22. Tâm
thức, Toán học, và Thế giới
A. Tâm thức
và Máy tính.
Kế
toán và tâm thức.
Trong
mấy thập niên mới đây, nhờ học hỏi kinh nghiệm nơi các
bậc Thiền đức các nhà thần kinh học đạt nhiều tiến
bộ đáng kể trong công trình tìm hiểu não bộ ảnh hưởng
những hoạt động tâm lý như thế nào. Nhưng họ vẫn còn
mờ mịt về cội nguồn và bản tính của những tác dụng
nội tâm. Họ không có phương tiện khách quan nào để phát
hiện sự có mặt của tâm thức trong thai đang phát triển
hay trong người lớn. Đối với họ, tâm thức hay tánh biết
là sản phẩm của não trong quá trình tiến hóa, không có tự
ngã hay linh hồn huyền bí nào chủ tể cả. Nhưng phát sinh
như thế nào, thời họ hoàn toàn không giải thích được.
Một số tin rằng tất cả mọi quá trình hoạt động tâm
lý đều diễn biến bên trong tầng sâu thẳm nhất của hệ
thần kinh. Họ chưa tìm ra cách nào để trực tiếp thấy biết
quá trình tâm, ngoại trừ quán sát tâm thông qua những mẫu
hình cọng hưởng của các mạch neuron. Cái thế giới ta nhận
thức, cái thế giới não trưng bày cho ta thấy chỉ là một
bức ảnh đã được các mạch neuron ấy tô điểm lại chứ
không phải nguyên bản. Đo lường các tác dụng của tâm thời
cũng chỉ đo lường được những biến chuyển đã được
truyền dẫn hiện khởi lên ở bề mặt trên của hệ thần
kinh mà thôi.
Phải
vin vào các mẫu hình cọng hưởng của các mạch neuron để
biểu hiện quá trình tâm là vì khi các cấu chất của não
liên tục sinh diệt và khi các đường dây neuron không ngớt
thay đổi thời cuối cùng chỉ có mẫu hình biến chuyển là
tồn tại. Gọi các mẫu hình này là mẫu hình cọng hưởng
bởi tại chúng hình thành do sự cọng hưởng của tần số
các xung động neuron xuyên qua các mạch não. Trong thực tế
mạng lưới não biến chuyển quá nhanh chóng và quá phức tạp.
Riêng vỏ não hiện nay ước lượng có phỏng chừng 100 tỉ
neuron (số 1 đèo theo 11 zero). Nếu làm toán để tính hết
thảy mọi cách chúng có thể nối kết nhau thời số tổ hợp
nối kết khi viết ra cần đến hàng triệu zero đứng sau số
1. Cho rằng mỗi tổ hợp tương ứng với một phương cách
não nhận thức, như thế đủ thấy khả năng nhận thức của
não bao gồm một số hình thái nhận thức lớn hơn cả tổng
số các dương điện tử hiện có trong vũ trụ. Nhưng đó
mới là khởi điểm của phức độ. Các neuron dùng tín hiệu
điện và hóa chất để truyền thông với nhau. Khắp não bộ,
cứ mỗi giây, từ neuron này đến neuron khác hàng triệu tín
hiệu được bắn ra. Kết quả là mạng lưới não tự phối
trí, điều hợp trạng thái cọng hưởng thích nghi với bên
ngoài từng sát na, mau lẹ hết sức tưởng tượng.
Nhà
toán vật lý học Roger Penrose, giáo sư Đại học Oxford, Anh
quốc, phản bác lý thuyết của các khoa học gia nặng đầu
óc duy vật cho rằng tâm thức là hiện tượng ngoại vi (epiphenomenon),
tức sinh khởi từ hoạt động của các neuron trong vỏ não
nhưng không có quyền năng kiểm soát các hoạt động neuron
ấy. Theo thuyết ngoại vi hiện tượng, neuron đảm trách hết
mọi việc mà không bao giờ hỏi ý kiến chúng ta, kể cả
những việc liên can ý chí tự do và trách nhiệm cá nhân như
chọn lựa và quyết định. Theo Penrose, nếu biểu hiện tâm
thức như là mạng lưới não phức tạp gồm các đường dây
nối kết neuron và các diện tiếp hợp thời vấp phải vấn
đề là não có nhiều bộ phận không liên hệ tâm thức. Tiểu
não (cerebellum) chẳng hạn, một bộ phận nằm phía sau hai
bán cầu não (cerebrum; đại não), thay thế đại não hoạt
động sau khi một cơ vận được luyện tập đến mức tinh
thông, không cần đến ý thức hay tư duy. Ví như khi mới học
lái xe, cần chú ý nhiều đến những động tác sử dụng
tay lái, đạp thắng, tăng tốc độ, v..v... thời cần vận
dụng vỏ não rất nhiều. Nhưng khi lái xe thuần thục rồi
thời mọi cơ vận trở nên tự động. Đây là lúc tiểu não
xen vào thay thế vỏ não điều khiển, phối hợp, và hoàn
thành mọi cơ vận không cần đến ý thức nữa. Điều đáng
lưu ý ở đây là neuron tác dụng vô ý thức của tiểu não
có số lượng bằng nửa số lượng neuron của đại não.
Ngoài ra, số lượng diện tiếp hợp trong tiểu não và trong
vỏ não xấp xỉ giống nhau. Vậy nếu tâm thức hoán khởi
từ neuron và các diện tiếp hợp theo quan niệm ngoại vi hiện
tượng thời tại sao ý thức lại hoàn toàn vắng mặt trong
tác dụng của tiểu não?
Trong
tác phẩm Bóng của Tâm (Shadows of the Mind) luận bàn về sự
cần triển khai một khoa vật lý học mới để xây dựng một
lý thuyết khoa học về tâm thức, Penrose đề cập vấn đề
khả năng của người máy (robot) và hệ trí khôn nhân tạo
(artificial intelligence) về mặt tâm, ý, thức. Mỗi miếng tích
hợp (chip) hiệu Intel Pentium kích thước chỉ bằng móng tay
mà gồm hàng triệu transistor, mỗi transistor có năng lực thi
hành chu đáo hàng trăm triệu lệnh mỗi giây. Bởi vậy trong
trường hợp phải quyết định chọn lựa một trong nhiều
cách hành động và cần dự đoán những hậu quả có thể
xảy đến với mỗi và mọi cách hành động, các máy tính
trở nên rất cần thiết để lượng định mọi hậu quả
khả dĩ xảy ra với mỗi mỗi hành động. Não người không
thể tính toán nhanh chóng và chu toàn như máy tính. Đó là
nguyên nhân vì sao một số khoa học gia tin tưởng trong tương
lai mức độ thông minh của máy tính sẽ tăng trưởng vượt
bực, hơn hẳn con người. Họ bằng vào sự phát triển năng
lực kế toán của máy tính đang lũy tiến và đem so với sự
phát tín hiệu của các neuron trong não bộ thời các transistor
tính toán nhanh chóng và chính xác gấp bội. Mỗi giây, transistor
thực hiện một ngàn triệu phép tính, còn neuron thời chỉ
thực hiện chừng một ngàn phát xạ mà thôi. Thời gian và
mức chính xác của các tác động được máy tính lượng
tính vô cùng xác đáng. Ngoài ra, so với các mạch đường
dây liên kết neuron thuộc loại chăng mềm (soft-wired) có tính
cách ngẫu nhiên, các mạch điện tử trong máy tính được
tổ chức có tính cách cân nhắc và tinh mật hơn.
Họ
biết rằng trong hiện tại, não bộ có nhiều điểm ưu thắng.
Tổng lượng neuron trong não lên đến hàng trăm ngàn triệu,
bỏ xa số lượng transistor trong máy tính. Hơn nữa, đường
dây nối kết giữa các neuron trung bình nhiều gấp bội so
với số nối kết giữa các transistor trong một máy tính. Chẳng
hạn, tế bào Purkinje trong tiểu não, một loại tế bào lớn
có chức năng tham gia quá trình cá nhân học hỏi những cơ
vận mới, có đến 80 ngàn diện tiếp hợp trong lúc transistor
của máy tính chỉ có từ ba đến bốn mà thôi. Tuy nhiên,
họ tin rằng do công nghệ phát triển, các dây nối và transistor
sẽ được thay thế bằng những thiết bị điều khiển laser
và phương cách ghép song song các hệ máy tính sẽ được triển
khai để máy tính không còn thua kém não bộ trên phương diện
số lượng neuron và số lượng diện tiếp hợp.
Một
số câu hỏi được nêu ra. Xét máy tính về phương diện
tâm thức, những điều đáng quan tâm có thật chỉ có các
vấn đề sau đây mà thôi: năng lực kế toán, khả năng vận
hành nhanh chóng và chính xác, độ lớn dung lượng của bộ
nhớ, hay tổ chức tinh vi sơ đồ nối kết các transistor? Mặt
khác, có thể nào xảy ra trường hợp một số tác dụng của
não bộ không thể dùng kế toán để mô tả? Những cảm giác
ý thức được như hạnh phúc, đau khổ, tình yêu, ý chí,...
đặt vào chỗ nào trong máy tính? Trong tương lai, máy tính
có thể nào bao gồm cả tâm thức? Nếu quả có tâm thức,
thời tâm thức thật có ảnh hưởng trên tập tính hay không?
Dùng ngôn ngữ khoa học để bàn luận về tâm thức có hợp
lý không? Hay là khoa học thật sự bất lực không khảo sát
và phân tích nổi những vấn đề liên hệ tâm thức?
Penrose
phân biệt có ít nhất bốn quan điểm khác nhau, hay nói đúng
hơn, có bốn kiến giải cực đoan về quan hệ giữa kế toán
(computation) và tâm thức (mind/consciousness).
Quan
điểm A: Suy tưởng là kế toán. Riêng cảm giác về tri thức
(feelings of conscious awareness) thời có thể hoán khởi bằng
cách thực hiện những kế toán thỏa đáng.
Quan
điểm B: Nhận biết (awareness) là một tác động vật lý của
não. Tuy có thể mô phỏng trên máy tính mọi tác động vật
lý của não, nhưng mô phỏng trên máy tính tự nó không thể
hoán khởi sự nhận biết được.
Quan
điểm C: Tác động vật lý thỏa đáng của não có thể hoán
khởi sự nhận biết. Tuy nhiên, không thể mô phỏng tác động
vật lý ấy trên máy tính một cách thích đáng được.
Quan
điểm D: Sự nhận biết không thể giải thích bằng những
ngôn từ vật lý, kế toán, hay khoa học nào khác.
Hai
quan điểm, B và C, đều tin rằng cấu tạo vật chất của
não là yếu tố căn bản trong sự định đoạt có hay không
có tâm thức. Tâm thức nếu hiện hữu thời hiện hữu tương
quan tương duyên với chất liệu của não. Nghĩa là chúng nương
vào nhau tương đãi tương thành, chứ không phải chất liệu
của não tác động mà “sinh ra” tâm thức.
Chấp
nhận quan điểm D tức là phủ nhận hoàn toàn lập trường
của các nhà khoa học duy vật và chủ trương tâm thức không
thể giải thích bằng ngôn ngữ khoa học. Do đó, những người
phái D được sắp thuộc phái huyền bí. Đối lập quan điểm
D là quan điểm A. Trong phái A tuy có những ý kiến khác nhau
về tâm thức và nhận biết, về có hay không có hiện tượng
gọi là tri thức, về tác động như thế nào mới gọi là
kế toán hay thực hiện kế toán, nhưng tựu trung hết thảy
đều chấp nhận thế giới vật chất vận hành theo luật
tắc kế toán. Những người thiên kiến A không lưu tâm đến
chất liệu cấu tạo cái vật thể đang tác dụng suy tưởng.
Đối với họ chính kế toán vật thể ấy đang thực hiện
mới xác định các hoạt động tâm thức. Các phép tính toán
là những mảnh phần của toán học trừu tượng, không dính
líu đến vật thể riêng biệt nào cả. Do đó, phái A chỉ
chú trọng đến kế toán là những hoạt dụng trừu tượng
toán học và cho rằng tâm thức hoàn toàn không liên hệ vật
chất.
Chữ
kế toán (computation) thường được hiểu là hoạt động tính
toán của một máy tính thông dụng. Nhưng muốn chính xác hơn,
Penrose nói đó là tác dụng của một máy Turing, tức là một
máy tính lý tưởng không bao giờ lỗi lầm, vận hành bao lâu
cũng được, nhờ có một bộ nhớ vô cùng rộng lớn. Ngoài
ra, ở đây chữ kế toán có thể thay thế bằng chữ thuật
toán (algorithm), có nghĩa là phép diễn toán hoặc được tổ
chức theo đúng một thủ tục thiết kế rõ ràng và cố định
đưa đến một giải đáp minh bạch (top-down procedure; thủ
tục chóp xuống), hoặc sử dụng một thủ tục nhằm vận
dụng hệ thống cải tiến hiệu năng tùy thuộc kinh nghiệm
học hỏi của máy (bottom-up procedure; thủ tục đáy lên).
Theo
quan điểm A, vũ trụ là một máy tính khổng lồ. Nó có thể
thực hiện những chương trình con (subprogram) thích đáng để
dẫn khởi những cảm giác tri thức, tạo nên cái gọi là
tâm thức. Quan điểm này phát xuất từ sự tin tưởng vào
hiệu lực của phương pháp mô phỏng trên máy tính (computer
simulation) và phần nào cũng do quan niệm các hiện tượng vật
chất chỉ là những mẫu hình thông tin (patterns of information).
Những mẫu hình này tuân theo những luật tắc kế toán. Hầu
hết chất liệu trong cơ thể và não bộ được thay thế liên
miên, cái tồn tại là những mẫu hình của chúng. Ngoài ra,
vật chất cũng biến chuyển, thay đổi từ dạng này sang dạng
khác. Ngay cả khối lượng (mass) là độ đo chính xác đại
lượng vật chất chứa trong vật thể có thể chuyển hóa
thành năng lượng thuần túy trong nhiều trường hợp thích
đáng. Như vậy, vật chất cấu tạo não cũng có thể chuyển
biến thành một hiện thực toán học hoàn toàn lý thuyết.
Cơ học lượng tử cũng xác quyết rằng các hạt vật chất
toàn là những sóng thông tin (waves of information). Tóm lại,
vật chất chính nó cũng mơ hồ, vô thường, như huyễn. Do
đó, có lý do mà nói rằng sự tồn tại của cái “ngã”
(self) xét ra liên hệ với sự tồn tại của các mẫu hình
(ngũ uẩn) nhiều hơn là với sự tồn tại của các hạt vật
chất hiện hữu (tứ đại).
Đối
với phái A, nếu một người máy do máy tính điều khiển
thông qua thử nghiệm Turing, tức phản ứng và trả lời những
câu hỏi đặt ra cho nó giống như người thật, nghĩa là hành
động như thể có tâm thức, thời nó đương nhiên được
công nhận là có tâm thức. Phái B không đồng ý. Một người
máy không tâm thức vẫn có thể hành động như một người
có tâm thức. Tiến trình vật lý được mô phỏng trên máy
tính là tiến trình biểu tượng, không phải là tiến trình
thực tại. Chẳng hạn, sự mô phỏng một cơn bão trên máy
tính chắc chắn không là cơn bão. Tuy vậy, cả hai phái A và
B đều công nhận người máy do máy tính điều khiển có thể
hành động như người có tâm thức. Đó là điểm khác biệt
với phái C. Theo phái này, không bao giờ có thể mô phỏng
một người có tâm thức trên người máy do máy tính điều
khiển. Nơi một người máy hành động tưởng như người
có tâm thức, sự thiếu vắng tâm thức cuối cùng thế nào
cũng lộ diện nếu kéo dài thời gian hạch hỏi.
Theo
B, sự có mặt hay thiếu vắng tâm thức tùy thuộc vật thể
nào là chủ thể đang suy tưởng và tùy thuộc những tác động
vật lý riêng biệt nào chủ thể ấy là tác nhân. Chẳng hạn,
nếu não sinh học là chủ thể đang suy tưởng và tác động
dẫn khởi tri giác, thời đây là trường hợp có tâm thức.
Trái lại, khi mô phỏng tác động vật lý của não trên máy
tính, thời chủ thể suy tưởng là chương trình máy tính và
tác động suy tưởng là thực hiện những phép tính, không
có gì chứng minh sự có mặt của tâm thức. Như vậy, điều
quan trọng nhất ở đây đáng quan tâm là thể trạng chất
liệu của vật thể chứ không phải tác động tính toán của
nó.
Tâm
thức bất khả kế toán.
Penrose
thiên về kiến giải C, cho rằng đối với ba quan điểm kia
quan điểm C gần đúng chân lý nhất. Theo C, những vật thể
có tâm thức như não bộ chẳng hạn, biểu hiện bên ngoài
những tướng trạng sai khác với những tướng trạng máy
tính biểu hiện bên ngoài. Vì thế nên không thể mô phỏng
những tác quả biểu lộ bên ngoài của tâm thức trên máy
tính một cách thích đáng. Penrose chấp nhận quan điểm cho
rằng tướng hiện khởi của tâm thức là nương vào tác động
của một số vật thể, như của não, mặc dầu không bắt
buộc chỉ của não mà thôi. Tuy nhiên, các tác động vật
lý hoán khởi tâm thức không thể mô phỏng một cách đích
xác trên máy tính được.
Thử
hỏi trong vật lý học hiện đại có một tác động nào khả
dĩ phát hiện mà trên nguyên tắc không mô phỏng được trên
máy tính hay không? Thật sự, hiện giờ chưa có bằng chứng
toán học nào trả lời dứt khoát câu hỏi đó. Tuy nhiên theo
Penrose, một tác động như vậy có thể tìm thấy trong cảnh
giới vật lý học nằm ngoài sự kiềm tỏa của các định
luật vật lý hiện có. Trong sách Bóng của Tâm, ông đưa ra
những luận chứng toán học và vật lý học để biện minh
một lý thuyết khoa học về tâm thức cần một lối nhìn
mới, một phép quán chiếu mới để thông đạt cảnh giới
nằm giữa thế giới vi mô vận hành theo những luật tắc
của cơ học lượng tử và thế giới vĩ mô vận chuyển theo
những định luật của vật lý cổ điển và của thuyết
tương đối. Ông nghĩ rằng chính đó là cảnh giới của tâm
thức.
Nói
rằng cần phải thoát ra khỏi cảnh giới hiểu biết của
khoa học hiện đại để tìm cách giải thích hiện tượng
tâm thức không có nghĩa là Penrose chấp nhận quan điểm D.
Thật ra, hai kiến giải C và D hoàn toàn sai khác về mặt phương
pháp luận. Theo C, vấn đề tâm thức là một vấn đề khoa
học, mặc dầu khoa học hiện đại bất lực và một khoa
học mới thỏa đáng để giải quyết vấn đề đang còn là
dự tưởng. Khác hẳn với quan điểm D xác quyết khoa học
không giải quyết nổi vấn đề tâm thức.
Bốn
kiến giải A, B, C, và D là những thiên kiến cực đoan. Lẽ
cố nhiên, có nhiều quan điểm nằm giữa hay tổ hợp hai trong
bốn thiên kiến nói trên. Chẳng hạn, kiến giải tổ hợp
A và D chủ trương rằng não bộ tác động như một máy tính,
nhưng là một máy tính quá xảo diệu nên đó là một sáng
tạo của Đấng tạo hóa chứ con người và khoa học không
thể mô phỏng trên máy tính được, nghĩa là mọi tác động
của não bộ đều bất khả kế toán.
Để
có một ý niệm rõ ràng về tính bất khả kế toán, tưởng
cũng nên nêu ra đây thí dụ về một bài toán không thể giải
trên máy tính: bài toán số 10 của Hilbert. Năm 1900, nhà toán
học Đức David Hilbert đưa ra trước Hội nghị Quốc tế Toán
học 23 bài toán chưa có lời giải, những bài toán này là
động cơ thúc đẩy sự phát triển nhiều ngành toán học
mới trong thế kỷ 20. Bài toán thứ mười đặt vấn đề
là “tìm một thuật toán (algorithm) tức một thủ tục diễn
toán để quyết định khi nào một hệ thống phương trình
Diophantos có lời giải.” Đại khái chỉ cần biết Diophantos
là tên một toán gia Hy lạp sống vào thế kỷ 3, người đã
chuyên nghiên cứu những hệ thống phương trình đa thức với
hệ số toàn là số nguyên và đòi hỏi các lời giải phải
là số nguyên.
Nếu
có một thuật toán giải đáp bài toán số 10 thời máy tính
sẽ vận hành cho đến khi thuật toán quyết định dứt khoát
một hệ thống phương trình Diophantos hoặc có hoặc không
có lời giải. Trong trường hợp thuật toán không thể lấy
quyết định thời máy tính sẽ vận hành mãi mãi không ngưng.
Sự tìm kiếm một thuật toán như vậy tất nhiên dẫn đến
bài toán gọi là bài toán đình lưu (the halting problem): “Hãy
xác định trong trạng huống nào một máy tính Turing hoạt
động liên tiếp tự nó không ngưng lại được.” Mãi đến
năm 1970 bài toán thứ mười của Hilbert mới được nhà toán
học Nga Yuri Matiyasevich tìm ra lời giải: Không thuật toán
nào đủ khả năng quyết định một cách máy móc một hệ
thống phương trình Diophantos có hay không có đáp số.
Bài
toán số 10 và bài toán đình lưu là thí dụ về những bài
toán bất khả kế toán, nghĩa là không thể dùng máy tính
mà giải được. Điều đáng lưu ý ở đây là có những phép
diễn toán ta biết được là không bao giờ ngưng, thế mà
không tìm ra một thuật toán nào đủ khả năng xác định
những phép diễn toán ấy không bao giờ ngưng!
Kiến
giải C chủ trương sự nhận biết (awareness) là do một tác
động vật lý thỏa đáng hoán khởi, và không một phép kế
toán nào khả dĩ mô phỏng tác động ấy. Theo Penrose, nhận
biết là điều kiện cần để tựu thành sự thông hiểu (understanding)
và sự thông hiểu là điều kiện cần của tánh thông minh
(intelligence). Ông nhấn mạnh cần phải hiểu “thông minh”
là thông minh có nhận biết, có thông hiểu như vậy thời
mới không ngộ nhận với từ thông minh dùng trong cụm từ
“thông minh nhân tạo” (Artificial Intelligence hay viết tắt
AI) để chỉ bất kỳ hoạt động nào thực hiện mô phỏng
(simulation) bằng kế toán. Bởi thế cho nên nhằm biện minh
cho kiến giải C, thay vì tìm cách chứng minh rằng nếu một
tác động vật lý hoán khởi sự nhận biết và do đó, sự
thông hiểu, thời tác động ấy không thể mô phỏng trên
máy tính được, Penrose chứng minh có một sự thể nào đó
liên hệ đến sự thông hiểu của con người không thể mô
phỏng bằng bất cứ phép kế toán nào, và như vậy, chứng
tỏ không có hệ trí khôn nhân tạo nào khả dĩ mô phỏng
tâm thức.
Tâm
thức, theo ông, gồm hai mặt. Một tiêu cực, đó là sự nhận
biết. Một tích cực, đó là cảm giác về ý chí tự do. Ý
nghĩ của ông đúng là sự nhận xét về cái bản chất mâu
thuẫn cố hữu của cuộc đời do lý tính con người phát
kiến. Con người sinh ra tất phải có già và chết, đó là
lẽ tự nhiên. Nhưng con người muốn trẻ mãi không già, sống
hoài không chết. Như thế, một mặt, nhận biết tính cách
vô thường của vạn pháp vận hành theo những định luật
thiên nhiên và thông hiểu sự sống còn của mình là phải
khuất phục những định luật tất nhiên ấy. Song mặt khác,
con người còn có cuộc sống tinh thần lấy tự do làm đặc
tướng, muốn dùng ý chí tự do của mình để thoát ra khỏi
vòng kiềm tỏa của các định luật thiên nhiên ác nghiệt.
Một mặt đành chịu khuất phục sự ràng buộc của luật
thiên nhiên và mặt kia muốn chống lại thiên nhiên để thực
hiện cái ý chí tự do của mình, sự mâu thuẫn cố hữu đó
hoàn toàn do kết quả của sự trấn áp tinh thần mà có. Chính
nó là nguồn gốc của cái khổ mà đức Phật thường xuyên
khuyến khích tu dưỡng để đoạn diệt. Đây không phải là
cái khổ do cảm giác trực tiếp cảm nhận. Vì nhận thức
do cảm giác, thời không những chỉ có khổ, mà còn có vui,
và cũng có trạng thái không khổ, không vui, và như vậy nhận
thức về khổ hay vui rất dễ tiêu tán tùy theo nhịp độ
của khổ hoặc vui qua đi.
Sự
mâu thuẫn cố hữu này không chỉ tồn tại giữa thiên nhiên
và tinh thần con người mà còn xảy ra ngay trong tự thể của
đời sống tinh thần nữa. Thật vậy, tâm gồm ba yếu tố
là trí, tình, và ý. Tình, ý tự lấy nó làm trung tâm rồi
nhất thiết theo đó mà phán đoán tốt, xấu. Trái lại, trí
thời quên mình mà thích ứng với đối tượng. Tác dụng
tâm lý này tuy thường có thể thỏa hiệp, nhưng cũng có lắm
trường hợp tình, ý lôi cuốn đàng này, trí trì kéo về
đàng khác, và trở nên xung đột kịch liệt khiến cho nội
tâm bất an, gây một nỗi khổ não âm thầm, làm cho thâm tâm
trực nhận một cái gì dày vò khó tả.
Về
mặt tích cực của tâm thức, cảm giác về ý chí tự do đưa
đến hành động. Những hoạt động ý chí tương ưng với
một số tác động vật lý đặc thù của não. Trong tâm lý
Phật giáo, về mặt hoạt động, tâm thức được biểu hiện
bằng nhiều danh từ như dục, tư, hành, nghiệp,... Tựu trung,
danh từ được dùng nhiều nhất và có ý nghĩa rộng nhất
là “hành”.
Nói
đến sự thông hiểu do nhận biết tức là đề cập vấn
đề tâm thức trên phương diện tiêu cực. Penrose đưa ra những
luận cứ nhằm nêu rõ có một “cái gì đó” liên hệ đến
sự thông hiểu mà không thể mô phỏng bằng kế toán. Để
trình bày vấn đề một cách cụ thể và chính xác, ông chọn
sự thông hiểu toán học làm thí dụ về “cái gì đó”
và chứng minh sự thông hiểu toán học là “cái gì đó”
không thể dùng thuật toán mô phỏng. Theo ông, mọi hoạt dụng
như là chơi cờ, tiên đoán thời tiết,... dẫu phức tạp
đến mức nào đi nữa, nhưng nếu thông hiểu được bằng
những phép kế toán minh xác, thời đều thuộc phạm vi thực
dụng của máy tính. Chính sự thông hiểu về cơ bản của
các luật tắc kế toán mới là cái gì đó vượt quá khả
năng kế toán của máy tính.
Tưởng
cũng nên nhắc lại rằng “bất khả kế toán” là nói về
sự bất lực mô phỏng của bất kỳ máy tính nào được
thiết lập căn cứ trên các nguyên tắc luận lý cơ bản của
hết thảy mọi thiết bị điện tử hay cơ giới hiện có.
Tuy nhiên, khái niệm tác động bất khả kế toán không hàm
ý một cái gì đó vượt khỏi quyền năng của khoa học và
toán học. Nó ám chỉ điểm yếu kém của hai kiến giải A
và B là không thể giải thích được chúng ta tác nghiệp như
thế nào tương ưng với kết quả tác dụng của tâm thức.
Với
kinh nghiệm của một nhà toán vật lý học, Penrose bác bỏ
quan điểm D vì ông nhận thấy mọi tiến bộ thông hiểu cách
thức vũ trụ vận hành đều do sử dụng phương pháp khoa
học và toán học. Hơn nữa, duy chỉ những hiện tượng tâm
thức quan hệ mật thiết với những vật thể đặc thù như
não thời mới có thể thí nghiệm. Mặt khác, rõ ràng có sự
liên hợp giữa những sai biệt tâm trạng và những sai biệt
trạng thái vật lý của não. Chẳng hạn, tác dụng của một
số dược vật được ghi nhận liên quan với những biến
đổi thái độ và tâm tánh. Ảnh hưởng trên tâm thần gây
ra bởi thương tích, chứng bệnh, hay giải phẫu có thể xác
định và dự đoán phát xuất từ những vùng đặc thù nào
của não. Theo Penrose, với kiến thức và kinh nghiệm hiện
có, các nhà khoa học không đủ khả năng thấu triệt những
trạng thái tâm thức liên can đến sự nhận biết. Bởi thế
cho nên cần phát minh những phương pháp khoa học mới để
giải thích sự cộng đồng hiện hữu và đồng thời hiện
khởi của tác dụng tâm thức và tác động vật lý bất khả
kế toán.
Thêm
nữa, các nhà lượng tử học khám phá nhiều hiện tượng
kỳ ảo như tánh nối kết phi cục bộ (quantum non locality)
của lượng tử vướng mắc nhau (quantum entanglement). Diễn
tả tánh ấy theo cách nói thông thường, thời đó là tính
chất lượng tử tuy cách xa nhau mà vẫn giao tiếp ảnh hưởng
nhau một cách tức thời, hoặc có thể là vì tín hiệu lượng
tử được truyền dẫn nhanh hơn tốc độ ánh sáng, hoặc
muốn tránh mâu thuẫn với thuyết tương đối của Einstein,
thời nói đó là một sự “tương giao ảnh hưởng” kỳ
ảo giữa các lượng tử xa cách nhau. Tuy nhiên, sự “tương
giao ảnh hưởng” ấy không dùng được vào việc truyền
dẫn tức thời những tín hiệu lượng tử khả dụng. Những
khám phá có tính cách huyền bí như tánh phi cục bộ đã gợi
ý Penrose về sự cần thiết thay đổi phương pháp quan sát
và phân tích của khoa học hiện đại, thành lập một khoa
vật lý học mới, thời mới mong đủ khả năng nhìn thấu
và hiểu biết rõ ràng “chất liệu” cấu trúc vật lý của
não là nơi theo Penrose phát hiện những tác dụng của tâm
thức.
Vì
lý do gì Penrose chọn sự thông hiểu toán học làm thí dụ
về “cái gì đó” không thể dùng thuật toán mô phỏng?
Tại vì toán học là hình thể thuần túy nhất của tiến
trình suy tưởng. Nếu suy tưởng là kế toán thời thế nào
chúng ta cũng thấy rõ điều đó mọi khi suy tưởng toán học.
Nhưng tiếc thay, chúng ta thấy điều trái ngược lại. Chính
toán học đã đưa ra bằng chứng rõ ràng là trong tiến trình
suy tưởng hiện có một cái gì thoát khỏi kế toán.
Bằng
chứng Penrose đề cập ở đây là một dạng đơn giản của
định lý Godel: Không một hệ thống hình thức quy tắc chứng
minh toán học kiện toàn [kiện toàn có nghĩa là không bao giờ
cho lời giải sai] nào đủ khả năng, dù trên nguyên tắc,
xác lập tất cả mệnh đề số học đúng. Theo ngôn ngữ
máy tính, định lý Godel khẳng định không có thuật toán
kiện toàn nào xuất liệu (output) chứa hết thảy mọi mệnh
đề số học đúng và không chứa mệnh đề số học nào
sai.
Trong
luận thức chứng minh, trước hết, Penrose giả thiết cho một
danh sách gồm tất cả mọi phép kế toán C(n), tức là tất
cả mọi chương trình máy tính tác dụng trên số nguyên n.
Sau đó, ông giả thiết có một thuật toán A kiện toàn gồm
hết thảy mọi thủ tục diễn toán các nhà toán học hiện
có giúp họ thông hiểu có một số kế toán hoạt động không
ngừng. Thuật toán A vận chuyển lần lượt qua từng phép
kế toán C(n). Mỗi khi A đình lưu ngang nơi một phép kế toán
C(n) nào thời phép kế toán C(n) ấy được chứng minh là hoạt
động không ngừng. Luận chứng đưa đến kết luận là tuy
tìm ra được một phép kế toán biết rõ hoạt động không
ngưng, thế mà thuật toán A không đủ khả năng xác định
được điều đó. Vì có những phép kế toán hoạt động
không ngưng thoát khỏi sự thấy biết của thuật toán A, cho
nên suy ra không bao giờ có một thuật toán nào biết là kiện
toàn mà đủ khả năng xác định các phép kế toán hoạt động
không ngưng.
Vậy
theo định lý Godel, không một hệ thống quy tắc diễn toán
kiện toàn nào đủ khả năng chứng minh tánh đúng của tất
cả mệnh đề số học, ngay cả của những mệnh đề số
học mà trên nguyên tắc do trực giác (intuition) và quán tuệ
(insight) ta biết là đúng. Như thế, trực giác và quán tuệ,
tức sự thông hiểu toán học do tác dụng tâm thức, không
thể quy kết thâu gọn thành bất cứ thuật toán nào. Đôi
lúc, các chương trình máy tính thay thế phần nào sự thông
hiểu, nhưng không bao giờ có thể thay thế hoàn toàn.
Quả
thật là một kết luận bất ngờ. Toán học, ngành khoa học
luận lý xác thực nhất, không thể chương trình hóa trên
máy tính, dẫu máy tính vận hành chính xác và có bộ nhớ
rộng lớn đến đâu đi nữa! Máy tính không thể khám phá
định lý toán học như một toán học gia.
Quy
tắc diễn toán trên máy tính không phải là thứ giúp ta thông
hiểu được bản chất của số nguyên tự nhiên (tức là
dãy số 1, 2, 3,...). Trong thực tế, mặc dầu đặc tính của
số nguyên tự nhiên không thể dùng quy tắc kế toán miêu
thuật được, nhưng đứa trẻ nào cũng biết thế nào là
số nguyên! Penrose xác quyết: Tiến trình thông hiểu toán học,
và nới rộng ra mọi hành động suy tư và ý thức, tất cả
đều dẫn khởi bởi những tác động vật lý bất khả kế
toán.
Có
người nói phần trình bày trên mới chứng minh được tánh
bất khả kế toán là đặc tánh của sự thông hiểu toán
học. Đối với các thứ thông hiểu khác thời sao? Penrose
cho rằng thông hiểu toán học nói riêng hay thông hiểu nói
chung đều là thông hiểu cả, vì không có sự thông hiểu
riêng biệt dành cho toán học. Nói một cách tổng quát, tánh
bất khả toán là đặc tánh của tâm thức. Penrose y cứ vào
đặc tánh ấy để thuyết minh hiện tượng tâm thức chỉ
có thể hiện khởi đồng thời với một số tiến trình vật
lý bất khả kế toán đang diễn biến trong não. Các tiến
trình vật lý bất khả kế toán biểu hiện tác động vật
lý cố hữu không chỉ của não, mà của hết thảy vật chất
vô tình, bởi vì não và vật chất vô tình đều cùng chung
chất liệu cấu tạo và cùng chung định luật vật lý chi
phối.
Nhưng
thử hỏi tại sao hiện tượng tâm thức thường được quan
niệm chỉ xảy ra trong não hay liên hệ với não, mặc dầu
không có bằng cớ nào minh chứng tâm thức không hiện khởi
nơi những hệ thống vật lý thỏa đáng khác? Theo Penrose,
lý do là vì não có một cấu trúc vật chất rất phức tạp
và tinh vi, do đó mới có những cơ cấu vi diệu ứng hợp
với những tiến trình vật lý bất khả toán.
Trong
vấn đề đi tìm cảnh giới các luật tắc chi phối những
tác động vật lý khả dĩ phát hiện mà bất khả kế toán,
những khoa học gia đồng quan điểm C với Penrose chia làm hai
phái. Một phái cho rằng sự thông hiểu vật lý học hiện
thời hoàn toàn đầy đủ, cho nên có thể tìm thấy cảnh
giới ấy trong cảnh giới các định luật vật lý học hiện
có. Chẳng hạn, không thể mô phỏng trên máy tính số tự
(digital computer; máy tính bất liên tục) vì tập tính hỗn
độn (chaotic behavior), hoặc vì tác động có tính cách bất
liên tục mà lại tùy thuộc các thông số vật lý liên tục,
hay vì những tác động do nhập liệu (input) từ một hệ thống
lượng tử có tính cách ngẫu nhiên (quantum randomness).
Phái
thứ hai, trong đó có Penrose, không đồng ý, cho rằng tất
cả trường hợp nêu ra đó đều có thể mô phỏng trên máy
tính bằng cách này hay cách khác. Theo phái này, muốn giải
quyết vấn đề tác động vật lý bất khả kế toán, điều
kiện cần là phải biến đổi tận cơ bản khung tổ chức
lý thuyết vật lý hiện thời, sửa đổi cách nhận thức
hiện nay về vật chất, và khám phá những mô hình mới hòa
hợp cơ học lượng tử và thuyết tương đối, tóm lại,
thành lập một khoa vật lý học mới.
Penrose
liên kết cơ học lượng tử với thuyết tâm thức phát hiện
từ những tác động vật lý bất khả kế toán. Cơ học lượng
tử là một thuyết toán học cùng với một số thuyết toán
học khác như hình học Euclide, cơ học Newton, điện động
lực học Maxwell, thuyết tương đối Einstein, được sử dụng
vì có khả năng mô tả cấu trúc của thế giới vật lý một
cách vô cùng chính xác. Thế giới vật lý được khảo sát
tùy theo quy mô các hiện tượng. Sự vận hành của thế giới
các hiện tượng cực vi được thuyết giảng như là tác dụng
của hàm sóng lượng tử tức hàm sóng Schrodinger của thuyết
cơ học lượng tử. Các thuyết kia bao gồm những định luật
vật lý chi phối thế giới các hiện tượng đại quy mô.
Điều
đáng lưu ý ở đây là thế giới vi mô và thế giới vĩ mô
tuy cùng chung một thế giới là thế giới vật lý mà lại
tuân theo những định luật hoàn toàn khác nhau. Khi xưa đã
có trường hợp như vậy, phân biệt chuyển động trên quả
đất và chuyển động trong không gian tuân theo những luật
tắc khác nhau. Nhưng Galileo và Newton đã phát minh một lối
nhìn khoa học mới hòa hợp hai thứ chuyển động ấy trong
cùng một cảnh giới vật lý học. Trong trường hợp khuếch
đại thế giới vi mô thành thế giới vĩ mô, hòa hợp hai
thế giới ấy trong cùng một cảnh giới cộng đồng, vấn
đề đặt ra là vì sao và vào lúc nào xảy ra sự “sụp đổ”
của mọi lớp sóng chồng chập trong hàm sóng lượng tử,
và xảy ra như thế nào để cuối cùng chuyển hóa thành một
kết quả đo lường vật lý có quy mô.
Penrose
chủ trương sự nhận biết phát hiện cùng lúc với sự sụp
đổ hàm sóng lượng tử do các lượng tử của não tương
giao tác động và cọng tác với sự hấp dẫn (gravity) của
chất liệu bao quanh chúng. Nói theo thuật ngữ Duy thức học,
sự nhận biết tức thức có chủng tử tại A lại da và với
sự cọng tác của một số điều kiện thuận lợi và thích
đáng, chủng tử ấy được hiện hành thành thức trong cảnh
giới của tâm pháp và thành tác động vật lý bất khả kế
toán trong cảnh giới của sắc pháp. Như vậy, thức và tác
động vật lý bất khả kế toán, cả hai nương vào nhau và
dựa vào A lại da mà hiển phát.