19. Năng
tạo và sở tạo trong Phẩm IV
A.
Phẩm IV: Quán Ngũ ấm (Dịch Việt).
IV.1.
Nếu lìa ngoài sắc nhân/ Thời sắc (pháp) không thể có được./
Còn nếu lìa ngoài sắc (pháp)/ Thời sắc nhân không thể có
được.//
IV.2.
Lìa sắc nhân mà sắc (pháp) hiện hữu/ Thời sắc (pháp) ấy
không có nhân./ Không nhân mà có pháp/ Điều đó không đúng.//
IV.3.
Nếu lìa sắc (pháp) mà có (sắc) nhân/ Thời nhân ấy không
có quả./ Nếu nói có cái nhân không có quả/ Thời là không
có lẽ ấy.//
IV.4.
Nếu đã có sắc (pháp)/ Thời không cần dùng đến sắc nhân./
Nếu không có sắc (pháp)/ Cũng không cần dùng đến sắc nhân.//
IV.5.
Không có (sắc) nhân mà có sắc (pháp)/ Điều này không hoàn
toàn đúng./ Thế nên, người có trí/ Không nên phân biệt
chấp sắc có tự tính.//
IV.6.
Nếu quả tương tợ nhân/ Điều đó không đúng./ Nếu quả
không tương tợ nhân/ Điều đó cũng không đúng.//
IV.7.
Thọ ấm và tưởng ấm,/ Hành ấm và thức ấm, v..v... / Cùng
tất cả các pháp khác,/ Đều đồng như sắc ấm nói trên.//
IV.8.
Nếu người ta có hỏi/ Mà đáp không y cứ trên tánh Không/
Thời sự đáp không thành/ Cùng đồng chỗ nghi với người
kia.//
IV.9.
Nếu người có nạn vấn/ Mà không y cứ trên tánh Không/ Thời
nạn vấn không thành/ Cùng đồng chỗ nghi với người kia.//
B.
Luận giải.
Sự
phân loại Mười hai xứ đề cập trong Phẩm III: Quán Lục
tình đứng trên căn bản nhận thức luận chủ trương thế
giới được thành lập trên quan hệ nhận thức tương đãi
và tương thành giữa sáu căn và sáu cảnh. Trong Phẩm IV: Quán
Năm ấm này sự phân loại Năm uẩn được xét đến trên
phương diện nguyên nhân, duyên do phát sinh sự vật. Uẩn là
tụ tập theo loại, do ngài Huyền Trang phiên dịch từ tiếng
Phạn skandha. Ngài La Thập dịch ý là ấm, tức ngăn che, hàm
nghĩa rằng năm thứ sắc, thọ, tưởng, hành, và thức có
tính cách ngăn che làm không thể liễu đạt chân tánh của
vạn pháp. Ngăn che do hình tướng (thân và cảnh) thời gọi
là sắc ấm. Ngăn che do cảm giác thời gọi là thọ ấm. Ngăn
che do tưởng tượng các danh tướng thời gọi là tưởng ấm.
Ngăn che do tâm niệm thay đổi, đáp ứng với sự vật thời
gọi là hành ấm. Ngăn che do tập quán sai lầm chứa chấp
trong tiềm thức thời gọi là thức ấm.
Thuyết
Năm uẩn trở thành một phân loại rất quen thuộc từ thời
đại Phật giáo Nguyên thủy. Trong bốn vấn đề hoàn toàn
thuộc về con người: Tâm, Tâm sở, Sắc, và Niết bàn được
đem ra giải thích cặn kẽ trong Thắng pháp tập yếu luận,
môn Tâm lý học của đạo Phật, HT Thích Minh Châu dịch giải,
thời Tâm, Tâm sở, và Niết bàn thuộc về tâm thức. Sắc
nói nhiều về thân thể con người, quan hệ giữa thân thể
ấy với tâm thức và ngoại giới. Trong năm uẩn, sắc uẩn
thuộc về sắc pháp. Bốn uẩn kia thuộc về tâm pháp. Đạo
Phật không bao giờ tách biệt Tâm và Sắc vì cả hai đều
tương quan liên đới.
Theo
Thắng pháp, sắc pháp là sự tổng hợp của những đức tánh
luôn luôn biến động. Do vậy các sắc pháp gọi tên là rùpa
nghĩa là những gì luôn luôn biến động. Chữ rùpa chỉ chung
cho các sắc pháp và chỉ riêng cho những đối tượng con mắt
thấy. Sắc pháp chia ra hai loại: bốn đại chủng (mahàbhùta)
và những sắc do bốn đại chủng tạo thành (bhautika). Bốn
đại chủng là địa, thủy, hỏa, và phong, bốn phần tử
căn bản không thể rời nhau và tác thành mọi sắc pháp, từ
nhỏ đến lớn, từ vi trần cho đến núi cao. Chữ Đại có
nghĩa là có công dụng lớn lao nhờ đó mà hết thảy mọi
vật mới được tạo thành. Tuy nhiên, trên phương diện pháp
tướng, khi phân biệt bốn đại, A tỳ đạt ma thường căn
cứ vào sự có thể thấy hay không thể thấy làm tiêu chuẩn
và thường cho bốn đại là không thể thấy. Bởi vậy cho
nên các luận sư của A tỳ đạt ma chủ trương bản chất
bốn đại: cứng, ướt, nóng, và động là những yếu tố
thực thể, mới là bốn đại thật, còn đất, nước, lửa,
gió hiện thực là bốn đại giả. Do đó, bốn yếu tố cơ
bản “cọng sinh bất ly”, cứng, ướt, nóng, và động, thường
được gọi là năng tạo chủng. Chúng hỗ tương kết hợp
để tạo thành các sắc pháp khác (bhautika) được coi như
thuộc loại dẫn xuất thứ cấp và được mệnh danh là tứ
đại sở tạo sắc. Nói theo ngôn ngữ khoa học, sở tạo sắc
là những hiện tượng hóa lý và bốn đại chủng có thể
gọi là vật chất, vật chất hiểu theo thuyết Tương đối
là vật chất và năng lượng.
Có
11 tứ đại sở tạo sắc gồm năm tịnh sắc căn tức năm
trung tâm thần kinh nhận cảm: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, và thân,
năm cảnh: sắc, thanh, hương, vị, và xúc, và vô biểu sắc
tức một loại sắc pháp không biểu hiện cụ thể để có
thể nghe thấy được, vì đó là dư tập do thân, khẩu nghiệp
lưu lại, tương tục chuyển biến, và trở thành nhân tố
chiêu cảm quả báo ở tương lai.
Ha
lê bạt man (Harivarman), sống ở Ấn độ khoảng một thế
kỷ trước Thế Thân (Vasubandhu), tác giả của tập Thành thật
luận (Tattvasiddhi), đưa ra một chủ trương trái ngược. Hiện
thực tứ đại, đất, nước, lửa, gió, cùng những yếu tố
cứng, ướt, nóng, động, năm căn, và thanh, hết thảy đều
là hiện tượng vật chất (giả danh) được thành lập từ
bốn trần: sắc, hương, vị, xúc, xem như yếu tố vật chất
cơ bản. Thuyết này phảng phất giống thuyết tế vật chất
và ngũ duy của phái Số luận, một trong sáu phái triết học
lớn ở Ấn độ vào thời bấy giờ. Trong Số luận, cứng,
ướt, nóng, và động được gọi là tế vật chất, sắc,
thanh, hương, vị, xúc mỗi mỗi đều là tính chất và gọi
là ngũ duy. Chính từ ngũ duy mà thành lập ngũ đại là đất,
nước, lửa, gió, và không.
Tất
cả các bộ phái không thừa nhận thuyết của Ha lê bạt man,
nhận định rằng bản tính của bốn đại là cứng, ướt,
nóng, và động, và mọi hiện tượng hóa lý đều lấy bốn
đại làm nền tảng. Vấn đề được đặt ra là các sắc
pháp sở tạo do bốn đại năng tạo biến hóa mà thành, vậy
ngoài sự biến hóa đó chúng có độc lập tính hay không?
Nếu cho rằng tất cả những gì ngoài bốn đại chủng là
giả thời trong Mười hai xứ hay Mười tám giới, trừ chất
cứng, ướt, nóng, động của phần xúc, tất cả có thể
nói đều là giả pháp. Hữu bộ không chấp nhận điều đó.
Theo Hữu bộ, toàn bộ sở tạo sắc biệt lập ngoài bốn
đại chủng. Lúc đầu, từ sự quán sát vật lý, năm căn,
năm cảnh được lấy làm những yếu tố vạn hữu, gán cho
một ý nghĩa độc lập, rồi trong quá trình tiến triển tự
nhiên đi sâu vào vật chất luận, dẫn đến kết luận bốn
đại là năng tạo chủng.
Tỳ
bà sa đứng trên lập trường ngũ nhân mà chủ trương bốn
đại chủng là năng tạo của hết thảy vật chất, sinh ra
và duy trì các sắc sở tạo. Năm nhân ấy là: (1) sinh nhân,
vì từ bốn đại mà sinh. (2) y nhân, vì sinh rồi thời y vào
bốn đại mà xoay vần. (3) lập nhân, vì bốn đại ví như
bức tường nâng đỡ lấy họa phẩm duy trì sở tạo sắc.
(4) trì nhân, vì nhân không bao giờ dứt. Và (5) dưỡng nhân,
vì làm cho tăng trưởng.
Theo
Hữu bộ, nếu lấy dục giới làm tiêu chuẩn thời sắc pháp
tất phải y vào bốn đại năng tạo và bốn trần sở tạo
mà tồn tại, dù chỉ tồn tại ở một mức độ tối thiểu,
ngoài ra không có vật nào khác. Câu xá luận gọi đó là “bát
sự câu sinh”, “tám việc (năng tạo tứ đại và sở tạo
tứ trần) đều sinh, không thiếu một việc, để trở thành
đơn vị của hiện tượng vật chất; ngũ căn còn y tồn trên
bề mặt của đơn vị này.“ (Câu xá quyển 4, trang 121) Lẽ
cố nhiên, bởi vì đã là “bát sự câu sinh” thời không
còn có chất cứng, ướt, nóng, động, tồn tại một cách
đơn độc cho nên không thể bảo đơn vị ấy là cực vi.
Trong
sáu bài tụng đầu, IV.1 - 6, ngài Long Thọ một mặt, phản
bác sự phân loại sắc pháp thành thực thể có yếu tính
quyết định, bên này là yếu tố nguyên nhân cơ bản và bên
kia là hiện tượng vật chất dẫn xuất thứ cấp, một đằng
là đại chủng hay năng tạo chủng (mahàbhùta) và đằng kia
là sở tạo sắc (bhautika), rồi ví năng tạo chủng là vua,
sở tạo sắc là tôi, hay năng tạo chủng là thân cây, sở
tạo sắc là cành cây, v..v... Mặt khác, Ngài chỉ trích chủ
trương quan hệ nhân quả một chiều giữa bốn đại chủng
và các sở tạo sắc, cho rằng bốn đại chủng sinh ra và
duy trì các sắc sở tạo.
Trong
bài tụng đầu tiên IV.1, ngài Long Thọ khuyến cáo chớ quan
niệm những hiện tượng hóa lý độc lập riêng biệt với
bốn đại chủng và chớ xem bốn đại chủng là sẵn có định
tánh nơi tự tính của chúng, nguyên nhân sinh khởi các hiện
tượng hóa lý.
Bản
chữ Hán:
IV.1.
Nhược ly ư sắc nhân/ Sắc tắc bất khả đắc/ Nhược đương
ly ư sắc/ Sắc nhân bất khả đắc.//
Dịch:
IV.1.
Nếu lìa ngoài sắc nhân/ Thời sắc (pháp) không thể có được./
Còn nếu lìa ngoài sắc (pháp)/ Thời sắc nhân không thể có
được.//
Hãy
lưu ý ở đây chữ sắc (pháp) dùng chỉ vào những hiện tượng
hóa lý (bhautika rùpa) và chữ (sắc) nhân (kàrana) chỉ vào
bốn đại chủng. Hai chữ Phạn kàrana và kàrya tuy dịch là
nhân và quả giống như khi dịch hai chữ hetu và phala, nhưng
ý nghĩa của chúng khác hẳn. Hetu và phala luôn luôn là nhân
và quả. Trái lại, kàrana và kàrya có thể lúc thời kàrana
xem như là nhân với quả là kàrya, lúc thời kàrya là nhân
với quả là kàrana.
Trong
các bài tụng IV.2 - IV.5, phép phản chứng (reductio ad absurdum)
được sử dụng để biện minh bốn đại chủng và những
hiện tượng hóa lý không thể ly cách riêng rẽ như là những
thực thể có tự tính.
Bản
chữ Hán:
IV.2.
Ly sắc nhân hữu sắc/ Thị sắc tắc vô nhân/ Vô nhân nhi
hữu pháp/ Thị sự tắc bất nhiên.//
IV.2.
Lìa sắc nhân mà sắc (pháp) hiện hữu/ Thời sắc (pháp) ấy
không có nhân./ Không nhân mà có pháp/ Điều đó không đúng.//
Khi
tách vật chất và hiện tượng hóa lý ra thành hai thực thể
độc lập riêng biệt có tự tính thời một mặt, các hiện
tượng hóa lý hiện hữu đơn độc mà không có nhân. Không
có nhân mà có quả là việc thế gian chưa từng có. Bởi vậy
không thể tách riêng hiện tượng hóa lý với nguyên nhân
của chúng là vật chất.
Có
người hỏi: Pháp Phật nói có ba thứ vô vi, vô vi là thường
nên không có nhân. Pháp ngoại đạo thời cho hư không, thời
gian, phương hướng, thức, vi trần, niết bàn là thường,
nên không có nhân. Pháp thế gian thời cho hư không, thời gian,
phương hướng, không chỗ nào không có, thế nên là thường,
thường thời không có nhân. Vậy sao bảo rằng thế gian không
có pháp nào không có nhân?
Đáp:
Những pháp không có nhân đó chỉ có trên ngôn thuyết. Nếu
tư duy phân biệt kỹ càng thời không có. Mọi pháp nhân duyên
sinh đều không thể nói là không có nhân.
Mặt
khác, vật chất nếu tách biệt với hiện tượng hóa lý xem
như tác quả của nó thời hóa ra vật chất là nhân không
quả. Có nhân tất phải có quả. Không quả đâu gọi được
là nhân. Vì thế không thể chấp nhận được có nhân mà
không có quả. Đó là ý nghĩa của bài tụng IV.3.
Bản
chữ Hán:
IV.3.
Nhược ly sắc hữu nhân/ Tắc thị vô quả nhân./ Nhược ngôn
vô quả nhân/ Tắc vô hữu thị xứ.//
Dịch:
IV.3.
Nếu lìa sắc (pháp) mà có (sắc) nhân/ Thời nhân ấy không
có quả./ Nếu nói có cái nhân không có quả/ Thời là không
có lẽ ấy.//
Ngoài
ra, thử hỏi sự tương quan liên hệ nào có thể thành lập
được giữa hai thực thể riêng biệt là sắc pháp và cái
gọi là sắc nhân, cái nhân giả tưởng của sắc pháp đó?
Đừng nên lầm tưởng rằng ngài Long Thọ phản bác luật
nhân quả. Cái mà Ngài đả phá là cái lối nhìn sai lầm và
cái chấp trước mê muội cho rằng nhân duyên có tự tính.
Trong Phẩm này cũng như trong Phẩm I: Quán nhân duyên, Ngài
không chấp nhận sự vật có tự tính và khái niệm năng lực
dẫn sanh quả từ tự tính. Bài tụng đầu tiên của Trung
luận, bài I.1, biện chứng tứ cú được áp dụng để phản
bác hết thảy mọi kiến giải về sự sinh khởi của các
pháp do tác dụng của năng lực dẫn sanh quả từ tự tính
của nhân. Ngôn ngữ và luận lý không có khả năng giải thích
và phát biểu tánh phi nhất phi dị tức tánh Không của sự
sinh khởi. Nói một cách khác, sự sinh khởi không thật có
giữa hai vật thể đồng nhất hay sai khác. Từ quan điểm
Bát nhã, sinh khởi chỉ là danh tự giả tướng.
Bài
tụng IV.4 trình bày dầu kết quả là sắc pháp có xuất hiện
hay không xuất hiện, có sắc nhân trong cả hai trường hợp
đều không thể được.
Bản
chữ Hán:
IV.4.
Nhược dĩ hữu sắc giả/ Tắc bất dụng sắc nhân/ Nhược
vô hữu sắc giả/ Diệc bất dụng sắc nhân.//
Dịch:
IV.4.
Nếu đã có sắc (pháp)/ Thời không cần dùng đến sắc nhân./
Nếu không có sắc (pháp)/ Cũng không cần dùng đến sắc nhân.//
Lý
do: Khi một sắc pháp hiện hữu có tự tính, thời nó đâu
cần đến nhân sinh khởi ra nó. Trong trường hợp sắc pháp
không hiện hữu, tất nhiên sắc nhân không thể có được,
vì là nhân chỉ khi nào có quả sinh khởi. Không sinh khởi
quả tất nhiên không gọi đó là nhân. Cũng có thể nói rằng
nếu trong nhân trước đã có sắc pháp, thời đó không thể
gọi là sắc nhân. Nếu trong nhân trước không có sắc pháp,
cũng không gọi đó là sắc nhân.
Phía
đối lập có thể bảo rằng dẫu lý luận chứng minh vật
chất không thể là nhân đối với các hiện tượng hóa lý,
nhưng trong thực tế những hiện tượng hóa lý ấy hiển hiện
có thật tất nhiên nhân của chúng là vật chất cũng phải
có thật.
Trả
lời: Nếu sắc pháp hiện hữu có tự tính, thử hỏi sắc
nhân tác dụng như thế nào để sinh ra nó? Do một năng lực
tác dụng có hiệu quả? Như đã giải thích trong bài Nhân
và Duyên trong Phẩm I Trung luận, bài tụng I.4, nếu có một
hiện tượng gọi là năng lực tác dụng dẫn sanh quả từ
nhân thời năng lực ấy hoặc cần duyên hoặc không cần duyên
để tác dụng có hiệu quả. Nếu cần duyên thời lý luận
gây ra một chuỗi câu hỏi kế tiếp, duyên này cần duyên
nào khác, v..v..., nghịch suy vô cùng tận không giải quyết
được vấn đề. Nếu không cần duyên thời hóa ra đó là
một hiện tượng không có nguyên nhân, điều này không thể
chấp nhận. Như vậy, khái niệm năng lực dẫn sanh quả không
thể giải thích sự quan hệ giữa nhân và quả sinh khởi.
Theo
lý luận trên, sở dĩ không có sắc nhân mà có sắc quả là
bởi tại chấp sắc có tự tính. Kỳ thật, nói có pháp không
do nhân duyên sinh là điều thế gian chưa từng có. Điều này
được trình bày trong bài tụng IV.5.
Bản
chữ Hán:
IV.5.
Vô nhân nhi hữu sắc/ Thị sự chung bất nhiên/ Thị cố hữu
trí giả/ Bất ưng phân biệt sắc.//
Dịch:
IV.5.
Không có (sắc) nhân mà có sắc (pháp)/ Điều này không hoàn
toàn đúng./ Thế nên, người có trí/ Không nên phân biệt
chấp sắc có tự tính.//
Bài
tụng IV.6 cho ta một thí dụ về cách thành lập mệnh đề
tôn trong luận pháp của ngài Long Thọ.
Bản
chữ Hán:
IV.6.
Nhược quả tợ ư nhân/ Thị sự tắc bất nhiên/ Quả nhược
bất tợ nhân/ Thị sự diệc bất nhiên.//
Dịch:
IV.6.
Nếu quả tương tợ nhân/ Điều đó không đúng./ Nếu quả
không tương tợ nhân/ Điều đó cũng không đúng.//
Hai
tôn y dùng để lập tôn ở đây là sắc nhân và sắc quả.
Tôn y sắc quả được chia thành hai phần bổ sung nhau “sắc
quả tương tợ (giống) sắc nhân” và “sắc quả không tương
tợ (không giống) sắc nhân”, nghĩa là nếu sắc quả hiện
hữu thời nó hoặc là tương tợ hoặc là không tương tợ
sắc nhân. Không có trường hợp thứ ba ngoài hai trường hợp
ấy, chẳng hạn như vừa tương tợ vừa không tương tợ sắc
nhân. Hội hai phần bổ sung ấy lại tạo thành tập hợp tất
cả sắc quả trong thế gian, tương ứng với vũ trụ ngôn
thuyết của thí dụ này.
Như
vậy, có hai quan hệ nhân quả giữa sắc nhân và sắc quả:
quả và nhân tương tợ (giống) nhau và quả và nhân không
tương tợ (không giống) nhau. Cả hai mệnh đề ấy đều không
đúng. Luận thức dùng phản bác quan hệ đồng nhất hay sai
khác giũa nhân và quả đã đề cập trong Phẩm I: Quán nhân
duyên, bài tụng I.14. Nhân và quả, cũng như quan hệ giữa
chúng đều là danh tự giả tướng, không có thật thể cố
định, không có tự tính.
Hãy
nghe ngài Thanh Mục giảng: “Nếu quả và nhân giống nhau,
việc ấy không đúng, vì nhân tế mà quả thô, sắc và lực
của nhân và quả khác nhau. Như vải mà giống chỉ thời không
gọi là vải, vì chỉ nhiều mà vải có một, nên không được
nói nhân quả giống nhau. Nhưng nếu nhân quả không giống
nhau cũng không đúng, như chỉ gai không thể dệt thành lụa,
chỉ thô thời không thể dệt thành vải mịn. Thế nên không
được nói nhân quả chẳng giống nhau. Cả hai lẽ đều không
đúng, nên biết không có sắc (pháp), không có sắc nhân.”
(Trung luận. Phạm Chí Thanh Mục thích. Thích Thiện Siêu dịch
và tóm tắt)
Đối
với bốn ấm còn lại là thọ, tưởng, hành, thức, và tất
cả pháp khác, bài tụng IV.7 khuyên nên tư duy quán sát như
đối với sắc ấm mà luận phá.
Bản
chữ Hán:
IV.7.
Thọ ấm cập tưởng ấm/ Hành ấm thức ấm đẳng/ Kỳ dư
nhất thiết pháp/ Giai đồng ư sắc ấm.//
IV.7.
Thọ ấm và tưởng ấm,/ Hành ấm và thức ấm, v..v... / Cùng
tất cả các pháp khác,/ Đều đồng như sắc ấm nói trên.//
Bây
giờ hãy xét đến ý nghĩa của hai bài tụng cuối, IV.8 và
IV.9.
Bản
chữ Hán:
IV.8.
Nhược nhân hữu vấn giả/ Ly không nhi dục đáp/ Thị tắc
bất thành đáp/ Câu đồng ư bỉ nghi.//
IV.9.
Nhược nhân hữu nan vấn/ Ly không thuyết kỳ quá/ Thị bất
thành nan vấn/ Câu đồng ư bỉ nghi.//
Dịch:
IV.8.
Nếu người ta có hỏi/ Mà đáp không y cứ trên tánh Không/
Thời sự đáp không thành/ Cùng đồng chỗ nghi với người
kia.//
IV.9.
Nếu người có nạn vấn/ Mà không y cứ trên tánh Không/ Thời
nạn vấn không thành/ Cùng đồng chỗ nghi với người kia.//
Theo
hai bài tụng cuối này, khi giải đáp hay khi đặt câu hỏi,
thời phải y cứ trên tánh Không, nếu không thời người đáp
hay người hỏi mắc lỗi lấy giả định làm luận cứ giảo
biện (petitio principii). Ngài Nguyệt Xứng (Candrakìrti) dùng
thí dụ cụ thể để giải thích lỗi này: “Nếu đối phương
có ý phản bác quan điểm sự vật không có tự tính, chẳng
hạn, nói rằng, 'bởi vì thọ, tưởng, v..v... đều thật có,
nên đối tượng của chúng cũng có thật', thời hết thảy
những gì đối phương phát biểu đều thiếu khả năng phản
bác, bởi vì sự hiện hữu của thọ, tưởng, v..v... là cùng
một cách thức như sự hiện hữu của các đối tượng, và
đó là điều cần phải chứng minh.
Ngay
cả hiện tượng vật chất, khi được quán sát phân tích
kỹ càng, thời thấy chúng không hiện hữu đồng nhất hay
dị biệt với nguyên nhân vật chất, cho nên thọ do duyên
xúc, tưởng câu khởi đồng thời với thức, hành do duyên
vô minh, và thức do duyên hành, khi được phân tích quán sát
kỹ càng, tất cả đều không hiện hữu đồng nhất hay dị
biệt với nhân của chúng. Chúng đều giống như xúc và những
yếu tố khác của vòng sinh tử, tất cả đều là những điều
cần phải được chứng minh. Và vì thọ, tưởng, v..v... đều
giống như những điều cần phải được chứng minh, cho nên
thuộc tính và chủ thể, quả và nhân, toàn thể và bộ phận,
và những khái niệm như vậy toàn là những sự thể giống
như hiện tượng vật chất đều là những điều cần phải
được chứng minh. Làm sao đối phương có thể đề ra một
sự phản bác? Tất cả những luận cứ họ dùng để phản
bác đều là những điều cần phải được chứng minh.”
(Prasannapadà. Candrakìrti. Bản dịch Anh ngữ của Mervyn Sprung)
Đoạn
văn luận giải trên tương ứng với nguyên văn tiếng Phạn
sau đây của hai bài tụng IV.8 và IV.9. So với bản chữ Hán
chỉ dịch ý thời bản tiếng Phạn nói rõ hơn về lỗi giảo
biện vin vào luận cứ giả định nếu không y cứ trên tánh
Không.
Bản
chữ Phạn:
IV.8.
Vigrahe yah parihàram krte sùnyatayà vadet,
Sarvam
tasyàparihrtam samam sàdhyena jàyate.
IV.9.
Vyàkhyàne ya upàlambham krte sùnyatayà vadet,
Sarvam
tasyànupàlabdham samam sàdhyena jàyate.
Dịch:
IV.8.
Khi phân tích y cứ trên tánh Không,
bất
cứ người nào phản bác, thời những điều người này không
phản bác đúng là những điều cần phải được chứng minh.
IV.9.
Khi giải thích y cứ trên tánh Không,
bất
cứ người nào nạn vấn, thời những điều người này không
nạn vấn đúng là những điều cần phải được chứng minh.
Y cứ
vào tánh Không có nghĩa là phân tích chứng rõ một hiện tượng
là vô tự tính, vô tự tính đương nhiên là do nhân duyên
sinh và chỉ có theo nghĩa tục đế. Ở đây, ngài Long Thọ
căn cứ vào lý nhân duyên sinh mà bác bỏ khái niệm về hiện
tượng có tự tính. Do đó, khi phản đáp với mục đích đả
phá quan niệm sự vật vô tự tính, hay khi nạn vấn nghi ngờ
về tánh vô tự tính của sự vật, ý của đối phương là
muốn đề cập bất kỳ hiện tượng nào đó có tự tính.
Bởi vậy trong luận chứng phản bác của đối phương, tiền
đề là: “Có những hiện tượng hoàn toàn độc lập và
sinh khởi không có nguyên nhân, hoặc sinh khởi từ một hiện
tượng khác có tự tính.” Nhưng xét cho kỹ thời tiền đề
ấy chỉ là giả định, tức là điều cần phải được chứng
minh!
Chắc
chắn đối phương không thể chứng minh hiện tượng có tự
tính được bởi vì Phẩm IV cũng như Phẩm I đã đưa ra đầy
đủ lý do để bác bỏ hết thảy mọi lối nhìn điên đảo
cho rằng các pháp duyên khởi có yếu tính quyết định và
luận phá tất cả mọi kiến giải sai lầm về sự sinh khởi
của các pháp do tác dụng của năng lực dẫn sanh quả từ
tự tính của nhân.
Như
đã trình bày, trong Phẩm này, ngài Long Thọ đả phá sự phân
loại bốn đại làm yếu tố nguyên nhân cơ bản và năm căn
năm trần làm hiện tượng hóa lý dẫn xuất thứ cấp. Ngài
bác bỏ chủ trương quan hệ nhân quả một chiều cho rằng
do sự biến hóa của bốn đại năng tạo mà các hiện tượng
hóa lý được thành lập và mệnh danh là sắc pháp sở tạo.
Luận pháp Ngài sử dụng có thể đem dùng để bác xích những
chủ trương không thuần túy khoa học, có tính cách siêu hình
và giáo điều như trong khoa học duy vật chủ nghĩa (Scientific
materialism) hiện nay. Sau đây là những đặc điểm thường
được xem như giáo điều của khoa học duy vật chủ nghĩa.
1.
Nguyên lý khách quan (Objectivism). Chủ nghĩa khoa học duy vật
đòi hỏi đối tượng khảo sát phải phát xuất từ kinh nghiệm.
Nhưng kinh nghiệm đây là thứ kinh nghiệm công cộng được
nhiều người san sẻ chứ không kể đến những kinh nghiệm
do cá nhân tự chứng tự giác. Ngoài ra, phương pháp khảo
sát phải khách quan, nghĩa là xem sự vật ở trong thực tại
phải ở bên ngoài kiến thức của người khảo sát. Vì vậy
kiến thức khoa học trưng bày một thế giới trong đó không
tìm ra sự có mặt của tâm thức và không vin vào đâu mà
thi thiết ý nghĩa về sự hiện hữu của tâm thức.
2.
Nguyên lý nhất thể (The monistic principle). Đối với chủ nghĩa
khoa học duy vật, vũ trụ chỉ có một, gồm duy nhất một
thực chất, đó là vũ trũ vật lý học, một vũ trụ vận
hành như một Bộ Máy Khổng Lồ. Hiện tượng được định
nghĩa là sự vật, biến cố, và quá trình có hình tướng
mà giác quan nhận thức được khác với thể tánh (noumena)
là yếu tính của sự vật tự hữu tự tồn.
Mọi
hiện tượng đều là hiện tượng vật lý. Các nhà khoa học
duy vật tin chắc có thể mô tả toàn vẹn vũ trụ ấy căn
cứ vào những định luật vật lý học được khám phá một
cách khách quan. Những định luật vật lý này tác dụng điều
hành tiến trình biến chuyển của mọi hiện tượng đồng
đều khắp nơi và ở mọi thời. Mọi hiện tượng vật lý
đều diễn biến có trật tự, có thể lặp lại, và diễn
tả bằng toán ngữ căn cứ vào kết quả đo lường. Như thế,
mọi hiện tượng không phải hiện tượng vật lý như hiện
tượng tâm lý, định tính, thưa thớt, đơn phát, hoặc diễn
biến không có trật tự đều bị gạt bỏ.
3.
Nguyên lý quy giảm (The principle of reductionism). Vì chấp nhận
nguyên lý nhất thể nên phải xác định bản tính của thực
chất cấu tạo vũ trụ. Các nhà khoa học duy vật tin tưởng
rằng nguyên nhân của bất cứ hiện tượng vĩ mô nào cũng
bắt nguồn từ những hiện tượng vi mô. Chẳng hạn, tập
tính của tế bào người là do tập tính của các hạt cơ
bản hợp thành tế bào. Hiện nay, trong ngành lý sinh học thần
kinh, mọi hiện tượng tâm lý đều quy giảm về hoạt tính
não bộ, nghĩa là chủ trương vật chất có tự tính và là
nguyên nhân của mọi quá trình tâm lý. Đến nay các nhà lý
sinh học duy vật chưa trưng dẫn được bằng chứng làm thế
nào bản tính và nguồn gốc của tâm ý thức cũng như của
những biến cố tâm lý khác phát xuất từ tính hoạt động
của tế bào thần kinh.
4.
Nguyên lý khép kín (The closure principle). Về quan hệ nhân quả,
họ chủ trương nguyên lý khép kín (The closure principle): Không
một hiện tượng nào ngoài hiện tượng vật lý được quan
niệm là nhân của những hiện tượng vật lý khác. Như thế,
mọi công cuộc nghiên cứu trong ngành sinh học và thần kinh
học luôn luôn được thực hiện với giả thiết không một
yếu tố nào ngoài các yếu tố vật lý ảnh hưởng đến
những diễn biến hữu cơ trong thần kinh hệ và đến cách
thức hoạt động của con người. Điều này rõ ràng là không
phù hợp với kinh nghiệm sinh hoạt hằng ngày.
5.
Nguyên lý thực hữu (Physicalism). Trong thực tại chỉ có vật
chất và quá trình vật lý là có thật. Nói cách khác, chỉ
có cấu hình của không gian và của khối/năng cùng với tác
dụng, phẩm tính, và hiệu quả của chúng là thực hữu. Do
đó, cái gì thực hữu đều có thể định lượng, như là
các yếu tố cấu thành thực tại vật lý và những định
luật điều hành các hỗ tương tác động giữa chúng. Chung
cùng, nguyên lý thực hữu cho thấy một vũ trụ hoàn toàn
vô tri vô giác, vô nghĩa, phối cảnh nhìn từ một quan điểm
hoàn toàn khách quan, không nhân tính. Đây là một quan điểm
nhìn vào thực tại từ “không nơi nào”!
Năm
đặc tính nêu trên mô tả tôn chỉ của phái theo chủ nghĩa
khoa học duy vật thực ra chỉ là những phương pháp ứng dụng
để tìm hiểu thực tại. Nhưng các nhà khoa học duy vật có
thái độ cố chấp nên lập chúng thành những giáo điều
thay vì xem chúng như là những quan niệm phân tích phát sinh
từ nhu cầu tìm hiểu nhân duyên và tương quan nhân quả. Điều
đáng lo ngại nhất hiện nay là thế giới đang chịu ảnh
hưởng nặng nề của khoa học duy vật chủ nghĩa căn cứ
trên cơ học cổ điển Newton. Theo định luật chuyển động
của Newton thời ta có thể dự đoán tương lai hay ngược suy
quá khứ của một vật chuyển động nếu biết rõ một số
dữ kiện, thường gọi là điều kiện đầu, mô tả thuộc
tính của vật ấy vào một lúc nào đó. Thí dụ biết được
vị trí và vận tốc của quả đất, mặt trăng, và mặt trời
hiện giờ thời có thể suy diễn những ngày trăng tròn, trăng
khuyết, nguyệt thực, hay nhật thực trong tương lai và quá
khứ. Đây là trường hợp với mỗi quả tương ứng một
nhân mà thôi.
Mặc
dầu chương trình thám hiểm không gian là một thành công lớn
của cơ học Newton, phạm vi ứng dụng các phương trình chuyển
động của cơ học Newton rất hạn hẹp. Thí dụ: Đối với
chuyển động tương đối theo định luật sức hút vạn vật
của hai vật thể thời có thể tìm ra lời giải chính xác,
nhưng nếu là của ba vật thể thời phải bó tay. Vả lại
trên nguyên tắc, theo cơ học lượng tử ta không thể nào
đo lường chính xác các điều kiện đầu và theo thuyết hỗn
độn (chaos theory) nếu các điều kiện đầu chỉ thay đổi
một đại lượng vô cùng bé thời với thời gian, tập tính
(behavior) của lời giải sẽ trở nên vô cùng hỗn độn khó
lường. Hơn nữa, thuyết tương đối bác bỏ hoàn toàn những
khái niệm căn bản của cơ học Newton xem không gian và thời
gian, vật chất và năng lượng như những tự thể độc lập
riêng biệt.
Thế
mà hiện nay cơ học cổ điển Newton vẫn duy trì ảnh hưởng
rộng lớn trong mọi ngành khoa học: vật lý, sinh học, tâm
lý, xã hội, kinh tế, chính trị, v..v... và trong đời sống
cá nhân và cộng đồng, nhất là tại các nước được xếp
vào hạng văn minh nhất thế giới. Các thể chế chính trị
cũng như hoạt động của con người đều được quan niệm
vận hành máy móc theo những quy luật tự nhiên. Tự do cá
nhân chỉ là thứ tự do bị phối chế (conditioned freedom) hướng
về hưởng lạc thú và thỏa mãn tham ái và dục vọng. Trong
xã hội mà khoa học duy vật ngự trị, tôn giáo phải đứng
riêng biệt ra một khu vực, lìa xa lý trí và khoa học, chỉ
thuần túy chuyên trách những vấn đề tâm linh, tín ngưỡng,
và truyền thống mà thôi.
Những
giả định siêu hình của khoa học duy vật chủ nghĩa thường
được đem ra trình bày như là những kết quả thực nghiệm
của khoa học. Cách trình bày như vậy vấp phải lỗi giảo
biện vin vào luận cứ giả định như được đề cập trong
hai bài tụng cuối IV.8 - 9. Hãy đưa ra một thí dụ. Số báo
Time, ngày 17 tháng bảy, 1995 đăng một bài có hình ở trang
bìa với nhan đề: “Glimpses of the Mind: What is Consciousness?
Memory? Emotion? Science unravels the best-kept secrets of the human brain”
(Liếc nhìn qua Tâm: Thế nào là Thức? là Ký ức? Là Xúc động?
Khoa học giải khai những gì bí mật nhất về não con người)
của Michael D. Lemonick. Trong bài này, tác giả vô tình hay hữu
ý trình bày những giả thiết siêu hình của khoa học duy vật
như những khám phá khoa học xác thật.
Ở
trang đầu là một bức hình của não do máy tính vẽ ra từ
bộ quét của PET (Positron-emission tomography), một phép chụp
bằng tia X theo lớp, với lời chú thích đây là ảnh của
“một ý nghĩ buồn” (a sad thought). Thực ra, đó là ảnh
của một vùng não có những tế bào thần kinh tích cực hoạt
động gia tăng sự chuyển hóa trong lúc một ý nghĩ buồn xuất
hiện. Hoạt động của tế bào não và tri giác về cảm thọ
có thể liên kết như vậy là do kinh nghiệm cá thể được
cá nhân tường thuật lại đồng thời với sự quán sát não
bộ theo phương pháp khoa học. Ngoài ra, sự tương quan nhân
quả giữa cảm thọ và hoạt động tế bào não của những
vùng liên hệ đang là một giả thuyết chưa được kiểm chứng
toàn bộ. Do đó, tác giả đã lấy một giả định làm thành
một xác quyết khoa học mà không cho độc giả hay.
Cùng
một luận điệu, khi nói về ký ức, tác giả phán quyết:
“Ký ức không gì khác hơn là một vài ngàn tế bào não phát
xạ theo một mẫu hình đặc thù nhất định”. Đó là một
sự khẳng nhận đối với hai nguyên lý, quy giảm và thực
hữu, của chủ nghĩa khoa học duy vật. Không có gì trong lời
phát biểu biện minh cho nguyên nhân và cách thức phát sinh
ký ức. Luôn luôn đứng trên lập trường tâm phát sinh từ
não, tác giả tiếp tục viết: “những kỹ thuật hiệu dụng
như MRI (magnetic resonance imaging; phép phát hiện ảnh bằng cọng
hưởng từ) và PET (Positron-emission tomography; một phép chụp
bằng tia X theo lớp) mở cửa sổ cho thấy bộ não con người,
để các khoa học gia theo dõi một ý tưởng thành hình, thấy
lớp sáng đỏ của sự sợ hãi phát ra từ một cấu trúc
mệnh danh là amiđan, hay ghi chú sự phát xạ tiết lộ bí mật
của các tế bào não khi một ức niệm chôn vùi từ lâu được
tái tạo.”
Cuối
cùng, nhận lầm thức là tự ngã, Lemonick viết: “Mặc dầu
theo bản năng ta tin ngược lại, thức không phải là một
sự vật nằm bên trong não tương ưng với “ngã” là hạt
nhân của tri giác, nhà đạo diễn tấn tuồng... Sau hơn thế
kỷ truy tầm, các nhà não học kết luận rằng không một
nơi nào khả dĩ tưởng tượng là trụ sở của một cái ngã
như vậy, và thật ra đơn giản là nó không có. ...
Có
thể các khoa học gia trong tương lai sẽ chấp nhận sự hiện
hữu của một cái gì nằm ngoài tầm hiểu biết của mình,
cái gì đó có thể mô tả như là linh hồn.”
Nếu
quả đây là một sự cố ý của tác giả thời rõ ràng bài
báo này đã lừa gạt độc giả vì mập mờ đánh lận con
đen, trình bày giả thuyết cần phải chứng minh như là sự
thật đã được thể nghiệm. Trung luận gọi đó là hý luận.
Tác giả có thể vô tình như “kẻ phàm phu mê tối đối
với sự thật bèn khởi ra các tướng của các pháp, chấp
lấy tướng mà cho ra danh, y theo danh mà giữ lấy tướng”,
sinh vọng tưởng nghĩ sai lầm các pháp có tự tính. Những
vọng tưởng chấp trước như vậy đã huân tập trong tâm
từ vô thủy, những cảm nhiễm thâm căn cố đế đã kết
thành tập quán vô minh trong sinh hoạt nhận thức sai lầm của
tác giả. Do đó, vì không khéo sử dụng ngôn ngữ và luận
lý để nhận ra những vọng tưởng hý luận, tác giả đã
mắc phải lỗi lấy ngọn làm luận cứ để quyết định
vấn đề, lấy giả định làm tiền đề thay thế những chân
lý đã thực chứng.