vậy là nhân, như vậy là duyên, như
vậy là tập khởi, như vậy là nhân duyên của thức, tức
là danh sắc.”
Về
tác dụng của nhân duyên, tức lý duyên khởi, thời đức
Phật thường định nghĩa như sau: “Cái này có thời cái
kia có; cái này không thời cái kia không; cái này sinh thời
cái kia sinh; cái này diệt thời cái kia diệt.” (Kinh Phật
tự thuyết. Tiểu bộ I) “Cái này có thời cái kia có; cái
này không thời cái kia không” là chỉ bày quan hệ hỗ tương
tồn tại. “Cái này sinh thời cái kia sinh; cái này diệt thời
cái kia diệt” là nói lên quan hệ hỗ tương nhân quả. Theo
lý duyên khởi, toàn thể vũ trụ là những lớp quan hệ trùng
trùng vô tận, thế giới hiện tượng là một mạng lưới
nhân duyên sinh vĩ đại trong đó hết thảy hiện tượng đều
là tương đối, quan hệ chằng chịt với nhau, nương vào nhau
mà tồn tại. Không một sự vật nào trong đó có thể tách
rời mối quan hệ nhân duyên mà có thể tự tồn. Chính vì
các mối quan hệ nhân duyên mà không có một vật gì thường
hằng tồn tại, tạo nên một thế giới biến thiên, vô thường,
không một giây phút đứng yên.
Lý
duyên khởi là một phương tiện độc đáo để đức Phật
giải thích bản chất của sự hữu (bhava), lấy nhân sinh quan
làm nền tảng, mà không sa vào hai cực biên thường kiến
và đoạn kiến. Hãy nghe đức Phật giảng cho Trưởng lão
Ca Chiên Diên về vấn đề thế giới và nhân đó mà chỉ
bày rõ về lý duyên khởi thu gọn trong mười hai nhân duyên
dùng làm nền tảng lập cước cho pháp môn Trung đạo của
Ngài.
“Này
Ca Chiên Diên, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực
đoan này: có và không có.
...
... ...
Tất
cả là có, này Ca Chiên Diên, là một cực đoan.
Tất
cả là không có, là cực đoan thứ hai.
Xa
lìa hai cực đoan ấy, này Ca Chiên Diên, Như Lai thuyết pháp
theo Trung đạo: Vô minh duyên hành. Hành duyên thức. Thức duyên
danh sắc. Danh sắc duyên lục nhập. ...” (Kinh Ca Chiên Diên
Thị (Kaccàyanagotta), Tương Ưng Bộ, Thích Minh Châu dịch)
Như
vậy, đối với vấn đề thực tại, đức Phật hiển nhiên
đã giữ thái độ Trung đạo qua thuyết nhân duyên. Trung luận
gắn liền tánh Không với Duyên khởi để minh giải thuyết
Trung đạo theo đúng giáo lý của đức Thế Tôn, tức là phương
pháp tu tập để từ bỏ hai cực đoan chấp không và chấp
có. Nền tảng triết học Trung quán tựa trên kinh nghiệm thực
tế: “Chưa từng thấy có bất cứ pháp nào không sinh từ
nhân duyên. Thế nên tất cả các pháp đều Không.” [Vị
tằng hữu nhất pháp/ Bất tùng nhân duyên sinh./ Thị cố nhất
thiết pháp/ Vô bất thị không giả.// (Bài tụng Trung luận,
XXIV.19)]
Trong
thực tế, sự hiện hữu của mọi sự vật luôn luôn tùy
thuộc vào nhân duyên. Do đó, chúng không có tự tính, nghĩa
là không có yếu tính quyết định, không có tánh, tướng,
và dụng đích xác. Ngài Long Thọ nói: “ Các pháp do Duyên
khởi, nên ta nói là Không”. Vậy Không ở đây là vô tự
tính, là xa lìa và vượt ra khỏi quan niệm có-không thông
tục, nên được gọi là Trung đạo.
Nếu
pháp tự nó đã có tánh tướng thời dứt khoát chúng không
cần lệ thuộc vào các duyên mà hiện hữu. Nhiều trường
phái chủ trương các pháp sẵn có thực hữu định tánh nơi
tự tính của chúng và tin tưởng luận thuyết của họ có
công năng làm hiển lộ tự tính của sự vật bằng ngôn thuyết.
Ngài Long Thọ không tin vào khả năng mô tả thực tại của
ngôn thuyết và chủ trương ngược lại. Với bất cứ lý
thuyết nào, ngôn ngữ và luận lý là phương tiện tất yếu
để trình bày sự thành lập lý thuyết đó. Vì mọi tư tưởng
cần phải phát biểu qua ngôn ngữ, cho nên quy tắc văn phạm
và ý nghĩa của ngôn từ có ảnh hưởng quyết định đến
đường lối cấu tạo lý thuyết. Như vậy, nếu tìm ra được
tự tính của sự vật thời tự tính ấy tất nhiên phải
được phát biểu theo cái khung ngôn ngữ và luận lý của
lý thuyết liên hệ. Ngôn từ danh tự dùng phô diễn lý thuyết
thật ra chỉ để giải thích một lối nhìn sự hữu chứ
không mô tả một thực tại nào tương ứng với sự hữu.
Tác dụng của ngôn thuyết là kết hợp các thuộc tính của
sự hữu tùy theo tình ý của cá nhân và ước lệ của cộng
đồng. Bởi thế cho nên trong Phẩm thứ nhất này đả phá
các thuyết về nhân duyên là nhằm bài bác phủ nhận cách
thức hiểu biết nhân duyên của các hệ thống tư tưởng
khác nhau mà thôi, chứ không có một thực tại nào bị đả
phá cả.
Cần
phân biệt ý nghĩa của hai chữ nhân (hetu) và duyên (pratyaya)
được nói đến trong Trung luận. Chữ “nhân” (hetu) trong
Trung luận là để chỉ một hiện tượng (biến cố, trạng
thái, hay quá trình) có tự tính và hữu lực, nghĩa là tự
nó đơn độc hay chung hợp với duyên mà có năng lực dẫn
sanh quả. Ngài Long Thọ không chấp nhận sự vật có tự tính
và khái niệm năng lực dẫn sanh quả từ tự tính nên phản
bác mọi sự hiện hữu của nhân (Bài tụng I.1). Chữ “duyên”
(pratyaya) có thể hiểu là “duyên pháp” hay pháp làm duyên,
là hiện tượng có thể trưng ra nhằm cắt nghĩa điều kiện
liên hệ đến sự hiện khởi của một hiện tượng khác
gọi là “pháp duyên khởi”, còn được gọi là “quả do
duyên sinh”. Sự liên hệ giữa hai pháp, pháp làm duyên và
pháp duyên khởi, cũng được gọi là “duyên”, và được
đặt tên tùy thuộc theo đặc tính của duyên pháp. Đó là
ý nghĩa của chữ “duyên” trong bài tụng I.3. Ngài Long Thọ
nói đến bốn loại duyên theo thuyết Bốn duyên là thuyết
có tính thống nhất giữa các luận sư Phật giáo. Tưởng
cũng nên nhắc lại rằng duyên cũng như mọi pháp khác không
có tự tính, và không một không khác (phi nhất phi dị) với
quả do duyên sinh. Đó là điều chủ yếu mà ngài Long Thọ
thường xuyên nhắc nhở trong Phẩm I này.
Trong
bài tụng đầu, I.1, biện chứng tứ cú được áp dụng để
phản bác hết thảy mọi kiến giải về sự sinh khởi của
các pháp do tác dụng của năng lực dẫn sanh quả từ tự
tính của các nhân. Bài tụng này đáng lý phải đặt ở tận
cùng Phẩm I vì nói lên kết luận của Phẩm là các pháp không
sinh khởi do năng lực dẫn sanh quả từ tự thể hay từ nơi
tự tính của vật thể khác. Ngôn ngữ và luận lý không có
khả năng giải thích tánh phi nhất phi dị tức tánh Không
của sự sinh khởi. Nói một cách dễ hiểu, sự sinh khởi
không thật có giữa hai vật thể đồng nhất hay sai khác.
Từ quan điểm Bát nhã, sinh khởi chỉ là danh tự giả tướng.
Bản
chữ Hán:
I.1.
Chư pháp bất tự sinh/ Diệc bất tòng tha sinh/ Bất cọng bất
vô nhân/ Thị cố tri vô sinh.//
Dịch:
I.1. Các pháp chẳng sinh ra từ tự thể/ Cũng chẳng sinh ra
từ một vật thể khác/ Chẳng sinh ra từ tự thể và vật
thể khác. Chẳng sinh ra không nguyên nhân/ Vì thế biết các
pháp vốn không sinh.//
Sự
sinh khởi có nguyên nhân được nêu ra trong ba thiên kiến đầu.
Thiên kiến thứ nhất, sinh khởi là sinh khởi từ tự thể,
chủ trương quả phải sẵn có trong nhân thời nhân mới thật
là nhân của quả đó. Nếu không, thời nhân hiện hữu mà
không có sẵn quả ở bên trong tất nhiên nhân không bắt buộc
có tác dụng sinh quả, như thế đâu có thật là nhân. Không
cần thiết toàn thể quả phải có sẵn trong nhân mà chỉ
cần khi nhân của nó hiện hữu, thời đã chứa nó dưới
hình thức một tiềm năng hiện khởi là đủ rồi. Trong trường
hợp quả có sẵn trong nhân như vậy thời quả đã có thể
cách hiện hữu trước khi lộ phát. Chính sự hiện hữu của
quả trong cách thế tiềm ẩn như vậy giải thích quả từ
đâu mà sinh khởi. Nói cách khác, do sự hiện hữu từ trước
mà xuất sinh cái quả trong đương thời, trong hiện tại. Nói
như thế là bảo rằng quả sinh ra từ tự thể, hay nhân và
quả là một. Sự sinh khởi từ tự thể thường được ví
với sự tương quan nhân quả giữa hạt và mộng. Theo thiên
kiến thứ nhất, về bản chất, hạt và mộng không sai khác
nhau. Mộng ẩn trú trong hạt như một tiềm năng sinh khởi.
Chính cái cách thế hiện hữu của mộng như vậy nên mới
nói hạt là nhân của mộng và mộng sinh khởi là sinh khởi
từ chính nó.
Thiên
kiến thứ hai, sinh khởi từ vật thể khác, chủ trương nhân
và quả sai khác. Nhân có đặc tính của nhân, quả có đặc
tính của quả. Chúng có thể hiện hữu độc lập nhau. Sở
dĩ chúng liên hệ với nhau là vì vật thể này có năng lực
dẫn sanh vật thể kia. Ví như sự tương quan giữa cha mẹ
và con cái. Cha mẹ sinh ra con cái nhưng không đồng nhất với
con cái.
Thiên
kiến thứ ba, sinh khởi từ tự thể và vật thể khác, chủ
trương phối hợp hai thiên kiến đầu. Hãy trở lại với
thí dụ hạt giống. Kẻ chủ trương thiên kiến sinh khởi
từ một vật thể khác có thể bảo rằng nếu hạt không
được gieo trồng, tưới nước, bón phân, vân vân... thời
dẫu mộng có sẵn trong hạt mộng vẫn không thể đâm chồi.
Mặt khác, nếu mộng sẵn có trong hạt ở cách thế tiềm
năng sinh khởi, thời sự đâm mộng có thể không cần đến
đất, nước, phân,... là những vật thể sai khác với mộng.
Vì thế, kẻ chủ trương thiên kiến sinh khởi từ tự thể
có thể phản bác lại rằng dẫu có gieo trồng, tưới nước,
bón phân bao nhiêu đi nữa, mà mộng không có tiềm năng sinh
khởi thời đâu có chuyện gì xảy ra. Tất cả duyên trong
thế gian không đủ để làm sinh khởi quả nếu quả hoàn
toàn không ở trong cách thế tiềm năng dẫn sanh quả. Do đó,
chủ trương sinh khởi từ tự thể và vật thể khác bằng
cách phối hợp hai thiên kiến đối nghịch thời có thể giải
thích hợp lý do đâu mà có sự hiện khởi: Quả hiện khởi
một mặt là do duyên nội tại có tiềm năng dẫn sanh quả
và mặt khác là do những điều kiện ngoại tại cách thế
hiện hữu mới biến chuyển từ tiềm thể thành đương thể.
Cuối
cùng, thiên kiến thứ tư, sinh khởi không nguyên nhân, chủ
trương không có tương quan liên hệ gì giữa các hiện tượng.
Lý do: Tất cả luận thuyết thành lập để chủ trương ba
thiên kiến vừa đề cập ở trên đều chứa mâu thuẫn nên
không hợp lý. Ngoài ra, nếu quan niệm sự liên hệ giữa hiện
tượng như một sự đồng nhất hay như một sự sai khác,
thời tất cánh đi đến kết luận là thế giới hiện tượng
sụp đổ thành một khối không màu sắc, không sai biệt hay
hết thảy mọi sự vật sinh khởi không có nguyên nhân!
Bài
tụng I.2 nói rõ là sự quán sát mối tương quan liên hệ giữa
các pháp làm duyên và quả xuất sanh cho thấy không có dấu
hiệu gì là quả ở nơi các duyên trong tiềm thế một năng
lực dẫn sanh quả.
Bản
chữ Hán:
I.2.
Như chư pháp tự tính/ Bất tại ư duyên trung/ Dĩ vô tự tính
cố/ Tha tính diệc phục vô.//
Dịch:
I.2. Như tự tính các pháp/ Không ở tại trong duyên/ Vì tự
tính không có / Nên tha tính cũng không.//
Theo
định nghĩa, tự tính là yếu tính quyết định của một
vật thể tự hữu, tự lập, tự tồn, và dị biệt. Nó thường
tồn bất biến. Hiện tượng có tự tính thời có một tính
cách độc lập riêng biệt đối với các pháp. Kinh nghiệm
xác nhận trong duyên không tìm thấy tự tính của pháp. Lấy
trường hợp bật đèn làm thí dụ để giải thích hai câu
đầu. Ánh sáng hiện lên là do đâu? Pháp nào làm duyên cho
ánh sáng hiện khởi? (1) Tại vì cái nút điện được bấm.
(2) Tại vì mạng điện gồm dây, bỏng đèn, dòng điện vận
hành tốt. (3) Tại vì các âm điện tử chuyển biến mức
năng lượng khi các nguyên tử trong sợi tim đèn bị kích thích.
(4) Là để có thể nhìn thấy được. Mỗi câu trả lời như
vậy trưng ra một điều kiện làm duyên cho ánh sáng hiện
khởi. Không một câu nào nói đến tiềm lực hay công năng
dẫn sanh ánh sáng cả.
Bây
giờ do quán sát, ta thấy không có ánh sáng trong cái nút bấm,
trong mạng điện, trong sợi tim đèn, hay trong mục đích thắp
sáng. Vậy ánh sáng xuất hiện và biến mất là tùy theo duyên
có hội đủ hay không. Đây là trường hợp quán sát thấy
(1) sự sinh khởi và tồn tại của các hiện tượng là tùy
thuộc các duyên, (2) không có một cái gì đáng gọi là tự
tính của chư pháp ở tại trong các duyên, và (3) ngoài các
duyên không còn nơi nào khác khả dĩ xuất sanh tự tính. Sự
thấy biết như vậy tất nhiên dẫn đến kết luận là hết
thảy mọi hiện tượng do duyên sinh đều không có tự tính.
Nói theo Pháp tướng tông, thời “Nhất thiết pháp vô tự
tính”. Nói theo Pháp tánh Không tông, thời “Nhất thiết
pháp Không”. Không là vô tự tính, cũng có nghĩa là vô ngã,
là vô sở đắc.
Hai
câu cuối bài tụng đề cập khái niệm “tha tính”. Tha tính
là một định tánh của bản thể mà đặc tính là tồn tại
tùy thuộc vào một vật thể khác. Như cái bàn chẳng hạn,
nó có tha tính là khi nào bản thể nó có định tánh tồn
tại lệ thuộc vào các bộ phận của nó, vào một vài tấm
ván, vào đôi tay khéo léo của một ông thợ mộc, v..v... Chủ
trương một sự vật không có tự tính mà có tha tính tức
là quan niệm sự tồn tại của sự vật ấy lệ thuộc vào
thật thể cố định của những sự vật khác nó. Có thể
nói tha tính là tánh lệ thuộc vào tự tính của sự vật
khác. Mối quan hệ lệ thuộc này thường được quan niệm
như là năng lực dẫn sanh quả phát xuất từ tự tính của
sự vật khác. Xác định được nó là chỉ khi nào ta có thể
phân biệt các sự vật sai khác nhau. Ngài Long Thọ bảo: “Vì
tự tính không có, nên tha tính cũng không.” Quả vậy, để
phân biệt hai sự vật sai khác nhau, phải dựa trên tự tính
của chúng. Vì tất cả mọi pháp đều vô tự tính nên không
phân biệt được chúng sai khác. Do đó không có tha tính.
Phân
biệt pháp làm duyên và pháp duyên khởi là cốt để tiện
thấy rõ cái gì là duyên pháp dùng cắt nghĩa cái gì là quả
do duyên sinh. Thật ra, thực tại là một mạng lưới các tiến
trình tương liên tương tục rộng lớn bao la vô cùng tận.
Khi trưng dẫn một số hiện tượng làm duyên để giải thích
một hiện tượng quả nào đó, ta đã dụng ý lôi kéo từ
mạng lưới ấy ra một số hiện tượng thích ứng với nhu
cầu và ngôn ngữ của địa phương và thời đại. Đúng như
Heisenberg đã nói: “Cái ta quan sát không phải là thực tại
mà là cái thực tại biểu lộ ứng với cách ta đặt vấn
đề.” Đặt trọng tâm vào vấn đề tìm hiểu quan hệ giữa
duyên và quả ngay trong Phẩm đầu tiên của Trung luận, ngài
Long Thọ muốn ta thường xuyên quán sát và phân tích trên
lộ trình tu tập sự liên hệ giữa hành tức phương pháp
luận và quả tức mục đích luận hợp theo Trung đạo tức
giáo lý Duyên khởi của đức Thế Tôn.
Bài
tụng I.3 nói đến bốn thứ duyên, và bốn mà thôi, có thể
vin vào đó mà giải thích và tiên đoán các hiện tượng.
Bản
chữ Hán:
I.3.
Nhân duyên thứ đệ duyên/ Duyên duyên tăng thượng duyên/
Tứ duyên sinh chư pháp/ Cánh vô đệ ngũ duyên.//
Dịch:
I.3. Nhân duyên, thứ đệ duyên/ sở duyên duyên, và tăng thượng
duyên/ Đó là bốn duyên sinh ra chư pháp/ Không có duyên thứ
năm.//
Sự
thành lập của bất cứ hiện tượng nào đều không ngoài
cái kết quả của những điều kiện tất yếu được quan
sát từ nhiều lập trường khác nhau. Cho nên, tuy cùng là một
sự kiện, nhưng vì phải thích ứng với những quan hệ tạp
đa và vì do cách nhận xét bất đồng thành ra mới có nhiều
loại duyên. Ngài Long Thọ đề cập bốn loại duyên được
nói đến trong thuyết Bốn duyên và được đa số luận sư
Phật giáo đồng ý: nhân duyên, thứ đệ duyên còn gọi là
đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên còn gọi là cảnh giới
duyên, và tăng thượng duyên. Cũng nên biết ngoài thuyết Bốn
duyên còn có thuyết Sáu nhân. Chữ nhân dùng trong thuyết Sáu
nhân có nghĩa là duyên. Theo Câu Xá tông, điểm sai khác giữa
hai thuyết là ở chỗ Bốn duyên chủ ý nói về sự hiện
khởi của nhận thức, còn Sáu nhân chủ yếu chỉ sự hoạt
động của sinh mệnh, ngoài sự chỉ chung cả muôn pháp.
Nhân
duyên vốn là một từ ngữ tổng quát chỉ những nguyên nhân,
điều kiện, hoặc sự tình thành lập hiện tượng. Bất cứ
một sự vật nào được thành lập, không trực tiếp thời
gián tiếp, đều bao hàm ý nghĩa nhân duyên trong đó. Nhưng
nếu khoáng đại phạm vi nhân duyên một cách thái quá thời
nó trở thành vô ý nghĩa. Câu Xá tông hạn định ý nghĩa
của nhân duyên, duyên thứ nhất, vào tác dụng của năm trong
sáu nhân của thuyết Sáu nhân: (1) Câu hữu nhân, tức là những
điều kiện hỗ tương tư trợ, nương nhau đắp đổi làm
nhân làm quả để thành lập hiện tượng. Như quan hệ giữa
chủ quan và khách quan, cả hai dựa vào nhau làm nhân cho nhau
mà thành lập hiện tượng. (2) Đồng loại nhân hay tự chủng
nhân là khi nhân và quả cùng một tính chất thời nhân ấy
được gọi là đồng loại nhân. Hạt giống thiện quá khứ
là nhân của thiện pháp trong đời hiện tại, vị lai. Hạt
giống thiện quá khứ, hiện tại là nhân của thiện pháp
trong đời vị lai. Bất thiện vô ký cũng như vậy. Do đó,
hết thảy pháp đều có cái nhân hạt giống của chính mình.
(3) Tương ưng nhân, có nghĩa như câu hữu nhân, chỉ khác là
câu hữu nhân có phạm vi quán thống cả vũ trụ vạn hữu
sắc tâm, còn tương ưng nhân thời chỉ giới hạn ở tâm
vương và tâm sở. Hiện tượng tâm vương, tâm sở không thể
tách rời mà phải tương ưng thuận hợp tư trợ cho nhau để
phát sinh. Chính sự tương ưng đó cũng là nguyên nhân. (4)
Biến hành nhân, hay cái phiền não mạnh mẽ nhất do thấy
và tu Khổ đế, Tập đế mà được đoạn trừ là nhân của
hết thảy pháp cấu nhiễm. (5) Dị thục nhân hay báo nhân,
là tên gọi khác của thiện, ác nghiệp, tức là cái nhân
dẫn đến kết quả sướng hay khổ trong tương lai. Nói một
cách tổng quát, nghiệp tập sai biệt là nguyên nhân dẫn đến
quả có tướng trạng bất đồng với nhân, nên gọi là dị
thục nhân.
Tóm
lại, năm nhân ấy gọi là nhân duyên.
Duyên
thứ hai, thứ đệ duyên hay đẳng vô gián duyên, diễn ra trong
trật tự, cái này tiếp theo cái kia, những hậu quả đến
trực tiếp, và bình đẳng sau những tiền nhân, như những
làn sóng này kế tiếp theo những làn sóng khác. Nó chỉ rõ
sự quan hệ trước, sau trong sự tồn tại liên tục của các
pháp. Theo tâm lý học Phật giáo, tâm của chúng ta luôn luôn
sinh diệt, không một phút nào dừng nghỉ, không một khắc
nào ở trạng thái của cùng một tâm. Chính lý duyên khởi
quy định sự tương tục của tâm giữa khoảng tiền niệm
và hậu niệm. Nói cách khác, khi cái tâm tiền niệm chấm
dứt và rút khỏi vị trí của mình thời dẫn khởi cái duyên
cho hậu niệm xuất khởi để chiếm cứ địa vị đó. Cái
duyên này gọi là thứ đệ duyên hay đẳng vô gián duyên,
vì nó là cái duyên tiếp nối bình đẳng trước sau không
gián đoạn. Trừ tâm tâm sở pháp quá khứ, hiện tại và
tối hậu của A la hán, các tâm tâm sở pháp quá khứ, hiện
tại khác đều có thể làm thứ đệ duyên.
Duyên
thứ ba, sở duyên duyên hay cảnh giới duyên, chủ yếu chỉ
ý nghĩa khách quan, tức là thâu tóm tất cả những đối tượng
của tâm. Theo tâm lý học Phật giáo, tâm sinh khởi tất phải
nhờ vào cảnh, nếu không có cảnh thời tâm không sinh. Luận
Xá lợi phất a tỳ đàm giải thích sở duyên duyên như cái
“đích”, như nhằm vào cái đích làm duyên mà mũi tên được
bắn đi.
Trong
khi duyên thứ nhất, Nhân duyên, đồng nhất với năm nhân
kể ở trên thời duyên thứ tư, Tăng thượng duyên, là một
với nhân thứ sáu, Năng tác nhân. Năng tác nhân chỉ tất
cả các pháp, trừ tự thể vì tự thể không thể làm nhân
cho tự thể. Nó là yếu tố dẫn đạo trong sự phát sinh một
quả, là nguyên nhân bao trùm tất cả, không luận đồng thời
hay dị thời. Nội tâm, ngoại vật, hữu vi, vô vi đều có
thể trở thành năng tác nhân cho nhau được cả. Bởi vậy,
phạm vi của Tăng thượng duyên rất rộng. Đẳng vô gián
duyên và sở duyên duyên, tóm lược mà nói, đều được liệt
vào tăng thượng duyên, vì đồng là pháp cần hội đủ duyên
thời quả mới xuất sanh.
Theo
luận A tỳ đạt ma pháp yếu, tăng thượng duyên, nói cho cùng,
không ngoài ý nghĩa chỉ cái tác dụng tinh thần mạnh mẽ,
nghĩa là do cái động cơ trung tâm như dục, tinh tấn, cho đến
tâm, tư duy, mà chi phối mọi hành vi của chúng ta. Nói một
cách đơn giản, chúng ta có lòng dục sinh khởi. Nhận xét
trên lập trường duyên, thời lòng dục đó gọi là nhân duyên
nếu đứng về phương diện sinh khởi các hỗ tương tác dụng,
hay phương diện tâm tâm sở đồng khởi mà nói, là thứ đệ
duyên nếu đứng về phương diện niệm trước diệt nhường
chỗ cho niệm sau sinh, là sở duyên duyên nếu đứng về phương
diện trở thành đối tượng mà nói, là tăng thượng duyên
nếu đứng về phương diện động cơ trung tâm, hoặc về
phương diện không chướng ngại, và không có quan hệ trực
tiếp với sự thành lập một hiện tượng nào mà nói.
Theo
Duy thức, lấy nhãn thức làm mẫu mà nói, thời (1) nhãn thức
ấy do chủng tử của nó hiện hành mà có, đó là nhân duyên,
tức cái nhân làm duyên tố; (2) nhưng chủng tử nhãn thức
hiện hành được là phải có nhãn căn, đó là tăng thượng
duyên, tức dữ kiện thêm lên làm duyên tố; (3) phải có sắc
cảnh, đó là sở duyên duyên, tức đối cảnh làm duyên tố;
và (4) phải do chính bản thân nhãn thức mà giai đoạn trước
mất đi để chỗ cho giai đoạn sau sinh ra, đó là đẳng vô
gián duyên, tức sự mất đi của giai đoạn trước làm duyên
tố. Như vậy, chỉ có chủng tử sinh hiện hành (chủng tử
nhãn thức sinh nhãn thức) và hiện hành sinh chủng tử (nhãn
thức sinh chủng tử nhãn thức) mới là nhân duyên, ba duyên
kia không phải nhân duyên. Đó là nói theo ngài Vô Trước:
“A lại da là nhân tố cho các pháp tạp nhiễm, các pháp tạp
nhiễm cũng là nhân tố cho a lại da, chỉ sự thể này mới
lập ra cái nghĩa nhân duyên, còn nhân duyên nào khác nữa thời
không thể có được.” (Nhiếp đại thừa luận. Thích Trí
Quang dịch giải) Khi nói nhân duyên mới thật nói duy thức.
Trở
lại với thí dụ bật đèn. Ánh sáng hiện lên là do những
duyên gì? “Tại vì cái nút điện được bấm”, đó là
nhân duyên. “Tại vì các âm điện tử chuyển biến mức
năng lượng khi các nguyên tử trong sợi tim đèn bị kích thích”,
đó là một chuỗi thứ đệ duyên. “Tại vì mạng điện
gồm dây, bỏng đèn, dòng điện vận hành tốt”, đó là
sở duyên duyên. “Là để có thể nhìn thấy được”, đó
là tăng thượng duyên.
Bốn
duyên nói trên có thể xem như tương ứng với bốn nguyên
nhân của Aristotle: Nhân duyên như là nguyên nhân hữu hiệu
(efficient cause); thứ đệ duyên như là nguyên nhân chất thể
(material cause); sở duyên duyên như là nguyên nhân hình thể
(formal cause); và tăng thượng duyên như là nguyên nhân cứu
cánh (final cause).
Đến
đây, một câu hỏi được đặt ra về vấn đề sinh khởi
đối với bốn duyên. Tại sao một đằng nói là các pháp
xuất sinh từ bốn duyên, rồi đằng khác bảo ngược lại
rằng các pháp vốn không sinh? Các bài tụng kế tiếp sẽ
giải đáp câu hỏi này bằng phương thức nhị đế. Đại
khái, Phật nói có bốn duyên chỉ vì phàm phu thiếu trí, chấp
trước nơi bốn duyên mà sanh tà luận. Để phá chấp trước
ấy, nên nói các pháp thật không, như tâm pháp do nhân duyên
sáu căn sáu trần hòa hợp sinh, tâm ấy như huyễn như mộng,
hư dối không có tánh nhất định. Trong Phẩm này, Trung luận
đả phá cái lối nhìn sai lầm và cái chấp trước mê muội
nhân duyên có tự tính, có thật thể, nhằm chỉ cho thấy
rõ lý duyên khởi, theo đó hết thảy pháp đều không có tự
tính, đều không có thật thể.
Bài
tụng I.4 phản bác quan niệm biểu hiện sự liên hệ giữa
hai pháp, duyên pháp và duyên khởi pháp, như là một năng lực
tác dụng dẫn sanh quả.
Bản
chữ Hán:
I.4.
Quả vi tòng duyên sinh/ Vi tòng phi duyên sinh/ Thị duyên vi hữu
quả/ Thị duyên vi vô quả.//
Bản
chữ Phạn:
Kriyà
na pratyayavatì nàpratyayavatì kriyà,
pratyayà
nàkriyàvantah kriyàvantás ca santy uta.
Nêu
ra bản chữ Phạn là để lưu ý đến chữ “quả” trong
bài tụng I.4 này tương ứng với Phạn ngữ “kriyà”. Kriyà
có nghĩa là một năng lực, hay tiềm năng, hay tác dụng có
hiệu quả. Vậy chữ quả trong bài tụng I.4 phải hiểu là
năng lực tác dụng dẫn sanh quả.
Dịch:
I.4. Quả sinh ra từ duyên/ Sinh ra từ phi duyên/ Duyên ấy có
quả/ Duyên ấy không có quả.//
Hai
câu đầu cũng như hai câu cuối của I.4 được tổ chức theo
luận thức lưỡng phân biện chứng y cứ vào quan hệ nhân
quả giữa hai tôn y là quả và duyên. Trong hai câu đầu, tôn
y trước là quả, tôn y sau là duyên được phân chia thành
hai thiên kiến đối nghịch là duyên và phi duyên. Trong hai
câu cuối, tôn y trước là duyên, tôn y sau là quả được
phân chia thành hai thiên kiến đối nghịch là có quả và không
có quả.
Những
thiên kiến nói trên là những kiến giải về mối quan hệ
giữa pháp làm duyên và quả xuất sanh. Để phản bác những
luận thuyết chủ trương điều kiện quả sinh khởi là trong
duyên có sẵn một năng lực tác dụng (kriyà) có hiệu quả,
hai câu đầu bài tụng I.4 đặt ra câu hỏi sau đây: “Nếu
có một hiện tượng gọi là năng lực tác dụng dẫn sanh
quả, thời năng lực ấy có cần duyên (điều kiện) để
tác dụng có hiệu quả hay không?”
Chỉ
có hai cách trả lời. Cách thứ nhất: Năng lực tác dụng
dẫn sanh quả cần duyên để tác dụng có hiệu quả. Như
vậy sẽ đưa đến câu hỏi kế tiếp là làm thế nào các
duyên đó sinh ra năng lực tác dụng dẫn sanh quả. Cái gì
hòa hợp các duyên rời rạc ấy lại để tạo ra quả là
năng lực dẫn sanh quả? Nguyên nhân vì đâu các duyên ấy
cùng tác dụng chung về một hướng là tạo ra một năng lực
dẫn sanh quả? Giả thử đáp lại rằng có các pháp khác làm
duyên để đem lại sự hòa hợp hay hướng các duyên ấy về
một quả. Trả lời như thế tất nhiên gây ra một chuỗi
câu hỏi kế tiếp nghịch suy vô cùng tận không giải quyết
được vấn đề.
Cách
thứ hai: Năng lực dẫn sanh quả không cần đến bất cứ
điều kiện nào để tác dụng có hiệu quả. Nếu vậy, thời
năng lực dẫn sanh quả là một hiện tượng không có nguyên
nhân. Rốt cuộc, không cắt nghĩa được năng lực này sinh
khởi như thế nào và tại sao có được một năng lực tác
dụng sinh quả như thế. Nhằm mục đích đi tìm nguyên nhân
nên mới tìm biết làm sao pháp hiện khởi là do năng lực
dẫn sanh quả. Thế mà bây giờ bảo rằng năng lực ấy không
có nguyên nhân, thời rõ ràng năng lực dẫn sanh quả là một
ngoại lệ đối với lý duyên khởi. Thêm nữa, hết thảy
pháp do đó mà hóa ra sinh khởi không cần duyên!
Hai
cách trả lời đều không minh chứng được khái niệm năng
lực dẫn sanh quả có thể giải thích sự quả sinh khởi.
Bây giờ giả sử năng lực ấy là duyên sinh ra quả. Thử
hỏi nó phát hiện từ lúc nào? Nếu phát hiện sau khi quả
xuất sanh, nó hóa ra vô dụng. Nếu phát hiện trước khi quả
xuất sanh, thời nó phải nhiếp nhập trong một sự vật. Sự
vật ấy không thể là hạt giống, vì hạt giống xem như không
còn có nữa khi năng lực dẫn sanh quả phát hiện. Sự vật
ấy không thể là mộng, vì mộng chưa thành lúc năng lực
ấy phát hiện. Có thể nào nó phát hiện trong lúc hạt giống
đang hóa mộng hay không? Không thể được, vì không có giây
phút nào giữa giây phút trước và giây phút sau.
Vậy
hãy quan niệm năng lực ấy như là một quá trình gồm nhiều
bước tiến, gồm nhiều chuyển hóa từ nguyên nhân đến lúc
quả hiện thành. Quan niệm như thế rất thuận hợp với thuyết
sát na sinh diệt. Nhưng thử hỏi các bước tiến trung gian
dẫn đến thành quả được thực hiện ra làm sao? Trên nguyên
tắc, ta sẽ lặp đi lặp lại một mô hình giải thích như
sau. Ta có thể tưởng tượng hạt giống trương lớn rồi
nứt ra, đâm chồi, trước ở dưới và sau trồi lên khỏi
mặt đất. Và cứ giữa hai bước tiến kế tiếp ta lại tưởng
tượng một số bước tiến trung gian, v..v... Nhưng với lối
giải đáp như thế thời đâu có thể cắt nghĩa được cách
làm duyên nối kết hai bước tiến kế tiếp, một bước xem
như nhân, bước kia xem như quả. Luôn luôn giữa chúng vẫn
còn có một khoảng trống. Quả luôn luôn sai khác với nhân.
Không có quan hệ nào giữa chúng cả!
Hai
câu trong phần cuối bài tụng I.4 nói đến ý nghĩa của năng
lực tác dụng có hiệu quả căn cứ trên hai lập trường
khác nhau. Theo tục đế, thời ta có thể nói theo ngôn ngữ
thông thường “Duyên ấy có quả”. Vì thông thường nói
đến duyên tố của sự sinh khởi, ta quan niệm duyên là điều
kiện dẫn đến quả. Do đó, khi nói: “duyên ấy có quả”
tức là muốn bảo rằng điều kiện tác dụng hiệu nghiệm
hay có hiệu quả. Nói cách khác, chính lòng dục sinh khởi
là duyên tố của sự sinh khởi, tuy nhiên, không có nghĩa là
tâm ta hàm chứa tiềm năng dẫn sanh quả hay có một năng lực
dẫn sanh quả nào đó kết nối tâm ta với quả sinh khởi.
Ngược
lại, theo Chân đế, “duyên ấy không có quả”. Lý do: Lý
duyên khởi không chấp nhận bất cứ khái niệm năng lực
nào khả dĩ sinh quả và tiềm ẩn trong các duyên, vì theo lý
này, vạn vật đồng thời câu khởi, đồng thời hỗ nhiếp,
và đồng thời hỗ dung.
Thay
vào năng lực tác dụng dẫn sanh quả, bài tụng I.5 đưa ra
một khái niệm khác về quan hệ duyên-quả để định nghĩa
thế nào là duyên.
Bản
chữ Hán:
I.5.
Nhân thị pháp sinh quả/ Thị pháp danh vi duyên/ Nhược thị
quả vị sinh/ Hà bất danh phi duyên.//
Dịch:
I.5. Nhân là pháp sinh ra quả/ Pháp đó gọi là duyên/ Vậy
nếu quả chưa sinh/ Sao không gọi là phi duyên?//
Nên
hiểu câu hỏi: “Sao không gọi là phi duyên” như là một
cách nói rằng: “Pháp đó chính là phi duyên”. Vậy theo bài
tụng I.5, duyên và quả đồng thời câu sanh, nương vào nhau
mà hiện khởi: có quả thời có duyên, không quả thời không
duyên. Vậy ta có thể hiểu rằng chính do quả có thời duyên
mới thành.
Nhưng
quả do đâu mà có? Sinh ra từ tự thể hay từ vật thể khác?
Bài tụng I.6 đả phá hai thiên kiến đầu của tứ cú I.1:
sinh ra từ tự thể và sinh ra từ vật thể khác.
Bản
chữ Hán:
I.6.
Quả tiên ư duyên trung/ Hữu vô câu bất khả/ Tiên vô vi thùy
duyên/ Tiên hữu hà dụng duyên.//
Dịch:
I.6. Quả ở trước trong duyên/ Có hay không đều không thể
được/ Không có trước thời duyên cái gì?/ Có trước thời
đâu cần duyên?//
Trước
tiên, hãy xét trường hợp quả có trước trong duyên. Nói
cách khác, quả và duyên đồng nhất. Đó là thiên kiến thứ
nhất của tứ cú I.1: “sinh ra từ tự thể”. Nếu hiện
khởi từ tự thể thời sự hiện khởi tiếp diễn liên miên
bất tận vì tự tính đã hiển nhiên, nên sự sinh khởi một
lần nữa không cần thiết. Không có gì ngăn trở hạt giống
liên miên tự sinh ra hạt giống mà không nẩy mầm, không đâm
chồi, không sinh lá, không trổ hoa, không kết trái, v..v...
Do đó không xuất hiện sự vật nào sai khác.
Để
bào chữa, có thể biện luận rằng sự vật sai khác vẫn
có thể xuất hiện. Ban đầu chúng ở trong tiềm thế sinh
khởi, và sau đó hiển lộ trong trạng thái đương thể. Như
vậy, chỉ có hình tướng hay trạng thái sai khác chứ bản
chất vẫn bất biến đồng nhất. Nếu lý luận như thế thời
với sự xuất hiện các hình tướng hay trạng thái sai khác
theo cách đó, duyên và quả đâu có đồng nhất! Ví như các
tượng bằng thạch cao. Thạch cao là duyên đâu có đồng nhất
với hình tượng là quả! Vả lại nếu duyên và quả đồng
nhất thời tại sao một đàng tác dụng như duyên, và đàng
khác, tác dụng như quả? Bản chất của chúng tất phải không
giống nhau vì những mệnh đề hợp lý với cái này không
còn hợp lý với cái kia. Vả lại, nếu chúng đồng nhất
thời làm sao có thể phân biệt đâu là duyên và đâu là quả?
Vậy
muốn giải thích lý pháp nhân duyên, không thể đồng nhất
duyên và quả. Đồng nhất duyên và quả tức là phủ nhận
lý pháp nhân duyên.
Thứ
đến, hãy xét trường hợp quả không có trước trong duyên.
Nói cách khác, quả và duyên sai khác. Đó là thiên kiến thứ
hai của tứ cú I.1: “sinh ra từ vật thể khác”: duyên và
quả là hai sự hữu có tự tính khác nhau. Giữa chúng hoặc
có quan hệ hoặc không có quan hệ. Nếu không có quan hệ giữa
duyên và quả thời sự vật hóa ra có thể sinh khởi bất
kỳ ở đâu và từ bất cứ sự vật nào. Đá có thể như
hạt giống đâm chồi mọc thành cây. Nhiều duyên khác nhau
có thể cùng sinh một loại quả. Nếu có quan hệ giữa chúng,
thời mối quan hệ giữa hai sự vật tự hữu độc lập không
làm sao xác định nổi.
Ngoài
ra, trên phương diện ngôn thuyết, nói đến nhân duyên sinh
tức là đồng thời với sự phân biệt duyên và quả sai khác,
phải tìm cách đồng nhất hóa duyên và quả để cắt nghĩa
chúng liên hệ nhau. Do đó, mọi mệnh đề tôn thiết lập
quan hệ duyên-quả phải một mặt, xác định duyên và quả
thuận hợp nhau, nghĩa là có tính đồng nhất. Mặt khác, phải
xác định chúng là hai vật thể khác nhau cần kết nối lại,
nghĩa là có tính sai khác. Như vậy, mệnh đề tôn không thể
thành lập như là một quan hệ đồng nhất, hay một quan hệ
sai khác. Mệnh đề tôn cũng không thể là một quan hệ vừa
đồng nhất vừa sai khác vì như vậy thời cấu trúc của
mệnh đề phạm lỗi đối với luật phi mâu thuẫn: Hai tướng
trái nghịch nhau không ở nơi một pháp.
Tóm
lại, duyên và quả không một không khác, cho nên quan hệ giữa
chúng là Không, nghĩa là vô tự tính. Do đó, giữa duyên và
quả không có một mối quan hệ nào thật hữu, có tự tính.
Trên
đây, bài tụng I.6 được giải thích theo hai thiên kiến đối
nghịch: sinh ra từ tự thể hay duyên quả đồng nhất, và
sinh ra từ vật thể khác hay duyên quả sai khác. Tuy nhiên,
có thể giải thích theo cách khác. Hỏi rằng: “Quả có trước
hay không có trước trong duyên?” tức là muốn hỏi “Duyên
là duyên của quả hữu hay duyên của quả phi hữu?”
Cần
phải hiểu Trung luận mỗi lần nói đến “hữu” và “phi
hữu” là nói theo nghĩa của đối phương. Theo đối phương,
hữu có nghĩa là tự hữu, tức hữu có tự tính quyết định,
và phi hữu là hoàn toàn không có, ngay cả giả hữu tức có
một cách tương đối và vọng hữu tức có do biến kế sở
chấp cũng đều không có. Vì vậy, theo bài tụng I.6, quan niệm
rằng duyên dẫn đến quả hữu hay duyên dẫn đến quả phi
hữu, cả hai đều không nghĩa lý. Đối với phi hữu hoàn
toàn không có thời duyên cái gì? Đối với hữu có tự tính
thời đâu cần duyên! Tóm lại, gạt bỏ trường hợp quả
vừa có trước vừa không có trước trong duyên vì phạm lỗi
đối với luật phi mâu thuẫn, thời trong cả hai trường hợp,
quả có trước hay không có trước trong duyên, không có quả
nào hiện khởi.
Theo
định nghĩa chữ duyên trong bài tụng I.5, thấy nhân là pháp
sinh ra quả, nên gọi là duyên. Nếu trước không quả, làm
sao gọi là duyên? Bài tụng I.6 xác quyết nếu trước có quả,
thời không cần duyên; nếu trước không quả thời duyên cái
gì; nếu trước không quả mà vẫn có, thời cũng có thể
từ không duyên mà sinh. Lại nữa, nếu quả từ duyên sinh,
quả tức thuộc duyên; duyên không tự tại, lại thuộc duyên
khác. Nếu duyên không tự tại sao nói quả chỉ từ duyên
ấy sinh? Do các việc như vậy, nên biết không có nhân duyên.
Đó là ý nghĩa phủ nhận nhân duyên của bài tụng I.7.
Bản
chữ Hán:
I.7.
Nhược quả phi hữu sinh/ Diệc phục phi vô sinh/ Diệc phi hữu
vô sinh/ Hà thời ngôn hữu duyên.//
Dịch:
I.7. Nếu quả chẳng có sinh ra/ Cũng chẳng không sinh ra/ Cũng
chẳng có và không sinh ra/ Thời sao bảo là có nhân duyên?//
Nếu
quả không sinh ra thời không có duyên. Nếu quả sinh ra thời
có ba trường hợp: quả có trước, hay không có trước, hay
có trước và không có trước trong duyên. Như nói trên, trong
cả ba trường hợp đều không có nhân duyên.
Bài
tụng I.8 phủ nhận thứ đệ duyên.
Bản
chữ Hán:
I.8.
Quả nhược vị sinh thời/ Tắc bất ưng hữu diệt/Diệt pháp
hà năng duyên/ Cố vô thứ đệ duyên.//
Dịch:
I.8. Quả nếu khi chưa sinh/ Thời chẳng nên có diệt/ Pháp
diệt thời đâu làm duyên?/ Cho nên không có thứ đệ duyên.//
Gọi
là thứ đệ duyên khi cái tâm niệm trước chấm dứt và dẫn
khởi cái duyên cho niệm sau sinh ra và chiếm cái địa vị
của nó vừa rút khỏi. Sự vật khi chưa sinh ra thời không
hoại diệt. Diệt mà không mất tức là thường còn, làm sao
làm thứ đệ duyên được. Diệt mà biến mất thời khi đã
diệt, làm sao có thể làm thứ đệ duyên? Như tâm tâm sở
pháp quá khứ đều đã diệt, không tạo tác được gì, thời
làm sao làm thứ đệ duyên? Hiện tại có tâm thời không có
thứ đệ duyên. Nếu tâm hiện tại làm thứ đệ cho tâm sắp
sinh trong đời vị lai, thời tâm vị lai chưa có, làm sao cùng
làm thứ đệ duyên được. Tóm lại, không thứ đệ duyên.
Bài
tụng I.9 phủ nhận sở duyên duyên.
Bản
chữ Hán:
I.9.
Như chư Phật sở thuyết/ Chân thực vi diệu pháp/ Ư thử
vô duyên pháp/ Vân hà hữu duyên duyên.//
Dịch:
I.9. Như chư Phật đã dạy/ Pháp vi diệu chơn thật/ Nơi đây
không pháp duyên/ Làm sao có duyên duyên?//
Như
chư Phật dạy, hết thảy pháp vô tướng, vô duyên. Không
có duyên pháp thời không có năng duyên và sở duyên. Vậy
không có sở duyên duyên.
Bài
tụng I.10 phủ nhận tăng thượng duyên.
Bản
chữ Hán:
I.10.
Chư pháp vô tự tánh/ Cố vô hữu hữu tướng/ Thuyết hữu
thị sự cố/ Thị sự hữu bất nhiên.//
Dịch:
I.10. Các pháp không có tự tính/ Nên không có tướng Hữu/
Câu nói “Có cái này, cho nên/ Cái kia có” không hợp lý.//
Câu
“Cái này có, cái kia có” diễn nghĩa chữ tăng thượng duyên.
Hết thảy pháp đều không có tự tính nên không thuộc gì,
không nương gì, tất cả đều bình đẳng. Bởi vậy, không
có tăng thượng duyên.
Trong
chương 44: Giải thích nghĩa bốn duyên, luận Đại trí độ,
Thích Thiện Siêu dịch, có đoạn nói về phá bốn duyên: “Bồ
tát thực hành Bát nhã ba la mật quán bốn duyên như vậy,
tâm không vướng mắc. Tuy phân biệt pháp ấy, mà biết nó
không, đều như huyễn hóa. Trong huyễn hóa tuy có các sai biệt,
người trí quán nó, biết không có thật, chỉ dối gạt con
mắt. Vì phân biệt biết pháp người phàm phu đều là điên
đảo hư dối mà không thật, nên có bốn duyên. Như vậy thế
nào là thật? Pháp hiền thánh nhân từ pháp phàm phu sanh, nên
cũng không thật, như đã nói trong chương 18 không.
Bồ
tát ở trong Bát nhã ba la mật không có một pháp có tánh nhất
định khả thủ nên không thể phá. Vì chúng sanh chấp trước
vào không pháp do nhân duyên sanh nên gọi là có thể phá. Ví
như trẻ con thấy trăng trong nước, tâm sanh ưa đắm, muốn
lấy mà không thể lấy được, tâm lại ưu não. Người trí
dạy rằng: tuy có thể mắt thấy, mà không thể tay lấy, đây
chỉ phá cái có thể lấy, không phá cái có thể thấy.”
Rồi
tiếp tục nói rằng muốn biết bốn duyên, thời nên thấu
triệt tánh chơn không diệu hữu: “Bồ tát quán biết các
pháp từ bốn duyên sanh, mà không chấp thủ tướng nhất định
trong bốn duyên. Bốn duyên hòa hợp sanh như trăng trong nước,
tuy là hư dối không có gì, nhưng phải từ trăng và nước
làm nhân duyên sanh, chứ không từ duyên khác có được. Các
pháp cũng như vậy, mỗi mỗi tự do nhân duyên sanh, không có
thật nhất định. Vì vậy nên nói: Bồ tát muốn như thật
biết tướng nhân duyên, thứ đệ duyên, duyên duyên, tăng
thượng duyên, nên học Bát nhã ba la mật.
Hỏi:
Nếu muốn biết rộng nghĩa bốn duyên, nên học A tỳ đàm,
cớ sao trong đây nói muốn biết nghĩa bốn duyên, nên học
Bát nhã ba la mật?
Đáp:
Nghĩa bốn duyên trong A tỳ đàm kẻ sơ học như nắm được
chỗ thật của nó, lại tìm vào sâu hơn mà bị rơi trong tà
kiến; như trước đã nói trong đoạn nghĩa phá bốn duyên.
Lại
nữa, sở nhân của các pháp là nhân nơi bốn duyên, bốn duyên
lại nhân nơi cái gì? Nếu có nhân thời vô cùng, nếu không
nhân thời vô thỉ, nếu vô thỉ thời vô nhân; nếu vậy thời
hết thảy pháp đều nên phải vô nhân! Nếu có thỉ, thỉ
thời không có sở nhân. Nếu không sở nhân mà có thời không
đợi nhân duyên. Nếu vậy thời hết thảy pháp cũng không
đợi nhân duyên mà có.
Lại
nữa, các pháp từ nhân duyên sanh có hai thứ: hoặc trong nhân
duyên trước đã có, thời không đợi nhân duyên mà sanh, thời
chẳng phải nhân duyên; hoặc trong nhân duyên trước không
có, thời không có mỗi mỗi nhân duyên. Vì hý luận bốn duyên,
nên có các lỗi như vậy, còn như Bát nhã ba la mật là không,
bất khả đắc, thời không có các lỗi như vậy; như người
thế gian mắt, tai thấy sanh, già, bệnh, chết, ấy thời là
có, mà tìm kỹ tướng nó thời không thể có được. Vì vậy
nên trong Bát nhã ba la mật, chỉ trừ tà kiến mà không phá
bốn duyên. Cho nên nói: Muốn biết bốn duyên, nên học Bát
nhã ba la mật.”
Trong
ba bài tụng kế tiếp, ngài Long Thọ dự đoán các câu hỏi
của đối phương về sự quan hệ giữa duyên và quả. Nên
nhớ rằng trong Trung luận, khi nói đến đối phương tức
là nói đến chủ trương mọi hữu đều có tự tính và mọi
phi hữu hoàn toàn không có, ngay cả giả hữu và vọng hữu
cũng không có. Trước tiên là bài tụng I.11.
Bản
chữ Hán:
I.11.
Lược quảng nhân duyên trung/ Cầu quả bất khả đắc/ Nhân
duyên trung nhược vô/ Vân hà tòng duyên xuất.//
Dịch:
I.11. Nơi nhân duyên mỗi mỗi hay cọng chung/ Không tìm thấy
quả được/ Nếu quả không ở nơi nhân duyên/ Sao bảo quả
sinh ra từ duyên?//
Trước
hết hãy lưu ý đến cấu trúc lưỡng phân biện chứng của
bài tụng này. Hai tôn y là quả, tôn y trước, và duyên, tôn
y sau. Duyên được phân hai thành mỗi mỗi và cọng chung. Trong
bài tụng này câu hỏi nhằm chỉ cho thấy: (1) nếu điều
phải giải thích không hàm chứa trong mỗi một pháp được
dùng để giải thích hay trong sự cọng chung tất cả những
duyên pháp ấy, thời không làm sao có thể cắt nghĩa được
điều phải giải thích hiện khởi do nhân duyên sinh; và (2)
nếu câu hỏi này không giải đáp được, thời lập trường
của ngài Long Thọ chủ trương đả phá năng lực dẫn sanh
quả tất nhiên mâu thuẫn với lý duyên khởi.
Có
hai câu hỏi trong bài tụng I.12. Câu đầu là làm thế nào
phân biệt được một cặp hiện tượng là tình cờ hiện
khởi cặp đôi, là một cặp có quan hệ nhân quả, hay là
một cặp nương gá nhau theo một quy ước giả định. Câu
thứ hai là nếu không một quan hệ nào có thể thiết lập
giữa duyên và quả thời tại sao quả ấy không ngẫu nhiên
hiện khởi vào bất kỳ lúc nào và từ bất cứ sự vật
nào khác?
Bản
chữ Hán:
I.12.
Nhược vị duyên vô quả/ Nhi tòng duyên trung xuất/ Thị quả
hà bất tòng/ Phi duyên trung nhi xuất.//
Dịch:
I.12. Nếu quả không ở nơi duyên/ Mà sinh ra từ duyên/ Vậy
sao quả ấy không từ/ Trong phi duyên mà sinh ra?//
Trong
bài tụng I.13, câu hỏi là: Trong trường hợp quán sát thấy
quả sinh ra từ duyên, mà duyên ấy không có tự tính, như
vậy thử hỏi quả ấy sinh ra như thế nào và vào lúc nào
trong một quá trình không có yếu tính quyết định và từ
những điều kiện vô tự tính?
Bản
chữ Hán:
I.13.
Nhược quả tòng duyên sinh/ Thị duyên vô tự tánh/ Tòng vô
tự tánh sinh/ Hà đắc tòng duyên sinh.//
Dịch:
I.13. Nếu quả sinh ra từ duyên/ Duyên ấy không có tự tính/
Sinh ra từ cái không có tự tính/ Thời làm sao sinh ra từ duyên
được?//
Câu
đầu bài tụng I.13 lặp lại ý của câu đầu bài tụng I.4:
Quả là do năng lực dẫn sanh quả từ duyên mà sinh ra. Như
vậy, nó xác quyết quan hệ đồng nhất duyên-quả. Tuy nhiên,
câu thứ hai bảo rằng duyên ấy vô tự tính, do đó hàm ý
duyên ấy lệ thuộc các duyên khác nữa. Vì vậy câu thứ
hai nêu ra sự sai khác giữa hai thứ duyên: một là duyên ấy
sinh ra quả, và hai là các duyên khác sinh ra duyên ấy. Như
thế, hai câu đầu của bài tụng I.13 đưa ra một nhận xét
chẳng những làm căn cứ cho câu hỏi mà còn để biện minh
cho thiên kiến thứ ba được nói đến trong bài tụng đầu,
I.1, theo đó quan hệ giữa duyên và quả được quan niệm vừa
đồng nhất vừa sai khác.
Bài
tụng cuối cùng của phẩm I này, I.14, giải đáp tất cả
thắc mắc trên một cách rất súc tích cô đọng, chỉ hiểu
được khi quán triệt Duyên khởi là Không, là Giả danh, và
cũng chính là Trung đạo.
Bản
chữ Hán:
I.14.
Quả bất tòng duyên sinh/ Bất tòng phi duyên sinh/ Dĩ quả vô
hữu cố/ Duyên phi duyên diệc vô.//
Dịch:
I.14. Quả không sinh ra từ duyên/ Không sinh ra từ phi duyên/
Vì quả không có cho nên/ Duyên và phi duyên cũng không.//
Hai
câu đầu được thành lập theo luận thức lưỡng phân biện
chứng. Tôn y trước là quả và tôn y sau là duyên được chia
hai thành duyên và phi duyên. Mục đích của luận thức là
phản bác quan hệ đồng nhất hay quan hệ sai khác giữa duyên
và quả. Duyên và quả, cũng như quan hệ giữa chúng đều
là danh tự giả tướng, không có thật thể cố định, không
có tự tính.
Lý
duyên khởi được thuyết giảng là để giải thích sự hiện
hữu của vạn pháp vô tự tính, đưa đến xác tín rằng duyên
khởi loại trừ cực đoan chấp không. Mặt khác, với duyên
khởi dùng làm lý lẽ, Trung luận bác bỏ cực đoan chấp hữu
cho rằng sự vật có tự tính và biệt lập với sự vật
khác. Duyên khởi có tên mà không thật có cho nên duyên khởi
là giả danh. Vì vậy khi đặt cái danh vào định thức duyên
khởi thời đó là giả danh, nghĩa là chỉ có trên danh ngôn
chứ không có trong thực tế. Sự thể vì vô tự tính nên
hiện khởi do nhân duyên. Vậy vô tính duyên sinh nên duyên
sinh là giả danh. Đằng khác sự thể hiện khởi do nhân duyên
thời không có tự tính dị biệt. Do đó duyên sinh vô tính
nên duyên sinh là Không. Đó là ý nghĩa Trung đạo của lý
duyên khởi.
Hiểu
được như vậy thời các câu hỏi trên trở nên vô nghĩa.
Về câu hỏi đầu, quả không có thật thể cố định như
đối phương tưởng lầm cho nên quả mới sinh ra từ tánh
Không của duyên và của quan hệ phi nhất phi dị giũa duyên
và quả. Về câu hỏi thứ hai và thứ ba, vì đối phương
chấp hữu có tự tính nên cho rằng mọi pháp vô tự tính
đều phi hữu, bởi vậy bất kỳ lúc nào cũng có thể sinh
ra từ bất cứ vật thể nào không có tự tính. Theo Trung luận,
vì các pháp vô tự tính nên do nhân duyên sinh, và do nhân duyên
sinh thời là giả hữu hay có trên danh tự giả tướng, chứ
không hoàn toàn không có. Quả cũng như nhân duyên, cả hai
đều vô tự tính nên cái trước mới nương vào cái sau mà
sinh khởi. Nếu ngược lại, chúng có yếu tính quyết định
thời chúng độc lập riêng biệt, cái này không thể sinh ra
từ cái kia được.
Tóm
lại, nói đến quan hệ duyên-quả như một thật thể cố
định tức là muốn dùng thực tại làm nền tảng để căn
cứ vào đó mà giải thích và phát biểu về năng lực tác
dụng dẫn sanh quả như là mối tương quan liên hệ có thật
giữa duyên và quả. Đó là chủ trương cực đoan thường
kiến. Ngược lại, chủ trương cực đoan đoạn kiến cho rằng
không thể nào dùng nhân duyên để giải thích sự hiện khởi
của vạn pháp. Trong Trung luận, ngài Long Thọ bằng vào thuyết
nhị đế để giải thích lý pháp nhân duyên. Theo tục đế
thời mọi pháp thế gian sinh khởi từ bốn duyên, do duyên
hợp mà giả có. Nhưng theo Chân đế, hết thảy mọi pháp
đều vô sinh. Ngài đã sử dụng công ước như nền tảng
của bản thể luận và bác bỏ sự đi tìm kiếm một căn
bản để giải thích sự thành lập công ước. Ngài chỉ cho
thấy cái “thấy vậy” của quần chúng là “không phải
vậy” vì mang nặng tính chất siêu hình, vì do vọng tưởng
phân biệt tạo ra. Thay vào cái “thấy vậy” thông tục,
Ngài chỉ bày một phương cách phát triển trí Bát nhã là
tuệ quán đặc biệt liễu tri tánh Không để thấy biết thế
gian trong tướng trạng chân thực của nó.