22. Tâm
thức, Toán học, và Thế giới
D. Tổng
kết.
Báo
Thế kỷ 21, số tháng sáu và số tháng bảy 1994, đăng một
bài, Giáo sư Nguyễn Kết dịch và chú, tường thuật
cuộc hội thảo bàn tròn về đạo Phật và khoa học vào mùa
thu năm 1988 tại Viện Niels Bohr (Niels Bohr Instituttet) ở Danmark.
Dalai Lama được mời tham dự cùng với nhiều nhà vật lý
tiếng tăm của Bắc Âu làm việc trong các lãnh vực vũ trụ
học, tâm lý học, sinh học, và vật lý lượng tử. Ngoài
ra, còn có mặt nhiều tên tuổi lớn thuộc các lãnh vực khác.
Vấn đề liên hệ giữa các tiến trình vật lý và các biểu
lộ tâm lý được đề cập. Sau một hồi thảo luận, một
tham dự viên hỏi Dalai Lama: “Ngài có đề cập đến vấn
đề này theo một cách khác, bằng cách phân biệt thế giới
bên trong và bên ngoài. Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều đồng
ý rằng có một nội giới và một ngoại giới. Chúng ta còn
có thể giả thiết rằng óc não tôi là một phần tử trong
ngoại giới của ngài, cũng như tâm thức của ngài là một
phần của ngoại giới của tôi. Tôi rất muốn biết trong
truyền thống của ngài, tức là trong truyền thống Phật giáo,
người ta nói sao về biên địa hay ranh giới giữa nội và
ngoại giới.
Tôi
hỏi như thế vì vấn đề song hành đã đề cập giữa tâm
thức và vật chất có thể đã xuất hiện tại vùng biên
địa này. Mắt tôi theo một cách nào đó là biên giới giữa
nội và ngoại giới. Nhưng ranh giới, vùng biên địa này là
gì?”
Dalai
Lama trả lời: “Đây đúng là vấn đề... và tùy theo bình
diện mà có những giải quyết khác nhau. Ở một bình diện,
người Phật giáo nói tâm thức là nội tại, không hình thể,
không màu sắc, phi chất-tâm thức chỉ là tâm thức (không
một yếu tố nào khác làm nên nó).
Đạo
Phật xem tâm và tâm thức là một thực thể không hình tướng,
không choán chỗ của bất kỳ sự vật nào (không có vị trí
trong không gian). Bản chất của nó chỉ đơn giản là “biết”;
nó là một dụng cụ nhờ đó chúng ta “biết”.
Nhưng
tâm thức có nhiều tầng bậc. Ở một diện thô sơ tâm thức
có liên hệ chặt chẽ với thân xác vật lý. Khi con người
ở tầng tâm thức này và khi thân xác gặp một trục trặc
nào đó, thời tâm thức liên hệ bị lấn lướt hay trở nên
rất yếu ớt. Nhưng chúng ta cũng có những dạng tâm thức
vi tế hơn, không hoàn toàn nương tựa vào khía cạnh vật
lý. Dạng tâm thức cao nhất, vi tế nhất có khả năng tương
tác với vật chất. Do tương tác này mà có các bậc tâm thức
ít vi tế hơn.
Thế
thời ở một phía chúng ta có nội giới và ngoại giới, và
ngoại giới phô bày cho chúng ta như các “đối tượng của
giác quan”, với hình thể, màu sắc, v.v... Ở phía khác, về
nội giới, thời phần vật lý của một người, thân xác,
cũng có liên hệ với tâm thức. Hiển nhiên vì có tâm thức
nên chúng ta, qua trung gian khía cạnh vật lý của đời sống
và thân xác, có thể tiếp xúc, cảm nhận, lưu tâm chú ý
hay kinh nghiệm sự vật. Các khía cạnh vật lý do đó bằng
nhiều cách nối kết trực tiếp với tâm thức. Theo cách phân
loại của chúng tôi thời thân xác vật lý của một người,
kể cả óc não, thuộc về nội giới. ... ... ...
Trong
truyền thống Phật giáo có những phương cách tu tập, những
dạng rèn luyện nhất định để hành giả có thể vượt
qua giới hạn của bậc tâm thức thô sơ. Khi thành công, một
bậc tâm thức vi tế hơn sẽ hoạt động. Ví dụ một bậc
tâm thức cao đẳng có thể đạt được trong mơ: qua sự tu
tập, tâm thức có thể được lưu giữ trong giấc ngủ sâu
không mộng mị và từ đó người ta có thể phát triển một
tâm thức vi tế hơn nữa. Bậc tâm thức vi tế nhất có thể
đạt được ở thời điểm chúng ta hay một sinh vật nào
đó chết, ở chính tiến trình chết, khi mà lúc bấy giờ
chúng ta tự nhiên kề cận bậc tâm thức đó.
Nếu
có một người đã kinh qua dạng tu tập đó và có khả năng
ở lại trong thân xác mình nhiều ngày sau khi chết, dấu chỉ
điều này là, thân xác vẫn tươi và ấm như thể người
ấy vẫn còn sống, thời người ấy qua đó đã thấy mình
thành đạt, phát triển đến bậc tâm thức vi tế nhất. Chúng
tôi tin rằng hiện tượng này có là do người chết nhờ tiến
đến bậc tâm thức cao nhất nên có thể giữ thân xác tươi
tốt, còn có những trường hợp tươi tốt hơn cả khi người
còn sống.
Hiện
nay, kể cả thời kỳ chúng tôi ở Aán độ, vẫn có những
hành giả trụ trong trạng thái này cả tuần lễ, hoặc có
khi hai tuần, tử thi vẫn tươi tốt và có sự sống, dù mọi
khảo nghiệm đều cho thấy vị ấy đúng là đã chết. Theo
giải thích của chúng tôi, sự chứng đạt bậc tâm thức
vi tế nhất giúp giữ sự sống cho tử thi trong một khoảng
thời gian và chỉ khi tâm thức này rời bỏ thân xác, sự
hư rữa tàn hoại mới bắt đầu.
Như
thế chúng tôi tin rằng có nhiều bình diện tâm thức. Bình
diện thấp kém nhất bị dính mắc với năng lượng của não:
bao lâu não còn hoạt động, bấy giờ dạng tâm thức này
vẫn còn; nhưng khi cái chết đến thời chẳng còn gì gọi
là “não thức”. Để chấm dứt đề tài thảo luận này,
tôi muốn nói thêm rằng, do đó mà trong đạo Phật người
ta cho rằng nhờ dạng tâm thức vi tế nhất, mà cả con người
lẫn các loài có sự sống đều được tin là có, mà phối
hợp hóa học của não mới có thể khả dụng như điểm tựa
vật chất cho tâm thức.”
Sau
đó, giải đáp thắc mắc của một hội thảo viên về khái
niệm không đại hay thành phần hư không, về quan điểm của
Phật giáo đối với “không gian rỗng”, Dalai Lama giảng
giải:
“Vũ
trụ luận Phật giáo nói nhiều đến tiến trình, nhiềâu
giai kỳ tiến hóa của vũ trụ. Trước tiên vũ trụ kinh qua
hai kỳ “hư không”, rồi giai kỳ tạo dựng (thành), sau đó
là trạng thái tương đối ổn định (trụ) như vũ trụ hiện
tại, và rồi giai kỳ hư hoại. Từ đó một chu kỳ mới phát
sinh. Cứ thế hết chu kỳ này lại đến chu kỳ khác, không
gián đoạn và không bao giờ dứt. “Không gian rỗng” là
nền tảng cho sự hình thành của vũ trụ mới, và nó là một
vi tử có do sự hư hoại của vũ trụ trước đó. Vi tử này
được mô tả như cái chỉ có thể hình dung mà không thể
biết với giác quan. Các tiến trình như thế được giải
thích trong vũ trụ luận Phật giáo.”
Nghe
đến đó, một tham dự viên chợt nhận ra một khái niệm
quen thuộc, phát biểu: “Một vi tử ‘chưa sinh’, một hiện
tượng lượng tử ...”. Một vị khác hiểu lầm khái niệm
vi tử hư không và nói: “Có phải cực vi hư không là cái
tạo nên không gian?... Tôi muốn nói, nó mà tạo ra không gian
thời có thể xem như một loại vật chất. Có phải như thế
không?”
Dalai
Lama liền giải thích khái niệm chủng tử sắc pháp và chủng
tử tâm pháp như sau:
“Vi
tử hư không ở đây không liên hệ gì với không gian thông
thường trong đó các hiện tượng choán chỗ. Hư không ở
đây không đơn giản là không gian rỗng, mà chứa đựng, trong
trường hợp này, một dạng chất thể/vật chất hay là một
cái gì đó cực kỳ vi tế, vì nó không ngăn ngại sự tồn
tại của bất kỳ “cái gì khác”. Nó không choán chỗ, không
có vị trí. Như tôi đã nói, vi tử hư không là nền tảng
trên đó vật chất dần dần phát sinh.
Nhưng
mặt khác, đạo Phật không nói rằng tâm thức phát sinh từ
vi tử hư không. Một nguyên lý căn bản của đạo Phật là
vật và tâm có riêng cho mình liên tục tính. Hai đường thẳng
cách biệt nhau. Nếu muốn nói đến nguyên nhân sâu xa cho sự
phân cách này, trong đạo Phật, người ta viện dẫn các định
luật tự nhiên.”
Một
hội thảo viên hỏi về hiện tượng bổ sung của Niels Bohr
(thí dụ: một lượng tử có thể vừa là hạt vừa làø sóng):
“Khi mô tả sự tương duyên tương sinh thời sử dụng từ
bổ sung thế nào? Xin ngài vui lòng giảng giải cách thức ngài
sử dụng khái niệm này và những hệ luận của cách sử
dụng đó.”
Dalai
Lama đề cập thuyết nhị đế của Bồ tát Long Thọ để
trả lời: “Tôi nghĩ có một liên hệ giữa lối hiểu bổ
sung của quý vị và phương cách sử dụng khái niệm này trong
triết lý đạo Phật. Chúng tôi giả thiết rằng có sự không
tương hợp giữa hình tướng như chúng ta nhận biết của
một sự vật và chân tướng của nó. Sự không tương hợp
này phát sinh vì chúng ta lệ thuộc vào ngôn ngữ thường ngày
quen thuộc của mình. Ngôn ngữ này có liên quan mật thiết
với những khái niệm thông thường cũng như đặc biệt của
chúng ta, với quan niệm thực tại, với bối cảnh của chúng
ta, v..v... Thế nên khi đi vào chiều sâu và tìm cách khảo
sát thể tính của thực tại, thời chúng ta không thể tìm
thấy tinh hoa này, chỉ vì sự khảo sát của chúng ta đặt
căn bản trên ngôn ngữ, khái niệm thông thường và tầm thường
mà chúng ta sử dụng. Nhưng điều này không có nghĩa là thể
tính thực tại không có.
Sự
vật thật ra chỉ có trong sự lệ thuộc hỗ tương. Một sự
vật có là do tương tác của nhiều yếu tố, cả những luật
gọi là chủ quan lẫn khách quan. Do đó, không có gì có sự
tồn tại độc lập, cái tự mình mà có và tồn tại mà không
cần đến những cái khác. Mặc dù có thể được xem như
một ‘toàn thể’, nhưng ‘toàn thể’ này chỉ tồn tại
nhờ những thành phần của nó. Người ta không thể tìm được
cái ‘toàn thể’ mà chỉ có những thành phần. Nhưng dù
thế vẫn có một ‘toàn thể’.”
Trong
lời giải nghĩa của Dalai Lama về vấn đề song hành giữa
tâm thức và vật chất, đáng lưu ý nhất là câu: “Trong
truyền thống Phật giáo có những phương cách tu tập, những
dạng rèn luyện nhất định để hành giả có thể vượt
qua giới hạn của bậc tâm thức thô sơ. Khi thành công, một
bậc tâm thức vi tế hơn sẽ hoạt động.” Quả vậy, nhiều
phương pháp tu luyện tâm thức đã được giảng dạy dưới
nhiều hình thức khác nhau, tại nhiều nơi, nhiều lúc khác
nhau, thích ứng với hoàn cảnh và căn cơ của từng cá nhân.
Tựu trung mục đích vẫn là một mặt, ức chế tâm ác, không
để những tâm trạng điên đảo xuất hiện, và mặt khác,
bồi dưỡõng tâm thiện, thành tựu và tăng trưởng những
tâm trạng thiện hảo. Nói rộng hơn, tu tập là ức chế phiền
não, phát huy trí tuệ để cuối cùng đạt đến giải thoát
và giác ngộ. Thiện, ác, mê, ngộ, rốt ráo không ngoài những
hoạt động tâm lý. Cho nên tu tập muốn có hiệu quả thời
trước hết cần phải biết rõ những hoạt động tâm lý
một cách như thực. Đó là nguồn gốc phát sinh tâm lý luận
Phật giáo.
Đức
Phật căn cứ vào tâm lý để nói lý vô ngã, có khi giải
phẫu những yếu tố cấu thành tâm nói là tĩnh, có khi cắt
nghĩa tình hình hoạt động của tâm mà nói là động. Theo
lập trường vô ngã luận, tâm là hiện tượng, là quá trình
của những tác dụng phức hợp. Để thấy rõ chân tướng
của tâm, các luận sư A tỳ đàm đặc biệt thuyết minh những
yếu tố cấu thành tâm và mối quan hệ giữa những yếu tố
ấy. Tâm và tâm sở được phân tích rất tinh tế và tỉ
mỉ. Những nhân duyên quy định sự sinh khởi của tâm, sự
câu khởi hay kế khởi của những tác dụng tâm cũng được
thuyết minh rất tường tận.
Đặc
biệt là vấn đề nhận thức. Nhận thức là những tác dụng
nhân duyên, khi căn, cảnh hòa hợp thời một ý nghĩ (thức)
về cảnh tướng tức tượng trừu xuất phát hiện. Như vậy,
nhận thức hoàn toàn là một quá trình tâm lý. Nhận thức
cũng niệm niệm sinh diệt, tương tợ, tương tục từng sát
na, cũng gọi là tâm, cũng gọi là thức. Trong sự tương tục
ấy, niệm trước, niệm sau chưa hẳn là đồng nhất.
Thật
vậy, trong mỗi niệm hay sát na tâm, thức bao gồm trong nó
cả phần chủ thể lẫn phần đối tượng. Kiến phần và
tướng phần là hai phần thiết yếu không thể không có của
thức, của nhận thức. Hai phần này luôn luôn cùng sinh cùng
diệt, có phần này thời có phần kia, phần này không thời
phần kia không. Cảm giác phải luôn luôn là cảm giác về
một cái gì, tri giác phải luôn luôn là tri giác về một cái
gì, ý thức phải luôn luôn là ý thức về một cái gì. Không
thể có chủ thể riêng biệt với đối tượng. Chẳng hạn,
một sát na nhãn thức bao gồm một chủ thể (người thấy),
mối quan hệ (sự thấy), và đối tượng (vật thấy). Nhãn
thức không thể tồn tại nếu không có nhãn căn tức thị
quan và sắc trần tức hình sắc. Sự tiếp nối của những
chuỗi xúc chạm giữa các cảm quan sinh lý và đối tượng
vật lý của chúng tạo nên sự tiếp nối của những chuỗi
cảm giác mà ta gọi là thức. Thức như vậy là những dòng
tiếp nối của cảm giác, nếu ta nói về năm thức đầu,
hay của tri giác hoặc phân biệt, nếu ta nói về ý thức.
Sự
quán sát và phân tích của các luận sư A tỳ đàm cho thấy
không có một chủ thể bất biến cố định (“ngã”) trong
quá trinh niệm niệm sinh diệt không một khắc dừng nghỉ
của tâm. Nhưng đó là nói về chủ thể, còn đối tượng
thời sao? Và quan hệ thời sao? A tỳ đàm luận phân biệt
các tính chất vật lý là đối tượng của năm giác quan và
suy nghĩ là đối tượng của ý thức. Đó là phép phân tích
lưỡng biên chủ thể và đối tượng, kiến phần và tướng
phần. Có hai hệ quả đáng lưu ý. Một, sát na tâm được
nhiều bộ phái như Kinh lượng bộ (Sautràntika) chẳng hạn,
chủ trương là thực tại cứu cánh. Luận sự có câu: “Hết
thảy các pháp tồn tại trong một sát na tâm”. Hai, vô ngã
trong A tỳ đàm luận là ngã không, hay sinh không, chứ không
phải là sinh pháp câu không, cả sinh không lẫn pháp không.
Bởi thế ngoại giới là một thực thể khách quan và độc
lập.
Đối
với ngài Long Thọ, ngoài yếu tố khách quan không có yếu
tố chủ quan, ngoài yếu tố chủ quan không có yếu tố khách
quan; ngoài khách quan thời quan hệ cũng không có, mà quan hệ
đã không có thời nhận thức cũng không thể có được. Nói
như thế không có nghĩa là khẳng định hay phủ định sự
hiện hữu của sự vật. Mọi sự vật đều đồng thời câu
khởi, đồng thời hỗ nhiếp, và đồng thời hỗ dung. Nghĩa
là, đúng theo lý duyên khởi không có sự vật nào hiện hữu
độc lập, có sẵn định tánh nơi bản thể của nó, và mọi
sự vật đồng thời hiện khởi, nương tựa lẫn nhau, ảnh
hưởng lẫn nhau, cái này không chướng ngại sự hiện hữu
và hoạt động của những cái kia. Tóm lại, theo ngài Long
Thọ, "Chưa từng thấy có bất cứ pháp nào không sanh từ
nhân duyên. Thế nên tất cả các pháp đều Không, nghĩa là
không có tự tính." (Trung luận XXIV.19: Vị tằng hữu nhất
pháp/ Bất tùng nhân duyên sinh./ Thị cố nhất thiết pháp/
Vô bất thị không giả.//)
Để
phản bác chủ trương sự vật có tự tính của đối phương,
ngài Long Thọ thường sử dụng phép phản chứng (reductio ad
absurdum), thuận theo lý lẽ của họ, đưa ra những lý do mà
họ công nhận dù Ngài không đồng ý, rồi từ đó chỉ cho
họ thấy lỗi lầm của họ. Trong Trung luận, luận chứng
của Ngài chú trọng vào ba trường hợp phân biệt: phân
biệt chủ thể, đối tượng, và quan hệ nhận thức (Phẩm
3: Quán Lục tình), phân biệt nguyên nhân, quả dẫn xuất,
và quan hệ nhân quả (Phẩm 4: Quán Ngũ ấm), và phân biệt
vật thể, thuộc tính, và quan hệ định nghĩa (Phẩm 5: Quán
Lục chủng và Phẩm 6: Quán Nhiễm Nhiễm giả). Đại khái
luận chứng được trình bày như sau.
(1)
Nếu chủ thể và đối tượng, nguyên nhân và quả dẫn xuất,
vật thể và thuộc tính, tất cả hiện hữu độc lập nhau
như ta thường tưởng, hay tự hữu một cách tuyệt đối như
là những yếu tố căn bản dùng làm lý chứng cho sự phân
tích tâm và vật, thời tất nhiên chúng không phụ thuộc vào
bất cứ điều kiện hay quan hệ nào. Sự hiện hữu như vậy
là hiện hữu có tự tính.
(2)
Kinh nghiệm cho thấy không tìm đâu ra những hữu có tự tính.
(3)
Vậy mọi sự vật đều do duyên sinh. Tất cả đều vô tự
tính, tất cả là Không.
Có
người hỏi: "Được rồi, ai cũng thấy thế giới và cái
ta biến đổi trong từng sát na, có ai bảo thế giới và cái
ta là thường hằng đâu? Ai cũng thấy mọi sự vật đều
nương vào nhau mà đồng thời hiện khởi, có ai bảo chúng
hiện hữu độc lập riêng biệt đâu? Thế thời thử hỏi
tu tập phỏng có lợi ích gì?"
Trả
lời: “Theo cách đặt câu hỏi thời rõ ràng sự thấy biết
nói đến trong câu hỏi không do tu tập, nghĩa là không do chính
mình tự quán sát và phân tích mà có. Có thể là do tin tưởng
qua một quyền lực ngoại vi nào, hoặc qua những hình ảnh
trong tâm do danh từ gợi ra, hoặc do nương tựa nơi sự thấy
biết của tha nhân. Phải có những kinh nghiệm tâm linh cá
nhân sống động và thực thụ, phải tinh tấn tu tập triển
khai tuệ quán vào tánh Không thời mới thể nghiệm được
cái sức mạnh lớn lao của vọng tưởng hý luận gây nơi
ta sự bám víu chấp trước vào cái hình tượng huyễn ảo
về cơ sở cố định của một cái ngã có thực và riêng
biệt, của một thế giới có thực và riêng biệt, và của
một quan hệ chân thực giữa ngã và thế giới.”
Ngài
Long Thọ đả phá triệt để những tư duy trừu tượng và
những luận giải thuần lý luôn luôn dính mắc vào chấp ngã
chấp pháp. Trung luận trình bày rất cặn kẽ vấn đề tiêu
diệt vọng tưởng hý luận và khẳng định công phu tu chứng
là phương tiện duy nhất để thấy cái như thực. Số đông
triết gia Tây phương cho rằng thế giới thực tế của kinh
nghiệm là của trí thức quần chúng, không đáng bỏ công
nghiên cứu. Ngược lại, Trung luận cho thấy rằng cuộc sống
và thế gian thế nào thời đức Phật thấy y thế ấy, không
dụng công diễn dịch chúng theo ý riêng. Lẽ cố nhiên, về
mặt nhận thức luận, ta không thể không ghép liền cái chủ
quan vào mỗi hành vi nhận thức, và cái gọi là thế giới
khách quan chẳng qua chỉ là một sự tái tạo hư giả của
tâm tưởng cố hữu của ta. Nhưng trên quan điểm tánh Không
thời tự do tuyệt đối chỉ đạt được khi mọi tư tưởng
chấp ngã chấp pháp hết xen vào cuộc sống. Thế gian được
nhận thức đúng như thực, như tấm gương thấy sao chiếu
vậy, “hoa qua chiếu hoa, nguyệt qua chiếu nguyệt”.
Trong
Phẩm 4: Quán Ngũ ấm, ngài Long Thọ dặn dò rất kỹ là khi
giải đáp hay khi đặt câu hỏi thời phải y cứ trên tánh
Không, nếu không thời người đáp hay người hỏi mắc phải
lỗi lầm lấy giả định làm luận cứ giảo biện (petitio
principii):
IV.8.
Khi phân tích y cứ trên tánh Không, bất cứ người nào phản
bác, thời những diều người này không phản bác đúng là
những điều cần phải được chứng minh.
IV.9.
Khi giải thích y cứ trên tánh Không, bất cứ người nào nạn
vấn, thời những diều người này không nạn vấn đúng là
những điều cần phải được chứng minh.
(Bản
chữ Phạn: IV.8. Vigrahe yah parihàram krte sùnyatayà vadet,/ Sarvam
tasyàparihrtam samam sàdhyena jàyate.//
IV.9.
Vyàkhyàne ya upàlambham krte sùnyatayà vadet,/ Sarvam tasyànupàlabdham
samam sàdhyena jàyate.//)
Lấy
giả định làm luận cứ giảo biện có nghĩa là luận chứng
của đối phương phản bác quan niệm sự vật vô tự tính
luôn luôn tựa vào tiền đề là “Có những hiện tượng
hoàn toàn độc lập và sinh khởi không có nguyên nhân, hoặc
sinh khởi từ một hiện tượng khác có tự tính.” Vì vô
minh từ nguyên thỉ, đối phương đâu có biết tiền đề
ấy chỉ là giả định, nghĩa là điều cần phải được
chứng minh! Nhưng chắc chắn đối phương không thể chứng
minh hiện tượng có tự tính được.
Bởi
vì không những kinh nghiệm cho thấy không tìm đâu ra những
hữu có tự tính mà ngay trong bài tụng đầu tiên, Phẩm I:
Quán Nhân duyên, ngài Long Thọ đưa ra đầy đủ lý do bác
bỏ hết thảy mọi lối nhìn điên đảo cho rằng các pháp
duyên khởi có yếu tính quyết định và luận phá tất cả
mọi kiến giải sai lầm về sự sinh khởi của các pháp do
tác dụng của năng lực dẫn sanh quả từ tự thể hay từ
nơi tự tính của vật thể khác. Sự sinh khởi không thật
có giữa hai vật thể đồng nhất hay sai khác. Ngôn ngữ và
luận lý không đủ khả năng giải thích tánh phi nhất phi
dị tức tánh Không của sự sinh khởi. Từ quan điểm Bát
nhã, sinh khởi chỉ là danh tự giả tướng.
Như
vậy, do tu tập thiền định mà khám phá ra trước tiên là
tuy không tìm thấy "ngã" nhưng vẫn thấy có tâm thức để
nhận diện sự phát sinh, có mặt, và tàn hoại của những
hiện tượng tâm lý (tâm sở), mặc dầu chỉ trong chớp nhoáng
của một sát na. Nhưng tiếp theo sau đó, ngay cả tâm thức
cũng không thấy có. Và vì tâm thức là cái gì đó riêng biệt
và thông hiểu thế giới hiện tượng, cho nên khi không có
tâm thức thời cũng không có thế giới! Cả hai cái mốc chủ
quan và khách quan đều không có. Ngay cả quan hệ nhận biết
cũng không có bởi vì chẳng bao giờ có sự vật gì bị che
dấu trong toàn vũ trụ (Thiên giới bất tằng tàng), nghĩa
là ngoài tâm thức và thế giới không có cái thứ ba.
Nhưng
cái thế giới ta sinh sống trong đó hiện ra sờ sờ trước
mắt hằng ngày thời sao? Mỗi cá nhân vẫn có một tên gọi,
có công ăn việc làm, có kỷ niệm, có những dự tính muốn
thực hiện. Mặt trời vẫn mọc mỗi sáng và các nhà khoa
học vẫn gia công giải thích sự kiện đó. Có thể dùng thuyết
Nhị đế của ngài Long Thọ để giải đáp thắc mắc này.
Nhị đế được trình bày trong ba bài tụng Trung luận XXIV.8,
9, và 10 sau đây.
XXIV.8.
Vì chúng sanh, chư Phật đã y cứ vào Nhị đế (hai chân lý)
để thuyết giảng giáo pháp. Nhị đế đó chính là Thế tục
đế và Đệ nhất nghĩa đế (còn gọi là Chân đế).
XXIV.9.
Người nào đối với Nhị đế mà không có khả năng tri nhận,
phân biệt thời kẻ đó không thể tri nhận được ý nghĩa
chân thật của giáo pháp sâu xa vi diệu của chư Phật.
XXIV.10.
Nếu không y cứ Tục đế, thời không đạt được Đệ nhất
nghĩa đế. Và nếu không đạt được Đệ nhất nghĩa đế
thời không chứng được quả vị Niết bàn.
Theo
thuyết Nhị đế, thế tục đế hay sự thật theo quy ước
thông tục là trật tự của thế giới thường nghiệm. Trong
thế giới thường nghiệm này, tâm thức và thế giới vật
lý không ngừng câu khởi, liên tục quan hệ nhau trong cả không
gian lẫn thời gian, có những thứ như tên gọi, công ăn việc
làm, kỷ niệm, dự tính, mặt trời và chuyển động của
nó, các công trình khảo cứu, v.v... Chân đế hay Đệ nhất
nghĩa đế là tánh Không của chính cái thế giới thường
nghiệm đó. Như vậy, mặc dầu theo Chân đế, các hiện tượng,
tâm hay vật, là duyên khởi như huyễn, không có tự tính,
nhưng theo thế tục đế, chúng có, chúng là giả hữu, là
danh tự giả tướng.