CHƯƠNG
I.
BIỂU
HIỆN CỦA THỨC
Nếu
duy chỉ có thức, tại sao thế gian và các Thánh giáo đều
nói có ngã và pháp?
Tụng
nói:
ātmadharmopacāro
hi vividho yaḥ pravartate/
vijñānapariṇāme’
sau pariṇāmaḥ sa ca tridhā // 1/
vipāko
manyanākhyaś ca vijñaptir viṣayasya ca/ 2a-b
由假說我法 有種種相轉
彼依識所變 此能變唯三
/1
謂異熟思量 及了別境識
/2a-b
Do
giả thuyết ngã pháp
Hữu
chủng chủng tướng chuyển
Bỉ
y thức sở biến
Thử
năng biến duy tam.
Các
hình thái chuyển hiện sai biệt đều là giả thác như là
ngã và pháp.[1] Chúng là hai biến thái của thức.[2] Sự biến
thái[3] này có ba dạng. Đó là, dị thục, tư lương, và biểu
thức của cảnh vực.[4]
TIẾT
1. NGÃ VÀ PHÁP
Ngã
và pháp mà thế gian và Thánh giáo nói đến như là tồn tại,
đó là sự giả lập chứ không phải là tự thể thực hữu.
Ngã tức chủ tể.[5] Pháp là cái duy trì quỹ tắc.[6] Cả
hai chuyển hiện dưới nhiều hình thái sai biệt.
Các
hình thái sai biệt của ngã như hữu tình, sinh mạng,[7] v.v.,
và Dự lưu, Nhất lai, v.v.[8]
Các
hình thái sai biệt của pháp như thực thể, phẩm tính, vận
động, v.v.,[9] và uẩn, xứ, giới, v.v.
Chuyển
hiện,[10] là tùy theo các duyên (điều kiện) mà xuất hiện
với những khái niệm[11] khác biệt.
Các
hình thái sai biệt nếu chỉ là ngoại hiện (giả thuyết)
ấy y trên cái gì mà được quan niệm? Các hình thái sai biệt
ấy y trên biến thái của thức[12] mà giả lập khái niệm.
Thức
ở đây chỉ biểu thức.[13] Thức được nói trong đây cũng
gồm cả tâm sở, vì chúng nhất định cùng tương ưng.
Biến
thái,[14] là thể của thức biểu hiện thành hai phần ngoại
hiện.[15] Bởi vì, tướng phần và kiến phần đều y tự
chứng phần mà hiện khởi. Y trên hai phần này mà ngã và
pháp được giả thiết. Hai phần này mà lìa thức thể thì
không có gì làm sở y.[16]
Hoặc
cho rằng nội thức chuyển tợ thành ngoại cảnh.[17] Do năng
lực huân tập của sự phân biệt ngã và pháp, khi các thức
sinh khởi, chúng biến tợ thành ngã pháp. Các hình thái ngã
và pháp này tuy ở trong nội thức nhưng do phân biệt mà xuất
hiện như là tợ ngoại cảnh. Các loại hữu tình từ thời
vô thuỷ lấy đó làm đối tượng mà chấp là thực ngã và
thực pháp. Như nhặm mắt,[18] chiêm bao.[19] Do tác động của
nhặm mắt, chiêm bao, tâm xuất hiện với những hình thái
đa dạng của tợ ngoại cảnh. Lấy đó làm đối tượng mà
chấp rằng ngoại cảnh là thực hữu. Thực ngã và thực pháp,
được quan niệm bởi hạng phàm ngu, là hoàn toàn không tồn
tại. Nhưng tuỳ theo tưởng tượng sai lầm mà có khái niệm.
Khái niệm đó được nói là giả.[20] Tợ ngã và tợ pháp
vốn là biến thái của nội thức, tuy tồn tại nhưng không
phải là tự thể thực ngã và thực pháp; do vì xuất hiện
tương tợ nên nói là giả.
Ngoại
cảnh tuỳ theo sự tưởng tượng mà được khái niệm, do
đó không tồn tại; như thức.[21] Nội thức tất y nhân duyên
mà sinh khởi, do đó không phải không tồn tại; như cảnh.
Bằng điều này mà hai chấp tăng và giảm[22] bị bác bỏ.
Cảnh
y trên nội thức mà được giả lập do đó chỉ tồn tại
trong quy ước thế tục. Thức là sở y của giả cảnh nên
cũng tồn tại trong thắng nghĩa.
Do
đâu[23] để biết rằng thực không tồn tại ngoại cảnh
duy chỉ có nội thức sinh khởi tương tợ ngoại cảnh? Vì
thực ngã và thực pháp không thể nắm bắt được.
[1]
Skt. ātma-dharma-upacāra, cận hành như là ngã và pháp; giả
thuyết, giả lập, giả thi thiết, giả thác, hay ngoại hiện,
như là ngã và pháp. Hán: giả thuyết ngã pháp. Thuật ký (tr.238a18):
giả có hai, vô thể tùy tình giả: tự thể không tồn tại
nhưng được khái niệm tùy theo sự tưởng tượng; hữu thể
thi thiết giả, khái niệm cưỡng gán trên tự thể thể tồn
tại.
[2]
Skt. vijñānapariṇāma. Hán: thức sở biến. Trong bản dịch
của Huyền Trang, từ Skt. parimāṇa, tùy theo trường hợp,
hoặc được dịch là sở biến, hoặc được dịch là năng
biến. T. 1587: thức chuyển.
[3]
Skt. paramāṇa. Hán: năng biến. Xem cht. 16 trên.
[4]
T.1587, ba năng duyên: quả báo thức, chấp thức, và trần
thức.
[5]
Cf. Pali, S. iii. 66: rūpaṃ bhikkhave anattā. rūpañca hidaṃ bhikkhave
attā abhavissa nayidaṃ rūpaṃ ābādhāya saṃvatteyya, labbhetha
ca rūpe – evaṃ me rūpam hotu, evaṃ me rūpaṃ mā ahosi, “Sắc
là vô ngã. Nếu sắc là ngã, sắc này không bịnh, và các
ngươi có the mong ước “mong sắc của tôi sẽ như vầy, sẽ
không như vầy.”
[6]
Kośa i. 2: svalakṣaṇadhāraṇād dharmaḥ, nói là pháp vì duy
trì yếu tính của chính nó. Cf. Ht. (T29n1558, tr.1b9).
[7]
Đại phẩm bát-nhã 2 (La-thập, T8n223, tr.230c11), 16 biệt danh
của ngã: chúng sinh , thọ giả , mạng giả, sinh giả, dưỡng
dục giả, chúng số nhân , tác giả, sử tác giả, khởi giả
, sử khởi giả, thọ giả, sử thọ giả, tri giả, kiến giả.
Danh sách theo Huyền Trang, Đại bát nhã 406 (T7n220, tr.29a29):
hữu tình, mạng giả, sinh giả, dưỡng giả, sĩ phu, bổ-đặc-già-la,
ý sinh, nho đồng, tác giả, thọ giả, tri giả, kiến giả.
Danh sách theo Mahāvyutpatti ccviii. tīrthakātma-paryāyāḥ (danh
mục về tự ngã của ngoại đạo): ātmā, sattva, jīva, jantu,
poṣa, puruṣa, pudgala, manuja, mānava, kāraka, krāpaka, vedaka,
jānaka, paśyaka, utthāpaka, samutthāpaka. Cf. Du-già 83 (tr.764b12).
[8]
Danh hiệu các Thánh giả Thanh văn, tám bậc Thánh hay 8 Bổ-đặc-già-la
(aṣṭau pudgalāḥ): Dự lưu hướng (srota-āpatti-pratipannaka),
Dự lưu quả (srota-āpanna), Nhất lai hướng (sakṛd-āgāmi-pratipannaka),
Nhất lai quả (sakṛd-āgāmī), Bất hoàn hướng (āgāmi-pratipannaka),
Bất hoàn quả (āgāmi), A-la-hán hướng (arhat-pratipannaka), A-la-hán
quả (arhat). Xu yếu (p619b16): 27 bậc Hiến Thánh bao gồm cả
Đại thừa và Tiểu thừa.
[9]
Sáu bản thể tồn tại (padārtha: cú nghĩa) của Thắng luận
(Vaiśeṣika): 1. thực (dravya), 2. đức (guṇa), 3. nghiệp (karma),
4. đồng (sāmānya), 5. dị (viśeṣa), 6. hòa hiệp (samavāya).
Hoặc 10 cú nghĩa, Thắng tông thập cú nghĩa luận (T54n2138,
tr.1262c16): như trên, thêm, 7. năng (śakti), 8. vô năng(aśakti),
9. câu phần(ubhayatobhāga), 10. vô thuyết (abhāva).
[10]
Hán: chuyển; Skt. pravartate. Thuật ký (p240b19): “Chuyển tức
khởi. Tùy theo các duyên mà hiện khởi các tướng ngã và
pháp.”
[11]
Hán: thi thiết, Thuật ký (tr. 240b16), đồng nghĩa với an lập,
tức giả thuyết. Skt. prajñapti: khái niệm giả lập.
[12]
Hán: thức sở chuyển biến; Skt. vijñānaparimāṇa.
[13]
Hán: liễu biệt; Skt. vijñapti. Kośa i. 16: vijñānaṃ prativijñaptiḥ:
viṣayaṃ viṣayaṃ prati vijñaptir upalabdhir, thức, cá biệt
nhận thức, là biểu thức thủ đắc từng đối tượng riêng
biệt.
[14]
Skt. pariṇama.
[15]
Thuât ký (242a25): An Huệ lập một phần; Thân Thắng, hai phần;
Trần-na, ba phần; Hộ Pháp, bốn phần. Cf. Xu yếu (T43n1831,
tr.609b4). Nghĩa đăng (674b6): An Huệ, căn cứ y tha khởi lập
chỉ một phần.
[16]
Thuật ký (T43n1830, tr.241a11), có hai trường hợp, hoặc kiến
và tướng đồng chủng tử; hoặc khác chủng tử. Xu yếu
(T43n1831, tr.620a14): thuyết của An Huệ, cả hai phần đều
đồng chủng tử. ibid., tr. 620a7.
[17]
Thuật ký (242a17): Quan điểm của Nan-đà và Thân Thắng, lập
hai phần kiến và tướng. Nghĩa đăng (T43n1832, tr.680b27): dẫn
Viên Trắc (Thành duy thức luận sớ), “Từ biến được giải
thích bằng 2 phần và 3 phần. Theo đó, có 3 thuyết: 1. Lập
3 phần, giải thích của 8 Luận sư trong đó gồm An Huệ; trừ
Hỏa Biện và Thân Thắng, hai người đồng thời với Thế
Thân, lập 2 phần. 2. Giải thích bằng 3 phần, trừ An
Huệ, còn lại như trên. 3. Gồm các Luận sư, trừ An Huệ.
Nhưng Nghĩa đăng bác bỏ Viên Trắc, cho rằng không có đoạn
văn nào nói An Huệ lập 3 phần; 2 phần cũng không thấy.
[18]
Hán: hoạn. Thuật ký (243a9): “Như bị bịnh nhiệt, thị lực
của mắt bị tổn hại, khiến tất cả màu đều thấy là
vàng.” Hiển dương 11 (532c7): “Như bị bịnh ca-mạt-la (Skt.
kāmalā) làm tổn hoại nhãn căn, vật khôngphải màu vàng mà
thấy là vàng.”
[19]
Thuật ký (243a7): thí dụ này chỉ có giá trị đối với Kinh
bộ. Hữu bộ cho rằng những gì được thấy trong chiêm bao
cũng là thực cảnh, nên thí dụ bất thành.”
[20]
Thuật ký (tr.243b7), thuộc vô thể tùy tình giả. Xem cth. 15
trên.
[21]
Nhân minh lượng, dị dụ.
[22]
Tăng giảm nhị chấp. Thuật ký (243c4): tăng chấp của ngoại
đạo cho rằng cảnh thực hữu tồn tại ngoài tâm. Tổn giảm
chấp, chấp Không một cách sai lầm, cho rằng thức cũng không
tồn tại.
[23]
Thuật ký (tr.244b17): văn, đại thể theo Hộ Pháp.