CHƯƠNG
I.
I.
CÁC QUAN ĐIỂM VỀ NGÃ
1.
Các thuyết ngoại giáo
Vì
sao không thể nắm bắt thực ngã?[1]
Một
cách tổng quát, có ba loại chấp ngã: 1. Chủ trương tự thể
của ngã thường hằng, châu biến, lượng đồng hư không.
Bởi vì, tùy theo môi trường mà nó tạo nghiệp, hay thọ nhận
khổ, lạc. [2] 2. Chủ trương tự thể của ngã thì thường
hằng nhưng lượng của nó thì bất định; bởi vì nó trải
rộng hay thu nhỏ tùy theo sự lớn hay nhỏ của thân.[3] 3.
Chủ trương tự thể của ngã là thường hằng, và cực kỳ
vi tế như một cực vi, tiềm tàng chuyển vận trong thân để
tạo tác sự nghiệp.[4]
1.
Quan điểm thứ nhất là phi lý. Vì sao?
a.
Chủ trương rằng tự ngã thường hằng, phổ biến, lượng
đồng hư không, thế thì nó không tùy thân lãnh thọ khổ
lạc.[5]
b.
Thêm nữa, vì là thường hằng phổ biến nên nó không thể
chuyển động,[6] vậy làm thế nào nó có thể tùy theo thân
tạo tác các nghiệp?[7]
c.
Lại nữa, ngã theo quan điểm này là đồng nhất hay dị biệt
trong tất cả hữu tình? Nếu là đồng nhất, khi một cá thể
tác nghiệp, tất cả cũng tác nghiệp;[8] khi một cá thể lãnh
thọ quả, tất cả cũng lãnh thọ; khi một cá thể chứng
đắc giải thoát, tất cả cũng giải thoát. Như thế thì hết
sức sai lầm. Nếu nói là dị biệt,[9] tự ngã của các hữu
tình phổ biến lẫn nhau cho nên tự thể trở thành hỗn tạp.
d.
Lại nữa, khi một cá thể tác nghiệp, một cá thể lãnh thọ
quả báo, khi ấy cũng nên nói tất cả đều tác nghiệp, đều
lãnh thọ, vì xứ sở của tự ngã không dị biệt. Nếu nói,
tác nghiệp và lãnh thọ đều có sở thuộc riêng biệt cho
nên không phạm sai lầm ấy; điều này cũng không hợp lý.
Nghiệp, quả và thân cùng hiệp nhất với ngã, nhưng lại
thuộc vể nơi này mà không thuộc về nơi kia, thế thì không
hợp lý.
e.
Lại nữa, khi một cá thể giải thoát, tất cả cũng đều
giải thoát, vì pháp được tu và được chứng cùng hiệp
nhất với tất cả tự ngã.
2.
Quan điểm thứ hai cũng phi lý.[10] Vì sao?
a.
Nếu tự thể của ngã là thường trú, nó không thể trải
rộng hay co rút tùy theo thân. Đã có sự trải rộng hay co
rút, như gió trong đãy hay ống sáo, không thể là thường
trú.
b.
Lại nữa, ngã có thể bị chia chẻ tùy theo thân, như thế
làm sao có thể cho rằng tự thể của ngã nhất thể?
Cho
nên, thuyết của phái này giống như trò đùa của trẻ nít.
3.
Thuyết sau cùng cũng phi lý. Vì sao?
Lượng
của ngã cực tiểu, chỉ bằng như một cực vi, làm sao có
thể khiến cho toàn thân to lớn chuyển động?[11]
Nếu
nói tự ngã tuy nhỏ nhưng chạy khắp thân nhanh như vòng lửa
quay, có vẻ như chuyển động toàn diện; ngã được quan niệm
như thế thì không phải là nhất thể, không phải thường
hằng. Vì tất cả những gì có di chuyển đều không phải
là nhất thể, không phải thường hằng.
2.
Uẩn và ngã
Lại
nữa, có ba quan điểm về ngã[12]: 1. đồng nhất với uẩn;
2. dị biệt uẩn; 3. phi đồng nhất phi dị biệt đối với
uẩn.[13]
1.
Thứ nhất, uẩn tức ngã, phi lý.
a.
Vì như uẩn, ngã không phải là thường hằng, không phải
là nhất thể.
b.
Lại nữa, các sắc trong nội thân quyết định không phải
là thực ngã, vì có chất ngại,[14] như ngoại sắc.
b.
Tâm và tâm sở pháp[15] cũng không phải là thực ngã, vì không
hằng tương tục, và vì cần hội đủ duyên.[16]
c.
Các hành và các sắc còn lại[17] cũng không phải là thực
ngã, như hư không, vì không phải là giác tánh.[18]
2.
Thứ hai, ngã lìa uẩn cũng phi lý, vì như hư không không có
tác và thọ.
3.
Thứ ba, phi đồng nhất và phi dị biệt đối với uẩn, cũng
phi lý.
a.Vì
nếu y trên uẩn mà thiết lập ngã nên không phải đồng nhất
cũng không phải dị biệt uẩn, thế thì, như bình các thứ,
vì không phải là thực ngã.
b.
Lại nữa, đã không thể nói là hữu vi hay vô vi,[19] thì cũng
không thể nói là ngã hay phi ngã. Do đó, ngã theo quan niệm
của thuyết ấy không thành.
3.
Tổng hợp phê bình
1.
Lại nữa, thể của ngã được quan niệm là thực hữu ấy
có tư lự, hay không có tư lự?[20]
a.
Nếu có tư lự, tất là vô thường, vì không phải có tư
lự trong tất cả mọi thời gian.
b.
Nếu không có tư lự, thì như hư không, nó không thể tác
nghiệp, cũng không thọ quả.
Do
đó, quan niệm về ngã không chứng minh được lý do của nó.
2.
Lại nữa, thể của ngã được quan niệm là thực hữu ấy
có tác dụng, hay không có tác dụng?
a.
Nếu có tác dụng,[21] thì như tay hay chân,[22] phải là vô
thường.
b.
Nếu không có tác dụng, như sừng thỏ, tất không phải là
thực ngã.
Do
đó, hai quan niệm về ngã này đều bất thành.
3.
Lại nữa, thể của ngã được quan niệm là thực hữu ấy
có phải là cảnh sở duyên của ngã kiến không?[23]
a.
Nếu không phải là cảnh sở duyên của ngã kiến, làm sao
các ngài biết thực có ngã?
b.
Nếu ngã là cảnh sở duyên của ngã kiến, thế thì có phạm
trù ngã kiến không được bao hàm trong điên đảo, vì là
được biết một cách như thực.[24] Nếu vậy, tại sao Chí
giáo mà những người theo quan điểm hữu ngã tin theo[25] lại
chỉ trích ngã kiến, ca ngợi vô ngã, nói rằng, ai không ngã
kiến thì chứng Niết-bàn; ai chấp trước ngã kiến thì chìm
đắm sinh tử? Há có trường hợp, người có tà kiến thì
chứng Niết-bàn, trái lại chánh kiến khiến cho trầm luân
sinh tử?
c.
Lại nữa, các ngã kiến đều không duyên thực ngã, vì có
sở duyên.[26] Như tâm duyên các pháp khác.[27] Sở duyên của
ngã kiến quyết định không phải thực ngã, vì là sở duyên,
như các pháp khác.[28]
Do
đó, ngã kiến không duyên thực ngã. Nhưng nó lấy các uẩn
là những biến hiện của thức làm đối tượng, rồi tùy
theo tưởng tượng cá biệt mà diễn dịch thành nhiều hình
thái khác nhau.
4.
Quá trình diệt ngã
Tổng
quát, các quan điểm về ngã có hai loại: 1 câu sinh; 2 phân
biệt.[29]
1.
Ngã chấp câu sinh, do năng lực của nhân nội tại được
huân tập bởi hư vọng kể từ thời vô thủy đến nay, thường
hằng tồn tại cùng với thân; không cần chịu ảnh hưởng
bởi tà giáo và tà phân biệt, mà chuyển hiện một cách tự
nhiên, do đó gọi là câu sinh.
Loại
ngã chấp này lại có hai thứ:
a.
Thường tương tục, ở tại thức thứ bảy; nó lấy
thức thứ tám làm đối tượng khiến sinh khởi hình tướng
của tự tâm,[30] rồi chấp đó là thực ngã.
b.
Có gián đoạn, tại thức thứ sáu; nó lấy hình tướng năm
thủ uẩn, vốn là biến hiện của thức, làm đối tượng,
hoặc tổng thể hoặc cá biệt,[31] khiến sinh khởi tướng
của tự tâm[32] rồi chấp đó là thực ngã.
Cả
hai chấp trước này rất khó đoạn trừ, vì rất vi tế. Về
sau, trong tu đạo, thường xuyên tu tập sinh không quán đặc
biệt[33] mới có thể diệt trừ.
2.
Ngã chấp do phân biệt cũng do năng lực của ngoại duyên hiện
tại, không cùng tồn tại với thân, mà cần phải có ảnh
hưởng của tà giáo và tà phân biệt mới có thể phát khởi,
vì vậy nói là phân biệt.
Nó
chỉ tồn tại trong thức thứ sáu là ý. Loại này cũng có
hai thứ:
a.
Duyên vào tướng của uẩn được thuyết bởi tà giáo khiến
sinh khởi tướng của tự tâm, rồi phân biệt suy diễn chấp
là thực ngã.
b.
Duyên vào tướng của ngã được thuyết bởi tà giáo khiến
sinh khởi tướng của tự tâm, rồi phân biệt suy diễn chấp
đó
là thực ngã.
Hai
loại ngã chấp này dễ bị đoạn trừ, vì thô. Khi ở sơ
khởi của kiến đạo,[34] quán chân như về sinh không và pháp
không của hết thảy các pháp thì có thể đoạn trừ.[35]
5.
Tổng thích
Tất
cả ngã được quan niệm như vậy, nếu đó là uẩn ngoại
tại của tự tâm, hoặc tồn tại hoặc không tồn tại.[36]
Nếu đó là uẩn nội tại của tự tâm, nó hoàn toàn tồn
tại. Do đó, tất cả ngã chấp đều lấy tướng[37] của
năm thủ uẩn vốn vô thường rồi vọng chấp là ngã.
Nhưng,
tướng của các uẩn sinh khởi từ duyên,[38] do đó chúng hiện
hữu như là huyễn. Ngã được chấp trước sai lầm ấy, vì
được suy diễn một cách ngẫu hứng, quyết định không tồn
tại.
Cho
nên, Khế kinh nói, “Bí-xô nên biết, những gì là ngã kiến
của các sa-môn, bà-la-môn trong thế gian, tất cả đều duyên
vào năm thủ uẩn mà sinh khởi.”[39]
6.
Phản vấn
1.
Nếu không tồn tại thực ngã, làm sao có thể có các sự
việc như ký ức, nhận thức, đọc tụng, ôn tập, ân, oán?[40]
Ngã
được quan niệm như vậy đã là thường hằng, không biến
dị, thì sau cũng như trước, sự việc ấy không phải là
có; trước cũng phải như sau, sự việc ấy không phải là
không.[41] Vì trước và sau tự thể không khác biệt.
Nếu
nói rằng dụng của ngã có biến dịch trước và sau nhưng
tự thể của ngã thì không; điều này cũng không hợp lý.
Bởi vì, hoặc dụng phải là thường hằng vì không tách rời
thể; hoặc thể phải là không thường hằng vì không tách
rời dụng.
Tuy
nhiên, các hữu tình mỗi mỗi có bản thức riêng, tồn tại
một cách tương tục và đồng nhất loại tợ, duy trì chủng
tử, hỗ tương làm nhân cho tất cả các pháp. Những sự việc
như ký ức các thứ có được là do năng lực của cái được
huân tập. Do đó, nạn vấn được nêu lên là do sai lầm nơi
ông, chứ không phải nơi tiền đề của tôi.
2.
Nếu không tồn tại thực ngã, cái gì tạo nghiệp? Cái gì
thọ quả?[42]
Ngã
được quan niệm là thực ấy đã là không biến dịch, như
hư không, làm thế nào có thể tạo nghiệp, thọ quả? Nếu
nó có biến dịch, nó phải là không thường hằng.
Tuy
nhiên, tâm và tâm sở pháp của các hữu tình tương tục không
gián đoạn do bởi năng lực của nhân duyên; cho nên sự tạo
nghiệp và thọ quả không có gì trái lý.
3.
Nếu ngã thực sự không tồn tại, cái gì luân hồi các cõi
trong sinh tử?[43] Cái gì nhàm tởm khổ mà mong cầu thú hướng
Niết-bàn?
Ngã
được quan niệm là thực hữu ấy đã không sinh diệt, làm
sao có thể nói nó luân chuyển trong sinh tử? Thường hằng
như hư không, không bị bức não bởi khổ, cần gì phải nhàm
tởm, xả ly, mong cầu thú hướng Niết bàn? Cho nên, điều
được phát biểu kia thường chỉ là tự hại.
Tuy
nhiên, thân và tâm của các loại hữu tình tương tục, do
năng lực của nghiệp phiền não mà luân chuyển các cõi thú,
và do nhàm tởm khổ mà mong cầu thú hướng Niết-bàn.
Do
những chứng lý như thế mà nhận thức được rằng tuyệt
đối không tồn tại thực ngã. Thế nhưng, dòng tương tục
của nhân quả của các hữu tình kể từ vô thủy, cái trước
diệt cái sau sinh, do được huân tập một cách sai lầm, xuất
hiện với tướng như là tợ ngã. Người ngu ở trong đó quan
niệm một cách sai lầm là ngã.
[1]
ibid., tr. 244c3: đặt vấn đề với các xu hướng hữu ngã:
Độc tử bộ (Vātsīputriya), Chánh lượng bộ (Sammatīya), Kinh
lượng bộ (Sautrāntika)…
[2]
Quan niệm về tự ngã của Số luận (Thuật ký: Tăng-khư;
Skt. Saṅkhyā), Thắng luận (Thuật ký: Phệ-thế-sử-ca; Skt.
Vaiśeṣika). Câu-xá 30 (158b7), Thắng luận nạn vấn: “Nếu
tự ngã không tồn tại hiện thực, cái gì tạo nghiệp? Bởi
vì chính tự ngã sẽ nhận lãnh quả báo khổ, lạc.”
[3]
Quan niệm ngã của phái Ni-kiền tử (Thuật ký: Ni-kiền-đà
phất-trở-la, dịch là Ly hệ tử; Skt.Nigrantha-putra)
[4]
Quan niệm của Thú chủ (Thuật ký: Bá-thâu-bát-đa, Skt. Paśupati),
và cũng của Xuất gia ngoại đạo (Thuật ký: Ba-lị-đát-la-câu-ca
dịch là Biến xuất; Skt. Parivrājaka). Thú chủ (Paśupati) cũng
là biệt hiệu của Tự Tại Thiên (Maheśvara), Thiên chúa của
phái ngoại đạo Bôi tro (Đồ hôi ngoại đạo, Skt. bhasman).
Cf. Câu xá Quang ký 9 ( tr.172c9).
[5]
Cf. Kim thất thập luận (T54n2137, tr.1249c29): “Tăng-khư (Saṃkhyā)
nói Thần ngã (puruṣa) không phải là tác giả. Vệ-thế-sư
(Vaiśeṣika) nói, Tự ngã là tác giả.”
[6]
Chủ trương của Thắng luận (Thắng tông thập cú nghĩa, tr.1264a12):
tự ngã (ātman) thuộc thật cú nghĩa (dravya-padārtha) không
có động tác. Cf. Bách luận (tr.170c18): “Ưu-lâu-ca (Ulūka)
nói, thật có Thần (Ngã) thường hằng. Do các dấu hiệu như
thọ mạng, nhắm mở mắt, thở ra vào, mà biết có Thần (Ngã).”
[7]
Xem cht. 41 trên.
[8]
Cf. Kim thất thập luận (tr.1249c15): “Nếu ngã đồng nhất,
khi một người sinh, tất cả cùng sinh.”
[9]
Chủ trương của Số luận (Kim thất thập luận, tr.1249c12):
Có nhiều ngã; tùy theo mỗi thân có một tự ngã riêng.
[10]
Quan điểm về ngã của phái Ni-kiền tử.
[11]
Thuật ký (tr.246c9): Ngã cực vi tiểu này có thể làm chuyển
động thân thể cực kỳ to lớn đến 1 vạn 6 nghìn do tuần
của trời Sắc cứu cánh.
[12]
Cf. Du-già 6 (tr.306b7), bốn cơ sở chấp ngã: ngay chính nơi
uẩn (uẩn tức ngã), (dị biệt uẩn) nhưng ở trong uẩn, (dị
biệt uẩn) nhưng ở ngoài uẩn, không liên hệ gì đến uẩn.
[13]
Quan điểm của Độc tử bộ (Vāsīputrīya). Thuật ký: Phiệt-tra
thị ngoại đạo 筏蹉氏外道; Skt. Vatsagotra-parivrājaka; cf.
Câu-xá 30, (tr.156a6), một người xuất gia ngoại đạo hỏi
Phật có ngã hay không, Phật không trả lời; Pali: Vacchagotta-paribbājaka,
cf. S.iv. tr. 400. Khuy Cơ đồng nhất Vatsagotra với Vātsī-putrīya
(Pali: Vajji-puttaka). Cf. Dị bộ tông luân luận (tr.16c15),
Độc tử bộ chủ trưong hữu ngã: Bổ-đặc-già-la (pudgala)
phi tức uẩn phi ly uẩn; y uẩn, xứ giới mà giả thi thiết
tên gọi. Về bác bỏ Ngã của Độc tử bộ, chi tiết xem
Câu xá 29 (tr.152c9), tiếp theo và quyển 30: Độc tử bộ
quan niệm thể của bổ-đặcgià-la phi nhất phi dị đối với
uẩn.
[14]
Chất ngại, tính chất cố kết, hữu hình. Xem đoạn sau, tr.
2c26.
[15]
Chỉ các uẩn còn lại, trừ sắc uẩn và một phần hành uẩn.
[16]
Thuật ký lập thí dụ, như ngọn đèn, và như âm thanh.
[17]
Các hành còn lại, chỉ các hành phi tâm sở, tương hành không
tương ưng tâm. Các sắc còn lại, chỉ 6 ngoại xứ và sắc
vô biểu.
[18]
Thuật ký 1b, giác tức giác sát; tên gọi chung cho tâm và tâm
sở.
[19]
Độc tử bộ lập năm tạng. Ngã thuộc tạng thứ năm, gọi
là bất khả thuyết (avyaktavya). Cf. Câu-xá 29 (T29n1558, tr.153b3).
[20]
Thuật ký: có tư lự (Skt. cinmātra), nhắm Tăng-khư (Saṃkhyā);
không tư lự, nhắm Phệ-thế (Vaiśaṣika)
[21]
Xu yếu (tr.621c5): Tăng-khư (Saṃkhyā) và các phái khác, tác
dụng mà không động chuyển.
[22]
Thuật ký: tay với tác dụng chuyển biến, nhắm Số luận.
Chân với tác dụng hoại diệt, nhắm Thắng luận.
[23]
Câu-xá 29 (tr.153c25): Độc tử bộ nói, ngã (bổ-đặc-già-la,
Skt. pudgala) không phải là sở duyên (Skt. ālambana) của thức.”
[24]
Quảng bách luận 2 (tr.194b29): “Nếu ngã được quan niệm
ấy là thực hữu thì không thể là đối tượng của ngã
kiến vốn là kiến chấp điên đảo.” Thuật ký, “Giáo
lý của các phái Ngoại đạo và Tiểu thừa chủ trương hữu
ngã đều cho rằng ngã kiến tuy thuận sở duyên nhưng tự
thể là điên đảo. Khi đoạn trừ nó thì thành Thánh.”
[25]
Chỉ Độc tử bộ, tuy Phật giáo nhưng chủ trương hữu ngã,
do đó có tranh luận về ý nghĩa chính xác của Kinh. Cf. Câu-xá
29 (tr.154c13).
[26]
Skt. sālambana. Chỉ thức hay các tâm giới, là nhữn thứ luôn
luôn hướng đến đối tượng; xem Câu-xá 2 (tr.8b9)
[27]
Như duyên dư tâm. Thuật ký (tr.249a3): “như tâm duyên ngã
là ngọai sắc các thứ.”
[28]
Thuật ký: Dụ, như sắc pháp v.v. ibid. 195c13: “Đối tượng
của ngã kiến không phải là thực ngã. Vì mang hình tướng
hoặc nam, hoặc nữ là đối tượng nhận thức của tâm. Như
thân thể.”
[29]
Cf. Laṅkā, tr. 118: tatra Mahāmate satkāyadṛṣṭir dvividhā
yaduta sahajā ca parikalpitā ca. Nhập Lăng-già 4 (bản 10 quyển,
tr.537a17), “Thân kiến có hai: 1. câu sanh, 2. hư vọng
phân biệt.”
[30]
Xu yếu (621c19), khởi tự tâm tướng, có 2 giải thích: 1. tướng
là ảnh tượng; 2. tướng là cái bị chấp. Thuật ký, đây
là tướng của tự tâm của thức thứ bảy. Diễn bí (tr.
824c25): sở duyên đều là tướng phần của tự tâm.
[31]
Thuật ký: lấy tổng thể ngũ uẩn làm đối tượng; hoăc
lấy từng uẩn cá biệt làm đối tượng.
[32]
ibid., tướng của tự tâm, chỉ tướng là ảnh tượng.
[33]
Thắng sinh không quán. Laṅkā, ibid., srotaāpannasya sadasatpakṣadṛṣṭidarśaṇāt
satkāyadṛṣṭiḥ prahīṇā bhavati, “Khi Tu-đà-hoàn thấy
rõ kiến chấp sai lầm về hữu và phi hữu, thân kiến (câu
sanh) được đoạn trừ.”
65
Sơ kiến đạo; kiến đạo có 2 phần: chân kiến đạo và
tướng kiến đạo. Đây thuộc phần đầu.
[35]
Laṅkā, ibid., sā ca tasya pudgalanairātmyagrahābhā- vataḥ prahīṇā,
“kiến chấp này bị đoạn trừ khi (Tu-đà-hoàn) không còn
chấp chặt đối với nhân vô ngã.”
[36]
Thuật ký (tr. 250c10): “Hữu hay vô, xét theo bản chất...Y
uẩn mà chấp ngã, ngã ấy có bản chất; lìa uẩn mà chấp
ngã, ngã ấy không có bản chất.”
[37]
Tướng, chỉ tướng phần (nimittabhāga). Thuật ký (tr. 250c25):
“Ảnh tượng, là tướng phần, tất nhiên là uẩn; lấy đó
làm đối tượng mà chấp là ngã”
[38]
Thuật ký, ibid.,:Tướng (phần) nội thức, do y tha duyên sinh,
nên tồn tại.”
[39]
Tham chiếu, Tạp A-hàm 2 ( tr.011b1); Pali, S. iii. 46:
ye
hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā anekavihitaṃ attānaṃ
samanupassamānā samanupassanti, sabbe pañcupādānakkhandhe samanupassanti,
etesaṃ vā aññataraṃ.
[40]
Cf. Câu-xá 30 (tr156c26): “Nếu tự thể của ngã tuyệt đối
không tồn tại, thế thì, tâm sát-na diệt làm thế nào có
thể nhớ biết cảnh tương tợ đã từng được nhận thức
từ lâu xa?” Cf. Tì-bà-sa 11 (tr.156c26). trả lời Độc tử
bộ và giải thích về ký ức.
[41]
Thuật ký: “ Minh tánh (Skt. prakṛti) khi chưa biến chuyển
thành đại (mahat) các thứ, thì Ngã (puruṣa) chưa có thọ
dụng cảnh. Về sau, khi đại các thứ xuất hiện, Ngã (puruṣa)
mới có sự thọ dụng. Trước, không có sự việc ấy; không
có tác dụng lãnh thọ cảnh. Sau, có sự việc ấy, có tác
dụng thọ nhận cảnh.”
[42]
Câu-xá 30 (tr.158b26). Liễu nghĩa đăng (tr.688a23): “ Năm bộ
gồm Độc tử, Chánh lượng, Bản kinh, Hiền trụ, Mật
lâm sơn, đều nói 5 thức không có khả năng tác nghiệp, thọ
qủa; thứ sáu có cả hai. Đại chúng bộ đông thuyết. Hữu
bộ, 5 thức thọ quả nhưng không tác nghiệp.” Phụ chú của
Thuật ký tập thành biên 6 (tr. 123c12): “Giải thích này chỉ
được nghe truyền thuyết chứ không thấy minh văn của Kinh
giáo.”
[43]
ibid., (tr. 156c2): nạn vấn của Độc tử bộ, dẫn kinh chứng:
“Trong kinh, Phật nói, các hữu tình bị vô minh trùm
kín, bị tham ái trói buộc, nên dong ruổi sinh tử. Như vậy,
phải có bổ-đặc-già-la (pudgala).”