22. Tâm
thức, Toán học, và Thế giới
C. Bài toán
Tánh khởi.
Một niệm ba
ngàn.
A lại
da duyên khởi là thuyết giải thích căn nguyên của nghiệp.
Để giải thích căn nguyên của thức a lại da, phải cần
đến thuyết Như Lai tạng duyên khởi, còn gọi là tánh khởi.
A lại da thức là hình thái động của Như Lai tạng tức chân
lý cứu cánh. Khi động (tâm sinh diệt trong luận Đại thừa
khởi tín), nó biểu lộ trong vòng sống chết, có thể xuất
hiện dưới bất cứ hình thức nào. Điều động bởi một
nguyên nhân thuần tịnh, nó mang hình thức thanh thoát. Điều
động bởi một nguyên nhân ô nhiễm, nó mang hình thức hủ
bại. Trong ý nghĩa tĩnh, thời nó phi không gian, phi thời gian,
bình đẳng, vô thỉ vô chung, vô tướng, vô sắc, bởi vì
bản thân sự vật mà không có sự biểu lộ của nó thời
không thể có ý nghĩa và không bộc lộ. Do đó, không nên
hỏi Như Lai tạng khởi lên từ đâu, bởi vì Như Lai tạng
là thể tánh, là Chân như không thể diễn đạt.
Trong
Thắng Man giảng luận, Thầy Tuệ Sỹ dẫn một đoạn kinh
Lăng già liên hệ Như Lai tạng: “Này Đại Tuệ, Ta đã giảng
điều này cho Thắng Man phu nhân và cũng hỗ trợ các Bồ tát
có trí năng vi diệu tinh tế, rằng Như Lai tạng, vốn
được gọi tên là thức a lại da cùng chuyển động với
bảy thức, mục đích là nêu rõ yếu tính vô ngã của các
pháp cho các Thanh văn còn chấp trước. Ta cũng hỗ trợ cho
Thắng Man phu nhân giảng về cảnh giới của Như Lai tạng
được gọi tên là thức a lại da, được giảng cho các Bồ
tát thuộc hạng có trí năng thanh tịnh, tinh tế, vi diệu như
ngươi, chứ không phải cho hết thảy các ngoại đạo, Thanh
văn, Bích chi Phật chấp chặt vào văn tự giải thuyết.”
Thay
vì nói “do Như Lai tạng mà có tâm sinh diệt” như trong luận
Đại thừa khởi tín, kinh Thắng Man nói: “Sinh tử nương
trên Như Lai tạng”. Ý này được kinh Lăng già giải thích
và phát triển: “Như Lai tạng hoạt động như là nhân của
thiện và bất thiện, là cái tạo ra cái định hướng của
tất cả sinh loại.” Thầy Tuệ Sỹ giải thích câu nói đó
xác nhận Như Lai tạng như một chủ thể hành động (Thắng
Man giảng luận). Chủ thể hành động này là giả định,
chứ không phải là “ngã”, không phải là “tác giả, thường
hằng, biến tại, không lệ thuộc yếu tố cấu thành”. Lăng
già cảnh cáo không nên theo xu hướng của các triết gia ngoại
đạo liên hệ hoạt động của Như Lai tạng với sự tồn
tại của một tự ngã như là tác giả.
Thắng
Man phu nhân nhận định: “Bạch Thế Tôn, Như Lai tạng không
phải là ngã, không phải là chúng sinh, không phải là linh
hồn, không phải là chủ thể có ngôi vị.
Bạch
Thế Tôn, Như Lai tạng không phải là cảnh giới cho chúng
sinh rơi vào thân kiến, chúng sinh điên đảo, chúng sinh loạn
ý chấp không.”
Như
Lai tạng thuộc loại pháp giới nào trong thuyết Bốn Pháp
giới của Pháp Tạng? Về ý nghĩa của hai chữ “Pháp giới”,
Pháp Tạng giải thích rằng “pháp” cũng như “giới” mỗi
chữ có ba nghĩa. Ba nghĩa của pháp là duy trì tự tính, quỹ
tắc, và đối tượng của ý. Ba nghĩa của giới là nhân năng
sanh, tánh sở y của tất cả các pháp, và phân tề tức giới
hạn phân biệt thực tế.
Theo
nghĩa thứ ba của giới thời pháp tương đương với giới,
và pháp giới bao gồm mọi hiện tượng sai biệt. Pháp giới
trong trường hợp này là sự sự vô ngại pháp giới.
Theo
hai nghĩa đầu của giới thời pháp giới biểu tượng hoặc
là nhân của sự thành tựu Thánh đạo, hoặc là nơi nương
tựa, là chỗ thường trụ quy y của hết thảy pháp thế gian.
Trong trường hợp này, pháp giới đồng nghĩa với Như Lai
tạng, và Như Lai tạng là lý sự vô ngại pháp giới. Như
vậy, pháp giới duyên khởi có thể hiểu theo nghĩa Như Lai
tạng duyên khởi hay tánh khởi.
Tánh
khởi tức y tánh duyên khởi hiểu theo nghĩa “lý sự vô ngại”
chỉ vào tác dụng của Tâm (Lý) làm sinh khởi thế giới hiện
tượng (Sự). Vì bản tánh của Tâm là tánh Không, nên nói
theo ngài Long Thọ, chính do tánh Không mà các pháp mới có
thể đồng thời hiện khởi, cộng đồng hiện hữu, và hỗ
tương giao thiệp tạo thành một Nhất thể nhịp nhàng hòa
điệu (Dĩ hữu không nghĩa cố/ Nhất thiết pháp đắc thành.//
Bài tụng Trung luận XXIV.14).
Thuyết
y tánh duyên khởi được đề cập trong Phẩm Phương tiện,
kinh Pháp Hoa, như là giáo lý của Nhất thừa: “Chư Phật
lưỡng túc tôn, Tri pháp thường vô tánh, Phật chủng tùng
duyên khởi, Thị cố thuyết nhất thừa. Thị pháp trụ pháp
vị, Thế gian tướng thường trú, Ư đạo tràng trí dĩ, Đạo
sư phương tiện thuyết.”
Dịch:
“Các đức Phật lưỡng túc tôn, biết pháp thường vô tánh,
giống Phật theo duyên mà hiện khởi, cho nên mới nói pháp
nhất thừa là pháp trụ pháp vị, tướng thế gian thường
trú, đức Phật ở nơi đạo tràng chứng biết rồi, đấng
Đạo sư phương tiện nói ra.”
“Pháp
trụ pháp vị” là y tánh duyên khởi. “Thế gian tướng thường
trú” có nghĩa là tất cả các pháp được biểu lộ đều
là những pháp ở ngay trong tự tướng của chính chúng. Đối
với Thiên thai tông lấy kinh Pháp hoa làm kinh căn bản, thật
tướng hay tự tướng của các pháp siêu việt cả ngôn thuyết
và tâm tưởng và chỉ được thể nhận qua các hiện tướng
không ngừng biến chuyển và biến dị. Thật tướng các pháp
là Như, nghĩa là các pháp như là biểu hiện của chúng, hiện
tượng tức là thật tướng của chúng. Những cái được
biểu hiện hay được phát lộ ở bên ngoài không gì khác
hơn chính là sự thể ấy. Không có khác biệt giữa tướng
và tánh. Mọi sự thể đều do duyên sinh nên vô tự tính và
do đó, thật tướng của chúng là Không, là Giả, là Trung
đạo.
Theo
học thuyết Thập như, thật tướng của các pháp có mười
sắc thái khác nhau, tức mười cách xuất hiện “như thế”
hay “như vậy”: như thị tướng (sắc tướng), như thị
tánh (bản tánh), như thị thể (tướng và tánh hợp nhất),
như thị lực (năng lực của pháp), như thị tác (chức năng
tạo tác, tác dụng), như thị nhân (pháp đó làm nhân), như
thị duyên (pháp đó làm duyên), như thị quả (quả do tự
nhân duyên của mình và cái khác), như thị báo (sự thù đáp
lại nhân và duyên trước đó), như thị bản mạt cứu cánh
đẳng (tổng thể cơ bản rốt ráo từ đầu đến cuối, từ
tướng đến báo, tất cả dều bình đẳng trên thật tướng).
Từ
Thập như, ngài Thiên Thai diễn giải thành ra “nhất tâm tam
quán” và “nhất niệm tam thiên”, là hai lý chỉ yếu của
tông Thiên Thai. Tam quán là Không quán, Giả quán, và Trung đạo
quán. Sở dĩ có ba quán là bởi mỗi và mọi pháp, pháp nào
cũng có ba chân lý: Không đế, Giả đế, và Trung đạo đế.
Không đế: Bản tánh mọi sự vật không có tự tính độc
lập ngoài duyên, nên tất cả đều Không. Giả đế: Do nhân
duyên kết hợp, vô thường biến đổi, nên hiện hữu giả
tạm. Trung đạo đế: Giả, Không không tách biệt riêng nhau,
chính Giả là Không, Không là Giả. Muốn nhận biết ba sự
thật đó thời phải quán. Khi quán về mặt Không thời gọi
là Không quán, về mặt Giả thời gọi là Giả quán, và về
mặt Trung đạo thời gọi là Trung đạo quán. Ba quán là do
ngài Thiên Thai biến chuyển mỗi như thị trong Thập như thành
ra ba cách đọc.
Khi
đọc tướng thị như, tánh thị như, ..., đó là Không quán
hay Chân quán, vì dùø là tướng, là tánh, ..., nhưng tướng
vẫn nằm nơi Như, tướng không ly Như, không nằm ngoài thật
tướng, không nằm ngoài Chân như. Tướng vẫn là Như, tánh,
..., vẫn là Như.
Khi
đọc như thị tướng, như thị tánh,..., đó là lối chỉ
ngay hiện tượng mà nói. Hiện tượng giả tướng là như
vậy, tánh là như vậy, ... Nhìn về mặt hiện tượng giả
hữu thời gọi là Giả quán.
Khi
đọc tướng như thị, tánh như thị, ..., tướng như vậy,
như vậy là như vậy. Như thị là pháp nhĩ như thị, nó là
nó, nó là như thế, như thế là như thế. Như thị là không
thiên Hữu, không thiên Vô, không thiên Giả, không thiên Không.
Đó là Trung đạo quán.
Ba
quán đó cùng một tâm mà thành tựu được và trong một tâm
mà quán được viên mãn ba thứ nên gọi là nhất tâm tam quán.
Về
yếu lý nhất niệm tam thiên, một niệm là ba ngàn, cần hiểu
“ba ngàn” không phải chỉ cho một tính chất bao la của
danh số hay bản thể, mà để nói lên sự tương dung của
tất cả các pháp và nhất thể cứu cánh của toàn thể vũ
trụ. Thiên Thai tông đề ra một thế giới hệ gồm mười
cảnh vực, tức là thế giới của hữu tình chia thành mười
cõi gọi là thập pháp giới hay thập giới: bốn thánh giới
(Phật, Bồ tát, Độc giác, Thanh văn) và sáu phàm giới (Trời,
a tu la, người, ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục). Mười giới
này tương dung tương nhiếp, mỗi giới mang trong nó chín giới
kia nên bao hàm tất cả mười thế giới. Như vậy, mười
giới nhân lên thành 100 thế giới. Do khám phá ra mười hiện
tướng của Như trong 100 thế giới nên mới đạt đến lý
thuyết về một ngàn cõi (Bách giới thiên như). Lại nữa,
mỗi cõi gồm có ba loại thế gian: hữu tình thế gian, ngũ
ấm thế gian (được tách rời hữu tình thế gian). và khí
thế gian, vậy tất cả có ba ngàn như. Trong Phật giáo, chữ
“ba ngàn” thường chỉ cho đại thiên vũ trụ gồm 1000 tiểu,
1000 trung, và 1000 đại thế giới. Với Thiên Thai tông, ba ngàn
là vũ trụ của tất cả hữu tình và vô tình, nghĩa là toàn
thể thế giới sinh động. Tuy nhiên, ba ngàn như này không
ngoài một niệm của chúng sinh.
Lý
thuyết của Thiên Thai tông chủ trương một sát na tâm hay
một khoảnh khắc của tư tưởng bao gồm cả ba ngàn thế
giới (nhất niệm tam thiên) được gọi là Bản cụ tam thiên
hay Lý cụ tam thiên hay Tánh cụ tam thiên, và có khi gọi là
Viên cụ tam thiên. Nội thể, hoặc cụ hay bản tánh hay viên
(mãn) đều chỉ chung cho một ý niệm như nhau, tức là trong
một khoảnh khắc của tư tưởng (sát na tâm) đều có cả
ba ngàn thế giới. Tuy chủ thuyết ba ngàn thế giới được
quảng diễn trên căn bản duy tâm, nhưng nó không có nghĩa
rằng một khắc của tư tưởng tạo ra ba ngàn thế giới,
bởi vì một sự tạo tác là sự khởi đầu của một chuyển
động theo chiều thời gian. Nó cũng không có nghĩa rằng ba
ngàn thế giới được thu vào trong một khoảnh khắc của
tư tưởng, bởi vì sự thu giảm là một chuyển động theo
chiều không gian.
Đây
là một hình thái của lý thuyết duy tâm tri nhận hiện tượng
và tác động của tâm là một. Tất cả các pháp trong vũ
trụ đều ở ngay trong một ý niệm nhưng không quy giảm về
tâm hay ý. Mỗi hiện tượng tâm hay vật tự biểu lộ lý
tánh hay bản tánh của chính nó. Một sự thể hay một hiện
thể tự nó là thật tướng. Có thể nói: “Mỗi vật, ngay
cả màu sắc và hương vị, đều đồng nhất với Trung đạo”
(Nhất sắc nhất hương vô phi Trung đạo). Nói theo kinh Hoa
nghiêm, nhất niệm tam thiên có nghĩa là “Vô biên sát hải
tự tha bất cách ư mao đoan” (HT Thích Trí Tịnh dịch: Trong
một vi trần nhiều sát hải/ Chỗ nơi riêng khác đều nghiêm
tịnh//). Từ quan niệm này, ngài Thiên Thai đề cập thuyết
tánh khởi. Theo Ngài, tánh khởi là từ nơi bản tánh một
niệm mà có đủ ba ngàn, rồi tùy theo duyên mà khởi. Gặp
duyên trời người thời khởi lên trời người, gặp duyên
địa ngục thời khởi lên địa ngục, v..v...
Tưởng
cũng nên biết Thiền tông coi niệm hoặc tư tưởng là một
cái tâm nẩy sinh trên cái tâm, "tâm thượng sanh tâm". Cái
tâm có trước là tâm bổn lai, tâm nẩy sinh sau là niệm, là
một cái thừa, và chính nó gây ra mê và khổ. Thiền tông
thường hình dung hiện tượng niệm khởi bằng hình ảnh một
cái đầu ghép trên một cái đầu (đầu thượng trước đầu).
Tu đạo là nhằm phục hoàn cái tâm bổn lai.
Một
kiến giải khoa học về tánh khởi.
Đặc
điểm của cơ học Newton là khái niệm thời gian phổ biến
và tuyệt đối, không phụ thuộc không gian. Mọi cấu trúc
vật lý cổ điển Newton đều gồm những phần tử có thể
phân chia ra thành những mảnh phần cứng rắn có trương độ
hoặc những hạt cực vi vật chất bất khả phân. Những mảnh
phần ấy được giả thiết là hỗ tương tác dụng giống
như những bộ phận trong một bộ máy.
Einstein
lúc 15 tuổi tự đặt một câu hỏi về sau trở thành nguồn
gốc của sự khám phá thuyết tương đối. “Điều gì có
thể xảy ra nếu ta chuyển động nhanh như ánh sáng và nhìn
vào trong gương?” Lẽ cố nhiên, ta sẽ không thấy gì trong
gương vì ánh sáng di chuyển từ mặt ta không bao giờ đi đến
được nơi gương. Sự kiện này trái nghịch với mọi luật
chuyển động Newton, vì theo những định luật này, miễn tốc
độ chuyển động hữu hạn, thời trên nguyên tắc, ta có
thể bắt kịp và vượt quá bất kỳ chuyển động nào.
Như
vậy phải thay đổi quan niệm về tốc độ ánh sáng. Không
mộtù chuyển động nào có tốc độ nhanh bằng tốc độ
ánh sáng. Theo thuyết tương đối hẹp, thời gian trở nên
tương đối, tùy thuộc hệ thống quy chiếu dùng mô tả chuyển
động. Ngôn từ dùng mô tả chuyển động cũng phải thay đổi.
Trước kia nói tốc độ ánh sáng là tốc độ bất khả năng
của một vật thể, bây giờ nói đó là tốc độ cực đại
truyền dẫn một tín hiệu (signal). Khái niệm vật thể được
thay bằng khái niệm tín hiệu. Tín hiệu hàm ý một cách truyền
thông, một quan hệ giao thiệp.
Trong
thuyết tương đối rộng, vai trò chính yếu của những hạt
vật chất nay nhường lại cho những khái niệm căn bản mới
là biến cố (events) và tiến trình (processes). Vật thể không
còn có cá biệt tính của một cá thể thường tại và độc
lập riêng biệt nữa mà là một mẫu hình của chuyển động
(pattern of movement).
Với
những khái niệm tân tạo như vậy, Einstein vẫn không thành
công mô tả sự vận hành của thế giới theo thuyết thống
nhất trường (unified field theory) của ông. Trong vật lý học,
“trường” là một vùng hư không có một đặc tính vật
lý, thí dụ trọng trường (gravitational field) là trường có
lực hấp dẫn chẳng hạn, đặc tính ấy có trị số xác
định được tại bất cứ điểm nào của trường. Einstein
chọn tổng trường của toàn thể vũ trụ làm nền tảng diễn
tả thuyết tương đối rộng. Tổng trường này có tính liên
tục và bất khả phân. Hạt hay dị điểm (singularity) là những
tượng trừu xuất (abstraction) tức hình tượng rút ra từ
những vùng cường độ rất lớn của tổng trường. Trường
ở quanh hạt giảm cường độ dần dần khi di chuyển ra xa
hạt và cuối cùng hòa nhập trường của những dị điểm
khác. Trường không có bờ mé, không nơi nào đứt đoạn.
Vũ trụ theo Einstein là một toàn thể hoàn chỉnh, bất phân
và bất đoạn.
Như
vậy, một trật tự mới được công nhận, trật tự của
một toàn thể hoàn chỉnh. Trật tự này thay thế trật tự
cũ, trật tự của thế giới cổ điển Newton, một thế giới
có thể phân cắt thành những mảnh phần riêng biệt và hỗ
tương tác dụng. Nhiều khái niệm mới về trật tự và đo
lường được thi thiết. Chẳng hạn, các hệ thống quy chiếu
dùng mô tả trọng trường (gravitational field) là những tập
hợp đường cong thay vì đường thẳng. Chuyển động được
mô tả bằng những hệ thống phương trình phi tuyến tính
(non linear) thay vì tuyến tính, nghĩa là lời giải không thể
cọng với nhau để có thêm lời giải mới.
Phi
tuyến tính của thuyết tương đối đối nghịch với tuyến
tính của cơ học lượng tử. Ngoài ra còn có nhiều điểm
khác biệt nữa. Về phía thuyết tương đối, có trường liên
tục, định luật có tính cách quyết định (deterministic),
nghĩa là chỉ cần biết đích xác điều kiện đầu tức vị
trí và vận tốc của hệ thống vào một thời điểm nhất
định thời sự vận hành của hệ thống được định luật
xác định. Về phía cơ học lượng tử, chuyển động là
gián đoạn, và hàm sóng chồng chập khả năng chỉ được
xác định trên phương diện tổng tướng có tính cách thống
kê xác suất. Hơn nữa, thuyết tương đối không công nhận
tính phi cục bộ của cơ học lượng tử tức tính hỗ tương
giao thiệp giữa hai biến cố hay tiến trình xa cách nhau.
Tuy
nhiên, do tính phi cục bộ mà dụng cụ quan sát được xem
như không phân cách đối tượng quan sát. Vì phi cục bộ nên
người quan sát, dụng cụ quan sát, đối tượng quan sát, và
mọi hiện tượng đồng thời xảy ra trong tiến trình thí
nghiệm, tất cả hỗ tương giao thiệp, mặc dầu xa cách nhau
mà vẫn phải xem như bất tương ly. Trong thế giới lượng
tử, cảnh huống thí nghiệm và ý nghĩa của kết quả thu
thập là một toàn thể hoàn chỉnh. Toàn thể hoàn chỉnh ở
đây có thể ví với mẫu hình của một tấm thảm. Mẫu hình
là toàn thể hoàn chỉnh. Những chi tiết hoa lá cây cỏ trong
mẫu hình không được xem như là những mảnh phần riêng biệt
hỗ tương tác dụng. Chúng là những tượng trừu xuất (abstraction)
do cách ta diễn tả biến cố mà phát hiện từ một toàn thể
hoàn chỉnh. Cũng vậy, người quan sát, khí cụ đo kiểm, đối
tượng quan sát, cùng với mọi hiện tượng đồng thời xảy
ra trong cảnh huống thí nghiệm, đều là những tượng trừu
xuất do cách ta diễn tả thí nghiệm mà phát hiện từ một
toàn thể hoàn chỉnh. Đó là điểm tương đồng giữa thuyết
lượng tử và thuyết tương đối.
Nói
theo triết lý Viên dung của Hoa nghiêm, cái toàn thể hoàn chỉnh
của các cách thức quan sát, khí cụ đo kiểm, và sự thông
hiểu lý thuyết là một mạng lưới quan hệ toàn diện, cùng
một lúc, tồn tại giữa những cá thể và phổ biến, giữa
những sự vật riêng rẽ và những ý tưởng tổng quát. Bấy
lâu khoa học không quan tâm đến những quan hệ hỗ tương
giữa cách thức thông hiểu lý thuyết, cách thức quan sát,
và khí cụ đo kiểm, cho đó là vấn đề thuộc ngành lịch
sử khoa học. Bây giờ cơ học lượng tử cho thấy hiểu biết
những quan hệ hỗ tương ấy là điều kiện cần thiết và
căn bản để hiểu biết khoa học.
Một
thí dụ về quan hệ hỗ tương giữa khí cụ đo kiểm và thông
hiểu lý thuyết là thấu kính (lens). Thấu kính dùng trong máy
chụp hình chẳng hạn tạo tác ảnh của một vật trên một
tấm phim. Với mỗi điểm của vật tương ứng một điểm
của ảnh. Do làm nổi bật lên sự tương ứng giữa những
nét đặc thù của vật và của ảnh, thấu kính đã ảnh hưởng
thói quen nhận thức sự vật bằng cách phân chia chúng thành
những mảnh phần tương quan liên hệ với nhau. Dần dà quen
với lối nhìn phân toái như vậy, nên mỗi lần suy luận ta
có tập quán phân tích (analysis) và tổng hợp (synthesis). Trật
tự biểu hiện phép suy luận bằng phân tích và tổng hợp
được nhà vật lý học lý thuyết David Bohm gọi là trật
tự phóng khai (explicate order). Trật tự này được quảng diễn
đến tận những vật thể vô cùng xa, vô cùng lớn, vô cùng
bé, hay chuyển động vô cùng nhanh, ngoài tầm nghe thấy của
con người. Các nhà khoa học cổ điển quen thói ngoại suy
(extrapolation) theo kiểu đó tin tưởng rằng trật tự phóng
khai là trật tự thỏa đáng để mô tả biến cố hay tiến
trình vật lý trong mọi trạng huống và với mọi cấp độ
chính xác.
Tập
tính suy diễn phân toái theo trật tự phóng khai như vậy không
thích hợp với nhãn quan viên dung của thuyết tương đối
và thuyết lượng tử. Nếu thấu kính là khí cụ giải thích
thế nào là phân tích và tổng hợp, thử hỏi có khí
cụ nào giúp trực quán cái gọi là toàn thể hoàn chỉnh hay
không?
Theo
Bohm, khí cụ ghi ảnh toàn ký giúp ta có ý niệm về một toàn
thể hoàn chỉnh. Ánh sáng dùng trong phép ghi ảnh toàn ký (holography)
là một chùm tia laser chiếu đến một tấm gương mạ bạc
nửa phần. Gương này chia chùm laser đến thành hai chùm. Chùm
thứ nhất phản chiếu trên gương rồi đến chiếu sáng toàn
bộ cấu trúc của vật thể ta muốn chụp ảnh và chùm thứ
hai đi thông suốt qua gương đến chiếu vào tấm kính ghi ảnh.
Chùm thứ nhất sau khi chiếu vào toàn bộ cấu trúc sẽ được
hướng dẫn phản chiếu trên tấm kính ảnh, giao thoa với
chùm thứ hai trên đó, và tạo nên một hình ảnh của vật
thể, gọi là ảnh toàn ký (hologram). Muốn nhìn ảnh toàn ký
thời phải sử dụng ánh sáng laser và khi nhìn vào toàn cả
tấm kính ảnh, ta thấy ảnh hiện ra rất rõ trong khung kích
thước ba chiều không khác cảnh vật nhìn qua cửa sổ. Điểm
đặc biệt và mới lạ của ảnh toàn ký là dù nhìn ảnh
trên bất cứ mảnh phần nhỏ nào của tấm kính ảnh, ta vẫn
thấy toàn bộ cấu trúc đầy đủ chi tiết như khi nhìn trên
toàn cả tấm kính ảnh, tuy chi tiết của ảnh không sắc nét
bằng.
Mỗi
mảnh phần của ảnh toàn ký chứa thông tin về toàn thể
sự vật. Toàn bộ cấu trúc của toàn thể sự vật
được thu nhiếp trong mỗi mảnh phần của ảnh toàn ký. Khi
chiếu laser vào bất cứ mảnh phần nào thời toàn bộ cấu
trúc ấy mở bày phóng khai trở lại tái tạo hình ảnh của
toàn thể sự vật như trước. Đây là trường hợp một trật
tự mới: mọi sự vật thu nhiếp trong mọi sự vật. Bohm gọi
đó là trật tự thu nhiếp (implicate order).
Bohm
đề nghị thay thế lối nhìn cổ điển qua thấu kính (lens)
chú trọng vào sự phân tích chia chẻ ra thành phần riêng biệt
bằng lối nhìn ghi ảnh toàn ký (holography) nhìn thực tại
như toàn thể hoàn chỉnh (unbroken wholeness). Nói cho đúng, ảnh
toàn ký chỉ là một khí cụ có chức năng "bắt chộp" (snapshot)
ghi lại một hình ảnh tĩnh. Trật tự thu nhiếp thật ra nằm
trong chuyển động phức tạp của các điện từ trường dưới
dạng sóng ánh sáng. Sóng ánh sáng chuyển động truyền dẫn
khắp nơi và trên nguyên tắc, sự chuyển động truyền dẫn
đó thu nhiếp toàn thể không thời gian của vũ trụ vào trong
mỗi mỗi vùng. Khi ý niệm nhận biết khởi lên thời với
một cặp mắt tốt hay một kính viễn vọng là có thể thấy
mọi sự vật thu nhiếp phóng khai trở lại, tướng dạng hiện
ra như những tượng trừu xuất từ toàn thể hoàn chỉnh của
vũ trụ.
Ngoài
chuyển động truyền dẫn của sóng ánh sáng, trật tự thu
nhiếp và phóng khai có thể nằm trong chuyển động của các
sóng khác. Sóng đề cập ở đây có tính gián đoạn và phi
cục bộ của cơ học lượng tử chứ không phải là thứ
sóng thường. Do đó, toàn bộ chuyển động thu nhiếp và phóng
khai vượt ra khỏi tầm mức thấy biết của chúng ta, vì thế
cho nên không thể định nghĩa và không thể tư lường. Bohm
gọi toàn bộ ấy là toàn lưu (holomovement) hay là vũ trụ toàn
ký (holographic universe). Theo ông, đương thểø (what is) chính
là toàn lưu và mọi biến cố hay tiến trình phải được
hiểu như là tượng trừu xuất từ toàn lưu.
Vũ
trụ toàn ký của Bohm có thể ví với Pháp giới Hoa nghiêm.
Trật tự thu nhiếp ví vớiø pháp giới tánh là tánh bản
nhiên "trùng trùng duyên khởi" của tất cả sự vật. Trật
tự phóng khai biểu hiện hoặc luật nhân quả (tadutpatti. "Ở
đây có lửa bởi vì có khói") hoặc luật đồng quy nhất
(tàdàtmya. "Ở đây có cây bởi vì có nhiều lau sậy"). Trật
tự phóng khai thật ra là dạng biến chuyển của một trật
tự thứ cấp bao hàm trong trật tự thu nhiếp. Trật tự thứ
cấp này tạo điều kiện (duyên) phát hiện biến cố hay tiến
trình như những tượng trừu xuất từ vũ trụ toàn ký. Như
vậy, trật tự thu nhiếp là nguyên nhân hay căn bản y của
hết thảy chuyển động và hiện tượng trong vũ trụ và trật
tự phóng khai là thứ cấp, dẫn xuất từ trật tự thu nhiếp.
Ngài
Khuê Phong Tông Mật phân biệt hai thứ nhân duyên sanh khởi:
tánh khởi và duyên khởi. Tánh khởi chỉ vào hai mặt bất
biến và tùy duyên của vạn pháp. Duyên khởi chỉ vào hai
cửa nhập đạo đốn ngộ và tiệm tu. Ở đây, có thể ví
phép chuyển trật tự thu nhiếp thành trật tự phóng khai là
tánh khởi và ngược lại, phép chuyển trật tự phóng khai
thành trật tự thu nhiếp là duyên khởi.
Có
thể nói theo ngài Trí Nghiễm, kế tổ của Hoa nghiêm tông,
phép triển chuyển trật tự thu nhiếp thành trật tự phóng
khai và ngược lại chính là phép đếm từ một đến mười,
đếm đi xuống là chuyển phóng khai thành thu nhiếp và đếm
đi lên là chuyển thu nhiếp thành phóng khai.
Toán
học mô tả phép triển chuyển này như là phép chiếu (projection)
từ vũ trụ toàn ký, một toàn thể có thứ nguyên cao vào
những vùng có thứ nguyên thấp và ngược lại. Các tượng
trừu xuất là hình chiếu từ vũ trụ toàn ký, vì thế bản
tánh của chúng là trật tự thu nhiếp và trật tự phóng khai
là biến tướng của một trật tự thứ cấp chứa trong trật
tự thu nhiếp.
Theo
Bohm, bấy lâu các định luật vật lý diễn tả quan hệ và
biến chuyển theo trật tự phóng khai, căn cứ trên lưới tọa
độ Descartes. Vật lý học cổ điển công nhận có một thuyết
vật lý cơ bản dùng làm nền tảng bất biến, nơi cuối cùng
quy giảm hết thảy mọi hiện tượng vật lý. Trong vũ trụ
toàn ký, nói đến một thuyết vật lý cơ bản như vậy là
vô nghĩa. Mỗi thuyết vật lý là một lối nhìn trừu tượng
hóa một khía cạnh nào đó của vũ trụ toàn ký, khía cạnh
này chỉ thích đáng trong một cảnh huống giới hạn, và được
chỉ báo bởi một phép đo lường thích hợp.
Ta
có thể tìm thấy ý nghĩa nguyên nhân hay căn bản y của vũ
trụ toàn ký phô diễn một cách rất thiện xảo theo ngôn
ngữ Phật giáo trong đoạn văn sau đây Thầy Tuệ Sỹ viết
trong Tựa Nhận thức và tánh Không: “Pháp tính mà có thể
nhận thức được, bằng hiện lượng hay bằng tỉ lượng,
thì tự căn bản pháp tính hiện thực “ở đâu đó”.
Thế nhưng, “nơi nào đó” có tác dụng, nơi đó pháp
tính mới được nỗ lực quán chiếu để phát hiện. Trước
Newton vô thủy, và sau Newton vô chung, trái táo, và mọi thứ
trái khác,vẫn rơi; cả tâm của chúng sinh cũng rơi. Ở phương
Tây người ta thấy điều đó. Ở phương Đông, người ta
cũng thấy như vậy. Trên mặt phẳng của sự rơi, dưới đáy
hố thẳm siêu hình của sự rơi, pháp tính vẫn thường nhiên.
Trong mỗi pháp được nhận thức, có vô biên điều kỳ diệu.
Nhưng chỉ tại một điểm nào đó trong một xứ và một thời
nhất định, do tác dụng của tâm trong một định hướng
tồn tại nhất định, mà một quy luật được phát hiện
từ pháp tính. Mỗi phát hiện đều có cơ làm thay đổi sắc
diện của thế giới. Người ta gieo hạt để thâu hoạch những
thứ mình cần, hay muốn.”
Tất
cả các quan hệ cấu thành vũ trụ toàn ký không phải là
quan hệ giữa những hình tướng trừu tượng và phân biệt
trong thế giới huyễn tướng được nhận thức qua các giác
quan hay qua các khí cụ đo kiểm. Chúng là quan hệ giữa những
cấu trúc thu nhiếp, hỗ tức hỗ nhập khắp toàn thể hư
không. Mặc dầu không thể nào thấu đạt toàn thể những
luật tắc chi phối sự vận hành của vũ trụ toàn ký, ta
vẫn có thể giả thiết chúng công nhận tánh cách căn bản
y (nguyên nhân) của vũ trụ toàn ký: "không có một pháp nào
chẳng từ đó mà lưu xuất, và cũng không có một pháp nào
chẳng trở về đó" (Vô bất tùng thử pháp giới lưu, mạc
bất hoàn qui thử pháp giới).
Như
vậy, luật tắc chi phối vũ trụ toàn ký mặc nhiên công nhận
trật tự thu nhiếp bao hàm một trật tự thứ cấp. Trật
tự thứ cấp này tạo điều kiện trừu tượng hóa một tập
thể các dạng ở bên trong vũ trụ toàn ký có tính cách phần
nào bền vững, tập tính gần như tuần hoàn, và có khả năng
tách biệt. Khi những tượng trừu xuất biểu hiện, chúng
tạo nên cái thế giới hiện tượng quen thuộc của giác quan.
Trật tự phóng khai của thế giới hiện tượng lưu xuất
từ trật tự thứ cấp nói trên.
Tóm
lại, theo Bohm, khoa học phải khởi đầu từ một toàn thể
hoàn chỉnh, có nhiệm vụ phát hiện những tượng trừu xuất
từ toàn thể hoàn chỉnh, giải thích chúng như là những hiện
tướng trông có vẻ sai biệt, bền vững, và tuần hoàn tái
diễn, nhưng kỳ thật tương quan liên hệ nhau và tạo thành
những biến cố hay tiến trình tương đối tự trị, tuân
theo những luật tắc của trật tự phóng khai.
Làm
thế nào giải thích trật tự phóng khai là trật tự nhận
thức được bằng giác quan? Muốn vậy, cần phải đem tâm
thức vào vũ trụ ngôn thuyết (universe of discourse) và thuyết
minh vật chất nói chung và tâm thức nói riêng, theo một nghĩa
nào đó, cả hai có chung một trật tự, trật tự phóng khai.
Đề
cập vấn đề vật chất trước, Bohm tựa trên thuyết biến
số ẩn tàng (theory of hidden variables) của ông đưa ra một
mô hình electron (âm điện tử) làm thí dụ. Cơ học cổ điển
mô tả electron là một hạt, mỗi lúc xuất hiện thời xuất
hiện trong một vùng không gian nhỏ bé và có vị trí thay đổi
theo thời gian. Bohm ngược lại mô tả electron căn cứ vào
một toàn lưu (vũ trụ toàn ký) gồm các tập hợp thu nhiếp
không có vị trí xác định trong không gian. Vào bất cứ lúc
nào, một trong các tập hợp đó có thể được phóng khai
và trở thành có vị trí xác định. Nhưng trong giây phút kế
tiếp, nó được thu nhiếp lại và thay thế bởi một tập
hợp phóng khai kế tiếp. Những hình tướng tương tợ liên
tục thu nhiếp và phóng khai một cách đều đặn và hết sức
nhanh chóng gây ra cảm tưởng có một electron tồn tại.
Sự
hiện hữu của electron là sự hiện hữu cùng với và hỗ
tương giao thiệp với một toàn thể các tập hợp biến hình
hỗ tức hỗ nhập trong những trạng thái thu nhiếp bất đồng.
Tuy cả dạng lẫn cấu trúc của các tập hợp biến hình,
nhưng trật tự thu nhiếp của toàn thể vẫn không thay đổi.
Thật
ra, electron chỉ là kết quả tác dụng của hoạt động trừu
tượng hóa. Đương thể (what is) là toàn lưu, một toàn thể
hoàn chỉnh của hết thảy tập hợp các chuỗi thu nhiếp và
phóng khai đồng thời hiện khởi và cộng đồng hiện hữu,
hỗ tương nhiếp nhập khắp trong toàn thể hư không.
So
với mô hình cổ điển, hiểu electron theo Bohm như là tượng
trừu xuất từ một toàn thể hoàn chỉnh thử hỏi có những
lợi ích gì? Sau đây nêu ra hai lợi điểm cơ học cổ điển
không giải thích nổi.
Một,
thí nghiệm cho thấy electron có thể nhảy từ một trạng thái
này sang một trạng thái khác không cần phải đi qua trung gian.
Tại sao electron có khả năng như vậy? Tại vì hạt chỉ là
một tượng trừu xuất từ một toàn thể cấu trúc rộng
lớn và là một hiện tướng đối với giác quan. Không có
lý do gì bắt nó phải có một chuyển động liên tục.
Hai,
khi toàn bộ trạng huống của tiến trình thí nghiệm thay đổi,
thời xuất khởi nhiều hình thái biểu hiện mới. Do đó,
electron có thể là hạt, có thể là sóng, hay có thể vừa
hạt vừa sóng, tùy thuận toàn bộ cảnh huống trong đó nó
hiện hữu và được thí nghiệm quan sát.
Đến
lượt đề cập vấn đề tâm thức, câu hỏi được đặt
ra là có thể nào vũ trụ toàn ký, căn bản y của vật chấùt,
cũng là căn bản y của tâm thức hay không? Trước hết, phải
công nhận rằng vật chất thường là đối tượng nhận thức
của tâm thức. Mặt khác, qua phép ghi ảnh toàn ký, ta có một
ý niệm về sự thu nhiếp mọi thứ năng lượng như ánh sáng,
âm thanh, v..v... liên can đến toàn thể vũ trụ vật chất
vào mỗi mỗi vùng của hư không. Do những tiến trình như
vậy mà thông tin về các thứ ấy truyền xuyên qua các giác
quan đến tận hệ thần kinh của não. Thật ra, ngay từ đầu,
tất cả vật chất trong cơ thể chúng ta cũng thu nhiếp vũ
trụ bằng một cách nào đó. Có thể nào cấu trúc thu nhiếp
của thông tin và của vật chất trong não và thần kinh hệ
chẳng hạn, là cơ sở của những hoạt động tâm thức hay
không?
Karl
Pribram, giáo sư chuyên về não tại Đai học Stanford, có bằng
chứng thí nghiệm cho thấy kinh nghiệm, nói một cách tổng
quát, được cất giữ khắp nơi trong não, do đó thông tin
về bất cứ sự vật hay phẩm tính nào đều được thu nhiếp
trong toàn bộ não, chứ không cất giữ nơi một tế bào hay
một khu vực nào riêng biệt. Ký ức tức nhớ lại những
kinh nghiệm đã qua giống như nhìn vào một tấm ảnh toàn
ký nhưng phiền phức gấp bội. Giống ở điểm là mỗi lần
ký lục toàn ký bị kích hoạt thời một mẫu hình năng lượng
thần kinh được tạo ra, phần nào tương tợ mẫu hình do
kinh nghiệm đã ghi lại trong não toàn ký. Mẫu hình nhớ lại
phức tạp gấp bội là vì nhiều lý do. Một, ít chi tiết
hơn. Hai, những ký lục ghi lại sau những lần khác nhau đã
hòa nhập làm một. Ba, ký lục kết nối nhau do liên tưởng
và suy luận. Ngoài ra, nếu thêm vào đó những dẫn liệu cảm
thọ (sensory data) thời toàn bộ kinh nghiệm nhớ lại là một
nhất thể không phân tích được do sự kết hợp cực kỳ
phức tạp của trí nhớ, luận lý, và cảm giác tạo thành.
Tâm
thức không phải chỉ là ký ức. Phật giáo gọi ký ức là
niệm hay ức niệm, là một trong năm tâm sở biệt cảnh (dục,
thắng giải, niệm, định, tuệ) theo cách liệt kê của Duy
thức. Tâm thức còn là sự nhận biết, chú ý, tưởng tri,
thông hiểu, và nhiều tâm sở khác nữa. Bởi thế không nên
chỉ chú trọng quan sát những mẫu hình kích động dây thần
kinh cảm giác và cách bảo tồn ký ức mà cần phải quan sát
phân tích những tác dụng tâm kể trên thời mới thấy được
cơ sở của những hoạt động tâm thức.
Bohm
đưa sự nghe nhạc ra làm thí dụ. Vào lúc nghe một nốt nhạc
mới thời trong tâm thức một số nốt nhạc vừa nghe trước
đó vẫn còn vang dội lại. Sự đồng thời hiện khởi và
hoạt dụng của tất cả âm thanh vang dội đó trực tiếp
và tức thời gây nơi người nghe một cảm giác về chuyển
động, lưu động, và liên tục, một cảm giác về một toàn
thể hoàn chỉnh sinh động đang lưu chuyển. Âm thanh vang dội
không phải là ức niệm cất giữ về trước mà là những
biến hình hoạt động của những gì đã phát hiện trước
đây, như những tiếng nhạc giảm dần cường độ trên đường
truyền dẫn đến tai, những cảm ứng xúc động, những phản
ứng cảm động của thân thể, và nhiều thứ cảm xúc tinh
tế hơn nữa. Ta có thể trực quán cách thức thu nhiếp một
chuỗi nốt nhạc vào trong nhiều mức độ nhận thức khác
nhau và vào bất kỳ lúc nào, trực quán cách thức những biến
hình lưu xuất từ những nốt nhạc thu nhiếp ấy hỗ tương
nhiếp nhập và hỗ tương tác dụng để dẫn khởi một cảm
giác tức thời và sơ cấp về chuyển động.
So
với thí dụ electron, trong thí dụ nghe nhạc cũng có sự biến
đổi hoàn toàn các nốt nhạc mà vẫn không thay đổi trật
tự thu nhiếp của toàn lưu. Tuy nhiên có điểm khác biệt.
Trong thí dụ electron, do suy tư mà nắm bắt được trật tự
thu nhiếp, xem đó là sự cộng đồng hiện hữu của nhiều
mức độ biến đổi tập hợp, khác nhau nhưng tương quan liên
hệ biến chuyển không ngưng. Còn trong thí dụ nghe nhạc, trật
tự thu nhiếp được trực cảm tức thời và xem như là sự
cộng đồng hiện hữu của nhiều mức độ biến đổi âm
thanh, khác nhau mà tương quan liên hệ biến chuyển không ngưng.
Tác
dụng của vật chất như electron và tác dụng tâm thức như
nghe nhạc đều lưu xuất từ trật tự thu nhiếp. Trong trường
hợp nghe nhạc, trật tự thu nhiếp là trật tự của tự tướng
của chuyển động nhận thức bằng hiện lượng tức trực
cảm . Trong trường hợp electron, trật tự thu nhiếp là trật
tự của tổng tướng của chuyển động nhận thức bằng
tỷ lượng tức bằng suy tư. Nói theo thuật ngữ Phật giáo,
quan hệ giữa vật chất (electron) và tâm thức (nghe nhạc)
trước hết là quan hệ theo luật đồng quy nhất (tàdàtmya).
Chúng quy hợp về cùng chung một căn bản hữu pháp (dharmì).
Căn bản hữu pháp ở đây là toàn lưu hay vũ trụ toàn ký,
một toàn thể hoàn chỉnh, vận hành theo trật tự thu nhiếp.
Vận
hành theo trật tự thu nhiếp khác với chuyển động theo trật
tự phóng khai như thế nào? Cơ học cổ điển mô tả
chuyển động theo trật tự phóng khai như một dãy điểm kế
tiếp dọc theo một đường. Nếu một hạt ở vị trí x1 vào
thời điểm t1 và ở vị trí x2 vào thời điểm t2 , thời
tốc độ của nó là kết quả so sánh (x2 – x1) / (t2 – t1).
Theo
kinh nghiệm thường ngày, khi t2 hiện đến thời t1 đi vào
quá khứ, biến mất, không bao giờ trở lại. Như thế nếu
tính tốc độ hiện tại, tức là vào lúc t2, theo công thức
(x2 – x1) / (t2 – t1), thời đó là một cách nối kết cái
đương là (x2 và t2) với cái không đương là (x1 và t1). Nhưng
tốc độ hiện tại là để xác định hạt vận hành như
thế nào từ hiện tại, tự nơi nó, và tương quan với những
hạt khác. Thế thời làm sao hiểu được hoạt động hiện
tại nơi vị trí x1 hiện giờ đã biến mất và không bao giờ
trở lại? Để cứu vãn tình hình, toán vi phân diễn tả (t2
– t1) là lượng vô cùng bé dt và (x2 – x1) là lượng vô
cùng bé dx. Tốc độ tức thời lúc t2 là giới hạn của tỷ
số dx / dt khi dt tiến đến zero. Định nghĩa như thế là tưởng
rằng có thể xem x1 và x2 là hai vị trí hiện tại của hạt.
Nhưng thử hỏi có ai kinh nghiệm một khoảng thời gian bằng
zero hay không? Có ai hiểu được bằng suy luận thế nào là
một khoảng thời gian zero hay không?
Mô
tả theo trật tự phóng khai như trình bày trên là do quan niệm
chuyển động như là một quan hệ hoạt động giữa cái đang
là và cái không đang là. Vậy theo quan điểm cổ điển về
bản thể thực tại, đương thể (what is) là một quan hệ
hoạt động giữa cái đang là và cái không đang là. Theo trật
tự thu nhiếp, chuyển động của hạt tức sóng là quan hệ
giữa các pha vướng mắc nhau của đương thể, các pha này
đồng thời hiện hữu và ở vào các cấp thu nhiếp khác nhau
[Pha là một phẩm tính của sóng giống như tuần trăng tả
cho biết sóng đang ở thời kỳ nào của chu kỳ chuyển động.
Quan hệ giữa các pha nói ở đây biểu hiện cái mà cơ học
lượng tử gọi là "pha bất tương ly" (phase entanglement), hay
tính phi cục bộ tức là hỗ tương giao thiệp giữa những
hiện tượng xa cách nhau]. Như vậy, theo quan điểm toàn lưu,
đương thể tức bản thể thực tại là sự lưu chuyển của
một toàn thể hoàn chỉnh các quan hệ giữa các pha vướng
mắc nhau, đồng thời hiện hữu, và thuộc các cấp thu nhiếp
khác nhau.
Con
người có thể ví như một cấu trúc trừu xuất từ
vũ trụ toàn ký. Cấu trúc này là sự cộng đồng hiện hữu
của nhiều loại quá trình, quá trình biến đổi và sản xuất,
quá trình chuyển hóa và phát triển, v..v..., tất cả tạo
thành mạng lưới quan hệ hỗ tức hỗ nhập và tương giao
hỗ tác với ngoại cảnh. Do đó, nó tạm thời tồn tại,
nghĩa là tạm thời giữ được trạng thái bền vững nhờ
trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường sống.
Trong
tiến trình biến đổi của cấu trúc, trạng thái vật lý
có thể tác dụng ảnh hưởng nội hàm tâm thức bằng nhiều
cách, chẳng hạn như dây thần kinh bị kích thích thời sinh
cảm giác. Ngược lại, nội hàm tâm thức có thể ảnh hưởng
trạng thái vật lý, như là ý lực (cetàna; tư) có thể làm
các dây thần kinh bị kích thích, các bắp thịt co dãn, nhịp
tim đập thay đổi, gây ra sự thay đổi hoạt tính của các
tuyến, hóa tính của máu, v..v... Quan hệ giữa tâm và vật
không những là quan hệ theo luật đồng quy nhất mà còn là
quan hệ theo trật tự thu nhiếp chứ không phải quan hệ giữa
hai hữu riêng biệt mà tương quan tác dụng. Nghĩa là tâm thu
nhiếp vật chất nói chung và do đó, thu nhiếp thân thể nói
riêng. Cũng vậy, thân thể thu nhiếp không những tâm, mà còn
thu nhiếp toàn thể vũ trụ vật chất, qua giác quan và qua
sự kiện các nguyên tử cấu thành thân thể là những cấu
trúc được thu nhiếp khắp nơi trong hư không.
Nói
theo toán học, tâm và vật là những hình chiếu có thứ nguyên
thấp từ vũ trụ toàn ký là một thực tại có thứ nguyên
cao hơn. Những hình chiếu này không những nối kết phi cục
bộ mà còn hỗ tương nhiếp nhập theo trật tự thu nhiếp.
Ta có thể hình dung tâm và vật như hai cái bóng của cùng
một vũ công do đèn chiếu trên hai tấm màn đặt đối diện
trên sân khấu. Chúng nhảy múa ăn nhịp là do quan hệ phi cục
bộ và hỗ tương nhiếp nhập giữa chúng.
Như
vậy, có thể hiểu sát na tâm theo chủ trương của Pháp tướng
tông, "tam pháp triển chuyển, nhân quả đồng thời". Nghĩa
là trong thời gian của sát na hiện tại, sự biến chuyển
phóng khai và thu nhiếp cùng xảy ra đồng thời và do sự biến
chuyển như vậy mà có sự khác biệt. Nội hàm tâm thức vì
thế bao gồm hai mặt. Mặt hiển theo trật tự phóng khai là
những tác dụng tâm dễ nhận thức và quan sát trong đời
sống hàng ngày. Mặt kia thu nhiếp trong vũ trụ toàn ký, một
thực tạiù không nắm bắt được, không diễn tả được,
nhưng không vì thế mà không hiện hữu, tạo nên bối cảnh
vô thức của mọi tác dụng tâm thức và vận hành theo trật
tự thu nhiếp. Nói theo ngôn ngữ Phật giáo thời cái trật
tự thu nhiếp đó chính là pháp giới tánh, là tánh Không.