21. Hữu
và sở hữu trong Phẩm VI
A.
Phẩm VI: Quán Nhiễm Nhiễm Giả (Dịch Việt).
VI.1.Nếu
lìa ngoài pháp nhiễm/ Trước đã tự có người nhiễm/ Nhân
nơi người nhiễm/ Nên mới sinh pháp nhiễm.//
VI.2.
Nếu không có người nhiễm/ Thử hỏi làm sao có pháp nhiễm?/
Hoặc có hoặc không có pháp nhiễm/ Cách lập luận đối với
người nhiễm cũng như vậy.//
VI.3.
Người nhiễm và pháp nhiễm/ Cả hai cùng lúc thành lập là
điều không đúng/ Vì người nhiễm và pháp nhiễm cùng có
trong một lúc/ Thời không có sự hỗ tương tùy thuộc.//
VI.4.
Người nhiễm và pháp nhiễm đồng nhất/ Đồng nhất thời
làm sao hợp?/ Người nhiễm và pháp nhiễm khác nhau/ Khác nhau
thời làm sao hợp?//
VI.5.
Nếu đồng nhất mà hợp/ Thời lìa bạn vẫn hợp./ Nếu khác
nhau mà hợp/ Thời lìa bạn cũng hợp.//
VI.6.
Nếu khác nhau mà hợp/ Thời sự hiện hữu riêng biệt của
người nhiễm và của pháp nhiễm làm sao thành lập?/ Hai tướng
trước vốn đã sai khác/ Sao sau lại bảo chúng tương hợp?//
VI.7.
Nếu pháp nhiễm và người nhiễm/ Trước đã thành mỗi tướng
sai khác/ Đã thành tướng khác nhau/ Làm sao mà nói hợp?//
VI.8.
Vì tướng sai khác không thành/ Nên ông muốn chúng cọng hợp./
Tướng hợp rốt ráo không thành/ Ông lại nói chúng sai khác.//
VI.9.
Vì tướng sai khác không thành/ Nên tướng hợp cũng không
thành./ Đối với tướng khác nào nữa/ Mà ông nói là tướng
hợp?//
VI.10.
Như vậy, pháp nhiễm ô và người tham nhiễm/ Chẳng phải
hợp thành chẳng phải không hợp thành./ Các pháp khác cũng
như vậy/ Chẳng phải hợp thành chẳng phải không hợp thành.//
B.
Luận giải.
Phiền
não.
Các
Phẩm trước đề cập những yếu tố cơ bản phát sinh thế
giới mê vọng bao gồm uẩn, xứ, và giới. Phẩm VI: Quán Nhiễm
Nhiễm Giả (Quán về pháp nhiễm và người nhiễm) luận bàn
về phiền não, nguyên nhân cảm sinh ra thế giới mê vọng.
Phiền não chỉ cho toàn bộ tác dụng tâm làm cản trở công
cuộc thực hiện sự giải thoát. Đức Phật rất chú tâm
thuyết minh phiền não, trên nhiều phương diện, phân ra nhiều
loại để nói rõ tính cách đáng sợ của nó. Do đó, phiền
não có nhiều tên gọi, như là tùy miên, triền, cái, kết,
v..v... Trong Phẩm này, nhiễm ô là một tên khác của phiền
não. Bất luận loại nào gây phiền muộn áo não, trói buộc,
mất tự do đều có những danh xưng như trên. Nói theo pháp
tướng thời nghĩa của những danh xưng ấy không đồng nhất,
rộng, hẹp khác nhau. Chẳng hạn như về sự dị hay đồng
của tùy miên và triền đã sinh ra những tranh luận giữa các
bộ phái. Thật ra, trên đại thể, đó chỉ là do theo nhiều
lập trường khác nhau mà đặt tên cho các tác dụng tâm lấy
ngã chấp, ngã dục làm cơ sở, lấy việc thỏa mãn ngã chấp,
ngã dục làm mục đích một cách ý thức hay vô thức mà thôi.
Sự tu dưỡng theo đạo Phật về mặt tích cực thời ở sự
tăng trưởng trí tuệ, giải thoát được xác nhận với nhận
thức trực quán về thể tính của phiền não. Nhưng về mặt
tiêu cực, ý nghĩa của giải thoát là đoạn trừ phiền não,
để chấm dứt khổ đau.
Theo
Phẩm Phân biệt tùy miên, luận Câu xá, tùy miên, hay phiền
não, hay hoặc, có bốn nghĩa. Khi căn bản phiền não hiện
tiền mà hành tướng của nó khó biết rõ thời gọi là vi
tế. Nó được gọi là tùy tăng khi nó làm tăng thêm sự hôn
ám trầm trệ đối với cảnh nó duyên và những tâm tương
ưng với nó. Nó thường theo dõi hữu tình gây ra các tội
lỗi nên gọi là tùy tục. Nó hiện khởi trói buộc, không
muốn mà nó vẫn sanh, cố ngăn mà nó vẫn khởi, nên gọi
là tùy phược.
Có
bao nhiêu thứ phiền não? Phân loại chúng như thế nào? Nói
chung, các phân loại được đề cập trong Tăng nhất a hàm
cho đến thời đại A tỳ đạt ma, đã từ phức tạp trở
nên rất hỗn tạp. Trong Tăng nhất a hàm, lúc đầu chỉ có
loại một pháp, nhưng cuối cùng tăng lên đến loại mười
một pháp. Đến thời đại A tỳ đạt ma, phương pháp thuyết
minh và phân loại tuy xử lý tiến bộ hơn nhưng vẫn rất
phiền tạp, bắt đầu cũng từ một pháp đến hai pháp, rồi
ba pháp,..., tiến lên đến hai nươi mốt pháp, ba mươi sáu
ái hành, sáu mươi hai kiến, v..v.... Trên thực tế, về mặt
tính chất, không làm cách nào hơn được để sự phân loại
trở nên bớt phiền tạp.
Trong
các loại phiền não, loại nào là căn bản, làm gốc sanh ra
các loại phiền não khác? Tham chiếu cách phân loại trong Duy
thức thời có sáu tác nhân tâm lý ô nhiễm chủ yếu tức
căn bản phiền não hay tùy miên, là tham, sân, si, mạn, nghi,
ác kiến.
Tham
tức tham lam, có nghĩa chấp chặt lấy, đại lược đồng
nghĩa với ái. Tánh của tâm sở này tham lam đắm nhiễm những
gì nó ưa thích, như tài sắc, danh vọng, v..v... Nghiệp dụng
của nó là chướng ngại “vô tham” và sanh tội khổ.
Sân
tức sân hận, nổi nóng. Tánh của tâm sở này giận ghét
những cảnh trái nghịch. Nghiệp dụng của nó là làm cho thân
tâm không yên ổn, chướng ngại tánh “vô sân” và sanh các
tội lỗi.
Si
tức ngu si, còn gọi là vô minh, không sáng suốt. Có thể giải
thích là vô tri, tâm ngu độn, hoặc là ỷ vào mình, như ý
chí muốn sống. Tánh của tâm sở này là mê muội, không biết
hay dở, phải quấy. Nghiệp dụng của nó là sanh ra các pháp
tạp nhiễm và chướng ngại tánh “vô si”.
Ba
món phiền não, tham, sân, si, làm chướng ngại ba món vô lậu
là Giới, Định, và Huệ.
Mạn
tức khinh mạn, tâm kiêu mạn. Tánh của tâm sở này là ỷ
tài năng, thế lực của mình, khinh dễ ngạo mạn người.
Nghiệp dụng của nó là làm nhân sanh ra tội lỗi và chướng
ngại tánh “không khinh mạn”.
Nghi
tức nghi ngờ, do dự. Tánh của tâm sở này là nghi ngờ, không
tin những việc phải, chơn chánh. Nghiệp dụng của nó là
làm trở ngại việc lành và chướng ngại tánh “không nghi”.
Ác
kiến có nghĩa là thấy biết sai lầm. Tánh của tâm sở này
là hiểu biết điên đảo, không đúng chánh lý. Nghiệp dụng
của nó là gây tạo tội khổ và chướng ngại những hiểu
biết chơn chánh. Ác kiến chia làm năm thứ: thân kiến, biên
kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến.
Thân
kiến gồm ngã kiến và ngã sở kiến. Đối với thân thể
do năm uẩn hòa hợp tạo thành, không nhận thức rõ như vậy,
lại lầm chấp trong đó có một thật thể trường tồn duy
nhất chủ tể, đó gọi là ngã kiến. Đối với những vật
sở hữu của thân, chúng cũng toàn là giả hữu như huyễn,
chẳng có tự tha gì cả, thế mà nhận lầm chúng có thật
và thuộc về ta, đó gọi là ngã sở kiến.
Biên
kiến là chấp lệch lạc một bên. Thí dụ: chấp có thật
ngã, chấp sau khi chết, ngã sẽ tồn tại hoặc tiêu ma.
Tà
kiến là phủ nhận nhân quả chính đáng và chấp nhận nhân
quả tà vạy.
Kiến
thủ kiến là chấp chặt ba thứ thân kiến, biên kiến, tà
kiến cho là đúng. Thứ ác kiến này là đầu mối của sự
tranh chấp, tranh đấu.
Giới
cấm thủ kiến có hai loại. Một, không phải nhân chấp là
nhân, tức chấp trì những cấm giới tà vạy, như cho khổ
hạnh là nhân để sanh lên cõi trời. Hai, không phải đạo
chấp là đạo, tức tin những đạo lý không đưa đến sự
giải thoát. Thí dụ: Như Phật dạy, giới là viễn nhân đưa
đến Niết bàn, định, huệ mới là cận nhân của Niết bàn.
Thế nhưng lại tin chỉ có giới là căn nhân của Niết bàn,
không tin định, huệ.
Kiến
có nghĩa là suy tìm, so tính, lấy tâm sở huệ làm thể. Khi
tâm sở huệ suy tìm đúng đắn thời gọi là chánh kiến.
Khi nó suy tìm sai lầm thời gọi là tà kiến. Trong năm ác
kiến, có ba thứ làm tự thể cho bốn món điên đảo kiến.
Đó là thân kiến làm tự thể cho điên đảo vô ngã chấp
là ngã, biên kiến làm tự thể cho điên đảo vô thường
chấp là thường, kiến thủ kiến làm tự thể cho điên đảo
khổ chấp là vui, và bất tịnh chấp là tịnh.
Năm
căn bản tùy miên, tham, sân, si, mạn, nghi, gọi là năm độn
sử, vì tánh nó trì độn, có căn rễ sâu dày khó trừ. Năm
ác kiến gọi là năm lợi sử, vì tánh nó mãnh lợi, không
có căn rễ sâu dày, dễ đoạn trừ. Hai thứ độn sử và
lợi sử lại chia thành kiến hoặc và tư hoặc. Kiến hoặc
còn gọi là mê lý hoặc là mê lầm về đạo lý nhân duyên,
vô thường, vô ngã. Đó là trí mê chấp, phán đoán sự thực
một cách sai lầm. Tư hoặc còn gọi là tu hoặc, hay mê sự
hoặc, là mê lầm tham đắm về sự tướng sắc thanh của
vũ trụ vạn vật. Đây là tình ý mê chấp. Phương pháp đối
trị hai loại phiền não này là kiến đạo và tu đạo.
Kiến
đạo sở đoạn có nghĩa là chứng kiến, thấu rõ thật lý
của sự vật thời mê lý liền dứt. Đó là trạng thái lý
trí không còn nhận thức sai lầm về bản chất tồn tại
nữa. Tuy nhiên, phiền não còn có thể làm ngại chánh trí
kiến đế. Điều này do mê sự mà khởi. Tuy lý trí có hiểu
rõ, nhưng thói quen tập khí vẫn còn mê trước. Bởi vì xúc
cảnh tùy duyên đối với sự tướng hãy còn sanh khởi các
thứ lầm loạn nhiễm trước. Ví như người nghiện rượu
tuy biết rượu là thứ độc hại, nhưng thị hiếu bị khêu
gợi tưởng đến mùi vị rượu ngon, nên vẫn thèm uống.
Giống như kiến đạo sở đoạn, thấy biết rõ lợi hại
không còn lầm lẫn, điên đảo, dứt sự mê mờ nhận định.
Nhưng tập khí ghiền rượu vẫn còn, vẫn khó tránh không
uống. Sự thèm muốn vi tế, thói quen tập khí thúc dục, nên
phải đòi hỏi sự cố gắng kiên nhẫn khắc phục liên tục
cho đến khi dứt được tánh ghiền, không còn nghĩ đến,
không còn bị lôi cuốn. Điều này ứng với phép tu đạo
sở đoạn. Như kinh nói: “Lý thời đã suốt liễu, sự dần
dần diệt đoạn.” Do đó, luôn luôn không ngừng tu luyện
để dần dần trừ sạch những nhiễm trước vi tế, tận
diệt quan niệm ý tưởng không hợp lý ẩn tàng trong tâm thức.
Luận
Thành duy thức nói đến hai giai đoạn kiến đạo và tu đạo
trong quá trình giải thoát như sau: “Qua quá trình nỗ lực
không ngừng, khi trí vô phân biệt (nirvikalprajnà) phát sinh,
nhận thức được chân như (bhùtatathatà), lúc ấy Bồ tát
bước vào giai đoạn thông đạt (prativedhavastha). Do mới bắt
đầu soi sáng lý tánh, nên gọi là kiến đạo. Đối tượng
quán sát ở đây cũng là bốn Thánh đế, nhưng được quán
sát theo nghĩa chân không (sùnyatà) cho nên lý thể của Thánh
đế là chân như. Lúc đó Bồ tát bắt đầu chứng nhập Sơ
địa (Pramudità). Sau đó là giai đoạn tu đạo, trải qua cho
hết mười địa.”
Trên
phương diện sinh tồn trong giới hạn cá nhân, phiền não xem
như những thế lực điều động khát vọng sinh tồn được
Thắng Man phu nhân phân thành hai loại: trụ địa phiền não
và khởi phiền não. Trụ địa phiền não bao gồm những ô
nhiễm tàn dư của tập quán hay di truyền quá khứ. Có bốn
thứ: kiến nhất xứ trụ địa, dục ái trụ địa, sắc ái
trụ địa, và hữu ái trụ địa.
Kiến
nhất xứ trụ địa thuộc về kiến, gồm những loại tri
thức ô nhiễm, không thấy rõ bản chất của hiện thực.
Chúng là khát vọng tri thức thúc đẩy con người chạy theo
hạnh phúc bằng những con đường lầm lạc. Ba trụ địa
kia thuộc về khát ái được coi như là khát vọng sinh tồn.
Dục ái trụ địa bao gồm những động lực thúc đẩy con
người đi tìm hạnh phúc trong những hưởng thụ vật dục
của thế gian này của dục giới. Sắc ái trụ địa là sự
đam mê các hỉ lạc của bốn trình độ thiền định thuộc
sắc giới. Đây là do không thỏa mãn trong những hưởng thụ
vật chất nên mới đi tìm những cảm giác ngây ngất và tế
nhị hơn bằng năng lực của sự tập trung tư tưởng, như
trong các trạng thái xuất thần. Nếu vẫn chưa thỏa mãn như
mong muốn, thời tiếp tục đi tìm hạnh phúc trong trạng thái
không hỉ lạc bằng bốn cấp thiền định thuộc vô sắc
giới. Những khát vọng tồn tại siêu việt thế giới vật
chất được gọi là hữu ái hay vô sắc ái trụ địa.
Bốn
trụ địa phiền não được nói là phiền não chủng tử,
là những hạt giống hay những động lực thúc đẩy phát
sinh tất cả mọi khát vọng ô nhiễm. Những khát vọng này
được gọi là khởi phiền não, thượng phiền não, hay tùy
phiền não, còn được nói là phiền não hiện hành. Sát na
phiền não sanh khởi tương ứng với tâm trong từng sát na,
nghĩa là tác động của các khởi phiền não không một sát
na nào tách rời các hoạt động tâm lý. Mỗi tác động của
chúng huân tập trở lại bốn trụ địa phiền não. Các chủng
tử này phát sinh trở lại thành hiện hành tùy thuộc vào
các hoạt động trên cơ sở chủ quan của các chức năng tâm
lý. Trên mặt hiện hành, tuy khởi phiền não bị các môi trường
sinh hoạt chi phối, nhưng động lực và hậu quả của các
hành động chỉ trực tiếp ảnh hưởng trên đời sống một
cá nhân riêng biệt.
Phiền
não như vậy là tâm sở, tâm tức dòng tâm thức hay chuỗi
sát na sinh diệt nối tiếp là tâm vương. Vương sở tương
ưng, khởi phiền não là tâm tương ưng. “Tâm vương trong
từng một niệm duyên vào đối tượng, khi ấy, các pháp phiền
não tùy tâm mà xuất hiện, đồng thời, không tách rời nhau;
do đó gọi là sát na tương ưng.” (Thắng Man Bảo khốt, 51c21.
Chú thích của Tuệ Sỹ trong Thắng Man giảng luận) Cũng như
xúc cảnh sanh tình liền sanh phiền não. Xúc, cảnh, tình, và
phiền não tương ưng tương hợp.
Ngoài
bốn trụ địa phiền não, Thắng Man còn nói đến vô minh
trụ địa. Vô minh trụ địa là bức màn phiền não bao phủ
ngăn cách bản thân cá biệt với thế giới bao la vô tận
của những quan hệ phổ biến, nghĩa là pháp giới trùng trùng
duyên khởi. Vô minh trụ địa đồng nghĩa với căn bản vô
minh, hoặc nói là căn bản bất giác, tức là điều mà luận
Khởi tín nói: “Do không thông suốt pháp giới nhất thể
tuyệt đối (ekadharmadhàtu), nên không tương ưng với tâm mà
hốt nhiên khởi vọng niệm, do đó gọi là vô minh.” Tức
là, không phải là một chi trong 12 chi duyên khởi, nhưng là
một niệm bất giác khởi lên khuấy động chân tâm. Thắng
Man Bảo khốt: “Vô minh trụ địa ở đây chỉ cho tâm vọng
tưởng. Bản thể của nó là vô minh.” Lăng già: “Cái được
gọi là thức a lại da chuyển động cùng với bảy thức (là
những cái) được sản sinh từ vô minh trụ địa.” (Chú
thích của Tuệ Sỹ trong Thắng Man giảng luận)
Điểm
khác biệt với bốn trụ địa là ở chỗ vô minh trụ địa
luôn luôn chỉ tồn tại như là chủng tử. Nó không tùy thuộc
vào các hoạt động trên cơ sở chủ quan của các chức năng
tâm lý mà trái lại tồn tại và tác động trong quan hệ phổ
biến. Vô minh trụ địa là sở tri chướng, bốn trụ địa
và khởi phiền não là phiền não chướng. Phiền não chướng
là do ngã, ngã sở chấp làm gốc. Bởi do ngã, ngã sở chấp
mà khởi tham, v..v... các phiền não. Do đây mà chiêu cảm cái
khổ sinh tử phần đoạn luân lưu trong ba cõi. Sở tri chướng
là do không triệt ngộ thật sự thật lý của tất cả pháp
nên trí bị chướng ngại đối tất cả pháp. Phiền não chướng
là do ngã chấp. Sở tri chướng là do pháp chấp. Ngã chấp
tất phải do nơi pháp chấp. Pháp không chấp thời ngã không
thành. Phiền não chướng có là do sở tri chướng mà sở tri
chướng là sở y, là cội nguồn pháp sanh, pháp chấp. Bởi
thế cho nên vô minh trụ địa là “sở y của hằng hà sa
số phiền não tạp nhiễm và cũng khiến cho bốn loại phiền
não tồn tại lâu dài” (Kinh Thắng Man. Tuệ Sỹ giảng luận)
Trong
quá trình giải thoát, sau khi diệt trừ kiến và ái qua hai
giai đoạn kiến đạo và tu đạo, hành giả trở thành một
vị A la hán. Đối với bản thân cá biệt của mình, và chỉ
liên hệ bản thân cá biệt của mình, vị ấy được nói
là đã hoàn toàn thoát khỏi mọi thống khổ, đã đoạn trừ
tất cả những nguyên nhân tập khởi của chúng, đạt đến
an lạc của tịch diệt Niết bàn, và đã tu tập trọn vẹn.
Nhưng theo Thắng Man, vì chưa đoạn trừ được vô minh trụ
địa, vị ấy còn nỗi khổ chưa được biết đến, còn tàn
dư những nguyên nhân tập khởi chưa được đoạn trừ, còn
có sự tịch diệt chưa được hoàn toàn chứng ngộ, và còn
đoạn đường chưa đi suốt. Vị ấy chỉ đang trên con đường
đi đến Niết bàn chứ chưa phải là cùng đích. Vị ấy chỉ
mới vượt qua những thống khổ của sinh tử phần đoạn
chứ chưa vượt qua nỗi khổ, nỗi sợ hãi của sinh tử biến
dịch.
Trong
Thắng Man giảng luận, Thầy Tuệ Sỹ viết: “Vô minh trụ
địa là tầng sâu thẳm nhất nằm bên dưới tận cùng, mà
độ dày của các tầng trên tùy thuộc vào nó. Duy vô minh
vẫn còn là một khái niệm huyền bí. Vì như Thắng Man nói,
chỉ A la hán, Bích chi Phật, và Đại lực Bồ tát mới trực
nghiệm được xung lực hoạt động này mà thôi. Tuy vậy,
nó cần phải được nhận diện, vì nếu không, khi các Thánh
giả A la hán, Bích chi Phật, Đại lực Bồ tát diệt trừ
triệt để tất cả các phiền não trụ địa, các Ngài nhất
định phải nhập Niết bàn, vì không mảnh đất tồn tại
nào nữa.
Các
trụ địa là các mảnh đất tâm thức được xông ướp.
Nhưng ngoài mảnh đất tâm ấy, không có tự thể tâm thức
nào khác. Khi mê, gọi là thức. Khi ngộ, gọi là trí. Mảnh
đất tâm nếu được cải tạo tốt, được chăm bón cẩn
thận, sẽ sản xuất những thứ hoa trái tốt, không độc
hại. Chuyển mê thành ngộ, chuyển thức thành trí, đó là
công phu tu tập cho quá trình chuyển y được minh giải rất
chi tiết trong Duy thức học về sau này.”
Trong
kinh Thủy tịnh Phạm chí, Trung A hàm 93, các mảnh đất tâm
thức xông ướp ấy được đức Phật ví như cái áo bị
cấu bẩn.
“Ví
như cái áo bị cấu bẩn đem cho nhà thợ giặt, người thợ
giặt nhận áo đó, hoặc dùng tro, hoặc lấy chùm kết, hay
dùng bột giặt chà xát thật kỹ cho sạch cái áo dơ bẩn
đó. Dù người thợ giặt dùng tro, hoặc lấy chùm kết, hay
dùng bột giặt chà xát thật kỹ cho sạch, cái áo dơ ấy
vẫn có màu dơ bẩn. Cũng vậy, nếu có hai mươi mốt thứ
ô uế làm ô uế tâm thời chắc chắn phải đi đến ác xứ,
sanh vào địa ngục.
Những
gì là hai mươi mốt thứ ô uế? Đó là tâm uế do tà kiến,
tâm uế do phi pháp dục, tâm uế do ác tham, tâm uế do tà pháp,
tâm uế do tham, tâm uế do nhuế, tâm uế do thùy miên, tâm
uế do trạo cử hối quá, tâm uế do nghi hoặc, tâm uế do
sân triền, tâm uế do phú kết, tâm uế do bỏn xẻn, tâm uế
do tật đố, tâm uế do lừa gạt, tâm uế do dua nịnh, tâm
uế do vô tàm, tâm uế do vô quý, tâm uế do mạn, tâm uế
do đại mạn, tâm uế do ngạo mạn, tâm uế do phóng dật.
Nếu có hai mươi mốt thứ ô uế này nơi tâm, thời chắc
chắn phải đi đến ác xứ, sanh trong địa ngục. Nếu có
hai mươi mốt thứ ô uế này mà không làm ô uế tâm, thời
chắc chắn được đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời.
...
... ...
Ví
như cái áo trắng, sạch, của loại vải dệt ở xứ Ba la
nại đem cho nhà thợ giặt, người thợ giặt nhận áo đó,
hoặc dùng tro, hoặc lấy chùm kết, hay dùng bột giặt chà
xát thật kỹ cho sạch cái áo trắng, sạch, loại vải Ba la
nại này. Người thợ giặt dùng tro, hoặc lấy chùm kết,
hay dùng bột giặt chà xát thật kỹ cho sạch, nhưng cái áo
trắng, sạch của loại Ba la nại ấy vốn đã sạch lại càng
trắng, sạch thêm. Cũng vậy, nếu có hai mươi mốt thứ ô
uế không làm ô uế tâm thời chắc chắn được đi đến
thiện xứ, sanh lên cõi trời.
...
... ...
Nếu
ai biết được tà kiến là ô uế của tâm, thời sau khi biết
liền đoạn trừ. Cũng như vậy, nếu ai biết được phi pháp
dục là tâm uế, ác tham là tâm uế,..., phóng dật là tâm
uế, thời sau khi biết liền đoạn trừ. Tâm của vị ấy
cùng đi đôi với từ, biến mãn một phương, thành tựu an
trú, như vậy cho đến hai phương, ba phương, bốn phương,
tứ duy trên dưới, trùm khắp tất cả; cùng đi đôi với
lòng từ, không kết, không oán, không giận, không tranh cãi,
rộng rãi bao la, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả
thế gian, thành tựu an trú. Cũng như vậy, bi, hỷ, và tâm
đi đôi với xả, không kết, không oán, không giận, không
tranh cãi, rộng rãi bao la, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn
tất cả thế gian, thành tựu an trú.
Này
Phạm chí, đó là phương pháp gột rửa nội tâm chớ không
phải gột rửa ngoại thân.”
Theo
đoạn kinh văn trên, thời “tâm tánh vốn trong sạch, chỉ
vì khách trần phiền não làm nhơ bẩn, nên nói là bất tịnh.”
Xá lợi phất A tỳ đàm luận cũng chủ trương thuyết tâm
tánh bản tịnh: “Tâm tánh là thanh tịnh, vì khách trần làm
nhiễm ô. Kẻ phàm phu vì chưa nghe nên không thể thấy biết
một cách như thực, cũng không có tâm tu. Còn thánh nhân đã
nghe nên thấy biết như thực, và cũng có tâm tu. Xa lìa khách
trần nhơ bẩn thời tâm tánh thanh tịnh” (Đại chính, 28,
trang 697, Trung)
Nhưng
căn cứ theo lý do nào mà nói phiền não là khách, và tâm thanh
tịnh là chủ? Theo Tôn luân luận thuật ký của Từ Ân Đại
sư, sự thật tuy có tịnh tâm và bất tịnh tâm, nhưng do kết
quả tu dưỡng, cuối cùng trừ khử tâm phiền não bất tịnh
mà chỉ còn lại tâm thanh tịnh. Tức là lấy cái tạm thời
còn lại làm chủ, và cái đã bị trừ khử làm khách.
Trong
Thắng Man giảng luận, Thầy Tuệ Sỹ giảng giải: “Nếu
phân tích tâm thể, thời tâm vốn không tương ưng với phiền
não. Tâm là dòng chảy liên tục, lưu chuyển từ đời này
sang đời khác. Tự thể của tâm sinh rồi diệt, diệt rồi
sinh, trong từng sát na tiếp nối không gián đoạn. Cũng như
một đốm lửa được quay rất nhanh sẽ tạo thành một vòng
lửa liên tục và khép kín. Vòng lửa chỉ là ảo ảnh ngoại
hiện, không có tự thể. Cũng vậy, tâm thể sinh diệt trong
từng sát na, dòng tương tục của tâm chỉ tồn tại do phân
biệt vọng tưởng. Chỉ có dòng tương tục của tâm được
nhận thức là có bị nhiễm ô bởi phiền não, nhưng tự thể
của tâm là Không tánh, do đó không hề chịu ảnh hưởng
tác động gì của phiền não ô nhiễm. Phiền não như vậy
được gọi một cách rất hình tượng là khách trần, hạt
bụi trên đường đời, người lữ khách đến rồi đi trong
thoáng chốc.”
Thắng
Man nói: “Như Lai tạng với tự tánh thanh tịnh này tuy bị
vấy bẩn bởi phiền não khách trần và phiền não hiện khởi,
nhưng vẫn là cảnh giới bất tư nghị của Như Lai. Vì sao?
Thiện tâm trong từng sát na không hề bị ô nhiễm bởi phiền
não. Bất thiện tâm trong từng sát na cũng không hề bị ô
nhiễm bởi phiền não. Phiền não không xúc tâm. Tâm không
xúc phiền não. Vậy đâu có thể pháp không xúc lại có thể
nhiễm ô tâm được.”
Nhưng
nhiều phái phản đối thuyết tâm tánh bản tịnh, tâm vốn
trong sạch. Hữu bộ cho rằng sự thiện, ác, tịnh, bất tịnh
trong tâm là tùy theo mỗi tâm sở tương ưng với tâm vương,
hay tâm sở ly khai (bất tương ưng) tâm vương. Về bản tánh,
không thể nói là tịnh hay bất tịnh được. Đây là khảo
sát vấn đề trên phương diện tướng trạng hay tác dụng
của tâm, khác với chỗ lập cước của các nhà tâm tánh
thanh tịnh luận xét tâm tánh về mặt bản thể.
Lại
có phái chủ trương nhất tâm tương tục luận, tuy cùng một
lập trường với bản tánh luận, nhưng coi tâm là trung tính.
Theo phái này, bản tánh của tâm một mặt là tương tục,
một mặt là bất biến. Do đó, bất luận là thiện tâm khởi,
hay ác tâm khởi, có phiền não khởi hay không phiền não khởi,
tất cả đều cùng một tính. Khi phiền não khởi thời cũng
như quần áo hay tấm gương bị một lớp bụi phủ kín. Khi
Thánh đạo hiện ra thời phiền não tiêu diệt cũng như quần
áo được giặt sạch và gương được lau bụi. Tức ngoài
tướng và dụng của tâm, nhận có tâm tánh, cũng gần giống
như bản tịnh luận. Nhưng không nói rõ hẳn là bản tịnh,
mà chỉ bảo bất luận có tùy miên hay không tùy miên, cũng
là một. Như vậy, về phương diện trung lập, có thể nói
tương tợ thuyết tương ưng của Hữu bộ.
Sau
này, chủ trương cho A lại da là vọng thức có thể xem như
đã phát xuất từ thuyết tâm bản bất tịnh, và thuyết Như
Lai tạng có thể nói đã khai triển từ thuyết tâm tịnh.
Duy thức luận do Bát nhã lưu chi dịch, nói: “Tâm có hai loại:
một là tâm tương ưng, hai là tâm bất tương ưng. Tâm tương
ưng là tất cả tâm phiền não, kết, sử, thọ, tưởng, hành,
v..v... tương ưng. Bởi thế nên nói rằng tâm, ý, và thức
tên khác mà nghĩa là một. Tâm bất tương ưng là tâm đệ
nhất nghĩa đế, thường trụ, bất biến, tự tính thanh tịnh.”
(Đại chính, 31, trang 64, Trung)
Tánh
giác và năm trược.
Bản
tánh tịnh tâm, theo Thiền sư Phổ Chiếu nói trong Tu tâm quyết,
chính là “cái tâm thể không tịch, hư tri, thanh tịnh” của
chúng ta, “cái thắng tịnh minh tâm của ba đời chư Phật,
cũng là cái giác tánh bản nguyên của chúng sinh.” Trong Hoa
nghiêm nguyên nhân luận, ngài Khuê phong Tông Mật cũng nói
đến cái chân tâm bản giác, và giải thích giáo lý Nhất
thừa hiển tánh giáo là giáo lý trực hiển chân nguyên, tức
tánh giác vốn có: “Nhất thừa nói: tất cả chúng sinh đều
có cái tâm bản giác.”
Chân
tâm bản giác của chúng sinh được thuyết giảng rất sâu
rộng trong kinh Thủ lăng nghiêm, Tâm Minh Lê đình Thám dịch
giảng. Đức Phật nương nơi thấy nghe thông thường của
chúng sinh mà chỉ bày cho chúng sinh chứng ngộ chân tâm bản
giác, nghĩa là chứng ngộ pháp giới tính. Pháp giới
tính là tính bản nhiên của tất cả sự vật, tức tất cả
chuyển động và hiện tượng trong vũ trụ. Sau đây là đoạn
kinh thuật lại lời đức Phật chỉ rõ nguyên nhân của thế
giới phiền não để giải đáp thắc mắc của ông Phú lâu
na, vị đệ tử thuyết pháp hay nhất của Phật. Ông Phú lâu
na trình bày chỗ nghi về bốn khoa ấm, nhập, xứ, và giới.
Nếu bốn khoa này đều là tánh thanh tịnh bản nhiên Như Lai
tạng, chứ không phải là nguyên nhân sinh ra phiền não như
một số giáo pháp chủ trương, thời các pháp hữu vi, thế
giới, chúng sinh, và nghiệp quả đều không có nguyên nhân,
nhưng không lẽ tánh thanh tịnh bản nhiên lại sinh ra các pháp
hữu vi sinh diệt tiếp tục?
“Phật
dạy: Ông Phú lâu na, như ông vừa nói, đã là bản nhiên thanh
tịnh thời làm sao bỗng nhiên lại sinh ra có núi, sông, đất
liền. Vậy ông không thường nghe Như Lai chỉ dạy: Tánh giác
là diệu minh, bản giác là minh diệu, hay sao?
Ông
Phú lâu na bạch: Thưa Thế tôn, vâng, tôi thường nghe Phật
chỉ dạy nghĩa ấy.
Phật
bảo: Ông bảo cái giác là minh, lại là vì bản tánh của
nó là minh nên gọi nó là giác, hay là vì giác được cái
không minh mà gọi là minh giác?
Ông
Phú lâu na bạch: “Nếu cái không minh mà gọi là giác, thời
nó không minh được cái gì (tức là không có sở minh).
Phật
dạy: Nếu không có sở minh là không có minh giác, thời có
sở không phải là giác; mà không sở, lại không phải là
minh; và không minh, thời lại không phải là giác tánh trạm
minh. Vậy tánh giác chắc là minh, do vọng tưởng mà làm ra
có minh giác. Giác không có gì là sở minh, nhân có minh mà
lập ra thành sở. Đã giả đối lập ra có sở, mới sinh ra
cái năng hư vọng của các ông.
Trong
tánh không đồng, không khác, nổi dậy thành ra có khác. Khác
với cái khác kia, thời nhân cái khác đó mà lập thành cái
đồng. Phát minh cái đồng, cái khác rồi, thời nhân đó mà
lập ra cái không đồng, không khác. Rối loạn như vậy, đối
đãi với nhau sinh ra lao lự; lao lự mãi phát ra trần tướng,
tự vẩn đục lẫn nhau. Do đó, đưa đến những trần lao
phiền não. Nổi lên thời thành thế giới, lặng xuống thời
thành hư không. Hư không là đồng, thế giới là khác. Cái
không đồng không khác kia, thật là pháp hữu vi.”
Câu
Phật thường dạy và được nhắc lại ở đây: “Tánh giác
là diệu minh, bản giác là minh diệu” có ý nghĩa rất sâu
xa, hàng Nhị thừa chỉ lĩnh hội được một phần, chứ chưa
được toàn bộ ý nghĩa. Ngài Tâm Minh giải thich: Tánh giác
của chúng sinh có hai đặc tính. Một là diệu, nghĩa là duyên
khởi ra các sự vật. Hai là minh, nghĩa là nhận biết các
sự vật. Tánh giác thường diệu thường minh; cái diệu của
tánh giác luôn luôn là minh, nên gọi là tánh giác diệu minh.
Còn
bản giác là đối với thỉ giác mà nói. Chúng sinh mê lầm,
ở nơi tánh giác, chỉ theo cái minh, mà không biết cái diệu,
nhận cái minh làm giác, nên cái diệu hóa thành cái sở minh,
hình như ở ngoài cái giác. Năng sở đã thành lập, thời
vọng chấp ngày càng nhiều. Do đó, theo trần cảnh mà phân
biệt, mà tạo nghiệp, tự cột mình trong vòng sinh diệt. Đến
khi được nghe Phật pháp, chúng sinh nương theo bản tánh mà
tinh tấn tu hành. Lúc bắt đầu được bản tánh, chẳng những
là minh, mà còn là diệu nữa, thời gọi là thỉ giác. Trông
về tánh giác, thỉ giác gọi tánh giác là bản giác, nghĩa
là giác tánh bản lai sẵn có của mình. Bản giác ấy thường
minh và thường diệu. Cái minh luôn luôn hợp cái diệu, chớ
không tách rời cái diệu như trong lúc mê lầm, nên gọi là
bản giác minh diệu.
Khi
được Phật hỏi nhận cái giác là minh, lại là vì bản tánh
của nó là minh, nên gọi là giác, hay là vì giác được cái
không minh, mà gọi là minh giác, nghĩa là cái giác sáng suốt
đã trừ diệt vô minh, ông Phú lâu na còn pháp chấp nên đáp
lại rằng: “Tâm tánh của chúng sinh đầy dẫy vô minh, không
thể gọi là giác, vì nó không sáng suốt và luôn luôn bị
phiền não mê lầm ràng buộc.” Như vậy, ông chẳng những
không thừa nhận chúng sinh vốn có tánh giác diệu minh, mà
còn nhận lầm cái minh giác là tánh giác.
Phật
bác bỏ luận điệu của ông Phú lâu na: “Nếu cần có sở
minh mới có minh giác, thời theo chỗ ông đã rõ, hễ đã có
sở, thời không phải là giác, nhưng cũng theo lời ông nói,
nếu không có sở thời không phải là minh. Như thế, cái minh
giác của ông không thể thành lập. Vả lại, tâm tánh chúng
sinh khác với cỏ cây, đâu phải là không minh. Vậy tánh giác
chắc là minh, do vọng tưởng chấp thật có chân, thật có
vọng, mới tạo ra cái minh giác của ông. Giác tánh vốn tự
minh, tự diệu, không có gì đáng gọi là sở minh. Chỉ vì
nhân có minh, mà giả dối lập ra thành sở, nên mới giả
dối sinh ra cái năng minh của chúng sinh.”
Chúng
sinh không giác ngộ bản tánh, chỉ nhận cái minh làm giác,
nên cảnh giới duyên khởi hóa thành sở minh. Đối lại với
cảnh sở minh, cái tánh minh lại hóa thành năng minh. Năng minh,
sở minh đối đãi nhau mà sinh ra vọng tưởng, chấp có thật
ngã, thật pháp, rồi theo nhân duyên mà sinh ra có thân, có
cảnh, có nghiệp chung, có nghiệp riêng, làm cho tánh giác trở
thành ô nhiễm, đi đến phát sinh những trần lao phiền não.
Vì không giác ngộ chân tánh như như của pháp giới, nên chúng
sinh mới theo nghiệp mà chịu báo, chìm đắm mãi mãi trong
biển sinh tử.
Đây
cũng là trường hợp của các vị Nhị thừa, tuy đã trừ
diệt câu sinh ngã chấp, chứng quả A la hán, nhưng vì còn
pháp chấp, nên vẫn còn thấy thật có vô minh phải trừ,
thật có đạo quả phải chứng. Do đó vẫn chưa trừ hết
được cái tướng của trí năng chứng và của quả sở chứng,
vẫn còn mắc cái lỗi lấy minh làm giác, tu nhân giải thoát,
chứng quả giải thoát, chứ chưa nhận biết chúng sinh có
tánh giác bình đẳng như Phật và cũng chưa nhận biết chỗ
chứng của Phật là toàn vọng toàn chân, sinh tử và Niết
bàn đều bình đẳng, không hai không khác.
Trong
kinh Thủ lăng nghiêm, Phật dạy: “Tất cả các tướng huyễn
hóa nơi tiền trần, chính nơi tâm mà sinh ra, rồi theo nơi
tâm mà diệt mất. Cái huyễn hóa giả dối gọi là tướng,
mà cái tánh chính là tâm tánh nhiệm mầu sáng suốt. Như vậy,
cho đến năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, và mười tám giới,
nhân duyên hòa hợp giả dối có sinh ra, nhân duyên chia lìa
giả dối gọi rằng diệt, mà không biết rằng sinh, diệt,
đi, lại đều vốn là tánh chân như cùng khắp, không lay động,
nhiệm mầu, sáng suốt, thường trụ của Như Lai tạng. Trong
tâm tánh chân thường đó, cầu cho ra những cái đi, lại,
mê, ngộ, sống, chết, hẳn không thể được.”
Chúng
sinh mê lầm, đi ngược với bản tánh diệu minh, nhận tứ
đại làm thân của mình, rồi nương theo thân đó mà đối
đãi với hoàn cảnh, phát sinh ra cảm giác; do cảm giác khác
nhau, làm cho tánh bản minh chia thành những điều thấy, nghe,
phân biệt, che lấp tâm tánh, tạo ra năm lớp ô trược, gọi
là ngũ trược.
“Thế
nào là trược? A nan, ví như nước trong, bản nhiên là trong
sạch, lại như những thứ bụi, đất, tro, cát, bản chất
là ngăn ngại; hai bên bản nhiên thể chất khác nhau, không
hợp nhau được. Có người thế gian lấy đất bụi kia ném
vào nước sạch, thời đất mất ngăn ngại, nước mất trong
sạch, hình trạng đục vẩn, gọi đó là trược.”
Năm
trược nơi tự tâm cũng vậy. Bản tánh vốn là thanh tịnh,
thường trụ, không thay đổi, vọng tưởng vốn là giả dối,
sinh diệt, tiếp tục, hai bên tính cách trái ngược nhau. Chúng
sinh không giác ngộ bản tánh, theo các vọng tưởng, để cho
vọng tưởng choán mất tâm tánh, nên mới sinh ra năm trược.
Năm trược ấy là: kiếp trược, kiến trược, phiền não
trược, chúng sinh trược, và mệnh trược.
“A
nan, ông thấy hư không khắp thập phương thế giới. Bên không,
bên thấy, không tách rời nhau. Có cái không mà không thật
thể, có cái thấy (kiến) mà không hay biết (giác tri), hai
bên xen lộn giả dối thành ra lớp thứ nhất, gọi là kiếp
trược.” Đây là ý Phật muốn nói, nơi một tâm tánh, chia
ra có năng, có sở. Tuy đã chia ra năng sở, nhưng cái năng
minh chưa có phân biệt, cái sở minh chưa có hình tướng, đó
là lớp thứ nhất.
“Thân
ông hiện ôm bốn món đại làm tự thể, che bít những sự
thấy, nghe, hay, biết (kiến, văn, giác, tri), thành bị ngăn
ngại và trở lại làm cho các thứ địa, thủy, hỏa, phong,
thành có hay biết. Các điều đó xen lộn giả dối thành ra
lớp thứ hai, gọi là kiến trược.” Đã chia ra có thân có
cảnh, gán cái năng minh vào một thân tứ đại, làm cho những
vật vô tri hóa thành có hay biết. Đem cái thân đối đãi
với cảnh, thời cảnh đối đãi với thân, sinh ra cảm giác,
mặc dầu những cảm giác đó còn là hồn nhiên, chưa phân
tích ra thành các sự vật, đó là lớp thứ hai.
“Lại
trong tâm ông, những sự nhớ biết học tập, phát ra tri kiến,
hiện ra tướng sáu trần, thời những sự đó, rời tiền
trần không có tướng, rời tri giác không có tánh, xen lộn
giả dối thành ra lớp thứ ba, gọi là phiền não trược.”
Ý thức tóm thu các cảm giác, phát hiện những tướng chung
của các sự vật, nương theo các tướng chung ấy mà phân
biệt sự vật này khác, tùy theo phẩm tính của sự vật mà
đặt tên, mà ưa ghét, mà nhớ nghĩ, làm cho tâm thức luôn
luôn bị rối loạn khổ não, đó là lớp thứ ba.
“Lại
tâm ông ngày đêm sinh diệt không ngừng, tri kiến thời muốn
lưu mãi ở thế gian, nhưng nghiệp báo xoay vần thời lại
thường dời đổi cõi này cõi khác, những điều đó xen lộn
giả dối thành ra lớp thứ tư, gọi là chúng sinh trược.”
Chúng sinh đã rời bỏ tâm tánh thường trụ, nhận cái tâm
thức sinh diệt là mình, nhận cái thân tứ đại sinh diệt
làm thân mình, thời tất nhiên phải chịu quả báo sinh diệt.
Vì thế, mặc dầu chúng sinh gắn bó với cái thân mình, với
cái ý thức hay biết của mình, trông mong sống mãi như thế,
nhưng quả báo sinh diệt lại bắt buộc những cái có sống
thời phải có chết. Chết mà luyến tiếc mãi cái sống, nên
hết thân này chịu thân khác, theo nghiệp báo mà xoay vần
mãi mãi trong lục đạo, đó là lớp thứ tư.
“Cái
thấy cái nghe của ông bản tánh vốn không khác nhau, do các
trần cách trở mà không duyên cớ gì, lại sinh ra khác nhau.
Trong tánh thời vẫn biết nhau, nhưng trong dụng thời trái
ngược nhau, cái đồng và cái khác đã mất hẳn chuẩn đích,
xen lộn giả dối thành ra lớp thứ năm, gọi là mệnh trược.”
Tuy xoay vần mãi mãi, hết thân này sang thân khác, nhưng hễ
sống với thân nào thời dính liền với thân ấy, bị cái
tổ chức của thân ấy ràng buộc. Do đó, tuy cùng một tánh
biết mà chỉ có thể thấy với con mắt, nghe với lỗ tai,
tùy theo từng bộ phận của thân thể mà lãnh thọ những
cảm giác nhất định, làm cho cái hay biết viên mãn cùng khắp
bị hiện nghiệp hạn chế, đó là lớp thứ năm.
Nguyên
nhân của năm trược là vì bỏ mất cái chân tâm bản giác
thường hằng, không phân biệt, không sinh diệt, mê lầm theo
cái vọng tâm sinh diệt. Vọng tâm đối cảnh có biết, mà
biết theo chiều phân biệt thuận nghịch, tốt xấu, có không,
phải quấy. Biết như vậy là vọng, cho cảnh là thật thời
có si, cho nó là tốt xấu thời có tham có sân. Cho nên, đối
với cảnh, thấy có cái phải, hay có cái chẳng phải, đều
là vọng tâm.
Tại
sao lại có mê lầm, tâm đối với cảnh lại sinh ra đắm
chấp, nơi nhất chân pháp giới lại chia ra có tâm năng minh
và cảnh sở minh đối đãi với nhau? Đó là do phát nghiệp
vô minh vọng động phân biệt thành năng thành sở, và nhuận
sinh vô minh gắn bó với thân, với cảnh, sinh ra những phiền
não mê chấp. Vậy vô minh, nguyên do của mê lầm, toàn là
những nhận thức sai lầm, không có căn cứ, không thể nói
có ai làm và ai chịu. Phật dạy phải lấy tâm tánh không
sinh diệt làm cơ sở để tu tiến và nhận biết những lớp
mê lầm đã che lấp tâm tánh. Mặt khác, Phật dạy phải lựa
bỏ những cỗi gốc sai lầm cho kỳ hết.
Tiếp
tục sự đả phá nhận thức sai lầm phân biệt lập thành
những tướng năng tri và sở tri được trình bày trong những
phẩm trước, Phẩm VI: Quán nhiễm nhiễm giả bài bác nhận
thức phân biệt người nhiễm và pháp nhiễm như hai thật
thể, hữu và sở hữu.
Đối
với phàm phu, uẩn, xứ, và giới đều là hữu có tự tính.
Mỗi khi cảm thấy phiền não thời tưởng rằng phiền não
có thật, nương gá nơi uẩn, xứ, và giới. Nói cách khác,
uẩn, xứ, và giới là hữu chủ thể và phiền não là sở
hữu thuộc tính. Trong Phẩm VI: Quán nhiễm nhiễm giả, chữ
nhiễm có nghĩa là nhuộm, dịch từ tiếng Phạn ràga. Ràga
là một danh từ dẫn xuất từ động từ Öranj, Öranj có nghĩa
là nhuộm, tô màu. Ràga, nói một cách tổng quát, là chất
nhuộm, cái tô màu, thí dụ như phiền não. Ràga còn được
dịch là tham, một trong ba độc. Người nhiễm là dịch chữ
Phạn rakta, có nghĩa là người bị nhuộm, bị tô màu, chẳng
hạn như người có phiền não.
Luận
giải Phẩm VI.
Bài
tụng VI.1 đưa ra quan điểm của đối phương về trường
hợp một người nhiễm chủ thể tự hữu trước khi có pháp
nhiễm thuộc tính. Theo quan điểm này, pháp nhiễm tùy thuộc
người nhiễm và hiện khởi nơi nào có người nhiễm.
Bản
chữ Hán:
VI.1.
Nhược ly ư nhiễm pháp/ Tiên tự hữu nhiễm giả/ Nhân thị
nhiễm dục giả/ Ưng sinh ư nhiễm pháp.//
Dịch:
VI.1.Nếu
lìa ngoài pháp nhiễm/ Trước đã tự có người nhiễm/ Nhân
nơi người nhiễm/ Nên mới sinh pháp nhiễm.//
Quan
điểm trên bị bác bỏ. Làm thế nào gọi là người nhiễm
mà chẳng có pháp nhiễm thuộc tính? Hóa ra các bậc Thánh
cũng gọi là người nhiễm hay sao?
Đối
phương chuyển quan điểm qua trường hợp pháp nhiễm thuộc
tính tự hữu trước khi có người nhiễm chủ thể, nghĩa
là dẫu không có người nhiễm vẫn có pháp nhiễm. Nhưng người
nhiễm là sở y của pháp nhiễm, thử hỏi không có chỗ nương
thời pháp nhiễm do từ đâu mà hiện khởi? Một trái cây
không hiện hữu thời không thể giú chín được.
Đối
phương vẫn tiếp tục: “Vừa rồi, bác bỏ pháp nhiễm mà
không bác bỏ người nhiễm. Nhưng đã gọi là người nhiễm
thời phải có pháp nhiễm thuộc tính. Do đó, tất phải có
pháp nhiễm.”
Nếu
có pháp nhiễm thời pháp nhiễm hoặc có tự tính hoặc không
có tự tính. Nếu pháp nhiễm không có tự tính, tùy duyên
sinh khởi, thời duyên khởi không đòi hỏi trước phải có
một căn bản phát sinh tức người nhiễm chủ thể.
Nếu
pháp nhiễm là hữu có tự tính thời đâu cần một căn bản
sở y nơi người nhiễm chủ thể? Sự hữu có tự tính của
pháp nhiễm không dính líu gì đến sự thật hữu của chủ
thể và ngược lại. Tại sao vậy? Là vì sự hữu có tự
tính không phải là sự hữu câu sinh và hỗ tương y tồn,
nghĩa là không phát sinh và tồn tại tương quan cùng với những
hữu khác.
Bài
tụng VI.2 nói rõ lập trường của ngài Long Thọ về vấn
đề phân biệt hoặc người nhiễm tự hữu và pháp nhiễm
sinh khởi tùy thuộc người nhiễm, hoặc pháp nhiễm tự hữu
và người nhiễm sinh khởi tùy thuộc pháp nhiễm.
Bản
chữ Hán:
VI.2.
Nhược vô hữu nhiễm giả/ Vân hà đương hữu nhiễm/ Nhược
hữu nhược vô nhiễm/ Nhiễm giả diệc như thị.//
Dịch:
VI.2.
Nếu không có người nhiễm/ Thử hỏi làm sao có pháp nhiễm?/
Hoặc có hoặc không có pháp nhiễm/ Cách lập luận đối với
người nhiễm cũng như vậy.//
Hãy
lưu ý lưỡng phân biện chứng áp dụng trong bài tụng VI.2
dựa trên sự phân chia thành hữu và sở hữu. Một mặt, với
hai thiên kiến, có hay không có người nhiễm chủ thể, sự
hữu của pháp nhiễm thuộc tính không thể xác định được.
Mặt khác, áp dụng cùng một luận thức vào trường hợp
ngược lại, với hai thiên kiến, có hay không có pháp nhiễm
thuộc tính, sự hữu của người nhiễm chủ thể không thể
xác định được.
Đối
phương đưa ra quan điểm khác cho rằng người nhiễm và pháp
nhiễm là hai tự thể cọng hữu hay câu hữu (sahabhàva). Chữ
Phạn sahabhàva Hán dịch là hòa hợp. Bản dịch Bát nhã đăng
gọi là đồng thời. Như vậy có thể bảo rằng cọng hữu
là đồng thời hiện hữu bên nhau một cách ngẫu nhiên chứ
không có tánh cách câu sinh, nghĩa là không nương vào nhau mà
phát sinh theo đúng công thức của lý tắc duyên khởi: Cái
này có thời cái kia có, cái này không thời cái kia không,
cái này sinh thời cái kia sinh, cái này diệt thời cái kia diệt.
Đối phương cho rằng chính do bởi một pháp nhiễm hiện khởi
đồng thời với sự hiện khởi của một hữu nên hữu này
tham nhiễm và trở thành người nhiễm. Hãy gọi đó là sự
cọng hợp.
Đối
phương vin vào sự cọng hợp để biện chứng rằng cả người
nhiễm lẫn pháp nhiễm hiện hữu riêng biệt và có tự tính.
Hai câu đầu của bài tụng VI.3 phản bác điều này:
VI.3ab:
Nhiễm giả cập nhiễm pháp/ Câu thành tắc bất nhiên/ (Dịch:
Người nhiễm và pháp nhiễm/ Cả hai cùng lúc thành lập là
điều không đúng/)
Lý
do:
VI.3cd.
Nhiễm giả nhiễm pháp câu/ Tắc vô hữu tướng đãi.// (Dịch:
Vì người nhiễm và pháp nhiễm cùng có trong một lúc/ Thời
không có sự hỗ tương tùy thuộc.//)
Hai
tự thể riêng biệt đồng thời hiện hữu bên nhau không có
nghĩa là chúng câu sinh, hỗ tương y tồn.
Bài
tụng VI.4 áp dụng phương pháp phủ định y cứ trên tánh
phi nhất phi dị của hai tự thể, người nhiễm và pháp nhiễm.
Bản
chữ Hán:
VI.4.
Nhiễm giả nhiễm pháp nhất/ Nhất pháp vân hà hợp/ Nhiễm
giả nhiễm pháp dị/ Dị pháp vân hà hợp.//
Dịch:
VI.4.
Người nhiễm và pháp nhiễm đồng nhất/ Đồng nhất thời
làm sao hợp?/ Người nhiễm và pháp nhiễm khác nhau/ Khác nhau
thời làm sao hợp?//
Có
hai trường hợp cọng hợp: cọng hợp trong nhất thể (ekatve
sahabhàvo) và cọng hợp trong dị biệt thể (prthaktve sahabhàvo).
Nếu
hai tự thể, pháp nhiễm và người nhiễm, đồng một thể
mà hợp thời đó là điều không hợp lý. Vì bản thể của
pháp nhiễm và pháp nhiễm bất tương ly nên không thể nói
chúng đồng thời hiện hữu. Vì bản thể của pháp nhiễm
cũng là bản thể của người nhiễm nên không thể nói pháp
nhiễm và người nhiễm đồng thời hiện hữu.
Nếu
là hai tự thể sai biệt thời chúng không thể hợp vì chúng
không thể ở chung một chỗ vào cùng một lúc.
Bài
tụng VI.5 giải thích cớ sao pháp nhiễm và người nhiễm,
đồng thể hay khác thể đều không thể được.
Bản
chữ Hán:
VI.5.
Nhược nhất hữu hợp giả/ Ly bạn ưng hữu hợp./ Nhược
dị hữu hợp giả/ Ly bạn diệc ưng hợp.//
Dịch:
VI.5.
Nếu đồng nhất mà hợp/ Thời lìa bạn vẫn hợp./ Nếu khác
nhau mà hợp/ Thời lìa bạn cũng hợp.//
Chữ
“bạn” trong bài tụng có nghĩa là cái gì sai biệt nhưng
không lìa xa, như trong trường hợp cọng hợp, tự thể này
là bạn của tự thể kia. Nếu cọng hợp là do hai tự thể
đồng nhất đồng thời hiện hữu, thời có thể nói: Hai
tự thể đồng nhất đồng thời hiện hữu thời cọng hợp.
Và như vậy đưa đến hệ quả phi lý là một tự thể thôi
mà cũng nói là cọng hợp!
Nếu
cọng hợp là do hai tự thể sai biệt đồng thời hiện hữu,
thời có thể nói: Hai tự thể sai biệt đồng thời hiện
hữu thời cọng hợp. Và như vậy đưa đến hệ quả phi lý
là theo định nghĩa, hai tự thể sai biệt thời cách ly nhau,
thế mà đối riêng một tự thể thôi cứ vẫn nói là cọng
hợp!
Bài
tụng VI.6 đặt vấn đề ngược lại. Nếu vì sai biệt tương
ly mà người nhiễm và pháp nhiễm cọng hợp, thời làm sao
xác định được chúng là sai biệt tương ly? Làm thế nào
thành lập được người nhiễm độc lập cách ly pháp nhiễm
mà vẫn thi thiết được sự cọng hợp? Do đó nên kết luận
cặp tự thể ấy không thể cọng hợp.
Bản
chữ Hán:
VI.6.
Nhược dị nhi hữu hợp/ Nhiễm nhiễm giả hà sự/ Thị nhị
tướng tiên dị/ Nhiên hậu thuyết hợp tướng.//
Dịch:
VI.6.
Nếu khác nhau mà hợp/ Thời sự hiện hữu riêng biệt của
người nhiễm và của pháp nhiễm làm sao thành lập?/ Hai tướng
trước vốn đã sai khác/ Sao sau lại bảo chúng tương hợp?
Pháp
nhiễm và người nhiễm nếu được xác định là sai biệt
tương ly thời không thể cọng hợp. Vậy nói đến sự cọng
hợp là nhắm mục đích gì? Đó là câu hỏi được nêu ra
trong bài tụng VI.7.
Bản
chữ Hán:
VI.7.
Nhược nhiễm cập nhiễm giả/ Tiên các thành dị tướng/
Ký dĩ thành dị tướng/ Vân hà nhi ngôn hợp.//
Dịch:
VI.7.
Nếu pháp nhiễm và người nhiễm/ Trước đã thành mỗi tướng
sai khác/ Đã thành tướng khác nhau/ Làm sao mà nói hợp?//
Đối
phương sử dụng khái niệm cọng hợp với mục đích xác
lập sự hữu có tự tính của người nhiễm và pháp nhiễm.
Nhưng điều kiện tiên quyết là phải minh chứng có hiện
tượng cọng hợp. Muốn thế, phải chứng minh người nhiễm
và pháp nhiễm là hai tự thể sai biệt tương ly. Ở đây,
đối phương đương nhiên xác nhận có hiện tượng cọng
hợp. Bởi thế, hai câu đầu của bài tụng VI.8 mới nói:
VI.8ab.
Dị tướng vô hữu thành/ Thị cố nhữ dục hợp/ (Dịch:
Vì tướng sai khác không thành/ Nên ông muốn chúng cọng hợp./)
Sự
cọng hợp nếu không được xác lập thời không thể nói
pháp nhiễm và người nhiễm là hai tự thể sai biệt tương
ly. Hai câu cuối của bài tụng VI.8 diễn tả ý đó như sau
:
VI.8cd.
Hợp tướng cánh vô thành/ Nhi phục thuyết dị tướng.// (Dịch:
Tướng hợp rốt ráo không thành/ Ông lại nói chúng sai khác.//)
Bài
tụng VI.9 tóm lược vấn đề cọng hợp và sai khác: Vì không
xác lập được tướng sai khác của pháp nhiễm và người
nhiễm, nên không xác định được tướng chúng cọng hợp.
Nhưng thử hỏi có tướng sai khác nào khả dĩ dẫn xuất tướng
cọng hợp?
Bản
chữ Hán:
VI.9.
Dị tướng bất thành cố/ Hợp tướng tắc bất thành./ Ư
hà dị tướng trung/ Nhi dục thuyết hợp tướng.//
Dịch:
VI.9.
Vì tướng sai khác không thành/ Nên tướng hợp cũng không
thành./ Đối với tướng khác nào nữa/ Mà ông nói là tướng
hợp?//
Luận
chứng trong toàn Phẩm được bài tụng VI.10 tổng kết như
sau.
Bản
chữ Hán:
VI.10.
Như thị nhiễm nhiễm giả/ Phi hợp bất hợp thành./ Chư pháp
diệc như thị/ Phi hợp bất hợp thành.//
Dịch:
VI.10.
Như vậy, pháp nhiễm ô và người tham nhiễm/ Chẳng phải
hợp thành chẳng phải không hợp thành./ Các pháp khác cũng
như vậy/ Chẳng phải hợp thành chẳng phải không hợp thành.//
Phép
lưỡng phân biện chứng áp dụng trong bài tụng y cứ trên
sự phân biệt quan hệ đồng thời và dị thời giữa người
nhiễm và pháp nhiễm. Nếu xem chủ thể và thuộc tính, hữu
và sở hữu, người nhiễm và pháp nhiễm là những tự thể
có yếu tính quyết định, thời trên ba phương diện, thời
tính, luận lý, và bản thể, chúng đều không hòa hợp. Nên
lưu ý rằng Trung luận không bác bỏ sự hiện hữu của người
nhiễm và của pháp nhiễm, cũng không bác bỏ sự chúng có
thể đồng thời hiện hữu. Điều bị phản bác ở đây là
phân biệt người nhiễm và pháp nhiễm như là những hữu
có tự tính.
Trong
một bài kệ (Kinh Tương ưng bộ, S.1, 22) do một vị Thiên
nói lên trước mặt Thế tôn, có đoạn khẳng định ở ngoại
giới, không có vật thể nào gọi là pháp nhiễm hiện hữu
độc lập đối với một người có ý thức và làm duyên
phát sinh tâm tham nhiễm nơi người ấy:
“Vật
sai biệt ở đời,
Chúng
không phải các dục.
Chính
tư niệm tham ái,
Là
dục vọng con người.”
Trong
kinh Nhân duyên, Phẩm Chư thiên, Chương VI: Sáu pháp, Tăng chi
bộ kinh, Đại tạng Việt Nam, đức Phật dạy:
“Có
ba nhân duyên, này các Tỷ kheo, khiến các nghiệp khởi lên.
Thế nào là ba?
Không
tham là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên, không sân là
nhân duyên..., không si là nhân duyên... Không phải từ không
tham, tham khởi lên. Này các Tỷ kheo, chính từ không tham, chỉ
có không tham khởi lên. Này các Tỷ kheo, không phải từ không
sân, sân khởøi lên. Này các Tỷ kheo, chính từ không sân,
chỉ có không sân khởi lên. Này các Tỷ kheo, không phải từ
không si, si khởi lên. Này các Tỷ kheo, chính từ không si,
chỉ có không si khởi lên.”
Như
vậy có nghĩa là, người không phiền não mà sở y cho phiền
não sinh khởi là điều không thể có được.
Nếu
hiểu chữ nhiễm (ràga) có nghĩa là chất nhuộm, cái tô màu,
thời luận thức trong Phẩm VI này cũng áp dụng được trong
trường hợp xét đến quan hệ giữa người từ thiện và
pháp từ thiện. Nói một cách tổng quát, nên biết hết thảy
phiền não và hết thảy pháp cũng như vậy, đều do nhân duyên
tựu thành, chẳng phải trước chẳng phải sau, chẳng phải
hợp chẳng phải tán.
Ngài
Nguyệt Xứng trích dẫn đoạn văn sau đây trong kinh Tam muội
vương (Samàdhiràja sùtra) khi kết thúc luận giải Phẩm VI
này.
“Cái
gì bị nhuộm dơ (ô nhiễm), hay nơi cái gì nó bị nhuộm dơ,
hay bởi cái gì nó bị nhuộm dơ, cái gì bị phá hại (tức
sân), hay nơi cái gì nó bị phá hại, hay bởi cái gì nó bị
phá hại, cái gì bị mê hoặc (tức si), hay nơi cái gì nó
bị mê hoặc, hay bởi cái gì nó bị mê hoặc. Ai không quán
sát pháp như vậy, thời không thủ đắc pháp như vậy. Ai
không quán sát, không thủ đắc pháp như vậy, người ấy
được nói là tâm không bị hủy hoại bởi tham nhiễm, sân
hại, mê hoặc, an trú chánh định. Người ấy được nói
là đã vượt sang bờ bên kia. Đã đạt được sự an ổn.
Đã đi đến chỗ không sợ hãi. Cho đến, được nói là đã
dứt sạch các lậu hoặc. Được nói là vị Sa môn đã ly
nhiễm, tự tại, tâm hoàn toàn giải thoát, tuệ hoàn toàn
giải thoát, hoàn toàn tự chế ngự (thiện điều phục), thành
tựu đại công đức, việc cần đã làm xong, đã đặt gánh
nặng xuống, đã đạt được mục đích của chính mình (đã
được tư lợi), đã đoạn trừ toàn diện các kết sử, bằng
chánh trí mà tâm hoàn toàn được giải thoát, với tâm tư
hoàn toàn tự tại mà đi đến bờ bên kia tối thượng.”
(Tuệ Sỹ dịch từ bản kinh chữ Phạn)
Cuối
cùng, Ngài thuật lại bài kệ: “Những ai biết rõ tự tánh
của tham nhiễm, sân hại, mê hoặc sinh ra từ nguyên nhân vọng
tưởng, điên đảo hư vọng, những người ấy không phân
biệt vọng tưởng, cũng không ly tham trong cõi đời này, và
viễn ly tất cả tham trước sự hữu. Những người ấy hoàn
toàn thông đạt bản tánh của tất cả sự vật.”